Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, November 22, 2010

Phạm Hòa Việt - BÍCH KHÊ : THƠ VÀ THỜI GIAN






(TẬP THƠ TINH HUYẾT)

Thời gian là một chuỗi dài vô hạn vì chưa ai tìm được điểm tận cùng hay bắt đầu của thời gian. Tuy thế, người ta có thể tạo cho thời gian những giới hạn, đó là biên thành của quá khứ, hiện tại, tương lai, là vùng tuổi của con người…
Nếu Kant cho thời gian là sắc thái của tâm hồn, Bergson cho thời gian là những hoài niệm và Proust là những cảm thức về bao điều đã mất thì Bích Khê thời gian chính là những bước chân người đi vào đời chông gai và sạn đá. Mỗi bước chân là một bước phiêu lưu qua bao miền đất hứa và cũng có thểà qua bao miền sa mạc hoang vu nắng cháy.Van Gogh đã có lúc từ bỏ giáo hội với vai trò tôn nghiêm của mình để đến Borinage – miền nam Bỉ quốc – nhận chịu những nỗi đắng cay rồi trở thành kẻ uất ức điên cuồng…
Mỗi bước chân đi vào đời đánh dấu một sự đổi thay của tạo vật. Do đó, thời gian là khoảng mới gắn liền với không gian. Kim Định chia thời gian làm ba lĩnh vực : thời gian khoa học, thời gian tâm lý, thời gian sinh lý (1) . Còn Bích Khê thời gian là cuộc đời, là bước chân đi vào đời để tìm đủ mọi yếu tố nào đó mà vượt thoát. Nhưng vượt thoát để làm gì ? Vượt thoát khỏi cái gì ? Và vượt thoát để đi về đâu ? Đó là những câu hỏi mà cũng chính là ý nghĩa trong việc đi tìm thời gian của Bích Khê. Ông cố gắng thoát ra ngoài sự ràng buộc của xác thân, của xứ sở, của cái gì có và đang có. Rời bỏ một xứ sở thân yêu để đến nơi xa lạ, rời bỏ dãy núi xanh để đi về biển muối, rời bỏ vườn lá thắm để vào bãi cỏ hoang, rời bỏ căn nhà thân thuộc để đến một thành phố quạnh hiu… Đó cũng là cách vượt thoát. Có thể nơi đến chỉ có trong tưởng tượng, chưa hẳn đã hiện rõ trong không gian … Vượt thoát là một hình thức đi tìm. Với Bích Khê, thời gian thực sự có xảy ra khi cuộc đi tìm vẫn triền miên và thắm thiết, vẫn trường kỳ và vô hạn, vẫn diễm tuyệt và vô biên. Thời gian là cái gì mời gọi, sau cuộc mời gọi là kỷ niệm, kỷ niệm là ký ức và ký ức là thời gian. Nó đi suốt hàng vạn niên chu kỳ. Mỗi chu kỳ là một giới hạn, một giới hạn là mỗi điểm thời gian và mỗi phân tử cấu thành mỗi chu kỳ là một khoảng thời gian.
Khi nói về Nguyễn Du, Nguyễn Đăng Thục viết : }… thi sĩ thấy một cảnh tượng, nửa thức nửa ngủ như trong giấc mơ, tất cả không gian biến thành một màu vô hạn, tất cả thời gian lẫn lộn quá khứ với hiện tại, cảnh La Phù lúc này cũng là Hồng Sơn trong ký ức. Ở đây không hẳn là u buồn, không hẳn là nhớ nhung để mong mỏi một quá khứ yêu dấu trở lại. Đây là cái phút buồn nhớ đời dâu bể biến đổi với cái phút cảm thấy nó hư không vô bờ bến vậy ~. Thời gian ở đây không hạn định nên nó luân lưu đến một bờ vô định và trở lại cũng ở một bờ vô định. Song ký ức con người có thể phân chia ranh giới gần xa. Những chuỗi đời thân yêu của quá khứ lần lượt trở về rạo rực trong ký ức tùy theo lúc nhớ và đối tượng gợi nhớ của mình. Những gì đã qua với đầy ắp kỷ niệm đều là những nét thân yêu tác động thăm thẳm vào hồn người mỗi khi nhớ lại. Cho nên khi mơ về một vùng diễm tuyệt, quá khứ đôi khi cũng trở thành hiện tại mà là hiện tại vàng son vì không tìm được trong hiện tại của cuộc đời. Cái hiện tại của quá khứ ấy cũng là hiện tại của tương lai với ước mơ về viễn xứ. Viễn xứ là một miền đất lạ, một xứ thần tiên hay xứ sở của tương tư. Viễn xứ cũng có thể là chốn La Phù hay cảnh Hồng Sơn. Nhưng dù ở đâu, viễn xứ vẫn là nơi bí hiểm mà thi sĩ cần đi vào khám phá :
Thơ tôi bay suốt một đời không thấu
Hồn tôi bay biết bao giờ mới đậu
( Bích Khê –Tinh Huyết )
Dòng thơ vẫn đi mãi theo thời gian và nhờ thời gian dẫn dắt. Nơi giao thoa của thời gian là chân lý, là mỹ thể. Để giới hạn tính chất vô định của thời gian, Bích Khê đã tìm những điểm cho thời gian cư ngụ, đó là những biến cố . “Bàn tay ngà” là biến cố hiện tại của thời gian. Trong quá khứ, thời gian cũng đã tác động nhiều lần trên bàn tay người con gái. Tác động ấy bây giờ mất đi nhưng vẫn còn lại trong ký ức. Từ bàn tay nhỏ bé nằm nôi đến bàn tay búp măng dậy thì, từ bàn tay đỏ bỏng đến bàn tay trắng hồng, từ bàn tay vô tình đến bàn tay hữu tình là những biến cố do thời gian tác động và biến đổi tính chất đầu tiên của con người hiện hữu :
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động có nhạc trong giây…
( Bích Khê – Nhạc - Tinh Huyết)
Thơ bay rồi đậu. Thời gian bay rồi đậu, rồi bay. Giới hạn của thời gian ở đây là bàn tay ngà . Nếu không có giới hạn thì không có những dòng thơ và khoảng thơ . Dòng thơ là nhịp cầu giao cảm giữa ngươì và người trong khoảnh khắc đối diện. Bích Khê đã thực sự lấy thời gian để bắt nhịp cầu giao cảm giữa ông và Song Châu, giữa ông và Thanh Thủy, giữa ông và Ngọc Kiều, giữa ông vàMinh Sim … Và dòng thơ nằm yên trên giấy chính là nhịp cầu giao cảm giữa người đọc và người viết , giữa tác phẩm và người thưởng ngoạn. Cũng có thể dòng thơ là nhịp cầu nối liền giữa hữu thể ( Être ) và hư vô (Néant ), giữa giới hạn và vô biên, giữa sự sống và sự chết. Không có thời gian thì không có dòng thơ, không có dòng thơ thì không có Bích Khê:
THỜI GIAN - DÒNG THƠ - BÍCH KHÊ - BÍCH KHÊ - DÒNG THƠ - THỜI GIAN
Khoảng thơ là bước tiến của thời gian; rõ hơn, nó chính là bậc thang cho thời gian tiến bước. Cho nên trong sự đột biến của từng biến cố – ngay cả trong dòng thơ và khoảng thơ – ta vẫn thấy có sự mâu thuẫn và phức tạp ở trong đó.
Mâu thuẫn chính là bước tiến của sáng tạo, bởi mâu thuẫn là sự xung đột nội tâm, “Nước mắt ly sầu hay giả dối ? ”(2) là một sự mâu thuẫn đưa đến ngờ vực “Chỉ có mình cô khóc với cô ? ”(3) . Tại sao lại ngờ vực khi biết rằng trong bất cứ vở tuồng nào diễn viên cũng chỉ đóng vai trò lập lại ? Những động tác của diễn viên không phải xuất phát từ tâm can họ mà theo mô thức nào đó của vỡ tuồng ? Có lẽ Bích Khê cho rằng tiếng khóc của cô đào hát bộ là tiếng khóc từ đáy lòng của chính cô ta. Mặt khác, có thể ông cũng cho là tiếng khóc giả dối. Đó là hai ý tưởng trái ngược nhau đang xung đột trong tâm trí của Bích Khê. Bởi xung đột nên ông lê bước đi tìm :
Tôi đi tìm đẹp trên sân khấu (4)
Bích Khê muốn đi tìm cái đẹp, đó là sự khát khao đi tìm chân lý và mỹ thể của ông. Mỗi bước đi là một ước mơ khoác chiếc áo mới cho thơ, đôi khi là hướng vọng bằng sự mộng mơ :
A ha ! Mê luyến những hình tiên nga ?
( Bích Khê - “ Mơ Tiên ” – Tinh Huyết )
Đi tìm là nỗi khát vọng và đằng sau nỗi khát vọng ấy là bao điều phức tạp.
Phức tạp là sự kết hợp những cái không thuần nhất, không hoàn hảo, bị mê hoặc giữa chân và hư, giữa mộng và thực. Nói như Hàn Mặc Tử : “Nhìn vào sự thực thì sự thực sẽ trở thành chiêm bao, nhìn vào chiêm bao lại thấy xô sang địa hạt huyền diệu ”
Không hoàn hảo là vì ngay trên cùng một lối đi, thi sĩ lại thấy hiện ra trước mắt một vùng tương tư, một vùng mộng mơ khác.
Thơ bay, thơ bay vô bàn tay ngà
