Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 18, 2011

ĐAN HÀ - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ




Nếu có dịp đạp xe ngang qua những cánh đồng vào mùa cấy, mùa làm cỏ lúa, mùa gặt... , bạn sẽ nghe văng vẵng những điệu hò mái nhì êm ái. Vào buổi trưa hè, bạn sẽ nghe những điệu hò ru con dịu dàng từ những mái tranh nghèo hòa cùng tiễng võng kẻo kẹt. Nói không ngoa, Quảng trị là xứ sở của những điệu hò, nhờ đó, người Quảng trị quên đi cái mệt nhọc, cái nóng nực, cái khó nghèo để vẫn bám trụ nơi chôn nhau cắt rốn, với mồ mả cha ông. Người Quảng Trị dù bất cứ nơi đâu vẫn không quên những điệu hò quê hương.

"Người đi, mang dân ca tiếng hò miền Trung. Về miền Nam, cho nhau nghe những lời thở than..."

Tiếc thay, chưa có công trình nào sưu tập những điệu hò trên đất Quảng Trị để truyền lại cho thế hệ sau bởi vì tiếng hò dần dần sẽ không còn được nghe trên cánh đồng vào mùa vụ, thay vào đó là tiếng máy cày , máy cấy phành phạch khô khốc.


VNQT xin giới thiệu bài viết của một cây bút trẻ nặng tình với điệu hò quê hương, đồng thời, mời bạn đọc gởi những bài viết cùng đề tài.



