Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 4, 2026

PEACE / HÒA BÌNH - Thơ: Eva Lianou Petropoulou (Hy Lạp) - Bản tiếng Việt: Lan Anh Tran Thi



HÒA BÌNH


Hòa bình,

Chúng ta phải trả giá

bằng chính sinh mạng của mình,

Cho những quyết định

mà người khác đã đưa ra,

Bởi họ chỉ nhìn vào

những túi tiền của mình,

Mà không nhìn đến

sự an toàn của hành tinh này.

Tại sao chiến tranh lại xảy ra?

Vẫn luôn là một câu trả lời:

Không ai biết.

Hãy học cách đối thoại,

Hãy học cách sẻ chia,

Hãy học cách chấp nhận,

Hãy học cách tôn trọng.

Hòa bình,

Quá đỗi hiếm hoi

trên hành tinh này,

Kể từ khi

loài người xuất hiện.

Sự bình yên

từng là một đặc ân

dành cho số ít.

Hãy thấu hiểu,

Hãy lắng nghe,

Hãy biết im lặng.

Đó là những nguyên tắc

cho một tương lai tươi sáng.

Hy vọng,

Đêm nay sẽ không còn đứa trẻ nào

phải chìm vào giấc ngủ

mà thiếu vắng cha mẹ bên mình.

Hãy cầu nguyện,

Cho các Thiên thần

chở che

mọi mái nhà.


© Eva Lianou Petropoulou



PEACE


Peace,

We pay with our lives

Decision others they took

Because they are looking at their pockets

And not at the safety of the planet

Why is a war happening?

Always the same response

Nobody knows

Learn to talk

Learn to communicate

Learn to accept

Learn to respect

Peace,

So rare on this planet

Since the existence of the humans

Quiet was a privilege for few

Understand,

Listen

Be silent

Those are the rules for a bright future

Hope,

No children will sleep

Without his parents tonight

Pray,

For Angel's protection

To everyone's house


©Eva Petropoulou Eva Lianou Petropoulou



From: E-Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - PEACE / HÒA BÌNH - Thơ: Eva Lianou Petropoulou (Hy Lạp) - Bản tiếng Việt: Lan Anh Tran Thi

THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình


   

 
THU KHÚC
 
Rụng vào thu xưa chiếc lá
Neo hồn ta giữa đa mang
Heo may luồn kim se chỉ
Đong đưa một phiến thu vàng
 
Thầm gọi đôi lời quá vãng
Độc bình hoa tím đơn côi
Mênh mang nẻo về sương khói
Thơ xưa nét chữ nhòe rồi
 
Tri âm bạn đà đi vắng
Cầm lên xác bướm khô rơi
Người gần như xa quá đỗi
Thì thôi thu hát bên trời
 
Khẽ chuyến mây trôi bằng lặng
Vườn thu mắt cỏ đẫm sương
Lãng đãng lời chi chuông gió
Ngỡ em phía lối hoang đường...
 
 
MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG
 
Nắng mưa rát mặt cánh đồng
Cơm mùa giáp hạt đèo bòng sắn khoai
Nhọc nhằn tay ải tay ai
Phôi thai từ buổi hạ dài sang thu
 
Bờ hoang an phận mù u
Gieo neo chi gió đánh đu phận người
Cuối mùa sen ngỡ còn tươi
Lá xanh nõn ngó búp cười mà đau
 
Nhớ xưa thầm trách chi nhau
Gió đưa hương bưởi rụng vào nhà ai
Lời ru quay quắt đêm dài
Trầu cay một mớ vẫn hoài đa mang
 
Gọi nhau trẩy hội mùa vàng
Tay liềm tay hái mơ màng thảo thơm
Quê nhà ướt bóng chiều hôm
Ngát hương cơm mới rạ rơm phơi lòng...
 
 
HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN...
 
Khi những cánh diều không cõng nổi ước mơ
Ta biết nói gì cùng mùa hạ
Giá có thể trở lại làm đứa trẻ sà vào lòng mẹ
Khóc một trận thỏa thuê
 
Nhắn bước chân thôi hãy về đi
Mái nhà xưa
Lũ rêu hoang bám gờ giếng cạn
Mùa hạ lặng thầm
Cây nhài cũ đơm bông
 
Mặc những ngổn ngang
Bàn chân lấm bụi
Những đứa trẻ giả vờ như chưa lớn
Bên chái bếp còn nghe mùi khói rụng
Hương nhài cũ chưa tan...
 
                                        TỊNH BÌNH

READ MORE - THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình

CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng


 


Cõi  Trần
 
1.
Người về tìm thuở thiếu thời
Quê hương in dấu một đời Mẹ Cha
Sông quê nước chảy hiền hòa
Đón người lữ khách phương xa mới về
Gió lùa qua mái tranh tre
Lời ru đằm thắm trưa hè “ À… ơi…”
Lời ru theo gió chơi vơi
Bâng khuâng xao xuyến đậm lời thơ ca…
Người về vui với quê nhà
Lúa ngô, khoai sắn thật thà chân quê
Mẹ về, bóng Mẹ trên đê
Hanh hao cái nắng tái tê chín vàng
Lẫn trong ngọn gió vừa sang
Hương thơm lúa chín đồng vàng xa đưa
Nắng qua kẽ lá lưa thưa
Sông quê vọng tiếng đò đưa thuở nào…
 