Thơ ngà ngà say, thơ ngà ngà say!
Nàng ơi! đừng động có nhạc trong giây…~
( Bích Khê – Nhạc - Tinh Huyết )
Diễn tả sự chậm bước của thời gian. Trong Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến, Nguyễn Tấn Long viết : “Bắt đầu từ đây thi nhân kéo chúng ta lướt thướt trong cõi u hoài, trong thế giới hào quang, gây cho ta những điệu đàn hòa dịu, ngọt ngào, vô cùng cảm khoái.” Ở điểm này ta thấy nhà phê bình họ Nguyễn đã thật sự để cho lòng mình nương theo điệu nhạc trong thơ Bích Khê. Chính tiếng đàn hòa tiếng nhạc trong giây êm ả đã khiến cho tâm hồn thi sĩ lâng lâng, quên đi thực tại, quên đi thời gian. Nói cách khác, ý thức thời gian trong thơ ông lúc này mờ mịt, tiếng nhạc dẫn ông vào một không gian xa lạ, vào một thời gian hỗn tạp, lẫn lận giữa quá khứ, hiện tại, tương lai. Đôi khi thời gian vận hành chậm rãi theo từng bước đi của nhạc, bắt đầu từ bàn tay ngà, dừng lại ở bàn tay ngà, rồi đi vào nơi hoa mộng. Ở đó có cung Hường, có đào Động. Tiên nương từng lớp xiêm y rực rỡ, vũ khúc theo tiếng nhạc như xa xăm, như gần gũi tạo nên một khung cảnh mơ hồ.
Trong bài Thi vị, phải chăng Bích Khê chia thời gian thành các thời kỳ, mỗi thời kỳ là một biến cố :
THỜI GẶP NHAU:
Bắt đầu là sự chao động tâm hồn của thi nhân qua từng biến cố tình yêu. Thời gian ở đây được tô màu, màu vàng và màu vàng diễn tả một trời tương tư vàng úa. Đoàn Phú Tứ cũng đã từng tô màu cho thời gian qua bài Màu thời gian:
Màu thời gian không xanh
Màu thời gian tím ngát
Hương thời gian không nồng
Hương thời gian thanh thanh~
Mỗi người có quyền tạo cho thời gian một màu sắc. Người Pháp thường bảo : thời gian màu xanh, nhưng ai cấm người Việt bảo : thời gian màu vàng, màu hồng, màu tím,… Màu thời gian của họ Đoàn là màu nhớ lại, “ nhớ lại thời xưa, hồi người đương yêu, cứ thấy màu thời gian tím ngát vì người riêng thích một thứ hoa màu tím và màu hoa lẫn lộn với tình yêu”. Màu thời gian của họ Đoàn là màu kỷ niệm. Hoa tím là kỷ niệm của mối tình thắm thiết xưa của thi nhân. Họ Đoàn còn rắc lên thời gian một mùi hương đặc biệt, đó là Hương thời gian. Hương thời gian “ là thứ hoa kia mà cũng là tình yêu, một thứ tình yêu đã qua lâu rồi, nên chỉ thấy thanh sạch, nhẹ nhàng ”.
Hoa tím tỏa ra mùi hương đặc biệt, không nồng như hương lài, hương lý mà lại thanh thanh. Thời gặp nhau ở trong Thi vị là thời bắt đầu một cuộc tình có đủ nhân chứng – người yêu với người yêu:
Lá vàng rơi
( Tôi khóc anh ơi !)
Đàn rung tiếng
Người yêu đương ngồi… ~
( Bích Khê – “ Thi Vị ” – Tinh Huyết )
Thời gian của Đoàn Phú Tứ có màu, có hương. Thời gian của Bích Khê giàu hơn nữa, có đủ sắc - hương - thanh. Sắc - hương - thanh là sự kết hợp toàn vẹn của dòng kỳ gian. Màu Thời gian vàng là màu lá đầu thu, lá sầu đông, lá ngô đồng vàng rụng. Cả không gian đều là lávàng rụng, mang màu ảm đạm thu về. Đó là màu vàng của lá úa, là màu của tương tư, màu cách biệt, chia xa :
Quân tại Tương giang đầu
Thiếp tại Tương giang vỉ
Tương tư bất tương kiến
Đồng ẩm Tương giang thủy
Cách xa là nỗi nhớ, nỗi nhớ là mối chân tình. Thời gian đi xa vạn dặm với nỗi mong chờ :
Nước sông Tương một giải nông sờ
Cho kẻ đấy người đây mong mỏi
( Cao Bá Quát – “ Giai nhân nan tái đắc ” )
Nỗi mong chờ ở đây đã kết trái, nên hương thời gian đượm vẻ ngùi ngùi. Ngùi ngùi là cảm thức của người yêu chứ không phải là mùi của lá; nó chính là hoài niệm :
Ôi nàng năm xưa quên lời thề
Hoa vừa đưa hương gây đê mê
( Bích Khê – “ Tỳ bà ” – Tinh huyết )
Ngọc Kiều và lời thề cá nước tưởng gắn bó keo sơn nhưng bây giờ nó trở thành mây khói hoàng hôn. Và vườn lá ngọc, sắc hoa thắm đã bị thời gian rũ tàn, còn lại màu vàng úa với buổi chiều hoang :
Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng!
Vàng rơi! Vàng rơi thu mênh mông!”
( Bích Khê – “ Tỳ bà ” – Tinh huyết )
Đó là buổi chiều thu hiu quạnh, lá thu vàng, sương thu lạnh và hương thời gian vẫn là hương ngùi ngùi. Bài Hoàng hạc lâu của Thôi Hiệu, hai câu cuối cho ta cảm nhận được hương thời gian cách xa và nhớ nhung :
“Nhật mộ hương quan hà xứ thị,
Yên ba giang thượng sư nhân sầu”
(Tản Đà dịch:Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai)
Đó cũng là hương ngùi ngùi, mùi hương lẫn lộn giữa thời qúa khứ và hiện tại, mùi hương lan nhẹ vaò mắt ta khiến lệ buồn rưng rưng…
Tiếng đàn và tiếng đàn là những âm thanh chen lẫn giữa mùi hương, nhưng sắc thái của nó biến đổi theo thời gian. Trong thời gian, tiếng đàn là không phải là biến cố ở ngoài đời mà là biến cố trong lòng người . Trong không gian tiếng đàn không phaỉ vùng quê hương còn lại cuả kẻ ở mà là ý thức hiện hữu cuả người đi.
Khúc Tỳ bà được gảy lên, tiếng đàn run run, dìu dặt, du dương… ngưng lại, đượm một nỗi buồn diệu vợi, buồn vạn đại cưa sự cách biệt chia ly. Tiếng đàn cất lên để nói rằng “Ta đang sống” , đang sống trong hy vọng và đau khổ, trong thổn thức và luyến lưu:
“Khách ngồi lại cùng em đây gối lả !
Tay em đây mời khách ngã đầu say !”
( Xuân Diệu – “ Lời kỹ nữ ” )
Yêu để sống, sống để tìm nhau, để yêu nhau để bơ vơ để cô đơn - cô đơn là ý nghiã của tình yêu - có yêu nhau mới có sự khát khao tìm kiếm, đợi chờ. Karl Jaspers nói: “Yêu nhau là kiếm tìm nhau đầu rừng cuối bể mỗi bước một bơ vơ.”
Tiếng đàn đưa thời gian vào nơi xa xăm, huyền diệu. Âm thanh của tiếng đàn đang cuộn lấy không gian, dẫn dắt ta vào thế giới ảo huyền, một thế giới chen lẫn chân, hư:
“Tình tang tôi nghe như tình lang”
( Bích Khê – “ Tỳ bà ”- Tinh Huyết )
Đó là thế giới mộng mơ của Bích Khê. Tìm cái đẹp trong thời gian qua hình hài cùa mỹ nữ, qua âm thanh của tiếng đàn, qua sắc màu của hoa lá. Thời gian ở đây là thời gian buồn, âm thanh não nuột, hình ảnh vàng phai và hương vị đắng cay ngùi ngùi ; nhưng thế giới này vẫn mang đến cho ta nét đẹp hư huyền , nhẹ nhàng như trong vũ trụ Đường thi . Phải tế nhị ta mới có thể đi vào vườn thơ của Bích Khê, vì thi sĩ đi tìm thời gian ở đây là đi tìm cái đẹp trong Dòng thơ và Khoảng thơ . Đây là cái đẹp u buồn, thê thiết của ngàn đời và khơi dậy mối sầu nhân thế đang lắng đọng trong hồn ta. “Đàn rung tiếng , người yêu đang ngồi ” cho ta thấy hình ảnh người con gái đang gởi lòng theo tiếng nhạc . Tiếng đàn làm trỗi dậy tiếng than thầm muôn thuở và muôn nơi trong lòng vạn vật, khiến cho thời gian mang màu sắc ảm đạm, màu sắc của “một trời yêu thương tha thiết, một trời tương tư, một trời âm hưởng buồn não buồn nê” (5) :
“Vàng rơi! Vàng rơi! thu mênh mông!” làm cho tâm hồn ta rung động nhẹ nhàng mà thấm thía; ta còn thấy tất cả những gì xa vắng của một người cô đơn trong chiều thu lá rụng .
“Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông!” đã nâng hồn ta lên chiều cao, sâu, rộng, đưa hồn ta vào cõi bơ vơ. Hai kẻ yêu nhau đồng bơ vơ với nhau nên dễ dàng gặp nhau trong chốn bơ vơ của vũ trụ. Ai bảo Bích Khê không bơ vơ ? Ai bảo Ngọc Kiều không bơ vơ?




