Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 29, 2010

HOÀNG CÔNG DANH - VỀ ĐI!


Truyện ngắn


Một năm nay, sư thầy về quê thường xuyên hơn, ít nhất mỗi tháng một lần. Ông cụ thân sinh của thầy đã già yếu lắm rồi. Trước ngày rời chùa, bao giờ thầy cũng thu xếp mọi việc, căn dặn đệ tử rồi mới an tâm xách túi vải màu lam thong dong bước ra cửa.

Những chuyến về quê thầy thường cho điệu Sanh đi cùng. Có lẽ tại điệu Sanh là chú tiểu nhỏ tuổi nhất trong các đệ tử nên được thầy cưng chiều hơn cả. Với lại thầy biết điệu Sanh vốn tính hiếu động, ở chùa mà vắng thầy thì thể nào điệu cũng bày trò quấy rầy các sư huynh hoặc khách hữu đến thăm viếng. Về quê, thầy nói cho điệu Sanh đi cùng vừa để chùa “yên”, cũng là để điệu ấy được tu. Điệu Sanh thắc mắc: “Tu là phải ở trong chùa, có Phật mới tu được chứ?” Thầy mỉm cười nhẹ, bao giờ điệu Sanh thắc mắc những điều như thế, thầy cũng chỉ cười mà không trả lời.

Ra đến cổng chùa, điệu Sanh lại hỏi: “Thầy ơi! Hôm qua con nghe các sư huynh nói đi tu là quên hết chuyện gia đình. Sao giờ thầy lại về quê?” Sư thầy dừng chân, yên lặng một lúc rồi lại mỉm cười hiền dịu và quay sang phía điệu: “Vậy điệu Sanh ở lại chùa, để thầy về quê một mình, nghe”. Nói xong thầy rảo bước đi. Điệu Sanh chạy theo cầm lấy vạt áo nâu. Thầy đưa tay lên xoa đầu điệu Sanh: “Thôi nhanh lên con, sắp tới giờ xe chạy rồi”.

Mất gần ba tiếng đồng hồ ngồi xe, sau đó hai thầy trò thả bộ chừng ba mươi phút mới tới được quê nhà của thầy. Con đường làng hai bên cỏ rợp lên, những bông cỏ dại nở màu vàng trắng tím khiến điệu Sanh thích thú. Đi một chặng, điệu Sanh cúi xuống hái hoa hoặc đuổi chụp cánh bướm vờn, rồi lại lon ton chạy theo thầy. Mỗi lần như thế, thầy lại mắng yêu: “Trên đường cứ mải hái hoa nghịch bướm thì chừng nào mới tới được”. Rồi như để điệu Sanh bớt nghịch, thầy kể chuyện cho điệu Sanh nghe. Mà điệu Sanh lại hay tò mò. Điệu Sanh hỏi: “Thầy ơi! Sao thầy lại đi tu? Có phải thầy cũng ghét cha mẹ như con không?”.

Sư thầy không trả lời. Nhưng câu hỏi đã khiến thầy như chạnh nhớ. Ký ức tưởng đã xa xăm chìm vào lãng quên.

*

Hồi mười tám tuổi, sư thầy lúc đó là chàng trai làng tên Khôi sức vóc, siêng năng.

Khôi thương cô Nguyệt cùng làng. Cô Nguyệt hiền lành, xinh xắn. Cả làng ai cũng khen hai người đẹp đôi. Đi làm đồng, lúc nghỉ giữa buổi thể nào Khôi cũng kéo Nguyệt lên trên triền cỏ ngồi tâm tình. Khôi khéo ăn nói, cả làng bảo thằng này đi cưa gái lắm đứa chết mê. Nhưng Khôi chỉ để ý đến Nguyệt. Biết tin hai người có tình cảm với nhau, ông giáo Tuệ, cha của Khôi, liền ngăn cấm.

Ông Tuệ chê nhà cô Nguyệt nghèo. Cha Nguyệt mất sớm. Song thân đằng ấy không đầy đủ. Không môn đăng hộ đối. Nguyệt còn có một chị gái, một em gái; nòi nhà toàn… cái. Mà Khôi là con trai duy nhất của ông giáo Tuệ, phải đẻ cháu đích tôn. Ông dõng dạc nói như phán: thằng Khôi nhà này không thể lấy con Nguyệt. Cấm!

Ông giáo Tuệ vốn là người nhất nhất nghi lễ. Biết cha mình “phong kiến” và nghiêm chỉnh, cộng với chút nông nổi tuổi trẻ, Khôi quyết chí bỏ làng đi vào Nam. Đi suốt một ngày chàng vẫn chưa hết buồn lòng, nhưng lại đói lòng, thế là Khôi tìm vào một ngôi chùa. Chàng ở lại chùa rồi xin xuống tóc. Tu luôn!

Ừ! Thầy đi tu có phải cũng vì ghét cha mẹ như điệu Sanh không?

*

Đến nhà rồi. Điệu Sanh ném mấy bông hoa dại mới ngắt lúc nãy, cùng thầy bước chậm vào ngõ. Cụ giáo Tuệ nằm trên giường ngó ra như thể ngóng đợi. Sư thầy mới bước qua cửa thì ông cụ Tuệ đã bật lời rền rĩ như mắng: “Về đi! Tu chi cho khổ”. Rồi cụ cố nghiêng người quay mặt vào tường. Sư thầy nhìn mọi người trong nhà và mỉm cười. Nụ cười thanh thoát của vị sư hai nhăm tuổi đạo.

Hai tháng sau, điệu Sanh lại theo sư thầy về quê. Thấy sư thầy gấp gáp chuẩn bị túi vải, điệu Sanh bớt hoang, dọc đường không nghịch hoa hay hỏi han nữa. Ông cụ Tuệ yếu hẳn đi, gầy rộc, nằm yên ắng. Cụ vẫy vẫy sư thầy tới, đưa tay kéo đầu thầy xuống và nói nhỏ vào tai, lần này không mắng. Cụ không còn sức mắng, hay là cụ đang năn nỉ? “Về đi! Lấy vợ. Cháu đích tôn”. Và sư thầy cũng không cười như lần trước nữa, dù chỉ là một nụ cười mỉm thật nhẹ.

Tu là để đạt đạo. Mà hiếu cũng là đạo. Hiếu đạo. Ngày xưa thái tử Tất Đạt Đa đã từng có vợ, sinh cháu cho phụ vương rồi mới đi tu để thành Phật. Vậy là Ngài trọn hiếu đạo.

Tu là đi. Về cũng là đi. Về đi! Tu, đi hoài liệu có tới cõi Phật? Nhưng về, ít nhất đối với sư thầy lúc này, về là sẽ tới... cõi người.

Sư thầy trầm ngâm nghĩ suy từ lúc ấy cho đến khi quay lại chùa. Trong thầy hai chữ về đi cứ thổn thức. Thầy như chìm vào cơn mê kiểu giấc mơ Trang Tử. “Không biết ta là sư thầy giữa cõi người? Hay ta là người thường lạc giữa cõi đạo?”

Đám tang cụ Tuệ tổ chức trọng thể. Đám làm cơm chay và theo nghi thức nhà Phật. Lễ nhập liệm, lễ cầu siêu… đều có các thầy trong giáo hội và đoàn sinh Phật tử tụng kinh. Đêm trước ngày di quan, mọi người đã đi nghỉ cả rồi, chỉ còn sư thầy ngồi trước bàn vong niệm kinh Sám Hối.

*

Thuở ấy tôi là điệu Sanh, nghịch ngợm bướng bỉnh, không yêu thương cha mẹ nên được gửi vào chùa tu để cải nghiệp. Tôi là con trai duy nhất của cha mẹ.

Đêm tôi ngồi trước thềm chùa, lá si rơi từng chiếc tán xuống sân.

Về đi!

Về đi!

Về đi!