Nói đến Quảng Trị, người ta thường hình dung một vùng đầy lam sơn chướng khí, mảnh đất eo hẹp được giới hạn bằng một bên là biển, một bên rừng; khí hậu quanh năm hai mùa với mùa hè nắng cháy, nắng nung người làm héo cỏ khô cây, mùa đông thì mưa dầm ướt đất, mưa không ngớt làm sũng lầy những vùng cao nguyên đất đỏ, làm úa tàn lúa mạ của vùng đồng bằng. Trong những ngày vừa chớm thu, các khu rừng lá cây sắp ngã màu vàng và rụng dần, bắt đầu những cơn mưa ngâu lành lạnh, gió thổi mạnh làm rung đổ những giọt nước mắt của "Chức nữ thương nhớ Ngưu lang", như trong một chuyện cổ tích dân gian xa xưa nào, câu chuyện đầy thơ mộng và lãng mạn mà khi nghe kể lại chắc không ai lại không khỏi bùi ngùi! Tiếp theo là những cơn bão làm trốc gốc đổ cây, rồi tiếp đến là lụt lội ướt át. Không có năm nào lại không xảy ra thiên tai làm hư hại mùa màng, làm hao tổn không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt của người dân quê đã đổ xuống trên ruộng vườn nương rẫy, tạo nên cảnh đói rách lầm than. Câu tục ngữ thường truyền tụng nơi đây là: "Làm cho có để mưa gió mà ăn" là vậy, mỗi năm có hai mùa,mùa tháng ba thì cũng nhờ Trời mưa thuận gió hòa nên thu hoạch được đầy đủ, còn vụ mùa tháng tám thường hay bị thất thu, cho nên nông dân phải trồng thêm các loại hoa màu phụ như khoai sắn để phụ lực... (No lòng chớ phụ môn khoai, đến năm Thân Dậu lấy ai bạn cùng!). Họ thường nói đến nạn đói của năm Thân Dậu (là hai năm 1944-1945), như nhắc nhở cho con cháu biết một bài học dắng cay, để mà tiết kiệm để mà tích trữ lương thực, của cải cho những việc bất thường như: quan, hôn, tương, tế...( năm Thân Dậu tại Quảng trị xảy ra nạn đói kinh hồn, gây cảnh chết chóc cho cả hàng trăm ngàn người, vì năm ấy bị xảy ra một cuộc khủng hoảng về chính trị và kinh tế rất trầm trọng, trong lúc người Nhật vừa đến tiếp thu lãnh thổ từ tay người Pháp, thì tức tốc áp đặt một thể chế quá khắc nghiệt đối với người dân, như ruộng vườn không được trồng lúa mà phải trồng đay, trồng dâu nuôi tằm để khuếch trương nền kỷ nghệ v/v...). Vì thế mà nẩy sinh ra những phong trào từ trong dân chúng đứng lên chống Pháp, kháng Nhật và như thế là chiến tranh lại tiếp diễn đến triền miên! Cho đến thời cận đại thì các cường Quốc lại sử dụng mảnh đất Quảng trị như là một phương tiện, một nơi chốn để tranh giành ảnh hưởng Quốc tế, "Họ dùng làm vùng phi quân sự" cho các cuộc thí nghiệm võ khí đạn dược, hằng ngày đã đổ xuống hằng ngàn tấn bom cùng với thuốc khai quang đã tàn phá hết nhựa sống của thiên nhiên, hàng rào điện tử với bãi chông mìn, kẽm gai dăng khắp đây đó đã tạo nên cảnh chết chốc và gây thương tật cho dân chúng địa phương. Hiện tượng ấy cho đến bây giờ sau hơn hai mươi năm chấm dứt chiến tranh, nhưng những vũ khí giết người ấy vẫn còn nằm đó, đầy dẫy như dang chờ chực những ai bất hạnh!...
Vì thế cho nên những người khi mới chân ướt chân ráo đến vùng Quảng trị thì họ thường hay than rằng : "Đến nơi đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vùng cũng run!".
Cảm giác ấy không phải chỉ đối với những người vừa mới đến, mà người dân địa phương sống lâu năm tại đây cũng cảm thấy không thoải mái, không an nhàn! Vì ngoài khí hậu khắc nghiệt, lam sơn chướng khí, chiến tranh tàn phá còn có thú dữ hoành hành nữa! Như tại địa phương có câu tục ngữ: "Nác khe mèo, beo làng Rọng", (những con suối phát xuất từ vùng Tân lâm, Khe sanh đầu nguồn của con sông Vĩnh định, có con suối mang tên là"Khe mèo" vì nước suối trong vắt, đứng trên bờ có thể nhìn xuyên suốt dưới lòng khe, thấy được sỏi cát nằm dưới đáy, nước trong đến thế cho nên mới gọi là suối trong như mắt mèo, thế nhưng khi múc nước đem đun sôi thì nước ấy lại biến thành màu ti'm nhạt, nước uống rất độc. Cũng có thể giữa vùng thâm u cây cối là môi trường thích hợp cho muỗi mòng và các loại côn trùng có mang vi khuẩn truyền bệnh. Cư dân ở đây phần nhiều đều "mặt bủng da chì" nhất là trẻ em bỡi hậu quả cuả các chứng bệnh sốt rét và sán lãi! Ngành Y tế tại đây thì lại thiếu thốn đủ thứ nên không đáp ứng nhu cầu cho một chương trình phòng ngừa và trị liệụ. Nhớ lại trước đây khi còn làm lính, đi hành quân trên các vùng cao nguyên như Khe sanh, Lao bảo, Ba lòng, A sao, A lướị.. Đơn vị chúng tôi không ai tránh khỏi bệnh sốt rét rừng, mặc dầu ai nấy đều phải mang theo đầy đủ các loại thuốc phòng ngừa bệnh sốt rét và dầu nóng để trừ muỗi, vắt... Còn tại vùng Cuà là một thung lũng được bao bọc chung quanh bằng rừng núi, có một ngôi làng nằm giữa trũng thấp có nhiều chỗ làm ruộng, cho nên dân làng đặt tên là "làng Rọng", làng nầy nằm gần một khu rừng có rất nhiều thú dữ như cọp, heo rừng thường hay kéo về phá hoại mùa màng cũng như đe dọa tính mạng cuả dân làng, để đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra, họ phải cất nhà sàn để ở hay làm nhà bằng cây rừng thật chắc chắn. Đêm đêm muốn đi đâu thì họ dùng cây đót bó lại thành bó, đốt lên làm đuốc soi đường và trừ thú dữ (tiếng địa phương gọi là cái chền) ngoài ra họ còn làm bẫy để sập thú rừng. Trâu bò cũng phải làm chuồng chắc chắn bằng cây rừng (gọi là cái ràn) chứ không thể buộc khơi khơi ngoài đường như các nơi khác.
Nhưng khi đến sinh sống tại Quảng trị một thời gian rồi thì họ đâm ra ghiền, không phải họ ghiền vì bùa mê thuốc lú, không phải họ ghiền vì nơi chốn ấy đã đem lại cho họ một cuộc sống vững chải về kinh tế, để được an nhàn mà vui sống cảnh điền viên! Bởi vì ngoài thiên tai, còn là nơi đã chịu nhiều oan nghiệt về chiến tranh dai dẳng, khiến cho tâm hồn họ phải chai lì, đời sống thì với những bất trắc chực chờ, đói nghèo và thiếu thốn đủ thứ ... Như vậy điều gì đã khiến cho họ phải gắn bó với cuộc sống nơi đâỷ Có lẽ chỉ còn là tình cảm, chỉ còn những kỷ niệm nào đó đã ghi lại trong tâm hồn họ, khiến cho họ phải luyến lưu phải gắn bó...
Kỷ niệm ấy có thể là hương lòng của Tiên tổ , có thể là nếp sống chất phác mà hiền hoà, đơn sơ mà hồn nhiên cùng với tình keo sơn của bà con làng xóm... Những mối liên hệ ấy là một chất keo gắn liền đời sống với nhau như anh em một nhà. (tình cảm ấy cũng có thể là tình đồng bào, được bắt nguồn từ huyền thoại Mẹ Âu cơ sinh trăm trứng, nở thành trăm con, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển nhưng núi và biển vẫn nằm trong một Tổ quốc, cho nên con cháu sau nầy đều vẫn là anh em) .
Các cuộc sinh hoạt làng xã, họ thường gặp gỡ nhau ở ngoài đồng ruộng, trong các buổi hội hè, gặp nhau trong những ngày mùa đang gánh lúa về trên con đường làng thơm mùi tóc rạ, họ chia xẻ cùng nhau những niềm vui khi đứng nhìn ra cánh đồng chín vàng trĩu đầy bông lúa và nhất là những điệu hò câu hát của những đêm giã gạo dưới trăng...
Hò ơị..
Đứng bên ni khe ngó qua bên tê khe thấy bụi tre,
bụi trừa bụi đựng
Ngó xuống dưới sông nọ có mấy hòn đá,
hòn dựng hòn nằm
Thiếp với chàng là đạo nghĩa trăm năm
Dẫu mai sau không thành chồng vợ, nhưng sớm
viếng tối thăm cũng tình!
Những hình ảnh như bụi tre, hòn đá chỉ là những biểu tượng để ví von, so sánh mà thôi, chứ nó không liên quan gì đến tình cảm của con người, mà ở đây "đạo nghĩa" mới là quan trọng, nó chính là rường cột của giềng mối, là chất keo để ràng buc và bảo vệ cái tình cảm thiêng liêng đã in sâu trong tâm khảm của mọi ngườị Những người đã sống chung với nhau cùng xóm, cùng làng thì dẩu không phải là bà con họ hàng, không phải là anh em ruột thịt, dẫu không thành tình nghĩa vợ chồng với nhaụ.. Nhưng cùng chia xẻ những niềm vui nỗi buồn, hay thăm viếng và giúp đở lẫn nhau trong lức hoạn nạn, thì đó cũng là những an ủi cần thiết cho chúng ta trong đời sống nầy rồi (Bà con xa không bằng láng giềng gần mà!). Tình cảm ấy cũng không hẳn chỉ dành cho những người đã chung sống với nhau lâu năm, mà còn đối với những người mới cùng hạnh ngộ, cho dù chỉ là một khách vãng lai:
Ai về phố Hi , sông Cầu
Để thương để nhớ, để sầu cho aỉ
Để sầu cho khách vãng lai
Để thương để nhớ cho aỉ để sầu!
Để sầu cho khách vãng lai, hay để sầu cho người ở lạỉ Cũng chỉ là những câu hỏi được lặp đi lặp lại như một nỗi i dùng dằng giữa kẻ ở người đi, như nỗi luyến tiếc một cái gì thật mơ hồ, nhưng biết rồi đây sẽ tàn phai theo ly biệt! Nghe nó thật là ngổn ngang trăm mối, bởi vì câu hỏi trước thì chỉ thuần tuý là một câu hỏi, chỉ cần một câu trả lời là xong thí dụ như: (nếu biết rằng em đã lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong!) , như vậy là đã được giải quyết một cách thoả đáng rồi, không còn gì để mà phân vân nữa cả. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng mới chính là vấn đề cần phải suy luận, vì nó vừa là một câu hỏi mà cũng vừa là một lời than! Một câu mà thành ra hai câu, một câu hỏi và một lời than chăng? Cũng có thể lắm chứ, (Để thương để nhớ cho aỉ để sầụ..), mới nghe thì cũng chỉ lặp lại câu hỏi trước, nhưng nhìn kỹ thì đoạn sau lại được (hay bị) đảo ngữ, cho nên không biết đây là câu hỏi hay câu trả lời đâỷ Chữ "để sầu" treo lơ lững ở phía đàng sau như một nỗi than trách ai đó, nó không còn nằm trong phạm vi câu hỏi nưã, mà nó đã rớt lại đằng sau như còn lưu luyến một cái gì, thật thiết tha biết mấỷ Câu hỏi kế tiếp cũng bắt nguồn từ manh nha tình cảm:
Ra về có nhớ em không?
Hay là xuôi buồm thuận gió biệt mong xa chừng!
Ở đời cảnh hợp tan thì làm sao mà tránh khỏỉ Vẫn biết vậy nhưng khi đã dan díu với nhau rồi, thì ai bắt mình phải xa lánh những ước mơ thầm kín? Của một lần đã cùng ai hẹn biển thề non! Đã một lần cùng ai nói câu ước hẹn, cho nên nỗi phân vân cứ đeo đẳng mãi không thôi!
Ra về sao đặng mà về?
Bỏ non bỏ nước, bỏ mấy lời thề cho ai!
Bỏ non, bỏ nước... thì chắc là có thể bỏ được, vì đây không phải là nơi "chôn Nhau cắt Rốn", đây không phải là quê hương xứ sở chi của mình, thì đến hay đi cũng không thành vấn đề chi mấỵ.. Nhưng còn "mấy lời thề" nó mới là rắc rối làm saỏ Bỏ lại cho ai đâỷ ...
Đối với những người mới quen biết thì họ chỉ bóng gió, với lời lẽ tuy chơn chất nhưng thiết tha, tuy quê mùa nhưng gói ghém một tình cảm thiệt thâm thúy đến đường nàọ.. Còn đối với những người (xa xôi chi đó mà lầm, phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm) thì saỏ Họ có đối đãi với nhau như thế chăng? Có lẽ là không đâu, vì họ có cần chi phải "bóng gió" cho thêm mệt, lại phải đi vòng vo tam quốc cho hao xăng tốn nhớt? Cho mệt trí phí sức, cứ đi thẳng một dường mực tàu, để "thâu ngắn đường về", mặc dầu đôi khi vẫn biết rằng: "Thẳng mực tàu thì đau lòng g " đấy! :
Mấy anh chưa vợ quanh năm
Đêm đông lạnh giá anh nằm với aỉ
Thiệt nghe cũng khó trả lời đây có phải không các bạn "tu mi nam tử"? Ai đâu lại đi hỏi cắc cớ như thế nầy, biết mần răng mà trả lời cho xuôi thuyền mát máỉ Biết làm sao mà trả lời cho nghe được cái lỗ taỉ Làm sao mà mở ra một con đường uyên nguyên cho cõi đi về khỏi cô đơn giá lạnh? Bởi vì anh vốn là một kẻ quê mùa dân dã, nghèo khó một đời thì làm sao dám cùng người để "gối phụng chăn loan"? Bởi vì anh chỉ là một gã tiều phu đốn củi thì làm sao dám mơ ước được nằm với aỉ Bởi vì thân phận của anh "Khó nghèo ở chốn sơn lâm, mai than chiều củi, gặp trầm họa may", cái họa may nầy cũng hiếm hoi lắm đó, vì trầm là một loại gỗ quý hiếm, thì làm sao mà bắt được giữa hư không? Cho nên câu hỏi nầy xem ra đã bí lối, không tìm được câu trả lời thì thấy cũng mất mặt cả "đấng nam nhi", mà câu trả lời không được chí lý thì làm sao tránh khỏi miệng đời hay dòm ngó, thị phỉ Cho nên cũng có người phải suy nghĩ nát óc để tìm ra câu trả lời để họa may cứu vãn tình thế! May thay một đấng nho thâm uyên bác đã thay thế chúng ta để "gở rối tơ lòng"!:
Em hỏi chi chuyện ấy cho mất công
Nếu nóng thì anh nằm ngủ thẳng, mà lạnh thì
nằm cong khó gì?
Lành thay, lành thay mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa rồi, vì anh đây đâu phải còn cái diện "ăn chưa no, co chưa ấm" nữa đâu, mà phải đi mắc mưu cái phận "thuyền quyên" đánh cờ còn chưa sạch nước cản? Nếu còn câu nào hóc hiểm nữa thì cứ đem ra, nếu anh trả lời không đặng thì anh nguyện sẽ "làm phận đàn bà như em!".
Anh trèo lên cây sung cũng biết mùi sung sướng
Anh chê tơ anh kén lụa, thì lụa cũng là tằm
Em đố anh một năm mười hai tháng, tháng mô
không rằm rứa anh?
Đối thì phải đáp, hỏi thì dĩ nhiên phải trả lời nhưng câu hỏi nầy cũng hơi có phần gay cấn, vì tháng nào lại tháng không có rằm? "Nó" đã khôn ngoan đi nằm chính giữa để khỏi mất phần mền, dù ai có kéo qua kéo lại thì trên thân nó cũng đủ chăn ấm với nệm êm, bây chừ biết tìm mô ra một thằng "dại" đã được nằm giữa mà lại bỏ mất phần mền đây em? Thôi thì "phóng lao thì phải theo lao", đã lỡ leo lên lưng cọp rồi thì ai dại gì nhào xuống cho bị cọp vồ? Vẫn biết tơ với lụa thì cũng phát xuất tự tằm, mà con tằm thì cũng chỉ là loài sâu chớ quý hồ chi đây mà anh phải chọn? Nhưng một năm mười hai tháng mà tháng mô lại không có rằm thì lại là một câu hỏi "bất thường"! Nhưng dù sao đi nữa thì anh cũng phải vận dụng cái "trí thông minh" để trả lời cái câu lắt léo:
Em trèo lên cây cam cũng biết là cây cam khổ
Em che chài em chọn lái, thì lái cũng là gai
Một năm mười hai tháng, tháng đào hoa kết
trái là tháng không rằm em ơi!
Đối đáp như vậy thì còn bắt bẻ vào đâu vì chài và lái thì cũng lấy từ cây gai để thất để nối, mặc dầu lá gai còn dùng để làm bánh ít, được nhiều công dụng cho dân quê như cũng chỉ là loài cây cỏ dại mọc khắp ven rừng, thì có gì quý báu đâu mà phải chọn lựả
Còn "tháng đào hoa kết trái" thì mới chính là cái tháng hiếm quý nhất trên đời, cho nên tháng ấy không có "ngày rằm" là phải, nếu ai không tin thì hãy cứ trồng hoa đào mà đợi xem!
Bởi vì tháng ấy nó đằm thắm như tình cảm của các thanh niên thiếu nữ ở nơi đồng quê thôn dã tình cảm ấy nó thơm ngát như cỏ nội hoa đồng, chân phương như một màu bát ngát của cánh đồng lúa vàng, đang nằm trải dài phơi mình trong nắng sớm... Tình cảm ấy đã gói ghém một bản chất đôn hậu nhưng chân thành, đã thể hiện qua điệu hò câu hát của miền dân dã. Tâm sự ấy đã gắn liền với nếp sống hàng ngày như hơi thở, đem nguồn vui đến như bao tiếng cười dòn tan của trai gái trong làng, mỗi lần gặp nhau đầu ngõ.
Khi mới mở mắt chào đời chúng ta đã nghe tiếng ru của Mẹ, tiếng hát của anh, câu hò của chị... Hòa cùng bao niềm yêu mến của bà con xóm giềng, là những chất liệu đã nuôi dưỡng cho chúng ta khôn lớn, ấp ủ cho chúng ta có một tâm hồn phong phú về nền văn học dân gian, mà nó vẫn tiềm tàng trong chúng ta, nó vẫn chiếm ngự nguy nga giữa lòng mọi người dù còn ở nơi quê nhà, hay không may phải nghìn trùng xa cách! Vì nền văn học ấy đã chất chứa đầy tính chất của dân tộc Việt, tạo nguồn vui cho gia đình và xã hội .

