Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, November 27, 2020

THƯƠNG VÒNG XE ĐẠP CŨ... – Thơ Tịnh Bình

 

                 

                                     Nhà thơ Tịnh Bình


THƯƠNG VÒNG XE ĐẠP CŨ...
 
Rồi đến lúc
Ta không còn trẻ nữa
Những hoàng hôn
Cọng nắng cũng đã già
Chiều đông lạnh
Ngóng hoài về quá vãng
Gió bên hồ
Chẳng ấm nổi lòng ta...
 
Mênh mang quá
Trôi về đâu sóng nước
Mây cuối trời
Gờn gợn nỗi hư vô
Bầy sâm cầm
Ơ hờ tung cánh vỗ
Trăng thị thành
Xa vắng quá giấc mơ...
 
Chiều trở lại
Hững hờ ai quên nhớ
Mùa dâng hương
Sương khói hóa mơ hồ
Thu chín nẫu
Muộn mằn ta đứng đợi
Phố trầm tư
Rụng xuống tiếng ca buồn
 
Đâu quán cóc
Gửi lòng câu thơ cũ
Kỷ niệm nhòa
Đau đáu vết thời gian
Chiều lỡ hẹn
Thương vòng xe đạp cũ
Nắng hoàng hôn
Loang sắc tím ngày tàn...
 
                TỊNH BÌNH
                 (Tây Ninh)

READ MORE - THƯƠNG VÒNG XE ĐẠP CŨ... – Thơ Tịnh Bình

HÀ NỘI VÀO THU - Thơ Nhật Quang

 



HÀ NỘI VÀO THU



Hà Nội đã vào Thu, cánh lá vàng rơi

Heo may nhẹ giăng qua từng con ngõ nhỏ 

Hương hoa sữa đong đưa dài cuối phố

Sáng Thu về ươm ước mộng đầy vơi


Hà Nội trời vào Thu đẹp tuyệt vời

Cúc hong vàng bên hồ Tây sắc thắm

Lung linh hàng liễu soi bóng nghiêng say đắm

Cây cơm nguội vàng khoe chùm lá tươi xinh


Hà Nội mùa Thu dịu dàng ánh bình minh

Thạch Thảo bên thềm thoảng hương nắng nhạt

Ru say lòng người ly cà phê ấm áp

Nhạc vang trầm lắng đọng những niềm mơ…


Hà Nội mùa Thu nét đẹp thật nên thơ

Chân dạo bước bình yên trên phố cổ

Cầu Thê Húc tấp nập người du phố

Thắm ân tình, lưu luyến khách phương xa


Hà Nội mùa Thu, tà áo dài thướt tha

Gió mơn man bờ vai em nhung nhớ 

Lòng xốn xang, bâng khuâng về một thuở…

Hà Nội ơi! Lòng còn xao xuyến mãi đầy vơi.


                                               Nhật Quang










READ MORE - HÀ NỘI VÀO THU - Thơ Nhật Quang

Truyện ngụ ngôn AESOP: THẰNG BÉ CHĂN CỪU NÓI LÁO SÓI | CHUYỆN BẦY ẾCH VÀ CON BÒ | AI CỘT CHUÔNG VÀO CỔ MÈO? - Đinh Hoa Lư dịch

 Lời tựa của người dịch

 

Vài nét về nguồn gốc của Truyện Ngụ Ngôn Aesop:

 

Thưa bạn đọc,

 

Truyện ngụ ngôn AESOP là văn chương truyền khẩu của người Sumer tiền thân của Hy lạp khoảng 1500 năm trước Dương Lịch.

 

Ngụ ngôn Aesop được cho là do Aesop, một nhà văn Hy Lạp cổ đại thu thập và edit lại. Aesop là tác giả của rất nhiều câu chuyện ngụ ngôn nổi tiếng trên thế giới và đã được truyền khẩu và được sưu tập qua nhiều thế kỷ và bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau Nó có những nét tương đương với ngụ ngôn Âu Châu là lấy con vật làm biểu tượng trong cốt truyện kể để mang theo lời khuyên về đạo đức trong cuộc sống.

 

Nhiều thế kỷ sau Aritotle trong Cuốn Biện Luận cho rằng Ngụ Ngôn thiếu bằng chứng chắc chắn để chứng minh cho quan điểm con người nên ngụ ngôn không thể dùng để tranh luận hay biện luận.

Nhưng ngụ ngôn Hy Lạp cổ điền lại đắc dụng trong phương pháp dạy đạo đức cho con trẻ do nó bàng bạc một 'bầu trời ấu thơ' trong câu chuyện nên dễ dạy cho trẻ em.

 

Tuy nhiên nếu chúng ta suy xét thật kỹ trong  nội dung của Ngụ Ngôn của Aesop tuy ứng dụng hình tượng con vật để ám dụ nhiều bài học đạo đức cho con người, ắt hẳn không hoàn toàn là lối 'kể chuyện cho con nít" khi đi ngủ? Những mẫu chuyện mới nghe qua thì hời hợt tưởng chừng như cho 'con trẻ' vì Aesop dùng biểu tượng hay nói khác đi là  'lớp vỏ thú vật'  nhưng kỳ thật vẫn là những phương châm  áp dụng trong cuộc sống đạo đức cho toàn thể mọi người nếu không nói khác đi là ai ai vẫn còn thích hợp.

 

Tại sao chúng ta nói như thế? Ngụ ngôn Aesop sẵn sàng nêu ra những bài học về đạo đức luân lý bàng bạc trong nhiều mẫu chuyện thật ngắn nhưng hàm lượng răn dạy con người thật phong phú lại dễ hiểu cùng rất năng gặp trong sinh hoạt đời thường.

 

Những thói toan tính, lọc lừa, kiêu căng, tự phụ, thủ đoạn nham hiểm, bần tiện bon chen, tham lam keo kiệt ...rất nhiều cái xấu của tâm lý người đời đều được lồng trong các cốt truyện bình dị mộc mạc mà diễn tiến phần nhiều là con vật đóng vai.

 

Hư cấu, tưởng  tượng dỉ nhiên là vậy do nó là ngụ ngôn.