THỜI NHẬN DIỆN :
Không còn là lá vàng rơi mà là mảnh trăng sơ huyền, trăng cuả thời kỳ vừa chớm, ánh sáng đơn sơ rơi xuống một vùng trời ước lệ,môi trường thích hợp cho buồi hẹn hò.Và cũng từ đây, tiếng đàn Chánh Thú (6) được gảy lên, máu huyết trào đầy mấy ngón tay…Rồi thôi !
Con trăng sơ huyền chênh chếch phía Tây,còn lại khỏang không gian tình yêu.Trăng sơ huyền là trăng hò hẹn, hò hẹn một cuộc tình mới chớm như nụ tầm xuân , một mai thức dậy trăng đi từ cuối hôm, người tình đi từ cuối trời tương tư, còn đây là kỷ niệm:
“Trăng vàng rơi
( Tôi khóc anh ơi!)
Đàn nghẹn tiếng
Người yêu đâu rồi…”
(Bích Khê – “ Thi Vị ” – Tinh Huyết )
Mấy câu thơ trên không phải là những câu tuyệt tác - có thể nói như Quách Tấn : giá trị chỉ ngang gỗxoài, gỗ trầm (7) nhưng ai dám bảo không có thời gian tính ở đây? Có người cho rằng, khi tìm hiểu tư tưởng cuả tác giả qua những bài thơ người ta khoác cho thơ một bộ áo mới đôi khi khác với điều tác giả nghĩ suy. Điều nầy có thể lý giải được khi nó không phải là tác phẩm nghệ thuật; đã là tác phẩm nghệ thuật điều kiện cho nó hiện hữu là phải có người thưởng ngoạn và do nơi người thưởng ngọan. Người thưởng ngọan có quyền tái tạo một thế giới nào đó lấy từ tác phẩm đã được viết ra.Tác giả là kẻ luì lại, là kẻ thoát xác trước tác phẩm của mình; tác giả-con người sáng tạo - lại chính là người vô thẩm quyền nhất trong việc bình luận tác phẩm cuả mình.Tác già là kè đả nhập thể vào tác phầm cuả mình, nhập thể vào từng chữ, từng câu, nhập thể để tác phẩm-vật sở hửu cuả nhà văn - chính là nhà văn. (8)
Bích Khê đã có những mối tình đi qua đời mình. Song trong lòng ông luôn có những mâu thuần với chính mình.Tưởng mình yêu Bích Thủy tha thiết nhưng ông đâu biết rõ nổi tha thiết ấy chính là để bù đắp nổi trống vắng thiếu Song Châu. Cho nên không lạ gì khi Bích Thuỷ bàn chuyện hôn nhân thì Bích Khê tỏ vẻ dè dặt .Bích Thuỷ đâm ra thất tình. Nàng thường gọi tên Bích Khê ,viết tên Bích Khê trên cát biển. Thất tình. Bích Thuỷ lâm bệnh. Bích Khê nghe tin liền viết bài Ngón giai nhân :
“Đây em, gượng khúc tranh nầy
Mới lên trục gấm nét mày đã cau
Em ơi! Nhấn mạnh thời đau
Em ơi! nhấn nhẹ khôn lau nét buồn
Tiếng mau e ruột như cồn
Lại trong tiếng đục luống hờn bấy thân
Tình anh lụy ngón giai nhân
Sống lià nay được ấy ngần đoàn viên ”
Còn đối với Ngọc Kiều, Bích Khê yêu tha thiết. Ngọc Kiều là một nữ sinh học lớp đêm của trường Bích Khê đang dạy. Nàng rất đẹp, có gương mặt hiền lành, đôi mắt buồn như mơ báo trước một điều tan vỡ. Bài Mộng cầm ca là bài thơ đầu tiên ông viết cho Ngọc Kiều, nhờ Thanh Phương - một học sinh nhỏ nhất lớp - chuyển cho nàng:
“Không gian tơ, không gian tơ gợn sóng;
Âm thanh gì sắp sửa …Ngọc Kiều ơi!
Hay hơi thở cuả hoa hồng mơ mộng?
Hay buồn đêm rào rạt,- ứ muôn nơi?
Không gian tơ - không gian tơ gợn sóng
Ngọc Kiều ơi! - hồn đếùn bến xa khơi!…
Níu cho ta, cho ta muôn yến nguyệt,
Ngọc Kiều ơi! Nầy khúc Lạc mai hoa
Suối tóc mát, nhúng trong vùng mộng tuyết:
Ta đê mê, ta gảy điệu tỳ bà;
(…)
Đâu đôi mắt mùa thu xanh tơ ngọc ?
Vú non non ? Da dìu dịu, êm êm ?
Đâu hang báu cho người ta phải khóc ?
Trên môi son, ta liếc lưỡi gươm mềm ! ”
( Bích Khê – “ Mộng Cầm ca ”- Tinh Huyết )
Đọc thơ Bích Khê Ngọc Kiều rưng rưng cảm động. Nàng đáp lại tình ông rất chân thành. Mối tình đó mỗi ngày một khắng khít giữa hai người. Họ cùng thêu dệt những mộng mơ hạnh phúc. Bích Khê đã làm rất nhiều thơ tặng nàng. Đó là những bài thơ tuyệt tác như : Tỳ bà, Aûo ảnh, Nhạc, Tâm hồn, Hiện hình, Hoàng hoa… Con tim Ngọc Kiều như đã thuộc về Bích Khê, hai ngừơi cắt huyết ăn thề, lấy huyết hai đầu ngón tay của họ vẽ hai trái tim trên hai tờ giấy lớn, mỗi người giữ một tờ làm tin; đó là kỹ vật thiêng liêng của họ.
Một đêm trăng vằng vặc sáng, tìm Ngọc Kiều không gặp, Bích Khê rủ người chị ra biền hóng mát rồi đặt vào tay chị một bài thơ:
“Chị ơi, trời ráng màu xanh,
Tình trăng sống dậy trên cành hoa tươi
Nói ra xin chị chớ cười:
Tình nay đẹp lắm hơn mười tình xưa”
Nổi lòng của ông tràn vào thơ như cánh bướm ngây ngất trong hoa. Thơ ông hướng vào cuộc sống và vực dậy nỗi ước mơ thủơ thiếu thời. Ông đã nhận diện được cuộc đời qua lăng kính mới với hoài bảo lứa đôi. Ông tâm sự với người chị: “Em yêu N đã tám tháng rồi. Chúng em hết lòng yêu nhau và muốn chung sống với nhau chị ạ. Vậy chị viết thư về tin mẹ vào cầu hôn cho em đi. Em nhờ chị tất cả…”.
THỜI CHIA TAY:
Tưởng mối tình với Ngọc Kiều gắn bó keo sơn nhưng đã trở thành nỗi nhớ. Nỗi nhớ trong ông như bảo tố nhưng không phân định rạch ròi đối tượng nhớ của mình bởi trái tim ông tuy thành thật song rất đam mê, tình nào đến rồi đi ông cũng đều quyến luyến. Thời gian như đang lẫn lộn giữa hiện tại, qúa khứ, tương lai trong nổi dằng dặc chia tay:
“Lá vàng rơi
(Tôi khóc anh ơi!)
Đàn rung tiếng
Người yêu đi rồi”
( Bích Khê – “ Thi Vị ” – Tinh Huyết )
Người yêu đi rồi : một màu mây xám triền miên dần dần lan phủ không gian, không gian còn lại là bóng tối vì Bích Khê muốn khước từ mọi nguồn sáng – những nguồn sáng đầy đau thương không còn gì để chiêm ngưỡng.
Trong bài Thi vị, tác giả lấy sự đau khổ để suy tư về thời gian. Thời gian ở đây không hẳn là tiệm tiến, không hẳn là xô bồ. Nó liên tục nhưng không đồng đều. Lá vàng rơi, trăng vàng rơi, hoa vàng rơi là những khoảng thời gian khác nhau. Ta nhận diện được sự khác biệt đó bởi những biến cố. Từ lá rụng, trăng tàn đến hoa rủa là cả một đường đi dài của thời gian. Nhưng dài như thế mà nó vẫn nối kết. Ta cảm tưởng biến cố này vừa qua thì biến cố kia lại đến. Mỗi biến cố đều có ngưng lại trong một khoảnh khắc hay nhiều khoảnh khắc rồi lùi lại để biến cố khác đến chiếm cứ – lùi lại chứ không biến mất, lùi lại ở trong vô thức để chờ dịp thuận tiện nào đó lại hiện về trong sự hoài niệm của con người.
Do đó, Bích Khê đi tìm thời gian là đi tìm cái gì đã mất :
QUÁ KHỨ ----HIỆN TẠI----TƯƠNG LAI
(Vàng son) --- (U buồn)----(Vùng mộng mơ )
Ông đi tìm thời gian không phải vượt đến một bản chất của thời gian trôi chảy, cũng không phải nghiên cứu về một thứ thời gian thuần túy (durée pur) – như Bergson quan niệm – mà đó chỉ là một sự bắt buộc phải có ở nơi ông để chống lại sự rã rời, sự quên lãng, chìm lắng của cuộc đời, tìm lại để chống với cái chết của những lúc vô vọng và tìm sự liên tục của đời sống – nối kết các khoảng thời gian. Nếu không tìm lại dĩ vãng thì không thể chống chọi với cái chết cám dỗ :
“ Có người thi sĩ nhặt hoa rụng,
Những cánh đau thường sắp mặt lầu ! ”
( Bích Khê – “ Mộng ” – Tinh Huyết )
Một chiếc hoa rụng đánh dấu một quá khứ. Nhìn một chiếc hoa rụng là nhìn lại quá khứ – tức quá khứ vẫn còn hiện diện. Do đó, quá khứ không phải là thời đã qua mất, đoạn tuyệt với hiện tại: dĩ vãng chính là thời gian dùng để nhận biết hiện tại. “Hoa vàng rơi” là dĩ vãng, một thời đã qua nhưng chưa chết. Nhìn chiếc hoa rơi, Bích Khê lại nhìn cả bước đi của người yêu – một viễn trình xa ngàn vạn dặm ở ngoài đời nhưng gần gũi trong ký ức. Nhìn bước đi của người yêu bằng tâm thức tức là đã tìm được thời gian. Thời gian tìm được ở đây là những khoảnh khắc, những mảnh đời hiện thực của ông đã và đang tiến bước. Giữa ông và người yêu có một sự liên hệ. Tìm người yêu tức là tìm dĩ vãng ở nơi ông. Cho nên khi lật một trang thơ, đọc một bài thơ, những mảnh đời sẽ xuất hiện tràn đầy sự sống – như ngày nào tác giả đã sống và ngày kia sẽ sống với những khoảnh khắc, những mảnh đời đó.
Tiếng khóc cũng là ý niệm của thời gian sống. “Khóc” để chứng tỏ ta còn hoài niệm. Dĩ vãng không tìm được ở ngoài đời thì nuối tiếc, nhớ thương, rơi lệ… “Khóc” để cho thời gian một tiếng nói, bởi thời gian vốn im lặng. Không ai thấy được thời gian và nghe được thời gian. Các giác quan của ta chỉ cảm nhận được công năng dưới hình thức ánh sáng, chuyển động của vật thể mà thôi. Ý thức được thời gian qua trung gian sự cảm nhận, hay nói cách khác, những cảm nhận tạo cho chúng ta những ý niệm về thời gian…
“ Hoa vàng rơi
( Tôi khóc anh ơi ! )
Đàn rung tiếng
Người yêu đi rồi…”
( Bích Khê – “ Thi vị ” – Tinh Huyết )
Đây là sự tìm lại quá khứ của một quá khứ. Đàn không còn được gãy lên nữa. Nhưng dư âm buổi chia tay với Ngọc Kiều vẫn còn vọng về, vọng về mãi. Cho nên thời gian ở đây đi theo những chu kỳ như sau :