Nguồn: kientruc-vn.org
READ MORE - ĐAN HÀ - CÂU HÒ QUẢNG TRỊ

TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - ĐÊM ĐÔNG



Đêm đông

Lạnh

Cầm cập run

Ngoài kia gió bấc,

mưa phùn rơi rơi.

Lần tìm hơi ấm

người ơi!

Lòng nghe mặn chát,

tả tơi lệ nhòa.

Tuột rồi.

Choàng mớ chăn hoa

Ủ cùng

đắp đối

cho qua tháng ngày.

Xa rồi.

Đâu hỡi vòng tay?

Xa rồi.

Đâu nữa nồng say

rượu tình!

Bây giờ

cô lẻ một mình

Cầm lòng sao đặng

khi bình minh lên?


T.T.H.N



ĐÊM ĐÔNG - MỘT BÀI THƠ CẢM ĐỘNG

Lời bình: LÊ BÁ DUY


Trong bốn mùa Xuân- Hạ-Thu - Đông, mùa nào cũng là đề tài cho thi sĩ làm thơ giải bày tâm trạng. Nhiều thi sĩ viết về mùa Xuân với nhiều cung bậc tình cảm; nhiều nhà thơ viết về mùa hạ với nỗi nhớ mong cháy lòng và cũng nhiều tác giả viết về mùa Đông với khát vọng yêu thương ấm áp chân thành. Tôi đã đọc không ít thơ viết trong mùa Đông, nhưng khi vào trang "Đất Đứng" đọc đến bài "Đêm đông" của tác giả trẻ Trương Thị Hằng Nga, tôi thật cảm động, và những cảm xúc ấy dâng trào ra mà khó có những ngôn từ diễn tả cho hết được!

Đêm đông

Lạnh

Cầm cập run

Ngoài kia gió bấc,

mưa phùn rơi rơi ...