Nguồn: www.daibieunhandan.vn
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - VỀ ĐI!

Sunday, November 28, 2010

TRẦN HỮU TÁ - ĐÔI GIÒNG CẢM XÚC VỀ TẬP THƠ NGUỒN CỘI CỦA PHẠM BÁ NHƠN



VỀ HUẾ
Thơ: Phạm Bá nhơn - Nhạc: Võ Công Diên - Ca sĩ: Bảo Yến

Dân tộc ta vốn rất yêu thơ. Ngay từ thời xa xưa bên cạnh những tên tuổi lẫy lừng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương…đã có không ít những nhà thơ “không chuyên” - các hoàng đế, các thiền sư, các võ tướng đã góp phần làm cho nền thơ dân tộc thêm đa dạng về chủng loại và lộng lẫy sắc hương.

Ngày nay truyền thống tốt đẹp ấy đã được tiếp nối một cách tự nhiên và sôi nổi, dồi dào hơn trước. Nói là “đẹp”, vì suy cho cùng nếu một dân tộc có nhiều nhà thơ, e rằng dân sẽ dễ bị đói, nhưng nếu có rất nhiều người yêu thơ, cuộc sống tinh thần của dân tộc ấy sẽ trong sáng, hướng thiện, không bị văn minh vật chất với lối sống thực dụng tầm thường lũng đoạn. Nhà doanh nghiệp Phạm Bá Nhơn thuộc lực lượng "không chuyên" ấy và tập Nguồn cội mà quí bạn đọc đang có trên tay là thi phẩm thứ hai của anh.

Bị chìm trong guồng quay đến chóng mặt của công việc kinh doanh xây dựng, anh vẫn tỉnh táo để cố thu xếp cho mình những phút giây nhàn rỗi hiếm hoi. Những đêm khuya "khi tỉnh mộng lúc tàn canh", những lúc dong duổi trên đường thiên lý hoặc trên tầng cao của mây trời, để thả hồn vào mảnh vườn thơ tĩnh lặng của riêng mình. Trước khi đứa con tinh thần của Phạm Bá Nhơn có được những người tri kỉ, anh muốn qua thơ để có thể thầm thì tâm sự với chính mình.

100 bài thơ, dài nhất cũng chỉ 9 khổ 36 câu thơ (Nỗi niềm xa xứ), ngắn nhất là chùm 7 bài tứ tuyệt (Vô đề, Ngẫm, Nghĩa tình vô tận, Với mình, Với đời, Sự đời, Đạo nghiệp); thể thơ khá quen thuộc (năm chữ, bảy chữ, tám chữ, lục bát); chữ nghĩa chân phương (đôi khi chưa được gia công trau chuốt); hình ảnh gần gũi (cũng có lúc bị trùng lặp); nhưng điều đáng trân trọng ghi nhận từ tập này là sự chân thành - tâm trạng chân thành, cảm xúc chân thành. Cũng có lúc anh suy tư và có thể cũng khiến ai đó trong chúng ta có sự thông cảm, thậm chí đồng cảm:

Trăm năm trong cõi siêu hình

Dường như có chút vô tình đã qua

Cũng là một kiếp người ta

Mà sao tìm mãi chưa là của nhau

(Vô đề)

Nhưng thế mạnh của thơ anh là ở chỗ khác: anh thể hiện khá hồn nhiên những tình cảm thấm đẫm chất nhân văn vốn đã thường xuyên đi về trong thơ ca của muôn đời và mọi nơi, nhưng vẫn có chút gì đấy, sắc thái nào đấy của riêng Phạm Bá Nhơn. Ngẫm về hạnh phúc “ngày thơ còn mẹ” và ngược lại, hạnh phúc của người mẹ khi có con thơ trong vòng tay yêu thương, anh có những câu thơ đẹp”

Mỗi ngày có mẹ một ngày xuân

Nhìn con khôn lớn cùng năm tháng

Quên hết gian lao, mẹ tảo tần

(Ngày thơ còn mẹ)

Do đặc trưng nghề nghiệp, Phạm Bá Nhơn đến với nhiều vùng miền khác nhau của đất nước. Và thật là thú vị, ở nhiều nơi sau những toan tính bàn soạn lạnh lùng về công việc, anh vẫn kịp "chớp" lấy những nét độc đáo của đất trời và con người các nơi đó. Anh có những cảm xúc tinh tế về Thanh Hoá (Mơ về xứ Thanh), Nha Trang (Nha Trang ngày trở lại), Vũng Tàu (Vũng Tàu ngày em đến v.v…) Anh lắng lòng lại, say đắm và tha thiết hơn, với Thủ Đô (Hà Nội trong tôi, Thăng Long Hà Nội ngàn năm, cũng như với Cố Đô (Về Huế, Huế vào xuân, Hẹn cùng với Huế). Thế nhưng dù thành đạt nhưng Phạm Bá Nhơn vẫn khắc khoải, da diết nhớ và nghĩ về quê nghèo Quảng Trị của mình (Hẹn về Quảng Trị, Nỗi niềm xa xứ, Bến sông xưa, Tôi về quê tôi, v.v…). Ngẫm ra trong cuộc sống vừa đa dạng phong phú vừa xô bồ phức tạp hôm nay, có thể tin được những con người không "vong bản", những người mà chỉ cần nhắc đến một bến sông, một bãi cát, một đồi sim, một con đò của nơi chôn nhau cắt rốn cũng khiến mình xốn xang, thao thức. Phạm Bá Nhơn có được nét son đó trong tâm hồn. Vì thế, anh có những câu thơ rất gợi. Và đây là một:

Đêm Gio Linh, trùm chăn trời mưa lạnh

Bến Hải buồn, hoang vắng bãi bồi xa

Thời khói lửa, đất nghèo chia đôi nửa

Thương mẹ cha lặn lội chốn quê nhà

(Hẹn về Quảng Trị )


Nhà thơ Phạm Bá Nhơn


Cũng như những người làm thơ khác, Phạm Bá Nhơn tìm cảm hứng thơ từ dòng suối mát trong lành của tình yêu nam nữ. Anh không quên những rung động thuở học trò (Thuở mộng mơ). Anh nhớ lại mối tình đầu trong sáng (Ngọn gió tình em). Anh “bực mình” với sự hồn nhiên đến mức thiếu trách nhiệm của một người bạn tình nào đấy (Lỡ hẹn). Và anh có cả những vấn vương khá duyên dáng với mối tình đơn phương, âm thầm nín lặng:

Chỉ là hai kẻ người dưng

Sao ta vẫn nhớ, vẫn mừng, vẫn thương

Ước chi mình ở chung đường

Để khi ta nhớ ta thường ghé thăm

Ước chi ngay cửa em nằm

Ta là chiếc bóng trăng rằm soi qua

Nhưng mà em của người ta

Nên chi mình chẳng phải là của nhau

(Lời ước vu vơ)

Đúng là lời ước vu vơ, nhưng thật dễ thương, dễ cảm. Và sự tỉnh táo của hai câu kết cũng khiến ta hiểu thêm nhân cách của người làm thơ.

Như trên đã nói, Phạm Bá Nhơn không phải và không định sống bằng thơ, nhưng cho đến nay (vì ai dám vội vã đoán định tương lai?) anh như muốn luôn được sống với thơ. Có lẽ để tạo “sự cân bằng sinh thái” cho con người làm doanh nghiệp, anh tìm đến sự trong lành, thanh khiết của bầu khí quyển thơ?

Dù gì lý do gì, chúng ta cũng mến và trân trọng đón nhận những sản phẩm tinh thần của Phạm Bá Nhơn, mà Nguồn Cội* là mới nhất. Có lẽ tôi đã dài lời, xin quý bạn đọc hãy trực tiếp lắng nghe tiếng lòng của anh qua các trang thơ.