 

Có một điều đáng quý, là những bài học đạo đức rất có tính nhân bản của Ngụ Ngôn Asesop nó bất hũ, do còn xã hội loài người thì chúng ta vẫn thấy các tiêu đề đạo đức trong bộ truyện này vẫn thể hiện rõ ràng qua những tâm lí người trần chẳng hề thay đổi.

 

Nói tóm lại, luận theo thói đời xưa và nay người dịch cho rằng truyện Ngụ Ngôn Cổ Hy Lạp này rất tương hợp cho tâm lý con người; là những bài học quá gần gũi cho mọi người  bình thường đọc một cách thoải mái, dễ thẩm thấu và cuối hết là để sống hạnh phúc và hoà bình trong cộng đồng xã hôi nhân sinh.

 

Trong chừng mực nào đó, người dịch cố gắng dùng từ ngữ và văn phong trước thời điểm 1975. Trang này được đăng dưới dạng song ngữ Việt và Anh để độc giả tiện đối chiếu.

 

Rất mong bạn đọc hân hoan đón nhận.

Trân trọng cám ơn

 

San Jose USA edition

Mùa Covid -19 20/10/2020

Người Dịch Đinh Hoa Lư

 

 

nguồn:  http://read.gov/aesop/001.html





THẰNG  BÉ CHĂN CỪU NÓI LÁO SÓI

 

Thằng bé được chủ sai đi chăn cừu tại khu rừng gần làng. Chủ dặn nếu có sói thì chạy về làng la lên dân làng sẽ chạy ra cứu cho. Buồn quá chẳng có việc gì chơi cho khuây nó bèn nghĩ ra một cách. Một bữa nó bỗng nhiên chạy về làng la lên:

 

Sói Sói!!!

 

Thế là dân làng bỏ cuốc rìu chạy ra cứu? ra tới nơi chẳng thấy sói đâu chỉ thấy thằng bé cười nắc nẻ ra chiều khoái trá.

Bữa thứ hai dân làng đang làm việc nó cũng chạy về làm vẻ lo sợ la toáng lên:

 

Sói sói ?!

Dân làng lại một phen bị nó lừa như thế!

Đến một ngày nọ, trời chạng vạng tối thằng bé sắp lùa cừu về thì một con sói hung tợn xồ bắt cừu. Lần này thằng bé hoảng sợ thật tình chạy về làng la rất lớn:

Sói sói ăn thịt cừu làng ơi?!

Dân làng ai nấy lặng thinh chẳng thèm để ý lời kêu cứu của thằng bé này nữa. Và con cừu của nó bị con sói vồ xong mang vào rừng ăn thịt mất?!

 

LỚI BÀN

 

Không ai còn tin những kẻ hay nói dối ngay cả khi họ nói thật.

 

The Shepherd Boy & the Wolf

 

A Shepherd Boy tended his master's Sheep near a dark forest not far from the village. Soon he found life in the pasture very dull. All he could do to amuse himself was to talk to his dog or play on his shepherd's pipe. One day as he sat watching the Sheep and the quiet forest, and thinking what he would do should he see a Wolf, he thought of a plan to amuse himself.

 

His Master had told him to call for help should a Wolf attack the flock, and the Villagers would drive it away. So now, though he had not seen anything that even looked like a Wolf, he ran toward the village shouting at the top of his voice, "Wolf! Wolf!"As he expected, the Villagers who heard the cry dropped their work and ran in great excitement to the pasture. But when they got there they found the Boy doubled up with laughter at the trick he had played on them.

 

A few days later the Shepherd Boy again shouted, "Wolf! Wolf!" Again the Villagers ran to help him, only to be laughed at again.

 

Then one evening as the sun was setting behind the forest and the shadows were creeping out over the pasture, a Wolf really did spring from the underbrush and fall upon the Sheep.In terror the Boy ran toward the village shouting "Wolf! Wolf!" But though the Villagers heard the cry, they did not run to help him as they had before. "He cannot fool us again," they said.

 

The Wolf killed a great many of the Boy's sheep and then slipped away into the forest.

 

·       Liars are not believed even when they speak the truth.

 

===

 



CHUYỆN BẦY ẾCH VÀ CON BÒ


Sau cơn mưa Bác bò kia thủng thỉnh xuống hồ uống nước. Chân lão bắn nước tung toé còn dẫm luôn chú ếch con xuống sâu dưới lớp bùn men bờ.

 

Ếch mẹ thuơng nhớ đứa con nhỏ bé dò hỏi khắp nơi. Nó còn hỏi lũ ếch anh- chị- em xem có thấy con ếch con kia đâu không?

Một con ếch lên tiếng:

-Một con quái vật lớn chết khiếp! nó đạp cả bàn chân khổng lồ lên ếch con rồi chị ơi!?

Con ếch mẹ bèn nín thở trương bụng lên:

-Lớn như vầy không?

-Ồ không, lớn hơn thế kia à?

Ếch mẹ bèn phùng má trợn mắt phình thêm ...

-Con quái đó chắc không lớn hơn như thế này đâu?

Ếch mẹ vừa nín hơi vừa nói.

Nhưng bầy ếch bà con đồng thanh nói:

-Con quái kia còn lớn hơn lớn hơn vậy nhiều???!!!

Tội nghiệp ếch mẹ trợn mắt hút hơi. Cái bụng phình to... phình to cho đến lúc cả thân mình ếch mẹ vỡ toang ra !

 

LỜI BÀN:

 

BẠN ĐỪNG NÊN CỐ GẮNG NHỮNG GÌ KHÔNG BAO GIỜ LÀM ĐƯỢC!


The Frogs & the Ox

 

An Ox came down to a reedy pool to drink. As he splashed heavily into the water, he crushed a young Frog into the mud.

 

The old Frog soon missed the little one and asked his brothers and sisters what had become of him.

 

"A great big monster," said one of them, "stepped on little brother with

one of his huge feet!"

 

"Big, was he!" said the old Frog, puffing herself up. "Was he as big as

this?"

 

"Oh, much bigger!" they cried

 

The Frog puffed up still more.

 

He could not have been bigger than this," she said. But the little Frogs all

declared that the monster was much, much bigger and the old Frog kept puffing herself out more and more until, all at once, she burst.

 

- 

Do not attempt the impossible.

 

===

 



AI CỘT CHUÔNG VÀO CỔ MÈO?


Họ nhà chuột có cuộc họp toàn thể để bàn thảo phương cách làm sao tránh đuợc nanh vuốt kẻ thù truyền kiếp là MÈO.

Những phương pháp đưa ra tệ lắm là phải tìm ra cách báo động khi mèo đến mà chạy trốn. Thực chất cuộc đại hội hôm nay phải có một giải pháp vì họ nhà chuột bao lâu nay dù ngày hay đêm đều sống trong lo sợ phập phồng những cái nanh vuốt của chú mèo hiểm ác lắm rồi.

 

Trong đại hội có nhiều phương án đưa ra bàn cãi nhưng xem chừng chưa có sáng kiến nào hay ho. Chợt có một con chuột nhỏ tuổi nhất rón rén đứng dậy:

-Theo cháu phương pháp này xem chừng rất đơn giản nhưng hữu hiệu lắm thưa các chú các bác? Chúng ta chỉ cần treo CÁI CHUÔNG vào cổ con mèo đáng ghét kia là xong. Hắn mà tới là chúng ta biết ngay mà chạy.

Toàn thể hội đồng nhà chuột đều ngạc nhiên vì thằng chuột nhỏ mà sáng kiến hay ho. Thế mà lâu nay chưa ai nghĩ ra?

Nhưng chưa hết cơn vui mừng thì có một con chuột già lụ khụ run run đứng lên:

-Thưa Hội Đồng Nhà Chuột, ý kiến của cháu chuột này xem chừng hay đấy. Nhưng cho già này hỏi một câu thôi:

-Thế thì ai sẽ TREO CHUÔNG vào cổ con mèo?

Ồ? À ...?!

Ngang đây cả hội đồng chuột tất cả đều lúng ta -lúng túng làm sao ?!

 

LỜI BÀN:

TRONG ĐỜI NÀY CÓ NHỮNG VIỆC CẦN THỰC HIỆN NHƯNG LÀM SAO ĐỂ THỰC HIỆN THÌ HOÀN TOÀN LÀ MỘT VẤN ĐỀ KHÁC

-NÓI DỄ LÀM KHÓ có những việc trên đời này nói thì ai nói cũng hay nhưng đến khi cần người thực hiện thì chẳng có tay nào?

***


Belling the Cat

 

The Mice once called a meeting to decide on a plan to free themselves of their enemy, the Cat. At least they wished to find some way of knowing when she was coming, so they might have time to run away. Indeed, something had to be done, for they lived in such constant fear of her claws that they hardly dared stir from their dens by night or day.

 

Many plans were discussed, but none of them was thought good enough. At last a very young Mouse got up and said:

 

"I have a plan that seems very simple, but I know it will be successful.

 

All we have to do is to hang a bell about the Cat's neck. When we hear the bell ringing we will know immediately that our enemy is coming."

 

All the Mice were much surprised that they had not thought of such a plan before. But in the midst of the rejoicing over their good fortune, an old Mouse arose and said:

 

"I will say that the plan of the young Mouse is very good. But let me ask one question: Who will bell the Cat?"

 

·       It is one thing to say that something should be done, but quite a different matter to do it

 

 

=============================

READ MORE - Truyện ngụ ngôn AESOP: THẰNG BÉ CHĂN CỪU NÓI LÁO SÓI | CHUYỆN BẦY ẾCH VÀ CON BÒ | AI CỘT CHUÔNG VÀO CỔ MÈO? - Đinh Hoa Lư dịch

TRAI LÀNG RA PHỐ ... - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Nhà thơ Đặng Xuân Xuyến

 

TRAI LÀNG RA PHỐ ... 

 .

Ừ thì rõ trai làng "lớ ngớ" 

Vốn chân quê nên sẵn khù khờ

Em cứ bẻ ngang chừng cụm gió 

Quất nát chiều cho bớt ngu ngơ 

 .

Ừ thì rõ trai làng "quá dở"

Đã chân quê lại giấu ngù ngờ 

Em cứ đập cho chiều vụn vỡ

Để đêm nằm run cóng giấc mơ.

 

Ừ thì rõ trai làng "tưởng bở"

Chốn thị thành dễ dệt ước mơ 

Em cứ quẳng đại vào góc chợ 

Đốt cháy chiều cho trụi "ham mơ" 

 .

Ừ thì rõ trai làng "nịnh bợ" 

Đã "nhà quê" còn thích i tờ

Em cứ tẩm chiều cho ngọt lợ 

Trút nhiều cay để hết "gà mờ"

 .

Người ta nói: Trai làng...

Đến sợ!

*.

Hà Nội, trưa 24 tháng 11-2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - TRAI LÀNG RA PHỐ ... - Thơ Đặng Xuân Xuyến

Wednesday, November 25, 2020

CHÙM THƠ “NĂM MƯƠI NĂM…” CỦA LÊ VĂN TRUNG

 


NĂM MƯƠI NĂM NGỒI UỐNG MỘT MÌNH
 
Năm mươi năm ngồi uống một mình
Rượu giang hồ chén nhớ chén quên
Chén đợi trăm năm bầm nước mắt
Chén gọi thiên thu mù cổ nhân
Ta rót tràn ly! Sao mãi ly không
Cho ta rót cạn cả tấm lòng
Cho ta rót hết từng cơn mộng
Ai uống cùng ta cạn nỗi buồn
Ta rót tràn ly hay ly vỡ tràn
Rót về đâu hỡi! Giấc mơ tan
Sao ta chưa uống mà say khướt
Sao ta không khóc mà lệ tràn
Ta vẫn rót và mời ta hãy uống
Rượu giang hồ là rượu của thương đau
Ồ không! Rượu của hồn thiên cổ
Chảy xuống đời ta cuộc bể dâu
Rượu ta rót? Sao ta buồn quá đổi
Rượu của người chảy suốt cõi hoang vu
Em ơi rượu cháy hồn khuê nữ
Sao em không về, rượu có đầy vơi
Rượu chưa uống mà lòng sầu muôn hướng
Lệ của nghìn thu chảy quặn lòng
Lệ của em vàng cơn huyển mộng
Lệ của ta tràn cả chiếc ly không!
 
                                  21/6/2017
 
 
NĂM MƯƠI NĂM TA RÓT VỀ ĐÂU?
 
Này đây ly rượu năm mươi năm
Ly rượu đời như giọt lệ bầm
Hãy uống cùng ta người yêu dấu
Hãy say cùng ta này tri âm
 
Năm mươi năm rượu chảy ưu phiền
Uống cùng ta khóc cuộc tình duyên
Cho men rượu cháy tàn cơn mộng
Cho men rượu tan vào nguôi quên
 
Ta rót về đâu giọt dỡ dang
Ta uống cùng ai giọt muộn màng
Em hãy vì ta mà uống cạn
Thương tiếc làm chi! Trời chia tan
 
Ta rót về đâu? Mơ về đâu?
Sông ơi! Ai đợi bến giang đầu
Mây ơi! Trôi mãi hồn ly xứ
Ta rót về đâu vạn cổ sầu?
 
Ta rót về đâu? Mơ về đâu?
Tình ơi! Tóc bạc áo phai nhàu
Em ơi có thấy chiều phai nắng
Rượu chảy chưa tàn cuộc bể dâu
 
Hãy uống cùng ta người yêu dấu
Hãy say cùng ta này tri âm
Đập vỡ ly đời sầu muôn kiếp
Nghe vỡ hồn thơ đã úa tàn.
                    
 
NĂM MƯƠI NĂM TA UỐNG MỘT MÌNH
 
Ta say! Cứ tưởng là say thật
Rượu chảy về đâu? Lạc cõi người
Ai rót? Sao đành không thể rót!
Rượu trong? Sao lòng ta chưa nguôi!
 
Năm mươi năm ta uống một mình
Năm mươi năm chưa cạn nỗi tình
Ta say! Cứ tưởng đời nghiêng ngã
(Hay đã say vì hương tuyết trinh?)
 
Năm mươi năm, ta uống, đợi chờ
Ta say? Ta ngỡ mình đang mơ
Rượu không đủ ấm lòng lưu lạc
Rượu không đủ say tình em xưa
 
Năm mươi năm rượu chảy về đâu?
Rượu tiễn người, lệ chảy qua cầu
Ta trôi như bóng mây chìm sóng
Ta say mà như lòng ta đau
 
Năm mươi năm khát chén rượu người
Uống lệ mình, uống để cầm hơi
Năm mươi năm chén đời chưa cạn
Sao đành cạn hết cuộc tình tôi!
 
                           Lê Văn Trung

READ MORE - CHÙM THƠ “NĂM MƯƠI NĂM…” CỦA LÊ VĂN TRUNG

BÁNH VẼ, CHỖ ANH NGỒI, BÀI TÍNH SAI, GIAM THUYỀN, BIỂN VÀ CÁT – Thơ Hoàng Hương Trang


         Nhà thơ Hoàng Hương Trang


BÁNH VẼ
 
Mèo mẹ dắt mèo con dạo phố
Ngắm ngựa xe, lố nhố cửa nhà
Phố phường rộn rịp người ta
Bán buôn tấp nập thật là đông vui.
Mèo con bỗng đánh hơi thơm phức
Tự cửa hàng bánh mứt bay ra
Vội vàng vòi mẹ mua quà
Mẹ mèo dừng bước ngó qua tủ bày
Bánh giò, bánh nướng, bánh dầy
Bánh gai, bánh dẻo… xếp đầy bên trong
Con chọn mãi vẫn không vừa ý
Mẹ xoa đầu – con quý con yêu
Bánh nào con thích mẹ chiều
Hàng này quả thực có nhiều bánh ngon.
Mẹ ơi, bánh cỏn con nho nhỏ
Ăn nó vào chã bỏ bèn chi
Mẹ nhìn lên vách đằng kia
Bánh to hơn cả cái nia cái bồ
Mua bánh ấy khỏi lo mẹ ạ
Một chiếc thôi no đến cả đời
Mẹ cười – Con mẹ lầm rồi
Đó là bánh vẽ dối người đấy thôi
Hãy suy cho kỹ con ơi
Trót nhầm một phút, đi đời nhà ma!
 
 
CHỖ ANH NGỒI
 (Tặng điêu khắc gia Nguyễn Thanh Thu)
 
Đi qua chốn cũ anh ngồi
Còn đâu thấy nữa dáng người năm xưa
Chiến tranh, dâu bể, nắng mưa,
Bụi thời gian đã phủ mờ rêu xanh
 
Chừng trông vẫn tựa bóng anh
Trong tim ai đó còn dành Tiếc Thương.
 
                          Biên Hòa, 19/6/1990
 
 
BÀI TÍNH SAI
 
Tính cộng lại hóa ra trừ
Tính nhân ai ngỡ bây giờ thành chia
Một bài tính nhỏ xưa kia 
Tính đi tính lại, ô kìa vẫn sai!
 
 
GIAM THUYỀN
 
Xưa là rạch lớn, ngòi con
Mà nay nhà mọc như non như rừng
Thương cho một vũng nước bùn
Chiếc thuyền nằm mục nghiêng lưng gốc dừa.
 
 
BIỂN VÀ CÁT
 
Biển cuồng nộ ngày đêm gào thét
Cát lặng im khép nép cúi đầu
Biển vung tay đánh cát thật đau
Sóng biển tan, cát bên nhau lặng lẽ
 
Biển khoe biển rất hùng, rất khỏe
Có binh tôm tướng cá muôn nghìn
Cát mỉm cười và vẫn lặng im
Tôm cá chết lại về cùng cát bụi!
 
Biển tàn bạo, sóng trào lên dữ dội
Hòng xóa tan dấu vết những bãi bờ
Biển lầm to vì chưa học chữ ngờ
Bờ cát vẫn ỡm ờ soi ngấn nước.
 
Biển có thể cạn dần và lùi bước
Cát vẫn còn nguyên vẹn trước như sau
Sóng dù to như con sóng bạc đầu
Sóng tan tác sóng, cát hầu chẳng tan.
Biển hung bạo, biển chỉ là sóng nước
Không có cát vàng, lòng biển ở đâu?
Biển hãy nhớ: Lòng cát sâu, sâu thẳm
Khi núi lửa chồm lên, biển sẽ cúi đầu!
 
                         Hoàng Hương Trang
                                    1982

READ MORE - BÁNH VẼ, CHỖ ANH NGỒI, BÀI TÍNH SAI, GIAM THUYỀN, BIỂN VÀ CÁT – Thơ Hoàng Hương Trang

THU THA HƯƠNG – Thơ Nguyên Lạc

 
       

   

THU THA HƯƠNG
 
Sao trăm năm vẫn huyền mắt sâu?
Mây tóc em sao không nhạt màu?
Chiều nay nghiêng nắng rơi lá đỏ
Đầy mắt thu ơi một bóng sầu
 
Sao li tan mãi hoài li tan?
Sao trong ta nguyệt vẫn không tàn?
Thu chi cho sáng vầng trăng đó?
Soi rõ làm chi nỗi điêu tàn?!
 
Sao xuân thu vẫn hình bóng ai?
Muôn trùng âm điệp khúc tình hoài
Đêm tha hương trăng thu trắng quá
Soi rõ hồn xanh huyễn mộng dài!
 
Sao mùa thu không là mùa thu?
Một mùa thu môi má ai nồng
Đêm thu cô lữ rơi lệ đỏ
Se sắt thu phong nỗi hư huyền
 
Sao trong tâm vẫn hoài cố nhân?
Kiếp lưu vong một kiếp sống mòn
Xuân thu sương điểm sầu dài tóc
Khóc nỗi tàn phai tuổi xuân hồng! 
 
                                  Nguyên Lạc

READ MORE - THU THA HƯƠNG – Thơ Nguyên Lạc

Tuesday, November 24, 2020

BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 2”, THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG – Châu Thạch


Thi sĩ Vũ Hoàng Chương

ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA  2
 
“Nam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu”
                             Phạm Ngũ Lão
 
Đại công ngoài mãi tầm tay
Thẹn nghe lời nhắc rồng mây Vũ hầu
Non sông riêng họ Trần đâu
Mà trăm trận đánh công đầu về ai
Để ta thương một chàng trai
Giáo cầm ngang tiếng thở dài mấy thu
Kìa trên dòng sử hoang vu
Tầm tay ai vượt sương mù trỏ lên
Thẳng băng ngọn giáo mũi thuyền
Nuốt sao Ngưu lệnh còn xuyên trăng tà
Chàng trai cười ngất Đông A
Hơi văn nhọn mãi chính là đại công.
 
                          Vũ Hoàng Chương
 
 
I - Sơ lược về nhà thơ Vũ Hoàng Chương
II - Sự Kiện của thơ
 
Phần I và phần II tôi đã viết ở “Bàn Về Đọc Lại Người Xưa, Bài 1” đăng trên trang mạng nên nay xin lướt qua. Mời quý vị có thể đọc ở đường link sau đây: 

https://phudoanlagi.blogspot.com/2020/11/ban-ve-oc-lai-nguoi-xua-bai-1-tho-vu.html
 
III - Tóm lược tiểu sử Phạm Ngũ Lão
 
“Đọc Lại Người Xưa, bài 2” nhà thơ Vũ Hoàng Chương viết về tướng Phạm Ngũ Lão.
Phạm Ngũ Lão (1255–1320) là danh tướng nhà Trần trong lịch sử Việt Nam. Ông là người góp công rất lớn trong cả hai cuộc kháng chiến chống Mông-Nguyên lần thứ hai năm 1285 và lần thứ ba năm 1288.
Phạm Ngũ Lão, người làng Phù Ủng, huyện Đường Hào, Hải Dương (nay là làng Phù Ủng xã Phù Ủng huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên), Việt Nam

Trong hai cuộc chiến chống quân xâm lược nhà Nguyên (1285-1288) Phạm Ngũ Lão lập được nhiều chiến công. Năm 1285, trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ hai ông cùng với Trần Quang Khải tiến đánh Chương Dương, Hàm Tử, đập tan đội binh thuyền khổng lồ của giặc và diệt quân Nguyên chiếm đóng Thăng Long. Sau đó, Phạm Ngũ Lão được lệnh mang 3 vạn quân phục kích đánh địch ở Vạn Kiếp, chặn đường địch rút chạy lên biên giới phía bắc và diệt được hai phó tướng địch là Lý Quán và Lý Hằng. 
 
Trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba (12/1287), Phạm Ngũ Lão cùng các tướng bày trận phục kích đường rút lui của giặc trên sông Bạch Đằng, trong trận này quân nhà Trần bắt sống các tướng nhà Nguyên là Phàn Tiếp, Áo Lỗ Xích, Ô Mã Nhi. Phạm Ngũ Lão tiếp tục truy kích cánh quân của Thoát Hoan trên đường bộ. 
 
Phạm Ngũ Lão đã ba lần cất quân đi trừng phạt sự xâm chiếm, quấy nhiễu của quân Ai Lao vào các năm 1294, 1297 và 1301; hai lần Nam chinh đánh thắng quân Chiêm Thành vào năm 1312, buộc vua Chiêm là Chế Chí phải xin hàng và 1318 vua Chế Năng phải bỏ chạy sang Java[. 
 
Ngày 1 tháng 11 năm 1320, Phạm Ngũ Lão mất, hưởng thọ 66 tuổi. Vua Trần Minh Tông nghỉ chầu 5 ngày, đây là một đặc ân của nhà vua đối với ông.  Nhân dân xã Phù Ủng dựng đền thờ ngay trên nền nhà cũ của ông. Ông cũng được phối thờ tại đền Kiếp Bạc, Chí Linh, Hải Dương tại đền thờ Trần Hưng Đạo. 
 
Nhà sử học lỗi lạc của nước nhà ở thế kỉ XV là Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên đã đánh giá rất cao về tài năng phi thường của ông: 
 
“Tôi từng thấy các danh tướng nhà Trần như Hưng Đạo Vương thì học vấn tỏ ra ở bài hịch, Phạm Điện Súy (chỉ Phạm Ngũ Lão) thì học vấn biểu hiện ở câu thơ, nào phải riêng chuyên về nghề võ. Thế mà dùng binh tinh diệu, hễ đánh là thắng, hễ tấn công là chiếm được, người xưa cũng không ai có thể vượt qua nổi các ông”. 