Hai câu thơ mở đầu với thể lục bát tách ra 5 dòng gợi trường liên tưởng thời tiết se lạnh của thiên nhiên thường gặp vào mùa đông giá buốt! Chủ thể tiếp nhận cái lạnh thiên nhiên thấm vào da thịt, cầm cập, run rẩy đối lập với tự nhiên bên ngoài "gió bấc" thổi và "mưa phùn rơi rơi". Cái hình ảnh này chúng ta bắt gặp trong đời thường của biết bao người, nhưng đi vào trong thơ Hằng Nga tự nhiên như dòng chảy nhẹ nhàng mang cái buốt giá đêm đông. Trong cái lạnh của thiên nhiên, lẽ thường con người ta tự tìm đến cái ấm để chống chọi với cái rét khắc nghiệt của thời tiết. Do vậy câu thứ 3 và 4 ra đời như một lẽ tự nhiên vốn có: "Lần tìm hơi ấm người ơi! Lòng nghe mặn chát, tả tơi lệ nhòa..." Tại sao "mặn chát"? Tại sao "tả tơi lệ nhòa"? Phải chăng cảnh cô đơn đến xót xa của người phụ nữ khát khao hơi ấm không tìm được trong cái lạnh. Ngay cả trong cái chăn ấm người tìm ấp ủ "cho qua tháng ngày" cũng "tuột" ra ngoài. Nhường cho những hoài niệm, những dòng tâm trạng tuôn trào như dòng sông chảy về biển cả tình yêu ngọt- đắng:

Xa rồi.

Đâu hỡi vòng tay?

Xa rồi.

Đâu nữa nồng say - rượu tình!

Tình cảm con người thật kỳ lạ! Những người đang sống bên nhau thì có thể chưa nhận ra hạnh phúc cạnh mình cứ mãi kiếm tìm nơi chân trời góc bể, những người xa nhau mới cảm thấy hết nỗi cách xa thương nhớ, để tình thương yêu dâng lên với khát khao ấm áp! Thèm cụng nhau chén "rượu tình" chếnh choáng men say trong vòng tay say đắm, trao nhau yêu thương nghìn năm vốn có. "Xa rồi. Đâu rồi hỡi vòng tay?" Hai câu trong một câu lục, nói lên hai điều: Trước hết là khẳng định "Xa rồi"- Nghĩa là tình yêu quá khứ đã không còn nữa hoặc có thể "chia xa" - Có lẽ trắc trở trong tình duyên, một sự trắc trở không ít của các cặp vợ chồng trong cuộc sống...Nhưng có thể khẳng định rằng nhân vật trữ tình trong bài thơ thật sự cô độc. Ý thứ hai trong câu này là một câu hỏi tu từ! "Vòng tay" "không còn" không phải hỏi mà khẳng định! Điệp ngữ "xa rồi" vừa nhấn mạnh vừa khẳng định kết quả cuộc chia tay, không phải tiếc nuối mà là xót xa, quặn thắt!

Ý thơ trải dài, lời thơ cô đọng, tình thơ mênh mang pha chút xót xa chua xót! Hai câu kết khiến người đọc không thể không "cầm lòng" cuốn hút theo tâm trạng tưởng chừng lơ lửng của người thơ: " Bây giờ cô lẻ một mình/ Cầm lòng sao đặng khi bình minh lên ?" Lại kết thúc bằng câu hỏi tu từ nhưng lần này khác với tâm trạng trước. Chính câu hỏi kết bài này giúp bài thơ nâng tầm tư tưởng, hướng niềm cô đơn khát khao cháy bỏng trở nên tích cực hơn, ấm áp hơn. "Khi bình minh lên" chính là lúc mặt trời xua đi giá lạnh, mang lại sự ấm áp cho vạn vật, có cả con người. Và hy vọng mặt trời anh cũng mang lại ấm áp cho tình yêu!

Bài thơ nhẹ nhàng, sâu lắng, đằm thắm nhưng để lại trong lòng người đọc có nỗi buồn xa xót, có tin yêu về tương lai, có hạnh phúc đợi chờ, có bình minh ấm áp của cuộc sống! Với tôi, đây là một bài thơ hay đáng trân trọng!

10.01.2010

L.B.D

READ MORE - TRƯƠNG THỊ HẰNG NGA - ĐÊM ĐÔNG

Thursday, February 17, 2011

MAI THANH TỊNH - VIẾT CHO NGÀY VALENTINE




Tặng: người tôi thương

Se se hơi lạnh muộn mùa

Vòng tay chưa khép bụi mưa rũ chiều

Valentine ngày tình yêu

Ta hôn lên gió thật nhiều gửi em

Cội mai mắc rét dưới thềm

Chơi vơi mấy nụ buồn lem sắc vàng

Hẹn ngày rộn gió vui trăng

Trao nhau môi ấm nồng nàn khát khao

Tìm trong hơi thở ngọt ngào

Hương tình chín rộ vườn nhau ngỡ ngàng


M.T.T

READ MORE - MAI THANH TỊNH - VIẾT CHO NGÀY VALENTINE

Wednesday, February 16, 2011

LINH ĐÀN - Vài nét về HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ và HỘI THƠ HÃN MAI



Hồi tôi mới lớn, tôi thường thấy quý cụ gọi nhau đi dự hội Cổ Học, mỗi lần đi dự hội, quý cụ chuẩn bị mấy ngày trước khăn đóng áo dài cho vào gói đeo vai sẵn sàng, đến ngày đi từ mờ sáng quý cụ quảy gói lên đường rồi đến 3 -4… ngày sau mới về lại nhà, từ làng tôi vào thị xã Quảng Trị tính theo đường QL1 là 24km, sau ngày chia đôi đất nước 1954, việc lưu thông, từ Gio Linh, hoặc Trung Lương vào Quảng Trị phải đi bộ đến Đông Hà, cũng mất gần một buổi sáng, đến chợ Đông Hà mới có xe khách đi Quảng Trị, xe nào xe nấy chật như nêm, phần nhiều là khách đứng, nếu đi đường sông thì phải đi trước 3 ngày, thế nhưng năm nào quý cụ cũng tham gia đông đủ. (Cuối năm 1958 mới có xe đò chạy từ Đông Hà ra Gio Linh, Trung Lương và ngược lại)

Đến năm 1962 tôi được đề cử vào ranh giới Trị Thiên, để đón phái đoàn Cổ Học Trung Ương từ Huế ra, tôi là người trẻ nhất của phân hội Cổ Học Gio Linh, rồi từ đó tôi được ghi danh vào Hội Cổ Học Quảng Trị. Sau nầy tôi vào Hội mới biết tôn chỉ của hội Cổ Học và ngày tế Đức Khổng Tử. tuy tôi được nhập hội nhưng chỉ được nghe ngóng và chấp hành, vì còn quá trẻ, và phải còn “giữ lễ”

Nói về tôn chỉ là phải biết về quan điểm của hội Cổ Học, biết về phần học thuyết NHÂN SINH QUAN, theo quan niệm luân lý Á Đông, và sự suy tôn VẠN THẾ SƯ BIỂU, cùng hiểu qua tiểu sử của Đức Khổng Phu Tử và các môn đệ tiêu biểu của Ngài, như Thầy Nhan Hồi, Thầy Tử Cống, Thầy Mạnh Tử chẳng hạn…

Còn phần tế lễ thì cứ đến giờ Dần ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm là cử hành tại Khổng Miếu, trên chính điện là di ảnh đức Khổng Tử, phía ngoài là lư trầm bát nhang, kế đến là 3 ly nước trong, hai bình bông vàng, và cặp đèn bạch lạp, (không có lễ tế sát sanh) vị chủ tế đội mũ văn, áo rộng xanh, và thầy cúng đọc bài văn tế bằng chữ Hán, không có chiêng trống kèn nhạc, phần nghi thức hết sức long trọng, nhưng chỉ diễn ra trước lúc mặt trời mọc là xong, sau đó là lễ cúng ngoài trời. Khoảng 8 giờ sáng (7giờ sáng hiện nay) vị tỉnh trưởng, nhân viên tỉnh tòa, và các ty sở ban ngành trong tỉnh cùng mặc quốc phục long trọng đến Khổng Miếu niệm hương, dâng hương, đến năm 1963 bắt đầu có mấy vị nữ tham dự, không phân biệt người theo tôn giáo nào, trong Nam thì không biết sao, còn riêng Quảng Trị, chỉ có Phật Giáo, Công Giáo và người thờ Ông Bà gọi là Lương, nên việc tế Đức Khổng Tử diễn ra năm nào cũng có các thầy tu, các linh mục và các cụ đến chiêm bái hết sức long trọng. Có một điều không thể nào quên, là cứ đến ngày 27 tháng 8 hằng năm, đoạn đường Trần Hưng Đạo - Quảng Trị từ phía sau tòa tỉnh, qua ty tiểu học vụ đến cổng Khổng Miếu là toàn bộ khăn đóng áo dài, không thấy bóng dáng một bộ âu phục nào đi qua đó, giống như một quốc gia dưới thời vua chúa xa xưa.