PGS.TS TRẦN HỮU TÁ


*Phạm Bá Nhơn, Nguồn Cội, Thơ, NXB Văn Học, 2010


MỜI CÁC BẠN TIẾP TỤC VÀO XEM HAI TẬP THƠ KHUNG TRỜI MÂY TRẮNG VÀ NGUỒN CỘI CỦA PHẠM BÁ NHƠN BẰNG CÁCH BẤM VÀO ĐÂY

VÕ VĂN HOA - CẢM NHẬN VỀ TẬP THƠ KHUNG TRỜI MÂY TRẮNG
READ MORE - TRẦN HỮU TÁ - ĐÔI GIÒNG CẢM XÚC VỀ TẬP THƠ NGUỒN CỘI CỦA PHẠM BÁ NHƠN

HỒ SĨ BÌNH - HỘI AN: ĐỜI SỐNG MỸ THUẬT SA SÚT

Ảnh: Nguyễn Khắc Phước


Từ sau khi được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, Hội An với những nét đẹp văn hóa truyền thống đã thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, cũng từ đó phố cổ hình thành một thị trường mỹ thuật sôi động.

Nhiều họa sĩ đã về đây sống và vẽ hoặc mở gallery. Rảo bước trên các ngả đường giữa lòng phố cổ, có thể thấy hàng trăm gallery lớn nhỏ, cá nhân và tập thể; tác phẩm mỹ thuật đích thực không thiếu mà tranh du lịch cũng vô số… Bên cạnh các triển lãm hội họa, còn có nhiều dịch vụ mỹ thuật như vẽ chân dung, truyền thần, chép tranh… và có nhiều người đã thực sự đổi đời nhờ những hoạt động này.

Những tháng gần đây, khi kinh tế thế giới suy thoái, lượng khách du lịch nước ngoài giảm đáng kể thì hoạt động mỹ thuật của Hội An cũng trải qua thời kỳ đầy khó khăn. Tuy nhiên, ngoài sự suy giảm khách du lịch nước ngoài, vẫn còn những lý do khiến hoạt động mỹ thuật ở Hội An lâm vào cảnh chợ chiều.

Phố cổ Hội An với vẻ đẹp đặc trưng ẩn chứa trong những phố phường có bề dày lịch sử, trong một không gian kiến trúc độc đáo với những ngôi nhà cổ hàng trăm năm tuổi, những con đường nhỏ và những ngõ hẹp lô xô mái ngói rêu phong, cùng nếp sống xưa cũ của một cảng thị còn được lưu giữ nguyên vẹn, từng là nơi các họa sĩ nổi tiếng về sống và vẽ, có thể kể: Bùi Xuân Phái, Lưu Công Nhân, Trần Lưu Hậu, Vũ Giáng Hương, Đinh Cường, Bửu Chỉ, Thành Chương…

Đặc biệt, cố họa sĩ Lưu Công Nhân từng ở lại đây một thời gian dài để vẽ; ông mê đắm đến độ chiều ba mươi tết vẫn còn đứng vẽ phố rêu. Ông từng nói: “Ở Hội An ngồi đâu cũng vẽ được tranh, đứng đâu cũng nhìn ra góc đẹp…”. Toàn bộ đô thị cổ này là một bức tranh dưới mắt Lưu Công Nhân. Không phải vô cớ mà Hội An trở thành nơi chốn của tranh. Mối duyên giữa hội họa và phố cổ phát triển sau này có lẽ cũng bắt đầu từ tình yêu của giới mỹ thuật cả nước dành cho Hội An vậy.

Khi Hội An trở thành mảnh đất màu mỡ cho các hoạt động và dịch vụ mỹ thuật thì không chỉ giới họa sĩ chuyên nghiệp mà ngay cả những người chưa từng học vỡ lòng về hội họa cũng nhảy vào kiếm ăn. Không đâu như Hội An: một khu phố nhỏ loanh quanh vài bước chân đã về chốn cũ mà có đến mấy chục gallery bán tranh và các sản phẩm ăn theo, giá cả cỡ nào cũng có. Tranh chép, tranh nhái tác phẩm của những tác giả nổi tiếng xuất hiện khắp nơi; thợ vẽ, nghệ nhân phút chốc biến thành nghệ sĩ!

Hội An trở thành một thị trường tranh sôi động nhất miền Trung với tất cả mặt tích cực và tiêu cực của nó. Một số họa sĩ như Hoàng Đăng Nhuận, Phan Ngọc Minh, Hoàng Đặng, Bùi Công Khánh… lặng lẽ rút lui nhưng cũng có những người khác đến như Từ Duy (gallery Lá Gai), Vĩnh Phong (gallery Ngói Nâu và Làng) hay hai anh em song sinh Lê Ngọc Thanh, Lê Đức Hải…

Trở lại Hội An những ngày này mới thấy đời sống mỹ thuật phố cổ sa sút thật rõ nét: số lượng phòng tranh, gallery còn tồn tại không bằng một nửa ngày trước, người mua cũng vắng vẻ, thưa thớt. Nói về tình trạng này, họa sĩ Huỳnh Thị Nhung cho biết: du khách nước ngoài không chỉ giảm hẳn mà họ cũng không còn mặn mà với tranh pháo như trước đây nữa trong khi đó thì giá thuê mặt bằng và tiền lương cho nhân viên không giảm nên “thị trường tranh ngắc ngoải là điều không tránh khỏi”.

Dễ nhận thấy tranh bày bán khắp nơi tại Hội An hiện nay khai thác sở thích của khách du lịch nước ngoài về sơn mài, song hầu hết được làm không theo quy trình truyền thống, sơn ta được thay bằng sơn hóa học cho mau khô để dễ sản xuất hàng loạt. Chính “công nghệ” làm tranh sơn mài đó đã làm mai một niềm tin ở khách hàng. Ông Bryan, một nhà sưu tập tranh người Ireland, trước đây năm nào cũng đến Hội An khi sang Việt Nam nhưng mấy năm gần đây đã không còn thấy ông dạo bước qua các gallery trên các phố cổ nữa.


Du khách nước ngoài giảm và không còn quan tâm nhiều đến tranh pháo như xưa…


Theo nhà biên kịch phim truyền hình Đoàn Huy Giao, tình trạng bát nháo của đời sống mỹ thuật phố cổ lẽ ra đã không đến nếu những người không chuyên không chiếm lĩnh thị trường. Họa sĩ Phan Ngọc Minh là người gắn bó sâu nặng với phố cổ, anh từng triển lãm tranh tại đây hơn 20 năm trước và từng đem vẻ đẹp của Hội An – Mỹ Sơn đến với nhiều nước trên thế giới.

Anh tâm sự: Hiện nay tranh ở Hội An vàng thau lẫn lộn, thật giả nhập nhằng, người người, nhà nhà mở phòng tranh. Ngay một số họa sĩ cũng nặng kinh doanh, coi nhẹ nghệ thuật, tranh cứ sản xuất rập khuôn theo kiểu souvenir. Theo Phan Ngọc Minh, Hội An là một đô thị văn hóa nên mọi sự phổ biến, truyền bá tác phẩm nghệ thuật phải mang tính thẩm mỹ cao. Anh đề nghị chính quyền địa phương cần khắt khe hơn trong việc cấp phép mở gallery. Cửa hàng lưu niệm phải được phân biệt rạch ròi với gallery mỹ thuật.