Bài hịch mà Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên nói đến chính là bài Hịch tướng sĩ của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn, còn lời thơ mà Tiến Sĩ Ngô Sĩ Liên nhắc tới chính là lời thơ trong bài tứ tuyệt của Phạm Ngũ Lão, được hậu thế đặt cho tiêu đề là Thuật hoài.



 
IV- Nghiên cứu bài thơ Thuật Hoài của Phạm Ngũ Lão
 
THUẬT HOÀI
 
Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu,
Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu.
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu.

Dịch nghĩa:

TỎ LÒNG
 
Cắp ngang ngọn giáo gìn giữ non sông đã mấy thu,
Ba quân như gấu hổ, át cả sao Ngưu Đẩu.
Thân nam nhi nếu chưa trả xong nợ công danh,
Ắt thẹn thùng khi nghe người đời kể chuyện Vũ hầu.
 
Bản dịch của Trần Trọng Kim

Múa giáo non sông trải mấy thâu,
Ba quân hùng khí át sao Ngưu.
Công danh nam tử còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu.
 
Thuật hoài” (thuật: kể lại, bày tỏ; hoài: nỗi lòng) được hiểu là sự thổ lộ khát khao, mong muốn, bày tỏ hoài bão lớn lao và quan điểm riêng của tác giả – một dũng tướng tuổi trẻ tài cao. (Phạm Ngũ Lão sáng tác bài thơ trong cuộc kháng chiến chống quân Mông-Nguyên lần II giai đoạn 1284-1285, nhà thơ khoảng 30 tuổi).
 
Trong bài thơ nầy có câu thơ “Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu” dịch là “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” để nói thêm về chí lớn, về hoài bảo, về khát vọng của Phạm Ngũ Lão, muốn làm được việc lớn như Vũ Hầu mà thôi.  Vũ Hầu tức Gia Cát Lượng (Khổng Minh), người giúp Lưu Bị lập nên nhà Thục Hán, có nhiều công lao, được phong tước Vũ Vương Hầu gọi tắt là Vũ Hầu và có khi gọi là Gia Cát Vũ Hầu.

V – Bàn luận thơ “Đọc Lại Người Xưa, bài 2” của Vũ Hoàng Chương:
 
 Hai câu thơ mở đề Vũ Hoàng Chương Viết:                     
 
Đại công ngoài mãi tầm tay                     
Thẹn nghe lời nhắc rồng mây Vũ hầu
 
Ta biết Phạm Ngũ Lão là một danh tướng thời nhà Trần, công trạng của ông rất lớn, là những “Đại công” ghi vào lịch sử, để lại đời sau nhớ ơn và thờ phượng. Thế sao Vũ Hoàng Chương lại viết về ông là “Đại công ngoài mãi tầm tay” ? Điều nầy dễ hiểu bởi căn cứ câu thơ Phạm Ngũ Lão viết trong “Thuật Hoài” dịch là “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”. Từ đó, ta biết Phạm Ngũ Lão chưa vừa ý với những chiến công mà ông đạt được trong đời. Những chiến công đuổi quân xâm lược Nguyên Mông, bình định sự quấy nhiễu của quân Ai Lao, Chiêm Thành, Phạm Ngũ Lão vẫn chưa cho đó là đại công. Cái mộng của Phạm Ngũ Lão là phải làm được những việc đại công như Khổng Minh, người tài cao mà ông khâm phục. Vì vậy khi ông đem công trạng giúp vua giúp nước của mình so với Khổng Minh thì ông thẹn với lòng.  
 
Hiểu được nỗi lòng ấy của Phạm Ngũ Lão, Vũ Hoàng Chương đã nói thay tâm tư của danh tướng bằng hai câu thơ trên: “Đại công ngoài mãi tầm tay /Thẹn nghe lời nhắc rồng may Vũ Hầu”.
 
Hai câu thơ thứ 3 và thứ tư như sau:                      
 
Non sông riêng họ Trần đâu                     
Mà trăm trận đánh công đầu về ai
 
Hai câu thơ trên, nhà thơ Vũ Hoàng Chương tỏ ra bất mãn với việc nhà Trần khen thưởng bất công đối với Phạm Ngũ Lão. Nhà thơ cho rằng Phạm Ngũ Lão tài ba như thế mà cả trăm trận đánh, công đầu đều trao cho con cháu họ Trần, người trong hoàng tộc. 
 
Thật ra sử sách tìm không thấy nói điều nầy. Sử sách nói rằng:
“Có thể hiểu, sự xuất thân của Phạm Ngũ Lão không qua khoa cử mà đi bằng con đường đặc biệt là lọt vào con mắt xanh của vị thánh tướng triều Trần, đã cho thấy cách chiêu mộ hiền tài phong phú của vương triều bấy giờ, là phát huy sức mạnh toàn dân. “Phạm Ngũ Lão được Hưng Đạo Đại Vương gả con gái cho. Điều này rất hiếm xảy ra trong vương triều Trần. Để làm được điều đó một cách thuận tình đạt lý, Trần Quốc Tuấn đã phải giáng con gái Anh Nguyên xuống làm con nuôi”
 
Sử gia Phan Huy Chú trong Lịch triều Hiến chương loại chí, phần ghi chép và bàn về các vị tướng tài giỏi đã tôn vinh 16 vị tướng từ thời Lý đến thời Lê sơ, riêng triều Trần có 4 người là Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Khánh Dư và Phạm Ngũ Lão, điều đó cho thấy ngay cả sử quan thời phong kiến luôn bảo vệ tôn thất nhiều khi thiên lệch đã khách quan nhìn nhận tài năng quân sự của ông, xếp ông vào hàng danh tướng bậc nhất, đã khẳng định vai trò vị trí của ông trong các võ công hiển hách của vương triều Trần. Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. Điều đó chứng tỏ Vua nhà Tràn ban thưởng phân minh.
 