Nói về sinh hoạt của Hội Cổ Học Quảng Trị, tôi thấy sự cung kính chào thưa ngày thường thật sự là nề nếp nho phong, đúng là phép tắc của cổ học, người xưa trọng chữ tín và tuân thủ lễ nghĩa, trọng phẩm cách nhưng không ươn hèn mà họ gọi là “đạo quân tử”. Đạo Quân Tử lấy sự “lập ngôn” (lời nói phải cách) làm đầu gọi là “lễ”, chữ lễ chia ra nhiều cách, như “lễ phép” = phép tắc xưng hô, “lễ nghi” = nghi thức ứng lễ, và “lễ nghĩa” = sự cư xử ở đời cho phải đạo ; thứ 2 là “lập đức” = “đạo đức trong việc ứng xử”, “đạo hạnh trong việc cư xử”, “đạo lý trong việc luân lý”; thứ 3 là “lập chí” = “kiên định lập trường, quyết đoán chính chắn trong việc làm”, và cuối cùng là “lập thân” = “làm tròn 3 nhiệm vụ trên”, đó là “tiêu chí của mỗi hội viên Hội Cổ Học Quảng Trị” ngày xưa. Tôi cũng xin nhắc lại ở đây “Hội Cổ Học” được danh xưng là Đạo Quân Tử nhưng không phải là một tôn giáo.

Song song với Hội Cổ Học là Hội Thơ Hãn Mai còn gọi là Hãn Mai Thi Xã, song hành nhưng rất khiêm tốn với Hội Hương Bình Thi Xã ở Huế. xướng họa thơ Đường Luật, và sáng tác thơ Song Thất Lục Bát, thơ Lục Bát, thơ Phá Thể, Văn Ai, Văn Tế, Phú, Hoành Phi và Câu Đối.

Thường thường Hội Trưởng Cổ Học kiêm luôn chức hội trưởng hội thơ Hãn Mai, hồi tôi mới vào hội, hội trưởng là cụ Tú Tài Nguyễn Hữu Hiệt, gọi tắt là cụ Tú Hiệt, bút danh là Thạch Lữ, (làng Đại Hòa – Triệu Phong), cụ là một nhà thơ nổi tiếng của Quảng Trị, không những thơ Nôm mà còn thơ Chữ Hán, trên các tạp chí của Đài Bắc hay Hồng Kông cũng in thơ Cụ, cụ còn làm thơ thời cuộc, đại để như bài thơ tết năm Đinh Mùi 1967 dưới đây :

KHAI BÚT NĂM ĐINH MÙI
Nhảy vọt sa trường “ngựa” đã ê
Xuống thang mong tới đoạn đường “dê”
Mừng tin gió mới cành hoa nở
Nhớ hẹn trăng xưa chiếc én về
Bức vẽ văn minh nhiều cảnh lạ
Bàn cờ thế cuộc có cơ huề
Đua nhau đốt pháo chào xuân mới
Chẳng nỡ trêu người giữa “giấc mê”.

                                      Thạch Lữ

Tôi không nhớ năm nào cụ Lê Hữu Nguyện (làng Cửa Tùng – Vĩnh Linh, là anh ruột Đức Cha Lê Hữu Từ) lên thay cụ Tú Hiệt, sau đó là cụ Hoàng Trọng Thuần còn gọi là Thầy Thoàn hay cụ Tú Thoàn (làng Phúc Lộc – Triệu Phong) lên nhậm chức, cũng kiêm luôn 2 chức vụ Hội Trưởng. Cụ Thoàn là người năng động, muốn mở rộng hội viên cho lớp trẻ, để không trầm tĩnh như hồi trước, nên các giáo viên các trường tham dự hội khá đông, và phân viện Hán Học Đại Học Huế thường giao du, có linh mục Nguyễn Hy Thích, thầy Giản Chi, thầy Phan Văn Dật, nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, vv… thường tới lui ngâm vịnh. Hội Hãn Mai còn có các nhà thơ lão thành như : cụ cử nhân Trần Doãn Trai (cựu Thị Lang Bộ Hộ) cụ Nghè Ba, Cụ Học Thược, Cụ Mộng Xuân Đoàn Lỗ Bửu, thầy Thái Tăng Liên đều rất uyên Nho, và đặc biệt dung hòa giữa tân học và cổ học như các thầy Lê Đình Ngân, thầy Trợ Khởi, thầy Trợ Triễn, thầy Thông Thạnh, cụ Nguyễn Văn Thư, thầy Trợ Bân, thầy Ấm Đức, thầy Giáo Đích, thầy Trợ Thể, thầy Trợ Đăng, thầy Trợ Ngoạn, cụ Cửu Dương, cụ Xạ Dương, cụ Khóa Dương, thầy Trợ Mễ, cụ Tổng Vận, nghị viên Lê Thọ Dương, cụ Khóa Đào, cụ Khóa Ấm, cụ Phó Đào, cụ Khóa Huyên, cụ Hai Phố, cụ Hoàng Trọng Hưởng, cụ Tổng Quỳnh, cụ Nghị Khôi… và một số giáo viên ty tiểu học vụ Quảng Trị, đa số giáo sư Trường Trung Học Nguyễn Hoàng, và một số thầy ở phân ban Nha Học Chánh Trung Nguyên Trung Phần sốt sắng tham gia.
Năm 1969, có cụ Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy, còn gọi là cụ Đốc Hy (quê Nhan Biều, là bác sĩ đầu tiên của Miền Trung VN) là hội viên hội Cổ Học QT xưa, ở Saigon về thăm quê hơn một tháng, một cuộc xướng họa thỏa thích.

Lại nói về một bài thơ của cụ Kỉnh Chỉ hồi còn ở làng Cổ Đạm (Nghệ An) khoảng năm 1930 có quen cô Tuyết Ngọc, lý do xa nhau thì không nghe Cụ kể lại, nhưng với một bài thơ thật ấn tượng sau năm 1954.

NHỚ TUYẾT-NGỌC
Tuyết-Ngọc bây giờ em ở đâu ?
Trông về Cổ-Đạm chạnh lòng sầu
Chỉn* e yếu-đuối thân bồ-liễu
Phải chịu dày-vò cuộc bể-dâu
Gần-gũi đôi khi nhờ giấc mộng
Xa-xôi ngàn dặm ứa dòng châu
Trùng-phùng ví được ngày nào nữa
Kẻ tóc hoa-râm, kẻ bạc đầu

                                Kỉnh Chỉ
---------------------
Chỉn* e = từ cổ là sợ e
Chỉn e quê khách một mình
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày
Kiều
-------------------------
Bài thơ nầy hồi đó Dương Văn Tường (Hà Thượng) còn học lớp Đệ Nhị (lớp 11 hiện nay) trường TH Nguyễn Hoàng QT họa, được hội thơ Hãn Mai chọn là bài họa hay nhất (vì ngoài 5 vần ra, còn họa luôn 3 vần trắc cuối câu 3, 5, và 7).