2.
Quê nhà hai tiếng ngọt ngào
Người xa vạn dặm nôn nao bồi hồi
Lòng còn đau đáu người ơi
Trông về quê cũ, phương trời mù xa…
Quê nhà hai tiếng thiết tha
Nhà xưa có Mẹ, có Cha mong chờ
Nhớ về năm tháng tuổi thơ
Nhớ về tiếng Mẹ “Ầu… ơ…” nhẹ nhàng…
Một mùa báo hiếu Vu Lan
Cài bông hồng trắng hai hàng lệ rơi
Mẹ giờ đã khuất bóng đời
Âm dương cách biệt, hết thời chờ mong
Lung linh những ngọn nến hồng
Chắp tay con vái cầu mong Mẹ hiền
Mẹ về cõi Bụt, cõi Tiên
Bỏ gian nan, bỏ ưu phiền… nhân gian…

         Nha Trang, tháng  08. 2026
                       LÊ KIM THƯỢNG

READ MORE - CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng

Tuesday, September 1, 2026

TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn


Tiếng trống ngày khai trường giữa hai thế hệ

                                 Tản văn – Nguyễn Đại Duẫn


Sáng nay, tôi đưa cháu đến trường dự lễ khai giảng năm học mới. Con đường đến trường cũng vui hơn trong tiếng nói cười của trẻ nhỏ;  tiếng ồn ào của xe cộ, tiếng lao xao của các bậc phụ huynh. Cháu tôi năm nay vào lớp 1, cái tuổi vừa ngỡ ngàng, rụt rè, vừa muốn tìm hiểu, làm cho tâm trạng cháu vừa hồi hộp vừa náo nức. Cháu mặc bộ quần áo mới, đeo chiếc cặp trên vai, bàn tay nhỏ xíu nắm lấy tay ông. Nhìn cháu nhảy chân sáo bước vào cổng trường, lòng tôi bỗng rộn ràng một niềm vui khó tả.

 Sân trường hôm nay đông vui, cờ hoa rực rỡ. Trên bục, tấm phông treo dòng chữ: “Chào năm học mới”, trang trọng. Các thầy cô giáo áo quần tề chỉnh, tươi cười. Học sinh náo nức gặp nhau sau những ngày hè. Tiếng trống khai trường vang lên từng hồi giòn giã trong ánh nắng mùa thu. Rồi tiếng trống ếch vang lên từng hồi. Âm thanh trong trẻo, rộn ràng. Tiếng loa phóng thanh cất lên những bản nhạc trầm hùng ca ngợi đất nước.

Tôi đứng giữa sân trường hôm nay mà ký ức của hơn nửa thế kỷ trước bỗng trở về nguyên vẹn. Trong khoảnh khắc ấy, lòng tôi bỗng chùng xuống. Cũng là ngày khai trường, cũng là tiếng trống gọi học trò, nhưng ngày ấy đất nước đang trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ. Ký ức ngày khai giảng đầu tiên của tôi chưa bao giờ thực sự im lặng trong tâm trí. Không có bố đưa đến trường, vì bố tôi đang chiến đấu ở chiến trường B. Không có cái nắm tay của mẹ, mẹ đang đi làm công điểm, xứng danh phụ nữ “hai giỏi”. Tôi nép mình đi bên bà nội, ngỡ ngàng đến lớp. Tôi mặc bộ quần áo mới vải Tô Châu, được cắt may từ bộ quần áo lót của bố, trước khi lên đường đánh giặc, bố bớt lại. Tuy vậy, tôi vẫn sung sướng và tự hào. Tối hôm trước ngày khai trường, đứa trẻ là tôi ngày ấy cứ trằn trọc mãi, nâng niu chiếc cặp sách mới may bằng tấm ni - lông cũ, để ngay ngắn đầu giường; dặn mẹ gọi dậy sớm, sợ ngủ quên mà lỡ mất khoảnh khắc trọng đại. Mùi vải mới của bộ quần áo mới, mùi giấy thơm nức từ quyển vở kẽ ô li chưa đặt nét mực nào luôn có một sức quyến rũ kỳ lạ.

Cụm trường tôi đến khai giảng là sân kho của hợp tác xã. Xung quanh đào hào giao thông. Phía sau nhà kho là hầm chữ A. Kho rộng khoảng 5 gian làm bằng gỗ phi lao, người ta bỏ lúa, khoai. Mùi ẩm mốc, mùi rơm mục nồng nặc xông lên cay cay đầu mũi. Hai gian đầu, người ta sắp bàn ghế dành cho hai lớp học. Ngoài hai lớp vở lòng của chúng tôi (lớp đầu cấp tiểu học bây giờ) đến khai giảng còn có mấy lớp anh, chị. Ngày ấy, chúng tôi không có những buổi khai giảng đông vui, rực rỡ như hôm nay. Học sinh không được mặc những chiếc áo trắng tinh tươm. Không được tụ tập đông người vì máy bay địch có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Ngày khai trường thường chỉ được tổ chức theo cụm trường, đơn sơ và nhanh gọn.

Tôi vẫn nhớ mãi buổi khai trường năm ấy. Sau khi học sinh tập trung xong theo vị trí đã được quy định, thầy giáo phụ trách khu vực lên tuyên bố lý do. Chúng tôi nghiêm trang chào cờ. Lời khai mạc ngày khai trường vang lên giữa một không gian vừa háo hức vừa thấp thỏm, lo âu. Rồi thầy giao nhiệm vụ năm học mới cho học sinh chúng tôi.  Xong việc, các lớp anh chị tản ra đi từng nhóm về khu vực lớp mình, chúng tôi ở lại nhanh chóng trở về lớp để tránh máy bay! Chẳng có tiếng trống dài giục giã, chẳng có những màn văn nghệ náo nức, cũng không có những bó hoa tươi trao tặng thầy cô. Ngày khai trường của chúng tôi chỉ giản dị như thế. Nhưng trong lòng mỗi đứa trẻ vẫn cháy lên một niềm vui: được đi học, được gặp thầy, gặp bạn và sẽ bước đi trên con đường học chữ giữa những ngày đất nước còn chiến tranh.