Bên cạnh đó, chính quyền thành phố phải thành lập một hội đồng nghệ thuật giám định chất lượng tác giả – tác phẩm để sàng lọc thật giả rồi mới cấp phép. Có như vậy Hội An mới mong sẽ trở lại là một vùng đất mỹ thuật của cả nước, là một địa chỉ mỹ thuật đáng tin cậy trong mắt khách du lịch và các nhà sưu tập tranh nước ngoài…



Bài và ảnh đã đăng trên Doanh nhân Sài Gòn Cuối tuần và www.nguoihoian.info, 15/9/09

READ MORE - HỒ SĨ BÌNH - HỘI AN: ĐỜI SỐNG MỸ THUẬT SA SÚT

Thursday, November 25, 2010

TRẦN XUÂN AN - CHÙM THƠ

Ảnh: Hoàng Hữu Tư


VỀ QUÊ

được phong phanh thuở nọ

quần màu đất nón cời
cùng trâu soi bùn nước
đều là ruộng: mỉm cười

bao năm lạc vào phố

mùi hôi trâu nhớ sao!
ta nặng qua sông rộng
trâu nhẹ thênh làm phao

bước mỏi trên đê cỏ

trâu cõng về xóm nghèo
nửa khuya thành sương biếc
bỏ chuồng, mây bay theo

ta thương ngàn năm cổ

trâu muôn xưa mệt rồi
chào máy cày gặt đập
hai đứa tìm xanh ngơi.



Ảnh: Hoàng Hữu Tư



NHỮNG MÙA HÈ QUÊ XA



tóc mây xoã mượt vai đầy

tôi từ rừng khổ về say láng giềng

chái lều thủng đạn tường nghiêng

nhìn qua đường đất nắng xiên rây vàng
và đêm sao mọc truông làng
mái trời tia biếc chiếu tràn dáng trinh

gió hè tre hóp gầy mình

em tươi mát với nét xinh thon tròn
cát mềm sương khói bãi cồn
bạch đàn rủ lá lả hồn dịu hương

nghe ngai ngái ngợp yêu thương

thắt tim: tay trắng, rụng buông, bao lần…




Ảnh: Hoàng Hữu Tư


THOÁNG XƯA



tôi trở về đây sông ơi

bước trên lối cỏ một thời ấu thơ

ơ kìa chú bé ngây ngô

mải theo chiếc bướm thoắt chờ thoắt bay

dù áo đầy bông cỏ may

súng vang, tiếng mẹ khô gầy tìm con!

vẫn thơm nắng gió say hồn

vời trông cánh nhỏ chập chờn dần xa

sông ơi bao năm trôi qua

thoáng xưa gặp lại ướt nhoà mắt tôi.

1990




Ảnh: Hoàng Hữu Tư

BÀU VỊT VÀ ÁNH TRĂNG



tặng Võ Văn Luyến

và những người anh đồng hương, cùng bạn bè Quảng Trị


bên bờ bàu Vịt tưởng như tù đọng này

các anh ngồi quanh chai rượu
ngâm thơ và hát
trên cành tre
trăng trong veo tưởng như huyền hoặc
trăng nghìn năm dân dã cao vời

bên bờ bàu Vịt bên bờ bàu Vịt

tưởng như mãi hoài câm nín tàn rơi
rượu ngấm vào lòng
thơ bừng lên từng tạng chất
thơ xanh tóc và thơ bạc tóc
nhạc tỉnh người và nhạc đắm say

bên bờ bàu Vịt bên bờ bàu Vịt

tưởng như tù đọng này
những mảnh đời
tưởng như chìm trong nỗi áo cơm
nỗi gỉ mòn
tận đáy
với tín ngưỡng thơ với tín ngưỡng thơ
ôi cõi miền thẳm sâu kì diệu ấy
nên vẫn rất người
giữa đời thường nhàm nhạt tháng ngày

bên bờ bàu Vịt bên bờ bàu Vịt

tưởng như tù đọng đến quẫn trí này
ta nhìn ra nhau – trăng bâng khuâng đáy mắt
những tấm lòng hoá khoáng đạt chân trời
nhạc và thơ mở ra lối thoát
cùng Thạch Hãn qua bao xóm làng
ra tận biển khơi
và mây xa khơi lại trở về
trong bầu nước ngời trăng dân dã.

1991

TRẦN XUÂN AN

READ MORE - TRẦN XUÂN AN - CHÙM THƠ

Monday, November 22, 2010

Phạm Hòa Việt - BÍCH KHÊ : THƠ VÀ THỜI GIAN






(TẬP THƠ TINH HUYẾT)

Thời gian là một chuỗi dài vô hạn vì chưa ai tìm được điểm tận cùng hay bắt đầu của thời gian. Tuy thế, người ta có thể tạo cho thời gian những giới hạn, đó là biên thành của quá khứ, hiện tại, tương lai, là vùng tuổi của con người…
Nếu Kant cho thời gian là sắc thái của tâm hồn, Bergson cho thời gian là những hoài niệm và Proust là những cảm thức về bao điều đã mất thì Bích Khê thời gian chính là những bước chân người đi vào đời chông gai và sạn đá. Mỗi bước chân là một bước phiêu lưu qua bao miền đất hứa và cũng có thểà qua bao miền sa mạc hoang vu nắng cháy.Van Gogh đã có lúc từ bỏ giáo hội với vai trò tôn nghiêm của mình để đến Borinage – miền nam Bỉ quốc – nhận chịu những nỗi đắng cay rồi trở thành kẻ uất ức điên cuồng…
Mỗi bước chân đi vào đời đánh dấu một sự đổi thay của tạo vật. Do đó, thời gian là khoảng mới gắn liền với không gian. Kim Định chia thời gian làm ba lĩnh vực : thời gian khoa học, thời gian tâm lý, thời gian sinh lý (1) . Còn Bích Khê thời gian là cuộc đời, là bước chân đi vào đời để tìm đủ mọi yếu tố nào đó mà vượt thoát. Nhưng vượt thoát để làm gì ? Vượt thoát khỏi cái gì ? Và vượt thoát để đi về đâu ? Đó là những câu hỏi mà cũng chính là ý nghĩa trong việc đi tìm thời gian của Bích Khê. Ông cố gắng thoát ra ngoài sự ràng buộc của xác thân, của xứ sở, của cái gì có và đang có. Rời bỏ một xứ sở thân yêu để đến nơi xa lạ, rời bỏ dãy núi xanh để đi về biển muối, rời bỏ vườn lá thắm để vào bãi cỏ hoang, rời bỏ căn nhà thân thuộc để đến một thành phố quạnh hiu… Đó cũng là cách vượt thoát. Có thể nơi đến chỉ có trong tưởng tượng, chưa hẳn đã hiện rõ trong không gian … Vượt thoát là một hình thức đi tìm. Với Bích Khê, thời gian thực sự có xảy ra khi cuộc đi tìm vẫn triền miên và thắm thiết, vẫn trường kỳ và vô hạn, vẫn diễm tuyệt và vô biên. Thời gian là cái gì mời gọi, sau cuộc mời gọi là kỷ niệm, kỷ niệm là ký ức và ký ức là thời gian. Nó đi suốt hàng vạn niên chu kỳ. Mỗi chu kỳ là một giới hạn, một giới hạn là mỗi điểm thời gian và mỗi phân tử cấu thành mỗi chu kỳ là một khoảng thời gian.
Khi nói về Nguyễn Du, Nguyễn Đăng Thục viết : }… thi sĩ thấy một cảnh tượng, nửa thức nửa ngủ như trong giấc mơ, tất cả không gian biến thành một màu vô hạn, tất cả thời gian lẫn lộn quá khứ với hiện tại, cảnh La Phù lúc này cũng là Hồng Sơn trong ký ức. Ở đây không hẳn là u buồn, không hẳn là nhớ nhung để mong mỏi một quá khứ yêu dấu trở lại. Đây là cái phút buồn nhớ đời dâu bể biến đổi với cái phút cảm thấy nó hư không vô bờ bến vậy ~. Thời gian ở đây không hạn định nên nó luân lưu đến một bờ vô định và trở lại cũng ở một bờ vô định. Song ký ức con người có thể phân chia ranh giới gần xa. Những chuỗi đời thân yêu của quá khứ lần lượt trở về rạo rực trong ký ức tùy theo lúc nhớ và đối tượng gợi nhớ của mình. Những gì đã qua với đầy ắp kỷ niệm đều là những nét thân yêu tác động thăm thẳm vào hồn người mỗi khi nhớ lại. Cho nên khi mơ về một vùng diễm tuyệt, quá khứ đôi khi cũng trở thành hiện tại mà là hiện tại vàng son vì không tìm được trong hiện tại của cuộc đời. Cái hiện tại của quá khứ ấy cũng là hiện tại của tương lai với ước mơ về viễn xứ. Viễn xứ là một miền đất lạ, một xứ thần tiên hay xứ sở của tương tư. Viễn xứ cũng có thể là chốn La Phù hay cảnh Hồng Sơn. Nhưng dù ở đâu, viễn xứ vẫn là nơi bí hiểm mà thi sĩ cần đi vào khám phá :
Thơ tôi bay suốt một đời không thấu
Hồn tôi bay biết bao giờ mới đậu
( Bích Khê –Tinh Huyết )
Dòng thơ vẫn đi mãi theo thời gian và nhờ thời gian dẫn dắt. Nơi giao thoa của thời gian là chân lý, là mỹ thể. Để giới hạn tính chất vô định của thời gian, Bích Khê đã tìm những điểm cho thời gian cư ngụ, đó là những biến cố . “Bàn tay ngà” là biến cố hiện tại của thời gian. Trong quá khứ, thời gian cũng đã tác động nhiều lần trên bàn tay người con gái. Tác động ấy bây giờ mất đi nhưng vẫn còn lại trong ký ức. Từ bàn tay nhỏ bé nằm nôi đến bàn tay búp măng dậy thì, từ bàn tay đỏ bỏng đến bàn tay trắng hồng, từ bàn tay vô tình đến bàn tay hữu tình là những biến cố do thời gian tác động và biến đổi tính chất đầu tiên của con người hiện hữu :
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động có nhạc trong giây…
( Bích Khê – Nhạc - Tinh Huyết)
Thơ bay rồi đậu. Thời gian bay rồi đậu, rồi bay. Giới hạn của thời gian ở đây là bàn tay ngà . Nếu không có giới hạn thì không có những dòng thơ và khoảng thơ . Dòng thơ là nhịp cầu giao cảm giữa ngươì và người trong khoảnh khắc đối diện. Bích Khê đã thực sự lấy thời gian để bắt nhịp cầu giao cảm giữa ông và Song Châu, giữa ông và Thanh Thủy, giữa ông và Ngọc Kiều, giữa ông vàMinh Sim … Và dòng thơ nằm yên trên giấy chính là nhịp cầu giao cảm giữa người đọc và người viết , giữa tác phẩm và người thưởng ngoạn. Cũng có thể dòng thơ là nhịp cầu nối liền giữa hữu thể ( Être ) và hư vô (Néant ), giữa giới hạn và vô biên, giữa sự sống và sự chết. Không có thời gian thì không có dòng thơ, không có dòng thơ thì không có Bích Khê:
THỜI GIAN - DÒNG THƠ - BÍCH KHÊ - BÍCH KHÊ - DÒNG THƠ - THỜI GIAN
Khoảng thơ là bước tiến của thời gian; rõ hơn, nó chính là bậc thang cho thời gian tiến bước. Cho nên trong sự đột biến của từng biến cố – ngay cả trong dòng thơ và khoảng thơ – ta vẫn thấy có sự mâu thuẫn và phức tạp ở trong đó.
Mâu thuẫn chính là bước tiến của sáng tạo, bởi mâu thuẫn là sự xung đột nội tâm, “Nước mắt ly sầu hay giả dối ? ”(2) là một sự mâu thuẫn đưa đến ngờ vực “Chỉ có mình cô khóc với cô ? ”(3) . Tại sao lại ngờ vực khi biết rằng trong bất cứ vở tuồng nào diễn viên cũng chỉ đóng vai trò lập lại ? Những động tác của diễn viên không phải xuất phát từ tâm can họ mà theo mô thức nào đó của vỡ tuồng ? Có lẽ Bích Khê cho rằng tiếng khóc của cô đào hát bộ là tiếng khóc từ đáy lòng của chính cô ta. Mặt khác, có thể ông cũng cho là tiếng khóc giả dối. Đó là hai ý tưởng trái ngược nhau đang xung đột trong tâm trí của Bích Khê. Bởi xung đột nên ông lê bước đi tìm :
Tôi đi tìm đẹp trên sân khấu (4)
Bích Khê muốn đi tìm cái đẹp, đó là sự khát khao đi tìm chân lý và mỹ thể của ông. Mỗi bước đi là một ước mơ khoác chiếc áo mới cho thơ, đôi khi là hướng vọng bằng sự mộng mơ :
A ha ! Mê luyến những hình tiên nga ?
( Bích Khê - “ Mơ Tiên ” – Tinh Huyết )
Đi tìm là nỗi khát vọng và đằng sau nỗi khát vọng ấy là bao điều phức tạp.
Phức tạp là sự kết hợp những cái không thuần nhất, không hoàn hảo, bị mê hoặc giữa chân và hư, giữa mộng và thực. Nói như Hàn Mặc Tử : “Nhìn vào sự thực thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu ”
Không hoàn hảo là vì ngay trên cùng một lối đi, thi sĩ lại thấy hiện ra trước mắt một vùng tương tư, một vùng mộng mơ khác.
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động có nhạc trong giây…~
( Bích Khê – Nhạc - Tinh Huyết )