NHỚ MỐÍ TÌNH ĐẦU
Nhớ thương giờ cũng chẳng còn đâu
Vương vấn làm chi để chuốc sầu
Vò võ chờ ai bên gốc liễu
Mõi mòn nhớ bạn cuối nương dâu
Thử xem cuộc thế thực hay mộng
Gẫm lại chuyện tình ngọc lẫn châu
Tóc bạc mong chi ngày gặp nữa
Dở dang chi thế mối duyên đầu.

Phụng họa
Dương Văn Tường

Những dòng thơ ngày ấy bây giờ thấy còn nóng hổi, như thuở còn chiến tranh :

KHI TRỞ LẠI LÀNG
Mãi ở trong Nam mới trở về
Viếng thăm làng xóm dạ buồn ghê
Nương vườn bỏ trống dân sưa sết
Đồn bót vây quanh Mỹ bộn bề
Đưa đón đò còn nguyên bến cũ
Lại qua người cũng khác năm tê
Căm hờn muốn vạch trời mà hỏi
Dâu bể gây chi cuộc ấy tề !

Kỉnh Chỉ

Những bài xướng họa thuở ấy được thầy Châu Văn Trần Văn Bân ở ty Tiểu Học Vụ cho đánh máy cẩn thận, nhưng tôi đã làm thất lạc hồi bị giải tỏa nhà quá gấp ở Bà Rịa năm 2003, thật là quá uổng, không biết còn ai giữ được những trang thơ quý hóa nầy hay không.
Rồi cuộc tiễn đưa cụ Kỉnh Chỉ cũng không ít những bài thơ đầy ắp ân tình, vào mùa xuân năm 1970 cụ qua đời, cũng có những bài thơ rơi lệ.

KÍNH ĐIẾU CỤ KỈNH CHỈ
Ba sinh duyên nợ mãn lời nguyền
Nhường chán cõi trần – chọn chỗ yên
Giấc mộng tương tư vàng nhớ tuổi
Thanh bia trường hận đá nhìn tên
Thi mơ tuyệt tác tiên dừng bút
Đàn vắng tri âm khách cặm thuyền
Đâu nữa Hãn Mai ngày hạnh ngộ
Hồn thơ lai láng bể Tây Thiên

Thạch Lữ


KÍNH ĐIẾU Bs PHAN VĂN HY
Cảnh Tiên Ông đã lên rồi
Nơi đây cảnh tục Ông ngồi mà chi !
Tìm đâu cho thấy bậc cao thâm
Thuốc thánh* thơ thần dội tiếng tăm
Nước Hãn đầy vơi lời ứa nghẹn
Non Mai trầm bỗng bóng xa xăm
Làng thơ còn đợi thi hào xướng
Người bệnh đang chờ bác sĩ thăm
Vòi vọi càng trông càng vắng vẻ
Ai ngờ Ông đã bước trăm năm.

                        Phụng bút
                        Linh Đàn
----------------------
Thuốc thánh* = bác sĩ Phan Văn Hy chữa bệnh cả thuốc Tây lẫn thuốc Bắc cực kỳ giỏi
----------------------
Rồi cuối năm 1970 tôi lên Dalat tìm kế sinh nhai, không ở Quảng Trị nữa, hơn nữa hồi đó sự liên lạc với nhau không có phương tiện hiện đại như ngày nay, nên không còn biết gì về hội Cổ Học cũng như Hội thơ Hãn Mai nữa. vì vậy sau đó tôi viết bốn chữ hoành phi “MAI HÃN TINH THẦN” treo trên nhà ở Dalat để làm kỷ niệm “một ẩn số riêng” cất giấu trong lòng.

Không ngờ lên Dalat lại gặp Dương Văn Tường là Sinh Viên Trường Võ Bị Quốc Gia trong những ngày chủ nhật, mà thật có duyên, nay lại gặp rất nhiều lần ở Saigon, là cựu hội viên hội thơ Hãn Mai trẻ nhất còn sót lại.

Rồi chiến cuộc năm 1972, Quảng Trị lại một lần tan nát, dân chúng hốt hoảng ra đi trong cơn lửa loạn, tình cờ tôi gặp nhà thơ Phan Văn Chiêu (là cháu gọi cụ Kỉnh Chỉ bằng bác ruột) chạy lên Dalat, sau một thời gian hoàn hồn, anh cũng nhắc lại bài thơ tặng cụ Kỉnh Chỉ hồi năm 1969 tại quê nhà.

MỪNG BÁC KỈNH CHỈ VỀ THĂM
Mười mấy năm hơn bác mới về
Quê nhà gặp bác thật mừng ghê
Bà con đón hỏi lòng sung sướng
Quan khách hàn huyên dạ hả hê
Hội ngộ câu thơ ngâm sảng khoái
Tương phùng chén rượu rót tràn trề
Biết bao thế hệ thay màu tóc
Nhìn thấy quê hương vẫn não nề

                     Phan Văn Chiêu

Bài thơ nầy có 3 vần rất khó họa, hôm ấy tại Nhuận Ký Tửu Gia cụ Kỉnh Chỉ treo giải một con gà luộc, một rá tôm hùm và 2 chai sâmbanh nếu ai họa được vần “hả hê”, “tràn trề”, Linh Đàn hồi đó còn tấp tững nhưng cũng cố trổ tài, chỉ một giờ sau là có bài họa (thay lời Kỉnh Chỉ).

TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG
Lâu lâu mới có một lần về
Ngắm cảnh quê nhà nhớ nhớ ghê
Cụ lão ngày nào ngồi chững chạc
Thầy chùa thuở nọ tụng ha hê
Lần theo tường nát đau chân lội
Đứng giữa nhà hoang chép miệng trề
Chiến trận hết rồi - về sửa lại
Dù bao gian khổ vẫn không nề

                      Linh Đàn (họa)

Thế là bữa tiệc hôm đó tăng thêm “phần treo giải” thật là tuyệt diệu.

---o0O0o---

Ôi ! Những bước đường lưu lạc xứ người, những hình ảnh quê hương sâu nặng bao đời có còn chăng trên gối ! người đời sau ai còn biết những sinh hoạt đầy ắp tính nhân văn mà Quảng Trị có một thời tô đậm.

Nhớ cùng đêm nhớ.

Saigon mùa Xuân năm Canh Dần 2010.
Linh Đàn

Nguồn: Bài và hình từ trang http://newvietart.com/




READ MORE - LINH ĐÀN - Vài nét về HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ và HỘI THƠ HÃN MAI

Sunday, February 13, 2011

GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?

Trường Bồ Đề, Quảng Trị


GIANG ĐÔNG là bút hiệu của ĐOÀN VĂN ĐÔNG, sinh năm 1954, chánh trú quán Đâu Kênh, Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị, đang công tác tại UB MTTQ VN Xã Triệu Long. Là người yêu quê hương làng nước và yêu văn học, nên ngoài công tác xã hội và việc gia đình như một nông dân, anh dành hết thì giờ cầm bút ghi lại những cảm xúc của mình về sinh hoạt của làng xóm và những kỷ niệm riêng tư để giao lưu vui vẻ với bạn bè lúc nhàn hạ. Hiện anh là Ủy viên BCH CLB THƠ VN tại Quảng Trị.

ĐT: 0169 981 9670.

VNQT xin giới thiệu một số sáng tác do tác giả gởi tặng.



NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?*


Ngày ấy đâu rồi?

Tuổi ấu thơ tôi trôi bồng bềnh trong chiếc nôi và vòng tay ấu yếm của các chị và tiếng ru của mẹ:

Cầu mô cao cho bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô trọng cho bằng nghĩa thầy mẹ sinh con
Vi dầu nước chảy, đá mòn
Trăm năm đi nửa lòng còn thương nhớ

Rồi lớn lên dần bước chân đi chập chững, nói bi bô, tiếng cu ơi nghe dễ thương làm sao. Mỗi độ xuân về được mẹ mua cho đôi guốc gỗ, chiếc mũ nhựa, bộ quần áo mới là quá mừng.