Các lớp học cũng không tập trung thành một ngôi trường lớn. Để tránh bom đạn và hạn chế học sinh phải đi xa, lớp học nằm rải rác ở từng địa bàn. Có lớp học trong những căn nhà dân, có nơi học dưới những mái tranh đơn sơ của doanh trại bộ đội để lại. Mỗi khi nghe tiếng máy bay, thầy trò lại vội vàng rời lớp, tìm nơi trú ẩn. Tiếng bom có thể làm rung chuyển mặt đất, nhưng không thể làm tắt đi khát vọng học tập của chúng tôi.

Dù năm tháng có phủ một lớp bụi mờ lên bao kỷ niệm, thì mỗi khi ngọn gió heo may đầu thu khẽ xôn xao qua từng vạt lá, cái không khí nồng nàn, háo hức của buổi tựu trường xưa cũ lại quay về, nguyên vẹn và vẹn nguyên như một khoảng trời cổ tích. Khi đã trưởng thành và bước đi trên những chặng đường đời đầy vội vã, không còn được sống trong cái nôn nao của ngày khai trường năm ấy, tôi mới nhận ra đó là một phần ký ức đẹp đẽ nhất của tuổi thơ. Ngày khai trường không chỉ lưu giữ tuổi trẻ, mà còn là chiếc neo giữ cho tâm hồn ta luôn trong sáng, để mỗi khi mùa thu đến, lòng ta lại thổn thức một nhịp đập êm đềm về mái trường xưa.

Bây giờ, đứng bên cháu trong ngày khai trường, tôi thấy cuộc sống hòa bình tươi đẹp biết nhường nào. Khi buổi khai trường kết thúc, tôi nhìn cháu hòa vào dòng học sinh đang ríu rít nói cười mà thấy lòng mình ấm áp. Tôi mừng vì cháu được sống trong những ngày bình yên, được mặc áo trắng đến trường, được dự một lễ khai giảng đông vui dưới mái trường thân yêu. Đứng giữa sân trường, nhìn cháu cùng các bạn tung tăng trong ngày khai giảng, tôi càng thấm thía giá trị của hai chữ Hòa bình. Cháu được đến trường trong một đất nước bình yên, được học tập trong những ngôi trường khang trang, được mặc áo mới, được vui chơi, được tự do ước mơ và lựa chọn con đường tương lai của mình.

Tôi vui đến nghẹn lòng. Niềm vui của người ông không chỉ là thấy cháu lớn lên từng ngày, mà còn là được chứng kiến một thế hệ trẻ được sống trong những điều mà thế hệ chúng tôi từng mơ ước.

Tiếng trống trường lại vang lên, báo hiệu vào lớp. Tôi nghe trong đó không chỉ có tiếng gọi năm học mới mà còn nghe âm vang của tiếng trống hôm nay đang nối liền với tiếng trống ngày xưa, nối một tuổi thơ trong chiến tranh với tuổi thơ trong hòa bình.

Tôi tin rằng những đứa trẻ đang đứng dưới sân trường hôm nay sẽ bước vào tương lai bằng đôi chân vững vàng và một tâm hồn rộng mở. Đất nước rồi sẽ còn đổi mới từng ngày, trường học sẽ ngày càng khang trang, cuộc sống sẽ ngày càng no đủ, và những ước mơ của các em sẽ bay xa hơn những gì thế hệ chúng tôi từng hình dung. Và tôi thầm mong cháu sẽ luôn biết trân trọng những ngày tháng bình yên ấy. Bởi phía sau tiếng trống khai trường hôm nay là biết bao mất mát hy sinh qua những năm tháng chiến tranh gian khổ mà thế hệ ông cha đã đi qua để giữ gìn cho các cháu một mái trường, một lớp học và những mùa khai giảng trọn vẹn

Tôi siết nhẹ bàn tay cháu, lòng tràn đầy hy vọng.

Một năm học mới bắt đầu.

Một thế hệ mới đang lớn lên.

Và phía trước là một tương lai ngày càng tươi sáng của quê hương, đất nước.

 

Nguyễn Đại Duẫn

Hội viên Hội VHNT Trường Sơn - Quảng Trị

ĐT: 0977194533

       nguyenduanqh@gmail.com

 

READ MORE - TIẾNG TRỐNG NGÀY KHAI TRƯỜNG GIỮA HAI THẾ HỆ - Tản văn: Nguyễn Đại Duẫn

EUGÈNE POILANE - NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH - Bút ký của Nguyễn Hoàn

Nhà báo Nguyễn Hoàn



EUGÈNE POILANE 

- NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH

Bút ký của Nguyễn Hoàn


Lâu nay, tôi có nghe nói đến chuyện ông Eugène Poilane, nhà thực vật học nổi tiếng người Pháp, đưa cây cà phê vào trồng ở Khe Sanh, Quảng Trị từ năm 1926. Năm 2026 là tròn 100 năm cây cà phê Khe Sanh được ông Eugène Poilane trồng xuống đất này. Duyên do là vậy, tôi bèn dành thời gian đi tìm dấu tích ông Eugène Poilane ở Khe Sanh và trong các tài liệu của Pháp, Hoa Kỳ.

 

Thời gian và chiến tranh đã xóa hết mọi dấu vết nhà cửa, sân kho cà phê… của ông Eugène Poilane ở Khe Sanh, chỉ còn lại những địa điểm mà việc xác định phải nhờ vào ký ức của những người cao tuổi. Theo người dân ở đây, những địa điểm này nằm ở vùng đất xung quanh hồ Khe Sanh, bên cầu Khe Sanh. Lên vùng đồi xanh thẫm cây rừng, vào một ngôi nhà trên đồi, tôi gặp bà Lê Thị Em, 92 tuổi, và chính là gặp đúng một trong những đầu mối mà tôi cần tìm. Bà chỉ tay ra vạt đất cao phía trước nhà rồi kể, mấy năm trước, người ta đến xúc đất ở đó lên xe để chở đi làm đường ở nơi khác, làm lộ ra phần mộ của ông Eugène Poilane.