QUÁ KHỨ XA( Tiễn chân người yêu)- QUÁ KHỨ GẦN (Buồn nhớ)
- HIỆN TẠI (sự xuất hiện của thơ) - TƯƠNG LAI (Thăng hoa bằng mơ mộng)

Ta có thể nhận rõ : Tác giả đang nhìn lại lúc chia tay. Và thời gian đã hiện diện ở nơi ông bởi sự cô đơn và vô vọng. Ông đang chiêm ngưỡng vô biên và mọi cái vô biên đang tràn ngập trong hiện tại. Biết chiêm ngưỡng vô biên của không gian tức là đếm được bước đi của thời gian. Biết chiêm ngưỡng vô biên tức cũng là biết thưởng thức – nói theo ngôn từ của Shaupenhauer là biết chiêm ngưỡng ý người. Nhưng muốn chiêm ngưỡng, trước hết cần phải có khả năng siêu việt mà Shaupenhauer gọi là thiên tài ( génie ). Phải chăng Bích Khê cũng là một thiên tài trong làng thơ Việt nam? Trong Thi nhân Việt nam, Hòai Thanh nhận định về Bích Khê như sau: “Tôi đã gặp trong Tinh huyết những câu thơ hay vào bậc nhất trong thơ Việt nam:
Ô! Hay buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi! Thu mênh mông”(9)
Phạm Hòa Việt
______________________________________________________________________________
(1) Kim Định, Chữ Thời (nxb Sáng, 1967), tr.30-31.
(2),(3),(4) Bích Khê, “Cùng một cô đào hát bộ”, Tinh Huyết (Trọng Miên
xuất bản, 1939).
(5) Hàn Mạc Tử, trong bài tựa Tinh Huyết.
(6) Tên một nhân vật trong tác phẩm Chùa Đàn, của Nguyễn Tuân.
(7) Quách Tấn, Đời Bích Khê (nxb Lửa Thiêng, 1971),tr.10.
(8) Huỳnh Phan Anh, “Hành Trình Của Tác Phẩm”, Tạp chí Văn
(Tháng11,1969), tr51.
(9) Hoài Thanh – Hoài Chân, Thi Nhân Việt Nam

Nguồn: Bài đã đăng trên trang Yahoo Bog của Phạm Hòa Việt
http://vn.360plus.yahoo.com/hoavietqt
READ MORE - Phạm Hòa Việt - BÍCH KHÊ : THƠ VÀ THỜI GIAN

Saturday, November 20, 2010

VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM THƠ


Không đề ở biển



Nhiều khi buồn đến chết đi được

Thế mà em hồn nhiên như không

Ta loay hoay bàn chân chậm bước

Nhận về mình rưng rức một mùa đông

Nhiều khi quay quắt nhớ ngày mưa tháng sáu

Cơ khổ chưa, tháng sáu đến bao lần

Ta ôm đàn hát lại bài hát cũ

Tháng sáu ơi! Hoa bướm có bâng khuâng

Nhiều khi lòng mênh mông như biển

Nhưng cồn cào một giọt nước dòng sông

Thèm vô ưu bên trời người thoáng hiện

Giữa ngọt ngào ta lại hoá hư không

Nhiều khi khoắng đời mình như cốc nước

Chuyển động nào rồi cũng trong veo

Yêu thương đến tận cùng sức lực

Mà hành trang tay trắng vẫn mang theo

Nhiều khi, có nhiều khi đổi gió

Chẳng đâu hơn ngọn gió quê nhà

Xin em giữ ngày xưa tôi dại ngộ

Con đường về đất sẽ nở thành hoa.






Tiếng gọi



Cứ như con sông chảy bắt đầu từ nơi ta yêu nhau

Nơi ngọn gió hoang sơ thổi tới

Nơi cánh diều vừa mới bay lên chấp chới

Nắng xiên ngang mặt đất buổi chiều

Nơi tiếng hú người xưa vọng lại

Họ nói điều gì, thổ lộ điều gì

Xin em đừng cúi mặt

Đất chở che bằng chiếc lá mùa thu

Nơi giăng mắc sương mù

Trái tim ngổn ngang sự thật

Trái tim biết giấu sau lồng ngực

Giữ niềm tin bền lâu

Nơi ta qua những cây cầu

Những cây cầu người đời đã bắc

Sẽ nối tiếp dòng sông trước mặt

Vẫy gọi ta dựng mới

Cứ như cánh dơi chiều bay theo tiếng gọi

Ta tìm mãi trong nhau

Thời gian ngược bến

Hỏi nắng mưa tan chảy về đâu?





Mẹ ơi, xuân đến rồi kia



Khi những sợi mưa tơ giăng trước nhà

Những nụ xuân nói điều chi thật khẻ

Con thấy rỡ ràng trong mắt mẹ

Nhìn đàn cháu líu lô chúm chím gọi bà


Tuổi chín mươi ngày gần tháng xa

Đong mưa nắng ủ mầm hạt nhớ

Đêm ngắn hơn chiêm bao

Tự tình mẹ với ngọn đèn trăn trở


Xa nhà ba mươi năm

Không phải chiến tranh ném con vào lửa

Cũng chẳng phải áo cơm níu chân không về được nữa

Mà con xa những nỗi buồn thấm vạt áo mẹ từng đêm


Nhớ chiếc lược sừng chải tóc mẹ ngày xanh

Nhớ quạt mo cau bắt ngày lên gió

Nhớ rơm rạ ấm nồng giấc ngủ

Nhớ sắn sượng, khoai hà nuôi lớn tuổi thơ


Bây giờ các cháu mẹ sáng đón chiều đưa

Cá thịt ê hề, rạng ngời áo đẹp

Đâu thấu nỗi cơ hàn nghẹn lời câu hát

Nhưng xuân đến rồi kia! Mẹ làm lá xanh mùa.


22/11/2008

READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN - CHÙM THƠ

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO




Tặng nhau từ ngữ lạc lầm

Cũng xin hồng lệ hãy đầm đìa tuôn

(Bùi Giáng)


BÀI MỘT

Ẩn dụ


Ẩn dụ trong thơ là nơi tập trung nhiều lớp ý nghĩa, là nơi mà ngôn ngữ ở trong tình trạng giàu có nhất của nó. Hình ảnh và ngôn ngữ giao hòa với nhau làm nên trung tâm của các biện pháp tu từ, gồm có sự so sánh, phép tượng trưng, nhân cách hóa, ẩn dụ… mà tôi gọi chung là phép ẩn dụ. Tôi cho rằng có một sự lẫn lộn (confusion) rất đáng tiếc của không ít người đọc hôm nay, trong số họ có cả những người sáng tác và những người yêu thơ, liên quan đến ẩn dụ mà chúng ta thử cùng nhau phân tích để làm sáng tỏ.

Chùm thơ của tôi trên talawas chủ nhật 9/3/2008 và bài của Đỗ Quyên - Bình thơ Nguyễn Đức Tùng ngay sau đó 10/3/2008, đã gây ra những ý kiến khác nhau, thậm chí tranh cãi, trong văn chương và ngoài văn chương. Nhiều ý kiến sâu sắc, thú vị của những tác giả khác nhau đã được trình bày, người đọc có thể tham chiếu trên talawas, nhưng cũng có những mặt tôi muốn chúng ta cùng suy nghĩ thêm.

Tôi xin mở đầu bằng thắc mắc trong văn chương của độc giả Quỳnh Thi. Hỏi: “Khi đứa bé còn đang chạy thì làm thế nào mà nó thoát khỏi cái bóng của mình đây?” Tôi xin hỏi lại: “Thế khi đứa bé không chạy thì nó có thoát khỏi cái bóng của mình không?” Lại xin hỏi tiếp: “Thế khi nó nhảy, thì sao?” v.v…

Tất cả những tranh luận như trên gọi là các tranh luận thuần lý (logical). Các tranh luận này có thể có ích cho khoa học nhưng không mấy khi cần thiết cho thơ. Thế thì hóa ra các nhà thơ muốn nói gì thì nói à? Ngụy biện chăng?

Để trả lời, mời bạn đọc thử Tô Thùy Yên:

Con đường đáo nhậm xa như nhớ

Xa như nhớ là xa thế nào? Sao không bảo là xa đi mỏi cả chân hay là xa ba cây số và hai trăm năm mươi mét cho nó dễ hiểu, khỏi thắc mắc?

Thật ra, vì những lý do mà chúng ta sẽ phân tích sau đây, các nhà thơ, một cách có ý thức hay không, thường dùng một thứ ngôn ngữ khác, không phải là ngôn ngữ khoa học và báo chí, mà chúng ta gọi là ngôn ngữ thơ ca (poetic language).

Tôi vừa bắt đầu bằng một thí dụ hơi khó. Thông thường, các so sánh như trên đây, là ngược lại.

Nhớ chàng như ánh trăng đầy

Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm

(Tản Đà dịch thơ Đường: Tư quân như nguyệt mãn, Dạ dạ giảm thanh huy)

Đem một nỗi nhớ mông lung trừu tượng mà so với một ánh trăng cụ thể thì có vẻ gần với tưởng tượng hơn.

Ẩn dụ gắn với các hình ảnh. Hình ảnh trong thơ là một chữ có tác dụng mang lại các yếu tố cảm giác như nhìn, sờ, nếm, ngửi, nghe. Nghĩa của chữ do đó được tăng lên nhờ các xúc động mang tính chất vật thể. Khác với văn xuôi và ngôn ngữ báo chí, người đọc cần để ý rằng trong thơ, ý nghĩa của một câu là rất quan trọng nhưng chính hình ảnh của câu thơ đó mới quyết định sự thành công của nó. Hay không thành công.

Một đứa bé

Chạy rất nhanh

Chạy nhanh như thế nào? Nó chạy nhanh với mục đích gì? Không ai biết. Nhưng những đứa trẻ chơi đùa la hét trên sân trường, trên đường phố có mục đích gì không? Tôi nghĩ là không.

Khi ta còn nhỏ, nếu tôi nhớ không lầm về tuổi trẻ của mình, cuộc đời là cả một sự thể nghiệm (experiment). Tôi muốn tả niềm háo hức của tuổi thơ và niềm vui sống mà mùa xuân mang lại, gần như vượt khỏi giới hạn vật lý của con người, khi viết:

Thoát khỏi cái bóng của mình

Hiệu ứng thị giác. Một số hình ảnh rất sáng rõ, một số khác mờ tối hơn. Trong kinh nghiệm cụ thể chúng ta cũng thường nhìn các sự vật từ các khoảng cách khác nhau và dưới những ánh sáng khác nhau. Chúng gây ra các liên hệ (associations) mà người đọc lập tức có được một cách tự động do các kinh nghiệm cá nhân, vốn khác nhau của mỗi người. Mỗi khi nghe:

Ngày nhà em pháo nổ

Anh cuộn mình trong chăn

Như con sâu làm tổ

Trong trái vải cô đơn

(Nhạc Phạm Duy, phổ thơ (?) Nguyễn Văn Bình)

bao giờ tôi cũng nhớ đến cây vải đầu hồi nhà của dì tôi, một cây vải cao lớn tỏa bóng mát những ngày thanh bình, trước chiến tranh, càng về sau mỗi năm càng ít ra trái hơn có lẽ vì buồn nhớ người chủ đi xa lên tận xứ Lào làm ăn lưu lạc.

Các giác quan khác cũng gây ra những hiệu ứng tương tự như thế trong lòng người đọc - Không, tôi muốn nói là trong cơ thể người đọc.

Ẩn dụ là sự di chuyển của ý nghĩa. Đó là một phương pháp của ngôn ngữ, dùng thay thế cái này bằng cái khác, tạo ra nghĩa mới hoặc làm cho ta thấy rõ hơn một sự vật ở hai mặt khác nhau. Sự chuyển thể này có thể di chuyển từ một ý nghĩa trừu tượng đến một ý nghĩa cụ thể, hay là ngược lại.

Một ví dụ khác, không trực tiếp liên quan đến thơ: Nhắc đến một người chị họ của tôi, mẹ tôi hay nói: “Cái con chân đi không chấm đất”. Nói như thế là nói ví von. Không cần dùng đến chữ như. Ví von là một hình thức khác của phương pháp ẩn dụ.

Vậy, ẩn dụ không phải là chuyện dành riêng cho các nhà văn như nhiều người vẫn tưởng. Nó khởi đầu với ngôn ngữ hàng ngày và đến nay vẫn tiếp tục như thế.

Tại sao người ta dùng đến ẩn dụ? Vì nó mô tả các trạng thái và các sự vật ở mức độ chính xác hơn, sắc sảo hơn.

Ngôn ngữ thơ có hiệu lực mô tả những kinh nghiệm phức tạp mà ai cũng từng trải qua: Gặp lại người bạn thân thuở thiếu thời, phẫn nộ trước cảnh bất công, sự mất mát đau đớn, v.v… Hay là tình yêu lâng lâng đầu đời.

Lặng nghe lời nói như ru

Nói như ru là nói thế nào? Nói dịu dàng, êm ái, làm người ta lặng đi, sung sướng bồi hồi. Như ru là phép so sánh. Câu trên đã hay như thế rồi, câu dưới phải thế nào?

Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng

Nét thu là ẩn dụ. Nét thu là nét gì? Trừu tượng cực điểm để mô tả một trạng thái mơ mơ hồ hồ và cái đẹp lãng đãng của Kiều.

Nhưng phép ẩn dụ được dùng lâu ngày sẽ sáo mòn như chính ngôn ngữ, trở thành con dao hai lưỡi. Nét thu càng trừu tượng thì càng khó biết đó là nét gì, nghĩ đến đâu cũng được, dùng cho ai cũng được. Đó là ngôn ngữ quy ước thường gặp ngày xưa. Như ru là phép so sánh tỉ lệ, nét thu là ẩn dụ thay thế, theo nghĩa hẹp, chiều xuân là tả thực. Không phải chỉ có các chữ mà toàn bộ một ý tưởng hay hình ảnh cũng, và thường khi, tạo ra ẩn dụ.

Gieo cầu em ném giữa mông lung

Ta như ngọn gió làm sao bắt

Lại rớt vào tay một gã khùng

(Thu Bồn)

Mặc dù được sử dụng trong đời sống hàng ngày, ẩn dụ được dùng nhiều hơn và đặc biệt hơn trong văn học. Vì sao nhà văn dùng nó nhiều? Chúng ta hãy xem hai thí dụ sau đây:

Ngôn ngữ thông báo: Ngày mai trời nắng, không có mây. Không có nhu cầu để sử dụng các so sánh ở đây.

Ngôn ngữ khoa học: A+B = C. Không có vai trò của hình ảnh vì các thông tin này đã được trừu tượng hóa. Trừu tượng hóa là sự giản lược các sự vật sinh động thành các khía cạnh tinh khiết, không màu sắc, mùi vị, hình dáng. Nhờ trừu tượng hóa, nhà khoa học bỏ qua các chi tiết không quan trọng để giải quyết các thông tin chính. Trong hình học chẳng hạn, hình tròn là hình tròn; nó không nhất thiết phải là trái cam hay chiếc bánh ngọt.

Chữ trừu tượng tiếng Anh là abstract. Abstract không chỉ có nghĩa là trừu tượng mà còn có nghĩa là rút ra, lấy ra. Các nhà toán học rút cái hình tròn trừu tượng ra khỏi trái cam.

Trong đời sống, chúng ta có những kinh nghiệm ngược lại.

Bạn không ăn những hình tròn mà ăn những trái cam hay những cái bánh ngọt. Càng cụ thể, sự vật càng trở nên phong phú. Nhà văn là người đi tìm các sự vật cụ thể, ở đó đời sống trở lại tình trạng nguyên khôi của nó, phức tạp, phong phú và bất tận.

Trong văn xuôi có nhiều ẩn dụ, nhưng trong thơ chúng trở nên dày đặc. Có thể nói rằng: Thơ chính là ẩn dụ.

Để so sánh người ta thường dùng hai cách. Một là so sánh trực tiếp, như trong câu thơ của Nguyễn Du trên đây, hay là:

Thơ ta như cánh nhạn

Không bao giờ có đôi

(Viên Linh)

Đây là phương pháp tỉ lệ (simile). Nhưng các nhà thơ hiện đại thường đẩy xa sự so sánh này, và dùng một điều trừu tượng để tả một vật cụ thể, như trong câu thơ của Tô Thụy Yên đã nói, hay có thể nhắc đến câu thơ của Trần Mạnh Hảo:

Ngày sống như thí dụ

Ban đêm sống thật hơn

Cách thứ hai là so sánh gián tiếp, không dùng đến chữ như.

Tôi muốn ngược thời gian

Bước xuống từng bậc đá

(Thanh Thảo)

Tác giả mô tả thời gian bằng không gian, một cách khéo léo tinh tế. Một đặc tính của ẩn dụ là sự tương tự, giống nhau. Nếu lời nói không dịu dàng thì không thể gọi là như ru được.

Nhưng sự so sánh không phải bao giờ cũng là giữa hai vật giống nhau. Nếu một nhà văn viết: Nói bi bô như một đứa trẻ, thì đó là một phép so sánh tầm thường, ở một tay nghề còn non. Sở dĩ như thế vì trong sự ví von này các đối tượng rất gần nhau.

Nhưng khi Quang Dũng viết:

Sông Mã gầm lên khúc độc hành

thì người nghe thấm thía sức mạnh của câu thơ, nhờ sự khác nhau giữa khúc độc hành và sông Mã.

Sức mạnh của nhiều ca từ Trịnh Công Sơn cũng nằm ở đây.

Tuy nhiên sự khác nhau này không được xa quá. Nếu viết: Trong bồn tắm của nàng vòi nước gầm lên khúc độc hành thì hai hình ảnh quá xa, trở thành một ẩn dụ kém. Chồng nàng gầm lên thì có.

Đôi khi nhà thơ chuyển dịch một khái niệm rất trừu tượng vào một sự vật rất cụ thể, đẩy sự chuyển dịch đến tận cùng, biến ngôn ngữ thành hình ảnh. Hình ảnh này trở thành một tấm gương đối chiếu cho các xúc cảm và các giá trị tinh thần có tính cách cộng đồng, ta gọi là các biểu tượng. Các biểu tượng vì quá cô đọng có thể trở nên huyền bí hoặc khó giải thích, gây ra những cách hiểu khác nhau, thậm chí trái ngược.

Con cóc trong hang

Con cóc nhảy ra

Con cóc nhảy ra

Con cóc ngồi đó

Con cóc ngồi đó

Con cóc nhảy đi

Bài thơ này không phải để tả con cóc. Hình như thế. Con cóc chỉ là biểu tượng. Nhưng là biểu tượng của cái gì? Cho rằng bài thơ trên là một bài đồng dao dễ hát, dễ nhớ cũng đúng. Cho rằng nó là một bài thơ dở cũng đúng. Nó không phải thơ ư? Cũng đúng. Cho nó có những ý nghĩa văn chương và xã hội hết sức quan trọng và cách tân, thậm chí là một bài thơ tuyệt hay như trong các tranh luận ngày nào của Nguyễn Hưng Quốc, Đỗ Minh Tuấn, Đặng Tiến trên báo chí hải ngoại, cũng đúng. Sở dĩ như thế là vì các tranh luận hay tranh cãi nói trên, trong khi không phải là vô ích, thực tế đã mang lại những hiểu biết mới, thì chắc chắn không thể dẫn đến kết luận cuối cùng như các nhà tranh luận nói trên vẫn tưởng, vì bản thân tác phẩm đã sử dụng một biểu tượng hoàn toàn mở (open ended). Sự diễn dịch và thẩm định nghệ thuật đối với bài Con Cóc lệ thuộc vào các hệ đối chiếu văn hóa – tâm thức (reference) và tọa độ của người đọc, vốn thay đổi theo thời gian và không gian.

Một thí dụ khác: các nhà thơ viết tiếng Anh thường nhắc đến chữ bone (xương). Với họ, chữ bone có một ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Chữ xương trong tiếng Việt không có một ý nghĩa tương tự sâu xa như thế.

Nửa nụ hôn đầu ta đã gửi

Lên mặt hồ trong suốt đời ta

(Hoàng Vũ Thuật)

Nụ hôn đầu là biểu tượng hay dùng của người Việt Nam. Trong tiếng Anh, chữ first kiss không gây ra một ấn tượng sâu đậm tập thể như thế (nói chi đến nửa nụ). Nhưng mặt hồ trong suốt là gì thì không rõ lắm. Nó có vẻ như được dùng để thay thế một cái gì đó, ai cũng hiểu, nên không cần phải nói ra. Tôi xin nói thêm rằng trong nhiều trường hợp, hình ảnh không những mang lại các cảm giác vật lý cụ thể mà còn gây ra những thay đổi về giọng điệu (tone) của bài thơ. Chúng ta sẽ còn dịp quay lại vấn đề này.

Các nhà cấu trúc luận còn đi xa hơn nữa khi cho rằng thật ra tất cả các ngôn ngữ đều là ngôn ngữ hình ảnh. Họ cho rằng mối liên hệ giữa cái chỉ định và cái được chỉ định là có tính cách hoàn toàn ngẫu nhiên hay ngẫu hứng, tức là không có quy luật nào cả.

Sự diễn dịch các ẩn dụ văn học, tức là tìm hiểu về nó, giải thích, phân tích, trao cho nó các ý nghĩa văn học và xã hội, là một công việc thú vị nhưng phức tạp, rất dễ gây nhầm lẫn. Trong thí dụ của mấy câu thơ của Thu Bồn trên đây, gã khùng là ai? Anh chồng giàu bụng phệ của người đẹp? “Bọn lính Mỹ xâm lược” trong mắt một số người? Hay “...” trong mắt một số người khác?

Khó như thế là vì ngôn ngữ thơ ca là một ngôn ngữ bị nén chặt, giàu năng lượng, chứa đầy điện tích.

(Còn tiếp nhiều kỳ)

Đón đọc kỳ sau: BÀI HAI - Sự hấp dẫn của chữ

Vancouver, tháng 3 & 4/2008

Nguyễn Đức Tùng

Các sách tham khảo cho bài viết:

- Thi Vũ: Bốn mươi năm thơ Việt Nam, NXB Quê Mẹ, 1993

- Hoàng Ngọc Hiến: Những ngả đường vào văn học, NXB Giáo dục, 2006

- Nguyễn Hưng Quốc: Thơ con cóc và những vấn đề khác, NXB Văn Mới, 2006

- Tuyển Tập Tiền Vệ I, NXB Tiền Vệ, 2007

- Đặng Tiến: Vũ trụ thơ II, Thư Ấn Quán, 2008

- Trần Dần: Thơ, NXB Đà Nẵng, 2008

- Gary Geddes, 20th Century poetry & poetics, Oxford University Press, 1996

- Harold Bloom: Genius, NXB Warner Books, 2002

- Dana Gioia: Twentieth century – American Poetry, McGraw Hill, 2004

- David Lehman: The Oxford Book of Poetry, 2006


Xin lỗi anh Nguyễn Đức Tùng: Vì sự an toàn của trang VNQT, xin lược bớt mấy từ trong câu:

Hay “...” trong mắt một số người khác?

Xin anh thông cảm.
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - ĐỌC MỘT BÀI THƠ NHƯ THẾ NÀO

Friday, November 19, 2010

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - CHÙM THƠ




Thương nhớ sầu đông

Tặng Liên Hưng


Em ngoan khuôn mặt trái xoan

Hè về chơi đánh ô làng với tôi

Xuân qua hoa cũng tàn rồi

Cây sầu đông trái xanh ngời tuổi thơ

Đường làng khoét xuống mười ô

Hai ô cái thẳng hai bờ ô con

Hơn thua từng trái sầu đông

Say sưa đánh trận quân lương đầy bồ

Anh thua anh khóc giả vờ

Em thua em khóc như chồ hết khoai

Hết đông rồi lại giêng hai

Hoa sầu đông nở đất trời ngát hương

Hát bài chín nhớ mười thương

Em đi để lại con đường mười ô

Trái xoan khuôn mặt ngày xưa

Sầu đông từng trái sợ mùa thu sang

Thời gian thao thiết chín vàng

Thương em mưa đổ ngút ngàn đường quê

Làng xưa miềng đó em tề

Sầu đông trụi lá tôi về với ai.


Sài gòn 2005















Về xanh Cổ Thành

Tặng QT

1.

Mùa mơ năm trước vàng cành

Mùa thay áo cũ mùa lênh đênh sầu

Mùa em môi quạnh mắt sâu

Mùa ta môi lạnh thâm màu ăn năn

Từ em rét mướt qua trần

Tóc đông lệch mái tay quần mây tan

Từ em mơ mùa xuân tràn

Mơ thu em gãy ngón đàn tiễn đưa

Hỏi người sầu lộng nắng chưa

Hỏi người lá rụng mắt chờ sân ai (*)

Cùng ta cuồng khúc mê này

Gọi là kiếp trước mái Tây hẹn hò

Chèo khua rụng tiếng thương hồ

Ta chờ em rụng lá khô bàng hoàng

Chờ em thắp nến quan san

Chờ em ảo ảnh chân quàng trăng xiêu

Chờ em về giữa lòng chiều

Tóc lay vai nhỏ chắt chiu gót buồn

Tỉnh ra sợi khói hoàng hôn

Tan trong mưa bấc gió cuồng bãi hoang

Ngày xưa guốc động chân thang

Phải người mặc áo mơ vàng qua đây

Phải ta cùng kiếp đọa đày

Say trong khói thuốc vàng tay học trò

2.

Về xanh Cổ Thành hay chưa?

Em đi mưa đổ đầm đìa lá hoang

Vuốt cung đàn cũ võ vàng

Ta mê cuồng hát cho tan bóng mờ

Người buồn tóc rũ rèm xưa

Người buồn như gió như mưa cuối mùa

Người buồn rối cả trời thơ

Tình người động nước dạt bờ bến tôi

Người ơi tôi thấy tôi rồi

Đừng buồn tôi có nụ cười vô duyên

Đừng buồn tôi có bóng đêm

Đừng buồn tôi có cả thềm trăng mơ

Xuân về sông nước lẳng lơ

Hạ qua vạt áo ngẩn ngơ gió nồm

Thu đi chiều lặng đầu thôn

Dậy thì như sóng. Hương cồn cào lên

Đông nào tóc chảy má hiền

Gió mưa về khóc nghiêng nghiêng nón người

Bước đời vội lắm người ơi!

Hãy về xanh lại bóng người thành xưa


Thị xã Quảng Trị

Mùa đông 1971

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - CHÙM THƠ

Thursday, November 18, 2010

HOÀNG CÔNG DANH - MẠN ĐÀM VỀ THƠ



“Đất nước của những nhà thơ” - đó là điều không còn chối cãi khi nói về nước Việt ta. Nhà nhà làm thơ, người người làm thơ, ra ngõ là gặp nhà thơ. Cái vinh hạnh của tôi là được sinh ra trong một đất nước như thế, mầm thơ được ấp ủ từ những ngày còn nằm trong bụng mẹ, “Con lớn lên trong hạt gạo cưu mang / tâm hồn lúa nở mầm vần thơ chín”.
Mỗi người làm nghệ thuật nói chung và làm thơ nói riêng đều chọn cho mình một kiểu lập ngôn khác nhau. Người nào nói hay thì được gọi là “tuyên ngôn nghệ thuật” của đời mình. Người làm thơ không thể không suy nghĩ về chuyện làm thơ, chuyện ngoài những bài thơ, tức là vấn đề sự kiện ảnh hưởng đến thơ. Ở bài viết này, tôi xin phép mạn đàm một chút về thơ, đó là những suy nghĩ trở trăn sau mấy năm trời theo đuổi cái “nghiệp” (Karma) thơ này!
Khởi đầu của những nhà thơ là gì?
Ngay từ cái ngày ấu thơ, ai cũng được bà và mẹ hát ru ầu ơ những điệu dân ca những làn quan họ mượt mà. Đó là những thứ văn vần dễ nghe được phối hợp với thanh điệu mượt mà của giọng ngâm mềm nhũn khiến những đứa bé đi vào giấc ngủ dễ dàng hơn. Đó là những cảm nhận đầu tiên của thơ, dường như thơ là thứ văn hoá được con người ta tiếp nhận đầu tiên trong cuộc đời của mình. Chưa nhai được cơm, chưa biết được chữ, thế mà nghe thơ vẫn có thể hiểu. Chính cái sự dễ dàng trong cách tiếp cận thơ Việt này là mầm mống nảy sinh ra mỗi nhà thơ trong từng con người Việt.
Có những cái ngấm ngầm đi vào trong con người mình mà ta không biết. Thơ trong lời mẹ ru giống như những hạt mưa trời sa xuống biển Đông, chả ai biết mưa rơi trên biển cả nhưng nếu không có mưa ở đó thì làm sao nước biển đầy mãi được? Cái thầm lặng của thơ trong tâm hồn con người ta cũng kín đáo như thế! Nó góp phần xây dựng nét đẹp cho đời sống tinh thần con người nhưng nhiều lúc ta chưa đánh giá đúng vai trò của nó. Ai cũng được mẹ hát ru, nhưng chả ai nói đó là thơ. Không những thế khi nhắc đến thơ có người coi đó là thứ nghệ thuật bậc cao mà chỉ những ai cực kì thông minh mới làm được. Những nhận định sai lầm này khiến cho họ tự phủ định mình mà không hay biết. Họ đâu có ngờ rằng trong con người mình cũng đã có những “hạt giống” của thơ, nếu biết chăm tỉa đúng thì sẽ trở thành một cây thơ cho ra hoa-lá-cành đều toàn thơ là thơ.
Khởi đầu nguyên thuỷ của những nhà thơ đều giống với những người bình thường khác, cũng như cái lúc chào đời của Thái tử Siddhattha (Đức Phật sau này) cũng giống hệt bao người. Vấn đề cho thơ phát triển trong con người mình - đó là do giáo dục và rèn luyện. Môi trường sống và các điều kiện nghe nhìn. Một đứa trẻ sinh ra trong gia đình nhiều kinh sách sẽ dễ trở thành một nhà triết học, một đứa trẻ sinh ra trong gia đình toàn được nghe những lời ru câu ca không trở thành nhà thơ thì thành cái gì? Đôi lúc chỉ cần những “cú hích” rất nhỏ thôi cũng đã dẫn đến một nghiệp thơ. Ngày ấy, tôi không có ý định làm thơ đâu. Nhưng rồi một người bác đã làm thơ, đóng thành tập, đọc rất xuôi lưỡi nên tôi cũng tập tành thử xem. Ban đầu thì lấy thơ của bác rồi nhái lại giọng điệu hoặc chắp thêm vào cuối bài mấy câu. Khởi nghiệp cái gì người ta cũng cần nơi nương tựa và vốn liếng. Tôi coi người bác của mình là nơi nương tựa còn mấy câu thơ tạm mượn là vốn liếng đi vay đi dặm ban đầu. Những mầm thơ bắt đầu như thế cứ chín dần chín dần lên…
Chúng ta được đến trường đi học. Từ lớp mẫu giáo đã được cô dạy cho những bài thơ về chú lính biên giới đảo xa, về con mèo nhà em, về bông hoa màu tím… Những ngày đó ta biết khái niệm đích thực của thơ là phải có vần. Thường viết cho trẻ em thì phải là thể thơ lục bát hoặc thơ năm chữ để dễ đọc dễ thuộc. Đã có khái niệm thơ, trẻ con đến trường cũng chỉ thích hát và đọc thơ thôi! Vậy là cái tình yêu dành cho thơ đã nẩy sinh. Thơ những ngày con nít vừa đọc vừa múa tay theo minh họa rất sinh động biểu cảm. Đứa bé như một “cây thơ” đang vừa uốn vừa nhún vừa phát ra thơ.
Thơ của những ngày ấy gắn liền với những trò đồng dao, những bài ca hát để chơi trò chơi trên cánh đồng làng. “Rồng rắn lên mây” rồi thì “Mèo ghé thăm nhà chuột” hay như trò “Chặt cây nắm tay” thì đều có thơ minh họa. Trên lưng trâu ê a đọc thơ, trần truồng dưới nắng trưa chảy cả mồ hôi vẫn đọc thơ, chiều về xuống sông tắm cũng đọc thơ. Hình như thơ đã gắn liền nơi miệng môi những đứa trẻ. Thơ đọc ra để phá tan cái không khí tĩnh lặng chốn đồng quê.
Những ngày còn nhỏ đã biết yêu thơ, thế nên người ta dùng hai chữ “trẻ thơ” không phải vô cớ. Đã trẻ con thì phải có thơ, không thơ sao thành trẻ con được. Mầm thơ khai sinh từ độ đó, trong mỗi con người ta, thơ ca nở ra tự bao giờ?
Từ yêu đến tán tỉnh!
Cái hành trình của một người đến với thơ cũng như hành trình để một chàng trai tiếp cận với cô gái. Thơ lại là một cô gái đẹp nên dĩ nhiên để tán tỉnh là rất khó. Ban đầu con người ta yêu thơ, mức độ nhiều ít khác nhau nhưng không thể phủ định trống trơn. Giống như đứng trước một cô gái đẹp mà bạn không hề mảy may rung động thì quả bạn có vấn đề. Người yêu thơ mạnh mẽ sâu sắc thì tìm cách đến với thơ khéo léo và nhanh hơn.
Từ yêu thơ, người ta bắt đầu làm thơ để trở thành những nhà thơ. Quan niệm buổi đầu là làm thơ vì thấy thơ hay, làm thơ để chứng tỏ mình có biết thơ và tất nhiên cũng nhen nhóm hy vọng một ngày thơ lên trang báo và được in sách. Ban đầu làm thơ rất dễ! Tôi phải nói điều đó vì chỉ cần đặt bút là người ta viết được ngay vài câu. Những câu viết ra một cách dễ dàng vì họ không bị trói buộc bởi một niêm luật qui tắc và một mớ lí luận như những nhà thơ thực sự. Cái thuở ban đầu làm thơ rất hồn nhiên, nhìn nắng mưa cây cối bên ngoài là đã có thể viết vài ba câu đọc chơi - như vậy cũng gọi là thơ. Viết được đôi ba bài thấy hay hay thì làm tiếp. Đề tài được “khai thác” mở rộng biên độ hơn, không còn tả những vật quanh nhà mà đã vươn ra tận ngoài đồng để tả hạt gạo, rồi cảnh mẹ em ra đồng đi gặt. Thơ bám đũng quần nâu sồng của người nông dân lam lũ ra tận ruộng.
Thường thì người Việt đều bắt đầu bằng thể thơ lục bát. Dễ hiểu bởi đó là thể thơ cổ truyền dân tộc. Niêm luật nếu phân tích thì mới thấy rối nhưng nếu cứ bắt vần cho chữ thứ sáu câu lục hiệp với chữ thứ sáu câu bát là ra thơ lục bát. Đó là một quy tắc duy nhất mà người bắt đầu làm thơ biết và vận dụng thành thạo. Người bắt đầu làm thơ không có chuẩn bị lập ý lập ngôn. Cứ viết ra một câu rồi tìm chữ lắp tiếp câu khác sao cho đúng chữ thứ sáu có vần với câu trên là được. Nghĩa là chỉ cần chọn được một chữ hiệp vần là coi như xong một câu. Mà cái tiếng Việt ta “hơi bị” phong phú nên chi để chọn một chữ hiệp vần cũng dễ dàng. Thơ lục bát thuở đầu mọc ra như nấm.
Thơ của sự khởi đầu vô tư và trống rỗng. Đọc thấy vần và điệu, dễ nghe dễ thuộc nhưng không hàm chứa một ý niệm nào cả. Đó là loại thơ tả chứ không phải thơ hàm ngôn. Điều này dễ hiểu bởi cái thuở ban đầu có ai dạy cho lí luận thơ đâu mà biết. Họ cứ nghĩ thơ tức văn vần, thế nên viết những câu có vần thì gọi là thơ! Khái niệm thơ đựơc xây dựng trong trí óc buổi đầu cũng khá đơn giản. Nếu viết hai câu không hiệp vần thì tôi tin người ấy sẽ gạt tay chối từ bai bải rằng “Đó không phải là thơ!”. Trong những con người ấy, từ nhỏ đến khi bắt đầu làm thơ đã quá quen những bài thơ có vần có điệu nên khi nghe những câu “thơ thực sự thơ” thì choáng váng.