Hai câu thơ trên đây “Non sông riêng họ Trần đâu / Mà trăm trận đánh công đầu về ai” theo tôi có lẽ chỉ là sự tưởng tượng rồi suy diễn của nhà thơ Vũ Hoàng Chương. Việc nầy thôi xin nhường lại cho các sử gia nhận định chính xác hơn.
 
Hai câu thơ kế tiếp như sau:                      

Để ta thương một chàng trai                      
Giáo cầm ngang tiếng thở dài mấy thu
 
Hai câu thơ nầy, Vũ Hoàng Chương tỏ ý thương cho Phạm Ngũ Lão, người danh tướng tài cao đã thở dài vì công trạng của mình không được đền đáp như ý nguyện. 
 
Như đã nói ở trên, không có dấu hiệu nào chứng tỏ nhà Trần khen thưởng bất công đối với Phạm Ngũ Lão. Căn cứ theo bài thơ “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ lão ta cũng thấy nhà Trần đã cho ông cơ hội để thỏa chí bình sinh: “Múa giáo non sông trải mấy thâu / Ba quân hùng khí át sao Ngưu”.
 
Vậy vì sao Vũ Hoàng Chương lại gán cho Phạm Ngũ Lão cái tâm trạng “thở dài mấy thu” như thế ?. Điều này ta có thể suy đoán nhà thơ Vũ Hoàng Chương đã hư cấu nỗi buồn của Phạm Ngủ Lão để gởi một chút tâm sự của chính mình vào đó.
Tâm sự của Vũ Hoàng Chương là gì? Đó là sự bất đắc chí trong đời. “Vũ Hoàng Chương lớn lên gặp lúc nước nhà trải qua nhiều đổi thay lớn lao. Thanh niên thế hệ ông dùng nhiều các danh từ như: cách mạng, cao trào, tự do, dân chủ, đấu tranh, tiến bộ v.v... Còn ông Vũ thì ông hay nói đến chuyện ... làm vua. Vâng, chính ông làm vua. Tên ông lót chữ Hoàng, ông thường tự xưng là Hoàng (‘Tố của Hoàng ơi’). Hoàng, chiết tự thành ra Bạch Vương. Người yêu của ông có kẻ tên Khanh, ông xưng hô như thể là vua với hoàng hậu, nghe thích lắm”.
Từ đó ta có thể phỏng đoán ý nghĩa của hai câu thơ trên, Vũ Hoàng Chương mượn Phạm Ngũ Lão để bày tỏ sự bất bình của mình, vì cuộc đời không đãi ngộ một nhân tài như ông để có thể đạt cao trên con đường danh vọng.
 
Góp ý nhận định của tôi về những câu thơ trên, nhà thơ La Thụy có những bình luận như sau mà tôi thấy rất đáng trân trọng;
 
“Nhận xét như vậy có lẽ do câu thơ sau gây ‘ấn tượng sâu sắc’: ‘Giáo cầm ngang tiếng thở dài mấy thu’. Thực ra, Phạm Ngũ Lão là một chàng trai thôn dã, qua những chiến công hiển hách BẢO VỆ NON SÔNG, TỔ QUỐC trước sự xâm lăng của giặc Mông Nguyên (không phải chỉ riêng vì bảo vệ lăng miếu, xã tắc của triều Trần), ông nhận những ưu đãi của nhà Trần: 
- Khác với những gia tướng của Trần Hưng Đạo như Nguyễn Địa Lô, Yết Kiêu, Dã Tượng…, sau chiến thắng Mông Nguyên vẫn là gia tướng của Trần Hưng Đạo, Phạm Ngũ Lão trở thành tướng lĩnh của nhà Trần. Ông được Trần Hưng Đạo gả con gái (giả làm con gái nuôi của Trần Hưng Đạo vì nhà Trần có quy định chỉ gả con gái trong dòng tộc) là quận chúa Anh Nguyên. Điều này rất hiếm xảy ra trong vương triều Trần. Để làm được điều đó một cách thuận tình đạt lý, Trần Quốc Tuấn đã phải giáng con gái Anh Nguyên xuống làm con nuôi. Chỉ riêng điều đó đã thấy sự nhìn xa trông rộng, phát hiện và trọng dụng hiền tài của Hưng Đạo Vương.
- Năm 1290, vua Trần Nhân Tông giao cho ông cai quản quân Thánh Dực, phong chức Hữu Kim ngô Đại tướng quân. Năm Giáp Ngọ (1294) nhờ lập công khi đi đánh ở Ai Lao, ông được ban Kim Phù (tức binh phù làm bằng vàng). Năm Đinh Dậu (1297) cũng nhờ lập công khi đi đánh trận ở Ai Lao, ông được ban Vân Phù (tức binh phù có khắc chạm hình mây). Năm Tân Sửu (1301), ông được phong làm Thân Vệ Đại tướng Quân và được ban Quy Phù (tức binh phù có chạm hình con rùa). Đến đời vua Trần Anh Tông, ông được thăng tới chức Điện súy Thượng tướng quân, tước Quan nội hầu. Một người con gái của Phạm Ngũ Lão hiệu là Tĩnh Huệ là thứ phi của vua Anh Tông
“Nỗi U HOÀI cũng là HOÀI BÃO của Phạm Ngũ Lão được THUẬT lại thông qua NỖI THẸN trong bài thơ THUẬT HOÀI... Chữ ‘thẹn’ thể hiện vẻ đẹp nhân cách của người anh hùng, nỗi thẹn của những con người có trách nhiệm với đất nước, non sông. Nỗi thẹn của Phạm Ngũ Lão cũng là những day dứt của chí làm trai, biểu hiện một hoài bão lớn của người thanh niên yêu nước. Quan niệm ‘nợ công danh’ đã trở thành lí tưởng sống của người anh hùng trong xã hội xưa. Thời đại Phạm Ngũ Lão, chế độ phong kiến Việt Nam đang trên đà xây dựng lợi ích của giai cấp phong kiến, ‘công danh’ là một khát vọng lập công, lập danh, hoàn thành nghĩa vụ đối với đất nước là ‘tiếng thở dài mấy thu” như cách nói của Vũ Hoàng Chương ‘Nam nhi vị liễu công danh trái Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu’. ”
 
Phạm Ngũ Lão đã cầm ngang ngọn giáo bảo vệ non sông mấy thu rồi mà vẫn còn thấy mình chưa trả xong nợ công danh là bởi vì cái chí ông quá lớn và cái tâm ông đẹp quá. ‘Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu’ Phạm Ngũ Lão cảm thấy thẹn khi nhắc đến Vũ Hầu Gia Cát Lượng, vì chưa có tài mưu lược lớn như Gia Cát Lượng để trừ giặc, cứu nước, khôi phục giang sơn cũng có nghĩa là thấy mình chưa xứng đáng là một đấng nam nhi thời loạn. 
 
Đó cũng là biểu hiện khát vọng muốn góp sức mình vào sự nghiệp chung. Hoài bão lớn của Phạm Ngũ Lão thông qua nỗi thẹn không chỉ thể hiện qua món nợ mà còn ở việc ông không hề nói suông, ông có ước mơ lớn và đã cố gắng thực hiện hoài bão ấy. Cho nên, từ một chàng trai không tiếng tăm nơi thôn xóm, ông trở thành một tướng tài, ông trả xong nợ công danh với lịch sử, lịch sử đã gọi tên ông. Thế hệ sau nhớ mãi đến ông cùng với THUẬT HOÀI . ‘Công danh nam tử còn vương nợ./ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu’
                                                                  (La Thụy)
 
 Và nhà thơ La Thụy đã kết luận như sau:
 
“Hoành sóc giang san cáp kỷ thu
(Ngọn giáo non sông trải mấy thâu)
 
Nam nhi vị liễu công danh trái,
Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu
(Công danh nếu để còn vương nợ,
Luống thẹn tai nghe truyện Vũ hầu.)
 
NỖI THẸN, MỐI U HOÀI, HOÀI BÃO của Phạm Ngũ Lão đã được Vũ Hoàng Chương khái quát qua câu thơ: “Giáo cầm ngang tiếng thở dài mấy thu”
 
Hiểu như nhà thơ La Thụy thì câu thơ “Giáo cầm ngang tiếng thở dài mấy thu” là nhà thơ Vũ Hoàng Chương mô tả tâm trạng của Phạm Ngũ Lão buồn vì chưa đạt ước mơ lớn của mình chớ không phải buồn vì bị nhà Trần ban thưởng chưa đúng công lao.
 
Bước qua 4 câu thơ kế tiếp của “Đọc Lại Người Xưa (2)” như sau:
                      
Kìa trên dòng sử hoang vu           
Tầm tay ai vượt sương mù trỏ lên           
Thẳng băng ngọn giáo mũi thuyền           
Nuốt sao Ngưu lệnh còn xuyên trăng tà
 
Bốn câu thơ nầy thì dễ hiểu thôi, Vũ Hoàng Chương ca tụng tài ba và sự nghiệp của Phạm Ngũ Lão. Tài ba và sự nghiệp của Phạm Ngũ Lão thì đã được nói nhiều ở trên nên người viết không nhắc lại thêm làm gì..
 
Vậy xin bước qua hai câu thơ cuối của “Đọc Lại Người Xưa (2)”:
               
Chàng trai cười ngất Đông A               
Hơi văn nhọn mãi chính là đại công.
 
 Hào khí Đông A có ý nghĩa sâu xa. Trên thực tế, chúng ta có thể hiểu “hào khí Đông A” chính là hào khí nhà Trần. Câu nói đó là xuất phát từ 2 lý do. Đầu tiên, theo lối chiết tự, chữ Trần được ghép từ chữ Đông và chữ A nên có thể đọc là Đông A. Nhưng để hiểu được cụ thể, chúng ta phải kể đến lý do thứ 2: Theo đánh giá của nhiều nhà nghiên cứu cũng như khách quan lịch sử, nhà Trần là triều đại phong kiến đầu tiên của lịch sử Việt Nam có thể tạo được sự đồng tâm, nhất chí tối cao từ trên xuống dưới, từ quân đến dân, từ già đến trẻ hay từ trai đến gái.
Tóm lại, hào khí Đông A không chỉ là nét chữ, lỗi chiết tự mà còn là tinh thần bất khuất, dũng cảm, quyết chiến quyết thắng của trên dưới quân-thần-dân nhà Trần. Với họ, đầu có thể rơi, máu có thể chảy nhưng quyết không thể làm người mất nước! Thậm chí có những người như Trần Quốc Tuấn, vì ích nước mà sẵn sàng gạt thù nhà.
 
Hai câu thơ “Chàng trai cười ngất Đông A/ Hơi văn nhọn mãi chính là đại công” Vũ Hoàng Chương đề cập đên hào khí Đông A không những chỉ thể hiện ở chiến công hiền hách thời nhà Trần mà còn thể hiện ở hơi văn như “Hịch Tướng Sĩ” của Trần Quốc Tuấn hay “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão. Bài Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn đã phản ánh tinh thần yêu nước nồng nàn của dân tộc ta trong cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Bài “Thuật Hoài” của Phạm Ngũ Lão nói lên nỗi khát khao của chí làm trai mong ước vụ cho đất nước.
 
Đọc thơ “Đọc Lại Người Xưa (2)” của Vũ Hoàng Chương đã nói lên đủ tài ba, nhân cách, đức độ và tâm tư  của danh tướng Phạm Ngũ Lão đời nhà Trần. Đọc thơ, tuy ta chưa biết cụ thể Vũ Hoàng Chương gởi gì của riêng tư lòng ông vào đó, nhưng tác giả đã sáng tác trong hoàn cảnh mình bị lao lý, phải dấu thơ trao cho một người khác giữ, thì cũng đoán định được nhà thơ đã dùng bậc danh nhân để tá khách chính mình vào đó. Thôi thì hãy dâng một nén hương lòng, tưởng nhớ một người tài hoa đã ra đi còn để lại những vần thơ tuyệt tác cho đời.
 
                                                                   Châu Thạch

READ MORE - BÀN VỀ “ĐỌC LẠI NGƯỜI XƯA, BÀI 2”, THƠ VŨ HOÀNG CHƯƠNG – Châu Thạch