 

Lúc đó, anh Võ Văn Chương, cháu ngoại của bà, đã bốc hài cốt ông Eugène Poilane để an táng ở vị trí mới cạnh đó, bên bụi tre. Theo hướng bà chỉ, tôi lẩn qua mấy hàng cây cao, vòng đi vòng lại mới tìm ra bụi tre và thấy mộ ông Eugène Poilane. Mộ không có nấm, nằm chìm với mặt đất, chỉ có hàng gạch xếp xung quanh mộ theo hình chữ nhật, trước mộ có đặt một cái bình và một cái dĩa nhưng không hương, không hoa, cho thấy đây là một ngôi mộ vắng chủ. Được bà Em cho biết, chị Hồ Thị Lựu (vợ anh Võ Văn Chương) đang mở quán giải khát bên bờ hồ Khe Sanh là người biết chuyện bốc mộ này, tôi tìm ra quán gặp chị. Tôi làm khách uống nước ngọt giải khát để vừa đỡ mệt, vừa tiện bắt chuyện với chị. Khi tôi hỏi chuyện bốc mộ ông Eugène Poilane, chị Lựu mở máy điện thoại di động của chị cho tôi xem ba tấm ảnh chụp cái tiểu sành đựng hài cốt ông Eugène Poilane. Do bị phân hủy bởi thời gian, hài cốt chỉ còn mấy mẩu xương ống, xương mụn, riêng một hàm răng giả gần như còn nguyên, có những chiếc răng mạ vàng. 

 


Ông Eugène Poilane (1888-1964), nhà thực vật học Pháp, người trồng cà phê đầu tiên tại Khe Sanh, Quảng Trị.


Thời điểm chụp được ghi ở góc bên phải ba tấm ảnh này là ngày 22.11.2021, cho biết ngày bốc mộ ông Eugène Poilane chính là ngày này, khoảnh khắc chụp là buổi trưa. Chị Lựu chia sẻ thêm: “Ông nội chồng tôi đã viết một bản chép tay về chuyện đời ông Eugène Poilane, giao cho vợ chồng tôi cất giữ, phòng khi có người cần hỏi đến”. Bất ngờ trước thông tin này, tôi nhờ chị dẫn đường tới nhà ông Võ Văn Thương, ông nội chồng chị ở khóm 3b, thị trấn Khe Sanh, chị vui vẻ nhận lời. Khi tôi và chị Lựu đến, lúc gần trưa, ông Thương đi vắng. Buổi chiều tôi lại tìm đến, ông Thương có nhà. Ông Thương nay đã 89 tuổi nhưng trông còn khoẻ và minh mẫn. Trong thời gian từ năm 1941 đến 1945, cha mẹ ông đã đến làm thuê trong đồn điền cà phê của ông Eugène Poilane. Ông đã sống với cha mẹ tại đồn điền này từ lúc ông mới 5 tuổi đến 9 tuổi. Khi lớn lên, không sống trong đồn điền này nữa, thỉnh thoảng, ông vẫn đến nhà ông Eugène Poilane chơi. Ông Thương là một nhân chứng sống hiếm hoi còn lại về cuộc đời ông Eugène Poilane cũng như về 100 năm cà phê Khe Sanh. Xem qua bản chép tay vắn tắt (non trang rưỡi giấy khổ nhỏ) của ông Thương viết về đời ông Eugène Poilane, tôi muốn ông Thương kể thêm những “ký ức sống” về chuyện người khởi nguồn cà phê Khe Sanh. 

Ông Thương kể ngọn ngành: “Năm 1926, ông Eugène Poilane đến trồng cà phê tại Khe Sanh. Nhà ông dựng sau quán nhà bà Hoa, bên cầu Khe Sanh hiện nay. Nhà 1 tầng, dài khoảng 80 m. Sau nhà có con suối chảy qua. Còn vạt đất nằm phía trên nhà bà Em hiện nay là địa điểm sân phơi cà phê và nhà kho của ông Eugène Poilane ngày trước. Ông có bà vợ đầu là người Pháp (tên là Mlle Yvonne Bourdeauducq – chú thích của người viết), có 3 con, 2 gái 1 trai. Hai con gái tên là Yvon Poilane và Yranh Poilane. Con trai tên là Félix Poilane, chết năm 1968 vì bị đạn pháo tại sân bay Tà Cơn. Ông và vợ đầu sau đó đã ly dị. Vợ thứ hai tên là Ba, quê ở Vĩnh Linh, Quảng Trị, có 2 con gái là Ma ghi (Marguerite) và Ty ty. Vợ thứ ba là bà Đặng Thị Nam (tài liệu của Pháp viết là Dong Thi Nam – chú thích của người viết), người Tày, người Thổ gì đó, ở ngoài Bắc, Lạng Sơn, Cao Bằng, có con trai tên là Răng, chơi với tôi hồi nhỏ, các con sau thì tôi không nhớ. Cuối đời, ông sống với bà Đặng Thị Nam tại đồn điền gần cầu Khe Sanh”. Từ lời kể của ông Thương về bà Đặng Thị Nam, sau đó, tôi đã liên hệ, đối chiếu khi đọc bài viết “Các loài cây ăn quả ở Đông Dương” của Eugène Poilane trên Journal d’agriculture tropicale et de botanique appliquée (Tạp chí Nông nghiệp Nhiệt đới và Thực vật học Ứng dụng, Pháp), số 11, tháng 11.1965 (bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp: https://www.persee.fr), có đoạn, khi viết về cây mận, Eugène Poilane cho biết: “Vợ tôi – quê ở Thất Khê – nói rằng người vùng đó nhân giống mận bằng chồi rễ”, chứng tỏ, bà Đặng Thị Nam quê ở thị trấn Thất Khê, huyện Tràng Định (cũ), tỉnh Lạng Sơn."