Tư duy thuở đầu thật là đơn giản. Điều đó cuốn hút con người ta vào với thơ chứ nếu biết thơ phức tạp chắc chẳng ai dám đụng đến. Ở phương diện này thơ giống một cô gái đỏng đảnh lắm! Nhìn xa trông đẹp, đến gần thấy có duyên, bắt chuyện nàng nói liền, nàng bắt mình theo đuổi mãi nhưng tuyệt nhiên không cho mình cơ hội nói lời tỏ tình.
Khi trót mang em kiếp làm… thơ
Từ khi bắt đầu yêu thơ, bày trò làm thơ, làm được thơ rồi thì muốn thơ phải hay đến mức đọc vào người ta khen ngay. Vậy là những thôi thúc của cái “nghiệp thơ” đã vận vào mình.
Không còn dừng lại ở những bài thơ cổ điển lục bát, người làm thơ tìm đọc tất cả các thể thơ khác, mở rộng đề tài và vượt luôn biên giới quốc gia đọc thơ Tàu thơ Tây hòng kiếm được một vài “bí kíp”. Giai đoạn này chỉ đọc thơ toàn thơ, nhờ vậy nên viết ra thơ cũng khá lên nhiều, nhưng bị ảnh hưởng thì không phải là không có. Đọc được cỡ dăm ba bài của người ta là đã “ngứa nghề” muốn viết như thế. Ta cầm bút lên viết và nhận thấy “Sao giống của người ta vậy?” – Đó chính là bệnh đọc chưa tới nơi tới chốn của người mới tập tành thơ. Thế nhưng cái ý thức mở mang tìm hiểu để đọc là đáng khen và cần thiết cho những ai muốn chọn thơ làm một cuộc chơi trong đời.
Nhưng đọc nhiều thơ chưa thể làm được thơ hay mà chỉ giúp cho ta phong phú thêm về từ ngữ và thể loại. Người ta không thể chỉ đọc thơ nhiều mà viết ra thơ. Thơ là một nghề nghiệp nên cũng phải được đào tạo căn bản, kiến thức nền quan trọng đó là lí luận thơ. Sau đó đến cảm nhận thơ và phê bình thơ, ta đều phải đọc. Người bắt đầu làm thơ thường rất biếng đọc những thứ này, họ cho rằng đó là mớ kiến thức nặng đầu khó hiểu, nói linh tinh. Điều này là do họ “yêu thơ quá” sinh ra mù quáng, do yêu thơ quá mà chỉ thích những câu ngắn gọn có vần chứ cái loại chữ tràn trang giấy thì không thèm đọc. Một lần nào đó họ đọc được bài cảm nhận ngắn, thấy hay, vậy là tìm đọc tiếp. Nhưng thường những bài cảm nhận thơ đều nói về cái chưa được của bài thơ, họ đọc và thấy có lí. Thế là từ việc chỉ đọc mỗi thơ, nay họ còn đọc cả cảm nhận phê bình. Thơ họ hay lên nhiều chính nhờ phê bình.
Dừng lại ở đây một chút để nói về vai trò của các nhà phê bình thơ. Đó là người định hướng cho thơ và làm đẹp thêm cho thơ. Người phê bình là người có khả năng lí luận sắc sảo và cảm nhận tinh tế. Nếu nhà thơ nhạy cảm một thì nhà phê bình phải nhạy cảm gấp đôi. Không ai đi làm phê bình để chê thơ người ta cả, cũng không ai làm phê bình để vỗ tay hoan hô cho những bài thơ dở. Nhà phê bình là người có chính kiến riêng của mình, họ nhìn ra cái hay cái đẹp của bài thơ để khen ngợi. Nhìn ra những mầm mống nhân tố mới để động viên và cũng có khi họ thẳng thừng chê một câu nào đó. Điều này làm mất lòng nhau, vốn ở đời người ta chỉ thích được khen thôi. Ở ta, nhà phê bình không phải là nhiều. Chúng ta cần xây dựng mô hình văn chương giống mô hình chăm sóc sức khoẻ cộng động ở các nước phát triển. Ở các nước đó, mỗi người có một bác sĩ riêng chuyên chăm sóc bệnh tật. Vậy thì ở ta mỗi nhà thơ cũng nên cần có một nhà phê bình bên cạnh để hỗ trợ. Một số nhà thơ của ta ngày nay đã giải quyết được vấn đề này một cách khá tiện lợi, tức là họ vừa sáng tác thơ và vừa phê bình thơ luôn. Điều này đỡ mất thời gian và công sức đợi giới phê bình để mắt tới, lại biết đâu trong tương lai mình cũng thành một nhà phê bình. Một công đôi việc, quả là lợi hại.
Trở lại với vấn đề mạn đàm về chuyện đọc. Khi nhà thơ đã cố công đọc lí luận phê bình thì thơ của họ lớn lên trông thấy, cách cấu tứ bài thơ lẫn lập ngôn đều chín chắn. Họ bắt đầu biết trăn trở để làm sao thơ hay hơn, hàm súc hơn, kiệm lời nhiều ý và nhất quyết trong thơ phải nói lên được nhiều điều. Thơ lúc này thấm đẫm chất triết lí hơn và họ thấy “thơ thật khó hiểu”. Việc đọc sách của các lĩnh vực khác cũng không phải là thừa, đọc thêm sách khác nhằm nâng cao hiểu biết kiến thức bổ trợ cho thơ. Nếu biết kết hợp thì trong một chừng mực nào đó giữa thơ văn và khoa học tự nhiên có những mối tương hợp hoà điệu. Vốn kiến thức thiên văn học của vật lí hay kiến thức hình học không gian của toán học đều hỗ trợ cho trí tưởng tượng của người làm thơ rất nhiều. Những kiến thức đó chúng ta bảo là khô khan, nhưng thiếu nó thơ sẽ mất đi cái sự vĩ mô tổng quát.
Quan niệm sáng tác thơ
Đây quả là một vấn đề rất nhạy cảm của người trong giới. Khen chê la ối, tâng bốc hay trù phạt nhau cũng chính từ đây mà ra. Người làm thơ cổ điển thì bảo mình trung thành với vốn văn hoá dân tộc, rồi mặc sức chê những người đi lai căng thơ Tây thơ Tàu. Những người viết theo hơi hướng mới tự nhận mình là người đi tiên phong trong việc hướng thơ Việt ra với thế giới, rồi cũng không tiếc lời nhiếc mắng những người còn lại là bảo thủ, lạc hậu. Vấn đề chọn đề tài hay thể loại sáng tác thuộc về thực đơn riêng của mỗi người, không nên tranh luận. Mỗi người có một cái lưỡi, vị giác khác nhau nên dĩ tất có khoái khẩu khác nhau. Người miền Nam thích ăn đồ ngọt, ta không thể cấm chỉ vì bảo ăn nhiều đồ ngọt dễ bị bệnh béo phì!
Thiển nghĩ thì dù thế nào, có hai quan niệm này là bất di bất dịch.
Thứ nhất là thơ nào thì phải gắn liền với hồn dân tộc nấy. Đây chính là vấn đề sứ mệnh của nhà thơ. Ta biết rằng với các lĩnh vực khác như khoa học tự nhiên thì nó không đặc trưng cho đất nước nào cả, nhưng văn học nó là đặc trưng cho cả dân tộc bởi nó gắn liền với ngôn ngữ. Tiếng Việt khác xa nhiều tiếng các nước khác, văn hoá người Việt cũng khác người ta, nên chi văn học Việt nói chung và thơ Việt nói riêng sẽ mang dấu ấn Việt. Điều này có thể dùng để giải thích tại sao hình ảnh hạt gạo, bến nước con đò lại xuất hiện nhiều trong thơ ta đến vậy! Tính dân tộc trong con người giúp ta sống đẹp hơn, sống đúng với văn hoá của mình, còn khi nó được đưa vào thơ thì làm cho thơ có hồn có vía, dễ đi vào lòng người hơn.
Thứ hai là thơ phải nói được vấn đề lớn lao của xã hội. Đây là yêu cầu cho những ai muốn trở thành một nhà thơ lớn. Một bài thơ nhỏ, có thể vỏn vẹn hai câu nhưng nó phải bao quát một thực trạng của xã hội. Làm được điều đó thì thơ mới trở về đúng nghĩa của nó là “kiệm lời nhiều ý”, hay người xưa còn gọi là “thi tại ngôn ngoại”. Thơ là sự rung động rất mong manh, người viết đôi lúc chỉ lách tay một cái là bài thơ có thần. Thơ nếu nói được một vấn đề lớn cho cả xã hội loài người thì nó đã hoàn thành sứ mệnh của mình. Xu hướng này ngày nay đang phát triển rất mạnh mẽ, những người làm thơ trẻ lấy đời sống nội tâm riêng của mình để nói về thực trạng của một thế giới, lấy cái bản năng tính dục của mình để khơi gợi những nguyên nhân sâu xa dẫn đến các hoạt động xã hội, đó chính là sự mô phỏng lại phân tâm học của Freud.
Nói chuyện về thơ có lẽ sẽ khôn cùng, khi mỗi ngày trên đất nước tôi sinh ra biết bao nhiêu trẻ em là chừng đó nhà thơ ra đời. Đất nước của những nhà thơ, quả thực đó là một niềm tự hào nhưng cũng là một vấn đề cần được chăm chút. Nhà thơ thường lập ngôn, mà ngôn từ họ nói ra ảnh hưởng rất lớn đến quần chúng. Vậy nên cần làm sao cho những nhà thơ mới sinh ngày hôm nay một cách tốt nhất để sau này họ có thể trở thành những “nhà thơ thực sự thơ”.
Những tiếng khóc oa oa chào đời
Đất nước tôi có thêm những nhà thơ.
Minsk, Bạch Nga - 2/2008
Hoàng Công Danh
READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH - MẠN ĐÀM VỀ THƠ