Diễn tả sự chậm bước của thời gian. Trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long viết : “Bắt đầu từ đây thi nhân kéo chúng ta lướt thướt trong cõi u hoài, trong thế giới hào quang, gây cho ta những điệu đàn hòa dịu, ngọt ngào, vô cùng cảm khoái.” Ở điểm này ta thấy nhà phê bình họ Nguyễn đã thật sự để cho lòng mình nương theo điệu nhạc trong thơ Bích Khê. Chính tiếng đàn hòa tiếng nhạc trong giây êm ả đã khiến cho tâm hồn thi sĩ lâng lâng, quên đi thực tại, quên đi thời gian. Nói cách khác, ý thức thời gian trong thơ ông lúc này mờ mịt, tiếng nhạc dẫn ông vào một không gian xa lạ, vào một thời gian hỗn tạp, lẫn lận giữa quá khứ, hiện tại, tương lai. Đôi khi thời gian vận hành chậm rãi theo từng bước đi của nhạc, bắt đầu từ bàn tay ngà, dừng lại ở bàn tay ngà, rồi đi vào nơi hoa mộng. Ở đó có cung Hường, có đào Động. Tiên nương từng lớp xiêm y rực rỡ, vũ khúc theo tiếng nhạc như xa xăm, như gần gũi tạo nên một khung cảnh mơ hồ.
Trong bài Thi vị, phải chăng Bích Khê chia thời gian thành các thời kỳ, mỗi thời kỳ là một biến cố :
THỜI GẶP NHAU:
Bắt đầu là sự chao động tâm hồn của thi nhân qua từng biến cố tình yêu. Thời gian ở đây được tô màu, màu vàng và màu vàng diễn tả một trời tương tư vàng úa. Đoàn Phú Tứ cũng đã từng tô màu cho thời gian qua bài Màu thời gian:
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh~
Mỗi người có quyền tạo cho thời gian một màu sắc. Người Pháp thường bảo : thời gian màu xanh, nhưng ai cấm người Việt bảo : thời gian màu vàng, màu hồng, màu tím,… Màu thời gian của họ Đoàn là màu nhớ lại, “ nhớ lại thời xưa, hồi người đương yêu, cứ thấy màu thời gian tím ngát vì người riêng thích một thứ hoa màu tím và màu hoa lẫn lộn với tình yêu”. Màu thời gian của họ Đoàn là màu kỷ niệm. Hoa tím là kỷ niệm của mối tình thắm thiết xưa của thi nhân. Họ Đoàn còn rắc lên thời gian một mùi hương đặc biệt, đó là Hương thời gian. Hương thời gian “ là thứ hoa kia mà cũng là tình yêu, một thứ tình yêu đã qua lâu rồi, nên chỉ thấy thanh sạch, nhẹ nhàng ”.
Hoa tím tỏa ra mùi hương đặc biệt, không nồng như hương lài, hương lý mà lại thanh thanh. Thời gặp nhau ở trong Thi vị là thời bắt đầu một cuộc tình có đủ nhân chứng – người yêu với người yêu:
Lá vàng rơi
( Tôi khóc anh ơi !)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi… ~
( Bích Khê – “ Thi Vị ” – Tinh Huyết )
Thời gian của Đoàn Phú Tứ có màu, có hương. Thời gian của Bích Khê giàu hơn nữa, có đủ sắc - hương - thanh. Sắc - hương - thanh là sự kết hợp toàn vẹn của dòng kỳ gian. Màu Thời gian vàng là màu lá đầu thu, lá sầu đông, lá ngô đồng vàng rụng. Cả không gian đều là lávàng rụng, mang màu ảm đạm thu về. Đó là màu vàng của lá úa, là màu của tương tư, màu cách biệt, chia xa :
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vỉ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy
Cách xa là nỗi nhớ, nỗi nhớ là mối chân tình. Thời gian đi xa vạn dặm với nỗi mong chờ :
Nước sông Tương một giải nông sờ
Cho kẻ đấy người đây mong mỏi
( Cao Bá Quát – “ Giai nhân nan tái đắc ” )
Nỗi mong chờ ở đây đã kết trái, nên hương thời gian đượm vẻ ngùi ngùi. Ngùi ngùi là cảm thức của người yêu chứ không phải là mùi của lá; nó chính là hoài niệm :
Ôi nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
( Bích Khê – “ Tỳ bà ” – Tinh huyết )
Ngọc Kiều và lời thề cá nước tưởng gắn bó keo sơn nhưng bây giờ nó trở thành mây khói hoàng hôn. Và vườn lá ngọc, sắc hoa thắm đã bị thời gian rũ tàn, còn lại màu vàng úa với buổi chiều hoang :
Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng!
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông!”
( Bích Khê – “ Tỳ bà ” – Tinh huyết )
Đó là buổi chiều thu hiu quạnh, lá thu vàng, sương thu lạnh và hương thời gian vẫn là hương ngùi ngùi. Bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, hai câu cuối cho ta cảm nhận được hương thời gian cách xa và nhớ nhung :
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sư nhân sầu”
(Tản Đà dịch:Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Đó cũng là hương ngùi ngùi, mùi hương lẫn lộn giữa thời qúa khứ và hiện tại, mùi hương lan nhẹ vaò mắt ta khiến lệ buồn rưng rưng…
Tiếng đàn và tiếng đàn là những âm thanh chen lẫn giữa mùi hương, nhưng sắc thái của nó biến đổi theo thời gian. Trong thời gian, tiếng đàn là không phải là biến cố ở ngoài đời mà là biến cố trong lòng người . Trong không gian tiếng đàn không phaỉ vùng quê hương còn lại cuả kẻ ở mà là ý thức hiện hữu cuả người đi.
Khúc Tỳ bà được gảy lên, tiếng đàn run run, dìu dặt, du dương… ngưng lại, đượm một nỗi buồn diệu vợi, buồn vạn đại cưa sự cách biệt chia ly. Tiếng đàn cất lên để nói rằng “Ta đang sống” , đang sống trong hy vọng và đau khổ, trong thổn thức và luyến lưu:
“Khách ngồi lại cùng em đây gối lả !
Tay em đây mời khách ngã đầu say !”
( Xuân Diệu – “ Lời kỹ nữ ” )
Yêu để sống, sống để tìm nhau, để yêu nhau để bơ vơ để cô đơn - cô đơn là ý nghiã của tình yêu - có yêu nhau mới có sự khát khao tìm kiếm, đợi chờ. Karl Jaspers nói: “Yêu nhau là kiếm tìm nhau đầu rừng cuối bể mỗi bước một bơ vơ.”
Tiếng đàn đưa thời gian vào nơi xa xăm, huyền diệu. Âm thanh của tiếng đàn đang cuộn lấy không gian, dẫn dắt ta vào thế giới ảo huyền, một thế giới chen lẫn chân, hư:
“Tình tang tôi nghe như tình lang”
( Bích Khê – “ Tỳ bà ”- Tinh Huyết )
Đó là thế giới mộng mơ của Bích Khê. Tìm cái đẹp trong thời gian qua hình hài cùa mỹ nữ, qua âm thanh của tiếng đàn, qua sắc màu của hoa lá. Thời gian ở đây là thời gian buồn, âm thanh não nuột, hình ảnh vàng phai và hương vị đắng cay ngùi ngùi ; nhưng thế giới này vẫn mang đến cho ta nét đẹp hư huyền , nhẹ nhàng như trong vũ trụ Đường thi . Phải tế nhị ta mới có thể đi vào vườn thơ của Bích Khê, vì thi sĩ đi tìm thời gian ở đây là đi tìm cái đẹp trong Dòng thơ và Khoảng thơ . Đây là cái đẹp u buồn, thê thiết của ngàn đời và khơi dậy mối sầu nhân thế đang lắng đọng trong hồn ta. “Đàn rung tiếng , người yêu đang ngồi ” cho ta thấy hình ảnh người con gái đang gởi lòng theo tiếng nhạc . Tiếng đàn làm trỗi dậy tiếng than thầm muôn thuở và muôn nơi trong lòng vạn vật, khiến cho thời gian mang màu sắc ảm đạm, màu sắc của “một trời yêu thương tha thiết, một trời tương tư, một trời âm hưởng buồn não buồn nê” (5) :
“Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông!” làm cho tâm hồn ta rung động nhẹ nhàng mà thấm thía; ta còn thấy tất cả những gì xa vắng của một người cô đơn trong chiều thu lá rụng .
“Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông!” đã nâng hồn ta lên chiều cao, sâu, rộng, đưa hồn ta vào cõi bơ vơ. Hai kẻ yêu nhau đồng bơ vơ với nhau nên dễ dàng gặp nhau trong chốn bơ vơ của vũ trụ. Ai bảo Bích Khê không bơ vơ ? Ai bảo Ngọc Kiều không bơ vơ?




THỜI NHẬN DIỆN :
Không còn là lá vàng rơi mà là mảnh trăng sơ huyền, trăng cuả thời kỳ vừa chớm, ánh sáng đơn sơ rơi xuống một vùng trời ước lệ,môi trường thích hợp cho buồi hẹn hò.Và cũng từ đây, tiếng đàn Chánh Thú (6) được gảy lên, máu huyết trào đầy mấy ngón tay…Rồi thôi !
Con trăng sơ huyền chênh chếch phía Tây,còn lại khỏang không gian tình yêu.Trăng sơ huyền là trăng hò hẹn, hò hẹn một cuộc tình mới chớm như nụ tầm xuân , một mai thức dậy trăng đi từ cuối hôm, người tình đi từ cuối trời tương tư, còn đây là kỷ niệm:
“Trăng vàng rơi
( Tôi khóc anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đâu rồi…”
(Bích Khê – “ Thi Vị ” – Tinh Huyết )
Mấy câu thơ trên không phải là những câu tuyệt tác - có thể nói như Quách Tấn : giá trị chỉ ngang gỗxoài, gỗ trầm (7) nhưng ai dám bảo không có thời gian tính ở đây? Có người cho rằng, khi tìm hiểu tư tưởng cuả tác giả qua những bài thơ người ta khoác cho thơ một bộ áo mới đôi khi khác với điều tác giả nghĩ suy. Điều nầy có thể lý giải được khi nó không phải là tác phẩm nghệ thuật; đã là tác phẩm nghệ thuật điều kiện cho nó hiện hữu là phải có người thưởng ngoạn và do nơi người thưởng ngọan. Người thưởng ngọan có quyền tái tạo một thế giới nào đó lấy từ tác phẩm đã được viết ra.Tác giả là kẻ luì lại, là kẻ thoát xác trước tác phẩm của mình; tác giả-con người sáng tạo - lại chính là người vô thẩm quyền nhất trong việc bình luận tác phẩm cuả mình.Tác già là kè đả nhập thể vào tác phầm cuả mình, nhập thể vào từng chữ, từng câu, nhập thể để tác phẩm-vật sở hửu cuả nhà văn - chính là nhà văn. (8)
Bích Khê đã có những mối tình đi qua đời mình. Song trong lòng ông luôn có những mâu thuần với chính mình.Tưởng mình yêu Bích Thủy tha thiết nhưng ông đâu biết rõ nổi tha thiết ấy chính là để bù đắp nổi trống vắng thiếu Song Châu. Cho nên không lạ gì khi Bích Thuỷ bàn chuyện hôn nhân thì Bích Khê tỏ vẻ dè dặt .Bích Thuỷ đâm ra thất tình. Nàng thường gọi tên Bích Khê ,viết tên Bích Khê trên cát biển. Thất tình. Bích Thuỷ lâm bệnh. Bích Khê nghe tin liền viết bài Ngón giai nhân :
“Đây em, gượng khúc tranh nầy
Mới lên trục gấm nét mày đã cau
Em ơi! Nhấn mạnh thời đau
Em ơi! nhấn nhẹ khôn lau nét buồn
Tiếng mau e ruột như cồn
Lại trong tiếng đục luống hờn bấy thân
Tình anh lụy ngón giai nhân
Sống lià nay được ấy ngần đoàn viên ”
Còn đối với Ngọc Kiều, Bích Khê yêu tha thiết. Ngọc Kiều là một nữ sinh học lớp đêm của trường Bích Khê đang dạy. Nàng rất đẹp, có gương mặt hiền lành, đôi mắt buồn như mơ báo trước một điều tan vỡ. Bài Mộng cầm ca là bài thơ đầu tiên ông viết cho Ngọc Kiều, nhờ Thanh Phương - một học sinh nhỏ nhất lớp - chuyển cho nàng:
“Không gian tơ, không gian tơ gợn sóng;
Âm thanh gì sắp sửa …Ngọc Kiều ơi!
Hay hơi thở cuả hoa hồng mơ mộng?
Hay buồn đêm rào rạt,- ứ muôn nơi?
Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng
Ngọc Kiều ơi! - hồn đếùn bến xa khơi!…
Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt,
Ngọc Kiều ơi! Nầy khúc Lạc mai hoa
Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết:
Ta đê mê, ta gảy điệu tỳ bà;
(…)
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tơ ngọc ?
Vú non non ? Da dìu dịu, êm êm ?
Đâu hang báu cho người ta phải khóc ?
Trên môi son, ta liếc lưỡi gươm mềm ! ”
( Bích Khê – “ Mộng Cầm ca ”- Tinh Huyết )
Đọc thơ Bích Khê Ngọc Kiều rưng rưng cảm động. Nàng đáp lại tình ông rất chân thành. Mối tình đó mỗi ngày một khắng khít giữa hai người. Họ cùng thêu dệt những mộng mơ hạnh phúc. Bích Khê đã làm rất nhiều thơ tặng nàng. Đó là những bài thơ tuyệt tác như : Tỳ bà, Aûo ảnh, Nhạc, Tâm hồn, Hiện hình, Hoàng hoa… Con tim Ngọc Kiều như đã thuộc về Bích Khê, hai ngừơi cắt huyết ăn thề, lấy huyết hai đầu ngón tay của họ vẽ hai trái tim trên hai tờ giấy lớn, mỗi người giữ một tờ làm tin; đó là kỹ vật thiêng liêng của họ.
Một đêm trăng vằng vặc sáng, tìm Ngọc Kiều không gặp, Bích Khê rủ người chị ra biền hóng mát rồi đặt vào tay chị một bài thơ:
“Chị ơi, trời ráng màu xanh,
Tình trăng sống dậy trên cành hoa tươi
Nói ra xin chị chớ cười:
Tình nay đẹp lắm hơn mười tình xưa”
Nổi lòng của ông tràn vào thơ như cánh bướm ngây ngất trong hoa. Thơ ông hướng vào cuộc sống và vực dậy nỗi ước mơ thủơ thiếu thời. Ông đã nhận diện được cuộc đời qua lăng kính mới với hoài bảo lứa đôi. Ông tâm sự với người chị: “Em yêu N đã tám tháng rồi. Chúng em hết lòng yêu nhau và muốn chung sống với nhau chị ạ. Vậy chị viết thư về tin mẹ vào cầu hôn cho em đi. Em nhờ chị tất cả…”.
THỜI CHIA TAY:
Tưởng mối tình với Ngọc Kiều gắn bó keo sơn nhưng đã trở thành nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong ông như bảo tố nhưng không phân định rạch ròi đối tượng nhớ của mình bởi trái tim ông tuy thành thật song rất đam mê, tình nào đến rồi đi ông cũng đều quyến luyến. Thời gian như đang lẫn lộn giữa hiện tại, qúa khứ, tương lai trong nổi dằng dặc chia tay:
“Lá vàng rơi
(Tôi khóc anh ơi!)
Đàn rung tiếng
Người yêu đi rồi”
( Bích Khê – “ Thi Vị ” – Tinh Huyết )
Người yêu đi rồi : một màu mây xám triền miên dần dần lan phủ không gian, không gian còn lại là bóng tối vì Bích Khê muốn khước từ mọi nguồn sáng – những nguồn sáng đầy đau thương không còn gì để chiêm ngưỡng.
Trong bài Thi vị, tác giả lấy sự đau khổ để suy tư về thời gian. Thời gian ở đây không hẳn là tiệm tiến, không hẳn là xô bồ. Nó liên tục nhưng không đồng đều. Lá vàng rơi, trăng vàng rơi, hoa vàng rơi là những khoảng thời gian khác nhau. Ta nhận diện được sự khác biệt đó bởi những biến cố. Từ lá rụng, trăng tàn đến hoa rủa là cả một đường đi dài của thời gian. Nhưng dài như thế mà nó vẫn nối kết. Ta cảm tưởng biến cố này vừa qua thì biến cố kia lại đến. Mỗi biến cố đều có ngưng lại trong một khoảnh khắc hay nhiều khoảnh khắc rồi lùi lại để biến cố khác đến chiếm cứ – lùi lại chứ không biến mất, lùi lại ở trong vô thức để chờ dịp thuận tiện nào đó lại hiện về trong sự hoài niệm của con người.
Do đó, Bích Khê đi tìm thời gian là đi tìm cái gì đã mất :
QUÁ KHỨ ----HIỆN TẠI----TƯƠNG LAI
(Vàng son) --- (U buồn)----(Vùng mộng mơ )
Ông đi tìm thời gian không phải vượt đến một bản chất của thời gian trôi chảy, cũng không phải nghiên cứu về một thứ thời gian thuần túy (durée pur) – như Bergson quan niệm – mà đó chỉ là một sự bắt buộc phải có ở nơi ông để chống lại sự rã rời, sự quên lãng, chìm lắng của cuộc đời, tìm lại để chống với cái chết của những lúc vô vọng và tìm sự liên tục của đời sống – nối kết các khoảng thời gian. Nếu không tìm lại dĩ vãng thì không thể chống chọi với cái chết cám dỗ :
“ Có người thi sĩ nhặt hoa rụng,
Những cánh đau thường sắp mặt lầu ! ”
( Bích Khê – “ Mộng ” – Tinh Huyết )
Một chiếc hoa rụng đánh dấu một quá khứ. Nhìn một chiếc hoa rụng là nhìn lại quá khứ – tức quá khứ vẫn còn hiện diện. Do đó, quá khứ không phải là thời đã qua mất, đoạn tuyệt với hiện tại: dĩ vãng chính là thời gian dùng để nhận biết hiện tại. “Hoa vàng rơi” là dĩ vãng, một thời đã qua nhưng chưa chết. Nhìn chiếc hoa rơi, Bích Khê lại nhìn cả bước đi của người yêu – một viễn trình xa ngàn vạn dặm ở ngoài đời nhưng gần gũi trong ký ức. Nhìn bước đi của người yêu bằng tâm thức tức là đã tìm được thời gian. Thời gian tìm được ở đây là những khoảnh khắc, những mảnh đời hiện thực của ông đã và đang tiến bước. Giữa ông và người yêu có một sự liên hệ. Tìm người yêu tức là tìm dĩ vãng ở nơi ông. Cho nên khi lật một trang thơ, đọc một bài thơ, những mảnh đời sẽ xuất hiện tràn đầy sự sống – như ngày nào tác giả đã sống và ngày kia sẽ sống với những khoảnh khắc, những mảnh đời đó.
Tiếng khóc cũng là ý niệm của thời gian sống. “Khóc” để chứng tỏ ta còn hoài niệm. Dĩ vãng không tìm được ở ngoài đời thì nuối tiếc, nhớ thương, rơi lệ… “Khóc” để cho thời gian một tiếng nói, bởi thời gian vốn im lặng. Không ai thấy được thời gian và nghe được thời gian. Các giác quan của ta chỉ cảm nhận được công năng dưới hình thức ánh sáng, chuyển động của vật thể mà thôi. Ý thức được thời gian qua trung gian sự cảm nhận, hay nói cách khác, những cảm nhận tạo cho chúng ta những ý niệm về thời gian…
“ Hoa vàng rơi
( Tôi khóc anh ơi ! )
Đàn rung tiếng
Người yêu đi rồi…”
( Bích Khê – “ Thi vị ” – Tinh Huyết )
Đây là sự tìm lại quá khứ của một quá khứ. Đàn không còn được gãy lên nữa. Nhưng dư âm buổi chia tay với Ngọc Kiều vẫn còn vọng về, vọng về mãi. Cho nên thời gian ở đây đi theo những chu kỳ như sau :