Ông Thương kể tiếp: 

"Ngày 20.4.1964, ông Eugène Poilane bị bắn chết khi đang ngồi trong xe ô tô Citroën màu vàng của ông chạy trên đường 9. Ông là nạn nhân của chiến tranh. Ông bị bắn, có thể do bị nhầm là người Mỹ. Ông Thương lúc này 28 tuổi đã đi đưa tang ông Eugène Poilane, nhớ lại: “Tôi có đi theo đưa đám. Họ gánh đi, mình chạy theo. Quan tài ông ngoài là gỗ, trong là thiếc, hai lớp. Ông được an táng tại vườn gần nhà, gần cầu Khe Sanh. Sau khi đất nước thống nhất, con ông có về tìm mộ nhưng không tìm được. Ngày 24.12.2024, có người cháu của ông Eugène Poilane về gặp tôi. Tôi đưa người cháu này lên viếng mộ ông Eugène Poilane. Người cháu này đã thắp hương và lạy như người mình vậy đó”. 


Christian (phải) và ông Võ Văn Thương tại Khe Sanh, năm 2024

(Ảnh từ FaceBook của tác giả Nguyễn Hoàn)


Theo ông Thương chỉ dẫn, tôi đã đến chỗ vạt đất phía sau quán bà Hoa (232, Lê Duẩn, Khe Sanh), địa điểm nhà ông Eugène Poilane ngày trước. Chỉ thấy những hàng tre, những lùm cây xanh um tùm, những cây chuối mọc hoang và miên man cỏ dại. Dưới cây cầu bê tông nhỏ bắc ngang, con suối hoang vu chảy qua lặng lẽ tháng năm.

 

Ngoài nguồn ký ức nhân chứng sống và đi thực địa, tôi tìm thêm dấu tích về ông Eugène Poilane trong các tư liệu của Pháp và Hoa Kỳ. OpenEdition Journals là nền tảng xuất bản học thuật trực tuyến có uy tín tại Pháp, chuyên lưu trữ và phát hành các tạp chí khoa học đa ngành, trong đó có tạp chí Revue d’ethnoécologie (Sinh thái học nhân văn). Số 20 năm 2021 của tạp chí này đã đăng bài “Cuộc đời và sự nghiệp của Eugène Poilane (1888-1964)” của Ariadna Burgos và Benoît Carré. Số này còn đăng bài “Bối cảnh xã hội - văn hoá và sinh thái của rừng ngập mặn Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ XX theo Eugène Poilane” của Ariadna Burgos, Benoît Carré, Françoise Aubaile-Sallenave và Sovanmoly Hul. Thư viện học thuật Persée, Pháp (đã dẫn trên) có lưu trữ một số bài viết về Eugène Poilane và bài viết của Eugène Poilane.

 

Trang web https://ncbg.unc.edu của Vườn Thực vật Bắc Carolina, thuộc Đại học Bắc Carolina, Hoa Kỳ đã đăng bài giới thiệu về các mẫu nấm và thực vật có mạch do Poilane thu thập, hiện được lưu giữ tại kho lưu trữ của Đại học Bắc Carolina… Theo các tư liệu này, ông Eugène Poilane sinh ngày 16.3.1888 tại Pháp, trong một gia đình nông dân rất nghèo. Ông đã sớm nuôi mộng về những cuộc phiêu lưu và khám phá thế giới. Dù thể trạng yếu, năm 19 tuổi, ông đã nhập ngũ, tham gia Trung đoàn pháo binh thuộc địa số 3 tại Toulon. Năm 1909, ông sang Nam Kỳ, làm việc tại Pháo đội số 7 miền núi, sau đó là tại Xưởng hỏa khí Sài Gòn.

 

Năm 1914, ông gia nhập một đơn vị hạ sĩ quan và nhận nhiệm vụ trồng thầu dầu. Thường xuyên đến Vườn Bách thảo Sài Gòn, năm 1918, ông đã có cuộc gặp gỡ “định mệnh” với Auguste Chevalier (1873-1956), một nhà thực vật học Pháp kỳ cựu sang Việt Nam để thành lập Viện Khoa học Sài Gòn. Nhận ra thiên hướng ưa quan sát và yêu thiên nhiên của Eugène Poilane, Auguste Chevalier đã xin cho Eugène Poilane được chuyển về làm việc tại Viện Khoa học Sài Gòn. Auguste Chevalier đã dạy Eugène Poilane cách thu thập mẫu thực vật, ghi chú chi tiết rồi gửi về Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên Quốc gia Pháp ở Paris (MNHN) để xử lý, phân loại, đưa vào nghiên cứu. Từ năm 1919, Eugène Poilane trở thành nhà khảo sát thực vật, năm 1922 làm nhân viên kiểm lâm và từ năm 1928 làm cộng tác viên chính thức của MNHN.

 

 Cà phê Khe Sanh


Đến Khe Sanh lần đầu năm 1918, Eugène Poilane bị mê hoặc bởi thảm thực vật tươi tốt ở đây và cho rằng đất đỏ ở đây tuyệt vời như đất ở Tuscany, nước Ý. Năm 1926, ông quay lại Khe Sanh để trồng những cây cà phê Chari đầu tiên xuống mảnh đất này. Ông đã đi nhiều nơi ở Việt Nam và Đông Dương để khảo sát, sưu tập thực vật và tìm hiểu hệ sinh thái rừng ngập mặn. Rất nhiều loài động thực vật đã được đặt theo tên ông: poilaneana, poilanei, poilanii và hai chi mới: Poilania (thuộc họ Cúc – Asteraceae) và Poilaniella (thuộc họ Thầu dầu – Euphorbiaceae). Theo cơ sở dữ liệu của MNHN, ước tính có 20 đến 30% mẫu vật trong bộ sưu tập của Eugène Poilane là tiêu bản định danh (types nomenclaturaux), tức là những mẫu chuẩn gắn liền vĩnh viễn với tên khoa học của các loài.

 

Trong một bản thảo do ông viết, ông bày tỏ rằng, Việt Nam là “đất nước mà tôi yêu quý và coi là của mình, tôi không còn là người Pháp, mà là người Đông Dương”. Ông từng thổ lộ rằng, khi lìa đời, ông muốn được chôn cất, với tư thế đứng thẳng, trên núi ở vùng Khe Sanh. Ông ngưỡng mộ Alexandre Yersin, bác sĩ, nhà vi khuẩn học và nhà thám hiểm người Pháp gốc Thuỵ Sĩ ở tinh thần say mê khám phá tự nhiên giống như ông: “Tôi biết khá rõ bác sĩ Yersin, người có tiếng là khắc khổ, tiết độ, mộc mạc và bền bỉ hiếm thấy, rất cứng rắn”.

 

Auguste Chevalier, người thầy của Eugène Poilane, đã đánh giá cao về học trò của mình: “Một trong những niềm tự hào của cuộc đời tôi là đã phát hiện ra con người can đảm này và biến ông thành người học trò xuất sắc của mình… Khi bắt đầu cộng tác với chúng tôi vào năm 1919, ông mới chỉ khoảng 30 tuổi, khỏe mạnh và đầy khí thế. Và quả thực, ba mươi năm sống tại Viễn Đông, trong đó có gần hai mươi năm liên tục băng rừng, leo núi, gần như không ngơi nghỉ, cũng không hề làm ông nản chí. Sốt rét và lỵ mạn tính cũng không thể cản bước ông.

 

Các chuyến đi của ông tổng cộng dài đến hàng chục nghìn cây số, phần lớn được thực hiện bằng đường bộ và thường là trong những vùng hiểm trở, đầy thú dữ như hổ, nơi mà chưa một nhà tự nhiên học nào từng đặt chân đến. Ông đã lần lượt thám hiểm toàn bộ Đông Dương: từ Nam Kỳ đến Cao Miên, từ An Nam, Lào đến Bắc Kỳ. Ông là một trong những người đầu tiên chinh phục đỉnh Phan-xi-păng (cao 3.200 m), điểm cao nhất Đông Dương, cũng như các dãy núi xung quanh. Năm 1935, ông đã từ Lào Cai đi bộ dọc theo biên giới Trung Hoa đến sông Mêkông, băng qua vùng “vô chủ” cực kỳ hiểm trở.

 

Những chuyến đi đó đã mang lại số lượng phát hiện thực vật vô cùng phong phú” (“Những khả năng phát triển cây ăn quả ở Bắc Đông Dương theo các cuộc thám sát và thử nghiệm của R. Miéville và E. Poilane, Ghi chú của ông Auguste Chevalier”, đăng trên tạp chí Revue de botanique appliquée et d’agriculture coloniale (tạp chí Thực vật học ứng dụng và Nông nghiệp thuộc địa), số 251-253, năm thứ 22, tháng 7-9 năm 1942, trang 363-391, bài có trong Thư viện học thuật Persée, Pháp).

 

Eugène Poilane đã để lại 50.000 tấm tiêu bản thực vật, hai sổ tay ghi chép thu thập được ghi chú cẩn thận (Poilane 1919, 1922), hai bản thảo: “Ghi chép của một người nông dân” (không ghi năm) dài 428 trang và “Hồi ký của tôi” (Poilane 1947-1950) dài 46 trang; chín quyển sổ học sinh viết tay (không ghi năm), nhiều thư từ, cùng các “buổi trò chuyện gia đình” được trình bày thành những câu chuyện nhằm nâng cao nhận thức cho người dân địa phương về cách xây dựng làng mạc hoặc phòng chống nạn cháy rừng.

 

Trong hồi ký của mình, Eugène Poilane đã bày tỏ niềm tôn kính đặc biệt dành cho thiên nhiên: “Người Công giáo tin vào một vị thần mà họ định danh, còn tôi ngưỡng mộ một tổ chức mà vì không biết rõ hơn nên tôi gọi là Bà mẹ thiên nhiên”. Gần trăm năm nay, kể từ ngày Eugène Poilane trồng lên những cây cà phê đầu tiên ở Khe Sanh, Bà mẹ thiên nhiên ở đây đã tạo nên hương vị cà phê Khe Sanh ngon nức tiếng trong nước và lan toả ra nước ngoài. Một chỉ dẫn địa lý đã được xây dựng cho cà phê Khe Sanh.

 

Năm 2026, tỉnh Quảng Trị tổ chức Lễ hội Vì Hòa bình lần thứ hai. Đây cũng là dịp tròn 100 năm hình thành và phát triển vùng cà phê Khe Sanh (1926 – 2026). Còn gì ứng hợp bằng việc đưa các hoạt động kỷ niệm 100 năm cà phê Khe Sanh vào chương trình khung của Lễ hội Vì Hòa bình, như một lời tạ ơn đối với Bà mẹ Thiên nhiên mà Eugène Poilane từng ngưỡng mộ; đồng thời ghi nhận những đóng góp của ông trong việc tìm kiếm, khảo nghiệm và hình thành vùng trồng cà phê ở Khe Sanh; tôn vinh những người trồng, chế biến, kinh doanh cà phê – những người đã chung tay phát triển cà phê trên “miền đất quả vàng” Hướng Hoá (cũ), làm nên thương hiệu cà phê Khe Sanh nức tiếng hôm nay. Đó là một thương hiệu không chỉ mang giá trị kinh tế mà còn chứa đựng ký ức lịch sử, sức sống của núi rừng và khát vọng hòa bình. Từ chiến địa khốc liệt năm xưa, Khe Sanh hôm nay đang trở thành điểm đến của hòa bình, hợp tác và phát triển. Vì thế, tour du lịch cà phê Khe Sanh đã chọn slogan mang thông điệp nhân văn sâu sắc: “Make coffee, not war” (Pha cà phê chứ không phải chiến tranh). Cà phê Khe Sanh, cà phê của hòa bình! Cà phê Khe Sanh, cà phê của thịnh vượng, mai này!