Tuổi lên 8 lên 10 theo cậu tôi đi cuốn toóc ở đồng trong làn gió mồm mát rượi với những cánh diều no gió bay cao. Tôi thường đến ngồi học bài ở nhà thờ họ Đoàn đằng sau chiếc cổng tam quan uy nghi. Nhà thờ lợp bằng ngói liệt, bên trong có khán thờ trang nghiêm, lộng lẫy. Năm 1972 nhà thờ đã bị chiến tranh tàn phá, đến nay đã được con cháu trong và ngoài nước trùng tu lại khang trang. Trước mặt nhà thờ có bàu nước và hàng tre rất đẹp, lại có thêm một dãi đất gọi là tháp bút mà đến nay câu ca dao còn lưu truyền:

Bao giờ bút nọ mòn râu
Dĩa nghiêng, lưng cạn mòn câu cung tài.

Xóm Rào thượng, Rào Hạ có bầu sen đầy nước. Mùa hạ về hoa sen, hoa lục bình thoang thoảng hương thơm. Vào tháng 6 âm lịch, khi nước cạn, làng tổ chức phá bầu để bắt cá,với đủ đồ nghề như : chơm, rớ, oi … Tiếng reo hò vui như ngày hội. Giờ thì bàu sen bị lấp cạn, dần trở thảnh vườn rau, ruộng lúa. Hai bên bờ, nhiều hộ đấu thầu làm hồ nuôi cá. Cảnh thơ mộng và vui nhộn ngày xưa không còn nữa.


Ngày ấy đâu rồi?


Cái tuổi rong chơi, bắt bướm, hái hoa trốn nhà đi bắt cá ở các vùng ruộng: Điển Điển, Ổ Gà, Thượng Đuồi. Vào tháng 10 âm lịch, ruộng đã cày phở, ngăn từng ô để tát, ngoài cá có đam (cua đồng) nhiều lắm bắt về làm nước mắm chắm với đọt rau khoai, ăn rất ngon.

Làm sao quên được tuổi học trò hiền lành, vô tư bên những bạn đồng trang lứa, đầy ắp những kỷ niệm, trong đó, có những trò chơi đánh bi, ô làng, tàu bay … Rồi chia phe ném nhau bằng đất ruộng vại vụ trái (hè thu) mỗi chiều tan học về.

Ngày ấy đâu rồi?

Người con gái ở cạnh nhà tôi, tóc còn bỏ thỏng, tính nết hiền từ, dễ thương của cái tuổi mà:

Môi em có cặp trăng rằm
Tóc chưa đầy nữa búi
Trời trong trong mắt trong
(Tuổi mười lăm – Đông Hồ)

Còn tôi vẫn cứ vô tư với những trò nghịch ngợm, có lúc giận hờn vu vơ.

Năm 1971 tôi lên thị xã Quảng Trị học ở Trường Bồ Đề, mà qua cuộc chiến tranh ác liệt, nay vẫn còn lại dấu vết:

Thì thôi thời vận cũng may.
Trường xưa tàn tích, hôm nay vẫn còn
Ngọc em dấu vết chân son
Thầy xưa, bạn cũ sống còn nơi đâu?
(Thăm trường – Giang Đông- 1982)

Những kỷ niệm nơi phố thị ồn ào ngày ấy cứ xa dần trong tôi, kể cả những trò chơi của một thời sau ruộng lúa, lũy tre, dòng sông bến nước …mà mỗi khi ngồi một mình bỗng dưng nhớ lại.

Giờ thì đã mấy mươi năm, tuổi đã gần 60, tóc đã pha màu , mặc dù phải vật lộn với nợ áo cơm nhưng may mắn vẫn hạnh phúc bên vợ con, các cháu. Biết bao người như tôi trong ở tuổi này cũng như vậy. Người mất, người còn với những hoàn cảnh khác nhau.

Những kỷ niệm của một quãng đời hoa niên đẹp đẻ, thơ mộng, dễ thương ấy vẫn còn mãi trong tôi, nhưng đôi khi lại tự hỏi: Ngày ấy đâu rồi ?!


Tháng 6 năm 2010


*Ngày ấy đâu rồi: tên cuả một ca khúc.





DÁNG XUÂN

Gió đưa mưa nhẹ bay về
Hoa mai nở thắm tràn trề hương xuân
Trên đồng lúa mượt màu xanh
Nước về tắm mát dòng kênh quê nhà
Con đò đưa khách lại qua
Cô em nghiêng nón nhẹ khua mái chèo
Lưa thưa cánh én buông chiều
Chao đôi cánh lượn dệt nhiều ước mơ
Quê hương đẹp tựa vần thơ
Dáng xuân in dấu vỗ bờ tháng năm.



XUÂN SANG

Ngoài sân điểm mấy nụ mai vàng
Trong nhà nghi ngút khói trầm nhang
Mưa bụi từng cơn rây hạt nhẹ
Rượu nòng nâng chén đón xuân sang.



ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI

Công đức làng tôi đã khai sinh
Thiêng liêng hai tiếng gọi Đâu Kinh (1)
Chín xóm liền nhau xây nên nghĩa
Hội làng kết lại dựng thành tình
Đình làng lễ tế vui ngày hội (2)
Năm miếu trang nghiêm đấng tiên linh (3)
Dù cho dâu bể bao thay đổi
Đá làng vẫn giữ mãi Đâu Kênh (4)

2004

(1) Theo Châu Ô Cận Lục khi mới lập làng có tên Đâu Kinh.
(2) Còn gọi Đình Trung.
(3) Miếu thờ 5 ngài khai khẩn là: Đoàn, Võ, Đỗ, Lê và Nguyễn.
(4) Theo câu ca “Đá trôi làng không trôi”.



TÔI YÊU

Tôi yêu nước Việt của tôi
Những trang lịch sử một thời liệt oanh
Dòng sông – Bến nước – Con kênh
Lũy tre đồng lúa, nghĩa tình quê hương
Yêu nền văn hóa Đông Sơn
Tổ tiên tỏa sáng, nước non một thời
Xã tắc bền vững đời đời
Hồn thiêng đất nước sáng ngời Thăng Long
Biết bao oanh liệt chiến công
Cờ đào khởi nghĩa non sông yên lành
Tôi yêu mãnh đất Hà Thành
Thủ đô hữu nghị, hòa bình vươn lên
Xứng danh nòi giống rồng tiên
Chung tay xây dựng vững bền Việt Nam.


GIANG ĐÔNG
4/2010




READ MORE - GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?

Saturday, February 12, 2011

VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI



Nhựa sơn là chất kiến tạo cơ bản trong trò chơi ngôn ngữ tạo hình của tôi. Tôi am hiểu luật chơi vì tôi thiết lập trò chơi. Tôi tạo ra hệ thống kỹ thuật, cách dùng màu, thêm vật liệu mới để thay đổi quan niệm cũ kỹ và có phần mòn vẹt về sơn mài lâu nay. Sáng tạo mới cần phải có một hệ hình mới.

Kỹ thuật chủ động tạo sự nứt nẻ, nhăn, mòn thủng....là ngữ pháp căn bản của trò chơi.

Nứt nẻ - sự khô cằn, sa mạc thực dụng, sự thiếu hụt một thứ gì đó, một dưỡng chất cần thiết bị đẩy ra khỏi cái mà cấu trúc nó vốn phải là.

Nhăn - sự ẩm ướt, tự ti, co cụm, sự dư thừa một yếu tố nào đó.

Nứt nẻ và nhăn tạo nên sự đối lập, phản ảnh sự cực đoan của tiểu khí hậu Huế nói riêng và rộng ra là cả miền Trung. Kỹ thuật tạo sự ăn mòn - gây thêm cảm giác bào mòn của thời gian, sự gậm nhấm trong vùng địa văn hóa ấy và rồi những ký tự, hoa văn, rác thải công nghiệp... được gắn trên nền của những cấu trúc bề mặt ấy để tạo ra các trường liên tưởng mới, ngữ nghĩa mới. Các chủ đề như Tự sự về Cố đô, Xác chết của các mẫu tự, Hóa thạch đương đại...lần lượt xuất hiện.