QUÁ KHỨ XA( Tiễn chân người yêu)- QUÁ KHỨ GẦN (Buồn nhớ)
- HIỆN TẠI (sự xuất hiện của thơ) - TƯƠNG LAI (Thăng hoa bằng mơ mộng)

Ta có thể nhận rõ : Tác giả đang nhìn lại lúc chia tay. Và thời gian đã hiện diện ở nơi ông bởi sự cô đơn và vô vọng. Ông đang chiêm ngưỡng vô biên và mọi cái vô biên đang tràn ngập trong hiện tại. Biết chiêm ngưỡng vô biên của không gian tức là đếm được bước đi của thời gian. Biết chiêm ngưỡng vô biên tức cũng là biết thưởng thức – nói theo ngôn từ của Shaupenhauer là biết chiêm ngưỡng ý người. Nhưng muốn chiêm ngưỡng, trước hết cần phải có khả năng siêu việt mà Shaupenhauer gọi là thiên tài ( génie ). Phải chăng Bích Khê cũng là một thiên tài trong làng thơ Việt nam? Trong Thi nhân Việt nam, Hòai Thanh nhận định về Bích Khê như sau: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt nam:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”(9)
Phạm Hòa Việt
______________________________________________________________________________
(1) Kim Định, Chữ Thời (nxb Sáng, 1967), tr.30-31.
(2),(3),(4) Bích Khê, “Cùng một cô đào hát bộ”, Tinh Huyết (Trọng Miên
xuất bản, 1939).
(5) Hàn Mạc Tử, trong bài tựa Tinh Huyết.
(6) Tên một nhân vật trong tác phẩm Chùa Đàn, của Nguyễn Tuân.
(7) Quách Tấn, Đời Bích Khê (nxb Lửa Thiêng, 1971),tr.10.
(8) Huỳnh Phan Anh, “Hành Trình Của Tác Phẩm”, Tạp chí Văn
(Tháng11,1969), tr51.
(9) Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi Nhân Việt Nam

Nguồn: Bài đã đăng trên trang Yahoo Bog của Phạm Hòa Việt
http://vn.360plus.yahoo.com/hoavietqt
READ MORE - Phạm Hòa Việt - BÍCH KHÊ : THƠ VÀ THỜI GIAN

Saturday, November 20, 2010

VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM THƠ


Không đề ở biển



Nhiều khi buồn đến chết đi được

Thế mà em hồn nhiên như không

Ta loay hoay bàn chân chậm bước

Nhận về mình rưng rức một mùa đông

Nhiều khi quay quắt nhớ ngày mưa tháng sáu

Cơ khổ chưa, tháng sáu đến bao lần

Ta ôm đàn hát lại bài hát cũ

Tháng sáu ơi! Hoa bướm có bâng khuâng

Nhiều khi lòng mênh mông như biển

Nhưng cồn cào một giọt nước dòng sông

Thèm vô ưu bên trời người thoáng hiện

Giữa ngọt ngào ta lại hoá hư không

Nhiều khi khoắng đời mình như cốc nước

Chuyển động nào rồi cũng trong veo

Yêu thương đến tận cùng sức lực

Mà hành trang tay trắng vẫn mang theo

Nhiều khi, có nhiều khi đổi gió

Chẳng đâu hơn ngọn gió quê nhà

Xin em giữ ngày xưa tôi dại ngộ

Con đường về đất sẽ nở thành hoa.






Tiếng gọi



Cứ như con sông chảy bắt đầu từ nơi ta yêu nhau

Nơi ngọn gió hoang sơ thổi tới

Nơi cánh diều vừa mới bay lên chấp chới

Nắng xiên ngang mặt đất buổi chiều

Nơi tiếng hú người xưa vọng lại

Họ nói điều gì, thổ lộ điều gì

Xin em đừng cúi mặt

Đất chở che bằng chiếc lá mùa thu

Nơi giăng mắc sương mù

Trái tim ngổn ngang sự thật

Trái tim biết giấu sau lồng ngực

Giữ niềm tin bền lâu

Nơi ta qua những cây cầu

Những cây cầu người đời đã bắc

Sẽ nối tiếp dòng sông trước mặt

Vẫy gọi ta dựng mới

Cứ như cánh dơi chiều bay theo tiếng gọi

Ta tìm mãi trong nhau

Thời gian ngược bến

Hỏi nắng mưa tan chảy về đâu?





Mẹ ơi, xuân đến rồi kia



Khi những sợi mưa tơ giăng trước nhà

Những nụ xuân nói điều chi thật khẻ

Con thấy rỡ ràng trong mắt mẹ

Nhìn đàn cháu líu lô chúm chím gọi bà


Tuổi chín mươi ngày gần tháng xa

Đong mưa nắng ủ mầm hạt nhớ

Đêm ngắn hơn chiêm bao

Tự tình mẹ với ngọn đèn trăn trở


Xa nhà ba mươi năm

Không phải chiến tranh ném con vào lửa

Cũng chẳng phải áo cơm níu chân không về được nữa

Mà con xa những nỗi buồn thấm vạt áo mẹ từng đêm


Nhớ chiếc lược sừng chải tóc mẹ ngày xanh

Nhớ quạt mo cau bắt ngày lên gió

Nhớ rơm rạ ấm nồng giấc ngủ

Nhớ sắn sượng, khoai hà nuôi lớn tuổi thơ


Bây giờ các cháu mẹ sáng đón chiều đưa

Cá thịt ê hề, rạng ngời áo đẹp

Đâu thấu nỗi cơ hàn nghẹn lời câu hát

Nhưng xuân đến rồi kia! Mẹ làm lá xanh mùa.


22/11/2008

READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM THƠ