 

NGUYỄN HOÀN

Nguồn:

https://vanhocsaigon.com/but-ky-cua-nguyen-hoan-eugene-poilane-nguoi-trong-ca-phe-dau-tien-o-khe-sanh/

Được tác giả cho phép đăng lại.

READ MORE - EUGÈNE POILANE - NGƯỜI TRỒNG CÀ PHÊ ĐẦU TIÊN Ở KHE SANH - Bút ký của Nguyễn Hoàn

Sunday, August 30, 2026

NỮ NHÂN CỦA THẾ GIAN - Tác giả: Hashim Nasser Kamal El-Din - Bản tiếng Việt: Thi Lan Anh Tran

Hashim Nasser Kamal El-Din


NỮ NHÂN CỦA THẾ GIAN

Nguyên tác: 

Tác giả Hashim Nasser Kamal El-Din, Giám đốc Tạp chí Quốc tế “Kalamat wa Huruf”

© Bản quyền tác phẩm thuộc về tác giả Hashim Nasser Kamal El-Din (هاشم ناصر كمال الدين).

Bản dịch: 

Nhà thơ Thi Lan Anh Anh, Aschaffenburg, Germany



Em là vẻ đẹp tinh khôi nhất của trần gian,

Nơi khởi nguồn của ngỡ ngàng và giấc mộng vô biên.

Nữ hoàng của muôn người phụ nữ, không ai sánh bước,

Em kiêu hãnh như chim công xòe cánh giữa trời xanh,

Chỉ một ánh nhìn thôi cũng đủ đánh thức những linh hồn say đắm.

Vẻ đẹp em như được sinh ra từ cõi trời thanh khiết,

Rạng ngời, trong trẻo, chẳng vướng chút phấn son giả tạo.

Dáng hình mềm mại tựa nhung tơ huyền ảo,

Một vẻ đẹp vượt qua năm tháng và mọi khoảng không.

Thân hình em mang ngọn lửa của sức sống diệu kỳ,

Mỗi đường nét dịu dàng như được bàn tay thiêng liêng tạo tác.

Một vẻ uy nghi hòa quyện giữa hình hài và tâm hồn,

Khiến thế gian rung động, khiến ánh mắt người say đắm.

Vòng eo em là dòng chảy mềm mại của khát khao,

Mỗi bước chân khẽ lay động cả mặt đất yêu thương.

Một sức mê hoặc khiến đôi mắt mỏi mòn chẳng thể ngủ,

Như thể em được dệt nên từ hương hoa hồng và cánh gió mùa xuân.

Em là nhịp đập hiếm hoi giữa cuộc đời rộng lớn,

Là đóa hồng sống động giữa những cánh hoa vô hồn.

Giữa cánh đồng phai màu của những bông hoa nhựa lạnh lẽo,

Nơi không còn linh hồn, chẳng còn hương sắc của tình yêu.

Dẫu ngàn dặm xa xôi chia cách đôi bờ,

Dẫu khoảng cách trải dài giữa những vì sao xa thẳm,

Hình bóng em vẫn dệt nên những cuộc tương phùng trong đêm vắng,

Nơi nỗi nhớ ngủ yên trong từng ngón tay dịu dàng,

Và khát vọng cuộc đời thức dậy bởi một lần chạm nhẹ.

Hơi thở của em thắp lên vùng hoang vu tĩnh lặng,

Những tâm hồn mộng mơ bay như cánh bướm trên ngọn lửa yêu thương.

Tiếng hát xưa theo dòng nước vọng về,

Cuốn trôi những tảng đá của chia lìa và cách trở,

Đưa em chạm tới thế gian, biến đêm dài thành ánh sáng.

Hương trầm quý phái lan tỏa trong không gian,

Những đóa hương vương giả tan vào lòng người dịu nhẹ.

Mùi xạ hương được tình yêu ủ men qua tháng năm sâu thẳm,

Cho những dặm dài mệt mỏi cũng dần tan biến.

Rồi khoảng cách chỉ còn là chiếc bóng mong manh,

Một ảo ảnh thoáng qua giữa dòng đời vô tận.

Còn em vẫn ở đó—

Với vẻ đẹp được thời gian tôn vinh,

Là sự thật vĩnh hằng duy nhất còn lại,

Là kho báu bất tử dưới bầu trời muôn thuở,

Là những giây phút ngắn ngủi nhưng đẹp mãi trong cõi đời.

________________________________________


LADY OF THE WORLD

Original poem by Hashem Nasser Kamal El-Din


You are the grace where purest beauties gleam,

The birth of wonder and the endless dream.

Queen of all women, without peer or mate,

You walk with pride as peacocks elevate,

And steal the soul upon the very sight.

Your beauty born of heaven, pure and bright,

Untouched by artifice, a faultless grace,

A velvet form that triumphs time and space.

Your glowing frame with living fire is fraught,

Every sweet curve by sacred fingers wrought,

To shake the world and dazzle gazers blind.

A majesty of form and soul combined.

Your waist a fluid line of sweet desire,

Your tread awaking earth with tender fire.

A spell that robs the weary eyes of rest,

As though from rose and windflower you were drest.

You are the rare and solitary pulse,

A living rose where no deceit consults,

Amidst a faded field of plastic flowers,

Devoid of soul through cold and empty hours.

Yet though the leagues of distance stretch afar,

And spaces sever us from star to star,

Your phantom form weaves meetings from the night,

Where longing sleeps within your fingers light,

And eager life awakes at your caress.

Your breath inflames the silent wilderness,

While dreamy souls like butterflies ascend,

And songs of old across the waters send,

Sweeping the rocks of absence from your way,

To claim the world and turn the night to day.

The scent of noble oud invades the air,

And royal attars melt to soothe despair,

Of musk that love has aged within the breast,

Until the weary miles are laid to rest.

Then distance dies, an idle, fleeting shade,

And you remain, by timeless glory made—

The enduring truth, the sole immortal prize,

The fleeting seconds under endless skies.


 Hashem Nasser Kamal El-Din

READ MORE - NỮ NHÂN CỦA THẾ GIAN - Tác giả: Hashim Nasser Kamal El-Din - Bản tiếng Việt: Thi Lan Anh Tran

EM LÀ NHÀ - Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain



 

EM LÀ NHÀ

Các tác giả

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India


Copyright © 2026. All Rights Reserved

 

Anh đâu hỏi để kiếm tìm

Điều anh cần biết ở tim em rồi
Chỉ là muốn giữa cuộc đời
Nghe em nói lại một lời... để thương.

 

Bởi người qua mấy dặm đường
Mới hay hạnh phúc rất thường, rất quen
Là khi có một người bên
Âm thầm gom hết muộn phiền cho nhau.

 

Anh thương từ buổi ban đầu
Không vì mắt biếc, má đào, môi xinh
Chỉ vì một tấm chân tình
Lặng im mà sáng như bình minh lên.

 

Em như ngọn cỏ bên thềm
Mềm thôi mà giữ bình yên cho nhà
Qua bao nắng lửa phong ba
Vẫn xanh một phía, vẫn là em thôi.

 

Hướng Dương chỉ ngước một trời
Anh đâu dám nhận mặt trời của em
Anh xin làm một ngọn đèn
Những khi gió tắt còn bên lối về.

 

Nếu đời nhiều nỗi tái tê
Anh xin nhận lấy, đừng để em mang
Vai anh chẳng rộng vô vàn
Nhưng đủ che một mưa ngàn cho em.

 

Anh yêu cả những lặng im
Yêu điều em giấu ở miền xót xa
Yêu từng giọt lệ chưa nhòa
Vẫn cười để giữ cửa nhà bình yên.

 

Có người yêu bởi lời nguyền
Có người yêu bởi nhân duyên đất trời
Còn anh chẳng biết vì đâu
Chỉ hay từ lúc có nhau... là nhà.

 

Mai này tóc trắng như hoa
Thời gian có thể phôi pha dáng hình
Chỉ xin còn một chữ tình
Để anh còn được gọi mình là đôi.

 

Nếu ai hỏi giữa cuộc đời:
"Điều gì quý nhất trong người của anh?"
Anh không đáp ngọc với vàng
Chỉ cười, rồi nắm tay nàng thật lâu.

 

Bởi yêu chẳng ở nhiệm màu
Mà trong bát nước, miếng trầu sẻ chia
Trong câu hỏi lúc sớm khuya
"Hôm nay em có mệt kia không nào?"

 

Nếu em còn ngại nói yêu

Thì anh xin nói một điều trước em:

Suốt đời, qua mọi thăng trầm,

Anh là bến đợi... còn em là nhà.



 

YOU ARE HOME

Co- Authors: 

Thi Lan Anh Tran, Aschaffenburg, Germany

& Musharraf Hussain, Assam, India


Copyright © 2026. All Rights Reserved

 

I never asked because I doubted
Your heart had long revealed its truth.
I only wished to hear your voice
Speak love once more, so love could bloom anew.

 

After walking countless roads,
I learned that happiness is never grand.
It lives in having someone near,
Quietly gathering every sorrow in their hands.

 

I loved you from the very start,
Not for bright eyes or graceful charms,
But for a faithful, gentle soul
Whose silent light outshines the dawn.

 

You are the grass beside the door,
Soft, yet guarding all our peace.
Though storms and burning summers come,
You remain forever green.

 

The sunflower turns toward one sun;
I dare not claim to be your sky.
Let me instead become a lamp
That waits whenever daylight dies.

 

Should life bring grief and bitter rain,
Let every burden fall on me.
My shoulders may not hold the world,
But they are wide enough for you.

 

 

I love even your quietness,
The hidden ache you never speak,
The tears you gently wipe away
So home may still be filled with peace.

 

Some love because of destiny,
Some because the heavens decree.
I know no reason but this one:
Since you arrived... I finally found home.

 

When silver threads adorn our hair
And time has softened youthful grace,
May love remain, unchanged within,
So we are still two hearts as one.

 

If someday someone asks of me,
"What treasure do you cherish most?"
I will not answer, "Gold or gems."
I'll simply smile and hold your hand.

 

For love is never built by miracles,
But by shared bread and cups of tea,
By whispered words in quiet nights:
"Have you been taking care today?"

 

And if you're still too shy to say,

Then let me speak before you do:

Through every season, every storm,

I'll be your harbor... and you, my home.

 

 From: 

E- Mail: Wirtschaftskanzlei@Dipl-Kauffrau-Tran.de

Dipl.- Kauffrau Thi Lan Anh Tran

 

READ MORE - EM LÀ NHÀ - Thi Lan Anh Tran & Musharraf Hussain