*

* *

Làm sơn mài là tiếp xúc với kim loại, gỗ, nước, đất, lửa... Vì thế, tôi có cơ duyên sát gần với cái huyền nhiệm của hiện hữu, dù chỉ là sát-na.

Biến thể 1: Vẽ nét, tô mảng; tạo hình cây cỏ, lá hoa, người.....tất cả đều có thuộc tính riêng, dáng vẻ riêng. Có tự tánh riêng biệt.

Biến thể 2: Phủ sơn cánh gián lên toàn bộ mặt tranh. Chất sơn sẽ đưa mọi vật có thuộc tính riêng lẻ trở về một màu tối sẫm. Mọi sự vật hòa lẫn vào nhau, trở về cái chung, muôn mà một. Vạn vật nhất thể. Phi nhất phi nhị.

Biến thể 3: Mài tranh, đưa sự vật hiện tượng trở về với uyên nguyên, nhưng mang thêm dáng vẻ và màu sắc mới. Trở về lại với tự tánh riêng biệt. Một nhưng mà muôn.

Đây là ba biến thể của hình tượng cũng là ba công đoạn trọng yếu của kỹ thuật sơn mài.

*

* *

Tôi thể hiện mình, phát hiện ra mình và cuối cùng sáng tạo lại chính bản thân mình thông qua hành trình tìm kiếm cái Đẹp trên chất liệu sơn mài.

Đó chính là ba biến thể hay là đích đến của sự sáng tạo.


Võ Xuân Huy




READ MORE - VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI

Thursday, February 10, 2011

HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG



Buổi tối, ông nội nhủ con cháu kê chiếc chõng tre ra giữa sân. Sau khi nhấp một ngụm nước, ông bắt đầu kể chuyện làng. Tôi lớn lên bằng những câu chuyện của ông; bởi thế mà tôi luôn biết ơn tuổi thơ và không hề cảm thấy chút tiếc nuối nào khi nghĩ về nó.

Dường như chính ấu thời đã hướng con người ta đến với một cung cách sống nào đó. Nếu đúng vậy thì quả thật, sự thanh bình là gam màu chính phác nên bức tranh cuộc sống của tôi. Sau này tôi khát khao được yên tĩnh hơn bất cứ nhu cầu nào trên đời.

Góc vườn nhà tôi có một cây Dạ Lý Hương, hoa thường nở vào độ mùa xuân, sau tết cổ truyền. Một chút gió đi qua hôn nhẹ vào nhuỵ hoa khiến hương tình lan ra ngát cả sân vườn. Có lẽ là hoa cũng đang nghe chuyện của ông với niềm hân hoan thích thú như tôi vậy! Dạ Lý Hương là hoa chỉ thơm về đêm, đúng như tên gọi của nó (dạ nghĩa là đêm), cũng như hoa Tử Đinh Hương chỉ ngát lừng khi ngày đã muộn. Tháng Năm mới đây, lúc đi qua sân trường độ mười giờ đêm, tôi đã ngửi được mùi hoa Tử Đinh Hương. Thú thật là mùi hương ấy không làm tôi vui, nhưng nó khiến tôi lắng lòng hướng về quê nhà. Thuở xưa lắm, khi chưa khai sinh ra loài người - gọi là cổ tích - chàng út nhà bà Pecxia ở xứ Ba Tư đã hoá thành khóm hoa Tử Đinh Hương để bảo vệ mẹ. Chính sự tích ấy đã làm tôi yêu mến hơn hoa Tử Đinh Hương lặng thầm trong buổi tối vừa rồi. Và do đó, tôi nghĩ rằng, những loài hoa nở về đêm thường biểu hiện cho một thứ tình cảm thiêng liêng, ví như Dạ Lý Hương mà tôi đang nói. Dạ Lý Hương là người bạn vong niên từ cổ tích đã trở về đây để cùng với tôi lắng nghe chuyện quê kiểng.

Trong một đêm trăng, giọng kể của ông như hoà quyện và lắng sâu vào trong mùi hương hoa, vị chát lừng nước chè. Sau này mỗi lần lục lại ký ức để tìm tư liệu, tôi luôn hình dung ra mồn một khung cảnh, ngửi thấy dư vị thảo mộc của ngày ấy.

Thuở tôi lên bảy. Tôi nhớ lắm một chiếc chõng tre giản đơn, bộ vạc tre được bện bằng chạc mây và nhẵn bóng đi. Ấm nước chè giữ nhiệt hầu như suốt đêm, cho đến khi nước nguội thì câu chuyện của ông chấm dứt. Ông nội pha nước chè rất ngon! Lá chè sau khi rửa sạch phải vò bằng tay rồi nhúm vào ấm, cho thêm một ít gừng củ đã giã nát, sau đó rót nước sôi cẩn thận. Nước chè phải trong và có màu vàng tươi, có vị chát lẫn cay. Uống nước chè phải dùng chính cái chén ăn cơm mới đúng. Những cái chén ngày ấy thường in cảnh họp làng bằng mực xanh. Bây giờ chén kiểu này không ai sản xuất nữa. Thời sinh viên ở Huế, tôi có ghé vào ven đường bên bờ sông Hương và thấy những chiếc chén này đã thành đồ cổ đưa ra bán cho giới sưu tập. Chao ôi, những nét đẹp làng quê mới đây thôi, vẫn đấy thôi mà đã hoá cổ ngay trước mắt ta sao? Người ta bảo thời gian đời người trôi nhanh. Ấy vậy mà thời gian của dòng chảy văn hoá có lẽ còn nhanh hơn. Đấy mới là cái đáng sợ hơn cả!



Từ đường họ Hoàng ở làng Phúc Lộc

Chuyện của ông không có hệ thống, không trật tự, nhớ đâu kể đấy, nhưng tôi không hề cảm thấy lộn xộn rắc rối. Tôi tự sắp xếp những câu chuyện ấy vào trong ngăn đẹp nhất và trang trọng nhất của tâm hồn mình.

Ông ngồi trong đêm, tĩnh tại mà sâu sắc, trầm ngâm nhưng nhiệt huyết - hình ảnh ấy khiên tôi liên tưởng đến một người nhắc sử làng vĩ đại. Ông kể và tôi nghe, không hề có giấy bút ghi lại; thế nhưng tháng năm đi qua vẫn không làm tôi quên được.

Tôi không quá tự tin vào trí nhớ của mình, nhưng tôi có thể khắng định rằng, nếu như một ngày nào đó tôi bị xoá nhoà nhiều thứ, thì cái còn lại sau cùng là những câu chuyện làng mà ông đã kể. Bởi như một triết gia đã nói: "Người ta có thể mang đứa trẻ ra khỏi quê hương của nó, nhưng không thể nào mang quê hương ra khỏi trí nhớ và tâm hồn một con người!".

Minsk 9.2009

H.C.D

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG

TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN





Hoa lê nở trắng cành cao

Đôi chim én nhỏ bay vào vườn xuân

Chuồn chuồn ớt cánh phân vân

Đậu rồi bên nụ tầm xuân biếc lòng

Cỏ xanh ngậm hạt sương trong

Chập chờn cánh bướm thong dong ven bờ

Xuân sang rải giọt nắng mơ

Con ong kiếm mật thẩn thơ ra vào

Em về má ửng sắc đào

Gió xuân thầm thỉ chạm vào yêu thương

Sao khuya thức đếm đêm trường

Buông mình rơi xuống vấn vương tình đời!

Vườn ai nẩy lộc đâm chồi

Áo xuân đã khoác cho người thêm xuân!



T.L.A

READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN