Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, May 26, 2018

HƯƠNG WHISKY - Thơ Trần Mai Ngân


     

                             Nhà thơ Trần Mai Ngân 


    HƯƠNG WHISKY

    Dỗ tháng Năm nồng hương Whisky
    Rót đầy chia nhau người một ly
    Ta chưa uống mà hồn say khướt
    Mùi mạch nha, mùi cỏ hoa tươi

    Nâng ly có Ve Sầu vạn tuế
    Đời chung riêng mưa nắng phận người
    Cánh bèo trôi con nước bỡn cười
    Sóng sánh đáy là đôi mắt ngọc...

    Nhấm Whisky mồi ngon là tiếng hát
    Thắp sao trời mưa gió không ngưng
    Đọc bài thơ câu chữ ngập ngừng
    Bơi vào mộng - tháng Năm là thật

    Uống cùng nhau... cuộc đời vốn chật
    Mà lòng người thì cứ thênh thang
    Bến nước nào con Sáo sang ngang
    Chẳng về nữa một lần sương khói!

    Tháng Năm , tháng Năm nhiều câu hỏi
    Thôi cạn ly rồi để chia tay
    Hương Whisky ngọt mãi theo hoài
    Thuyền nghiêng ngả. Say. Thuyền nghiêng ngả !

                                                     Trần Mai Ngân
                                                   Tháng Năm 2018

READ MORE - HƯƠNG WHISKY - Thơ Trần Mai Ngân

MƯA ĐÊM - Thơ Nhật Quang







MƯA ĐÊM

Đêm về phố nhỏ mưa tuôn
Lá rơi thềm vắng, chợt buồn đơn côi
Trăng tan mờ mịt góc trời
Tiếng mưa thổn thức, bồi hồi canh thâu

Mưa ơi! Đừng rắc hạt ngâu
Cho Ngưu và Chức bạc đầu nhớ nhung*
Nghe mưa ray rứt chập chùng
Hai đầu nỗi nhớ…lạnh lùng vấn vương

Mưa đêm lạnh phủ canh trường
Tâm tư trĩu nặng sầu vương dáng người
Mưa vô tình lắm mưa ơi!
Rơi vào giữa lúc hồn tôi thấm buồn.

                                    Nhật Quang

* Ngưu Lang và Chức Nữ

READ MORE - MƯA ĐÊM - Thơ Nhật Quang

NHẮM RƯỢU VỚI “CƯỠNG XUÂN”, THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Thanh Lâm

  
    
                  Nguyễn Thanh Lâm



  NHẮM RƯỢU VỚI “CƯỠNG XUÂN” -
  THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN


Tôi có thói quen mỗi lần đọc thơ, khi gặp một câu hay, ý lạ thường tự thưởng cho mình một ly rượu - thắp lửa ở lòng mình, thả hồn lang thang trên ngọn nguồn, bến bờ say của câu chữ. Và hôm nay đọc tập: Cưỡng Xuân của Đặng Xuân Xuyến, không cưỡng nổi lòng mình, không thể hoãn cái sự sướng, tôi nhắm rượu với thơ.
Sao lại Cưỡng Xuân? Người ta thường nói đón xuân, khao khát mùa xuân về, có người rẽ lá vàng chặn lối xuân đi và chặn nẻo xuân về; có thể yêu xuân và thù hận mùa xuân, nhưng Cưỡng Xuân thì chưa có ai dám “liều” như nhà thơ Đặng Xuân Xuyến.
Mùa xuân như thiếu nữ huyền bí trong vẻ non tơ mà nhà thơ dám cưỡng xuân sao? Không thể! Nhưng nhan đề tập thơ là “Cưỡng Xuân” rất lạ, gợi trí tưởng tượng, hoang mang, mời gọi tìm hiểu. Ôi “Cưỡng Xuân”! Mới nghĩ đến thôi đã thấy lạ và không khỏi giật mình.
Và tôi như kẻ vụng trộm lắng nghe tiếng nói thì thầm của đôi trai gái: “Em gạ một đêm chồng vợ/ Cho mùi da thịt thơm hương”, và tiếng chàng trai “Ừ thì, một đêm thôi nhé/ Mai đừng nữa gạ một đêm.”
Gạ thôi, rủ yêu thôi, có cưỡng gì đâu! Nhưng tình yêu đến với tình yêu, thực sự như lửa gặp lửa sẽ hòa đồng cùng cháy sáng. Không mặc cả, không gạ gẫm, chàng trai bằng lòng một đêm mà vẫn lo xa: “Kẻo trời cao mà ngẫu hứng/ Trói đời anh vào với em”.
Thì ra là vậy. Sự lo lắng của chàng trai đã vén màn bí mật của “Cưỡng Xuân”. Là sự lạ trong tình yêu mà cũng rất đời thường.
Cái sự lạ trong đời thường không khoác áo đạo đức, mà lại rất hồn nhiên: “Rỉ rắc mưa/ Rét ngọt trở mùa/ Em vê tròn ném tôi vào cơn lốc... / Vít cổ xuống/ Cong người/ Em rướn… / Em…”
Cưỡng xuân ở đây là sự cưỡng của cơn say “Ném tôi vào cơn lốc” và sự run rẩy của bàn tay, bản năng không lý trí: “Vít cổ xuống/ Cong người/ Em rướn...” theo bản năng yêu... và tiếng “Em” cuối cùng như tiếng thở gấp, đưa tình lên đỉnh… cõi bồng lai.
Tôi tự hỏi, tình yêu điên cuồng mê dại như thế có phải là “Cưỡng” không? Muốn đem lý thuyết phân tâm của F.Rớt để trả lời mà không thể, mọi lý thuyết đều “mất điện” trong tình yêu.
Hãy nghe trong giấc “Mơ Đêm” - “Cuống cuồng vòng tay ghì hơi ấm” - Chỉ ngôn ngữ của thơ mới “ghì hơi ấm”, chỉ “khi tỉnh rượu/ lúc tàn canh” nhà thơ mới tự thương mình, giật mình xót xa cho mình. “Giật mình/ Ánh mắt nửa đêm/ hun hút đại ngàn gió hú.../ Thèm trận cuồng lũ/ Dào dào trùm ải chờ mưa/ Khát...”
Khát là sự đòi hỏi của thể chất, khi khát cần uống, khi đói thèm ăn, nhưng cái khát trong tình yêu dày vò ở tâm, ở tim, linh thiêng và gần với thánh thần hơn. Cái khát thể hiện bằng thơ: “Trăng vàng lả lướt bến sông/ Đắm hồn tôi với mênh mông gió trời” (Mơ). Khát trong cả giấc mơ là cái khát không bờ, không bến. Và khi đã khát thì ở đâu cũng khát. Cái khát của tình yêu không có nhà, không nơi ẩn náu mà ở đâu cũng thành quê hương.
Một chiều lạ “Sợ đêm về/ quẩn gió/ xáo xác khuya…/ Te tẻ chiều/ nhớn nhác/ nhón chân qua”. Chỉ cái khát của tình yêu - của thơ mới nhận ra vị “te tẻ chiều”, nếm được tiếng “xáo xác khuya”, thức ngộ bao chiều mà chiều vẫn lạ.
Tôi đọc bài “Khát” (Lời đề tặng V. yêu). Không biết V. yêu có phải là vợ yêu không mà sao giống tình vợ chồng đến vậy. Ở đây không có sự “Cưỡng Xuân” mà rất tự nguyện: “Nào nằm xuống/ Vùi ngực anh/ Dán chặt…/ Dòng nham thạch cuộn từng cơn nóng hổi/ Thế. Thế. Thế/ Căng người/ Em hứng đợi.../ Thỏa thuê từng cơn khát/ Em. Em ơi… đêm sắp qua rồi...”.
Tình cảm vợ chồng ngoài cái say, cái yêu thuần khiết, còn có cái say, cái yêu nghĩa vụ. Nhưng ở đây hoàn toàn thăng hoa “Căng người/ hứng đợi”, và sự giục giã “Em. Em ơi... đêm sắp qua rồi” thì không thể yêu nghĩa vụ chút nào, mà cao hơn cơn khát yêu của vợ chồng. Nhưng nhà thơ đã tự tố cáo mình, trong thơ không thể dối được. Vợ chồng thì có đêm nay và nhiều đêm nữa, việc gì phải vội, phải sợ không còn nữa mà phải hổn hển “Em. Em ơi… đêm sắp qua rồi.”.
Vâng. Cơn khát này cao hơn, đằm hơn cơn khát vợ chồng nên không phải vợ chồng mới có chất say - Chất khát của tình yêu!
Lai một bài “Đêm” nữa tặng V. yêu. Cơn khát nóng ran làm “Đêm bức bối”, màn đêm như bị căng ra và nén lại: “Em đè ta nghiến ngấu/ Đêm chuyển màu”.
Đêm chuyển màu gì vậy? Họa sỹ thực thụ có thể biết 180 màu đen, nhưng màu đêm của tình yêu chỉ tình yêu mới biết, màu của “đêm lõa lòa/ rần rật/ đốt thịt da.”.
Ôi! Tình yêu đã truyền vào đêm sức sống, truyền một ngôn ngữ linh thiêng - thần bí mà rất đời.
Khát, yêu, nhớ là mạch đập liên hoàn trong trái tim yêu, cứ tưởng nhớ là phải xa xôi, cách mặt nhưng nhớ của Đặng Xuân Xuyến như hiện thực trông thấy rõ ràng, như cuốn phim đời: “Đêm tỉnh giấc/ Khát mắt cười chiều qua lăn trên chiếu/ Căng người/ run rẩy cuộc yêu... / Gió trườn qua khe cửa”.
Đã yêu, ai chẳng nhớ, nhưng nhớ rất chi tiết “Gió trườn qua khe cửa” - gió như một chứng nhân có lẽ chỉ nhà thơ mới có. “Gió trườn qua khe cửa” là ngọn gió có linh hồn, ngọn gió vàng xoa dịu và mát lành cõi phàm tục của tình yêu.
Sếch-xpia bảo: Tình yêu như người cung thủ bịt mắt mình, phóng mũi tên tình yêu đi đến đâu không cần biết mà vẫn trúng đích.
Trong cái mê, có cái ngộ, cái biết, và phải trải qua bến mê mới thấy bờ giác. Đặng Xuân Xuyến đã ngồi thiền dưới gốc cây bồ đề tình có biết bao năm để ngộ chăng? Cứ tính từ ngày vợ chồng Xuyến chia tay, hay cộng cả trước và sau thời gian ấy mới đắc đạo tình hay đốn ngộ. Đốn ngộ là đột biến, đắc đạo là sự tiêm ngộ. Theo tôi thì Đặng Xuân Xuyến trải qua bao đổ vỡ, hẫng hụt, khổ đau mà đắc ngộ.
Hãy nghe về sự ngộ, sự biết của anh: “Ừ biết/ Em rồi chẳng đợi/ Mà lòng chẳng lỡ buông lơi/ Ừ biết/ Chỉ lời giả dối/ Mà tin, tin đến cạn lời”.
Biết em không thật mà lòng vẫn tin là sao? Hãy lấy lòng khát yêu để trả lời cho câu hỏi này. Hãy lấy sự “Cưỡng Xuân” - Gượng yêu làm chìa khóa mở ra tâm hồn nhà thơ.
Nhà thơ vẫn khát thèm yêu nên dù biết rằng “em chẳng đợi”, chẳng yêu mình mà vẫn gượng yêu, gượng tin, thậm chí còn mong nàng nói dối là yêu mình còn hơn phải nghe những lời phũ phàng nói thẳng - không yêu. Ta nhận ra nhân cách đẹp của nhà thơ chính ở sự phi lý này.
“Thôi thì sắm vai người dại/ Ngô nghê với tháng năm dài”. Trải qua những khổ đau, những cơn khát, Cưỡng xuân, Đặng Xuân Xuyến chấp nhận “Dại Yêu”, chấp nhận “Niềm vui dẫu chỉ nửa vời/ Có sao đâu/ Vẫn cứ ngời ngợi hương/ Chỉ tôi/ Chín nhớ/ Mười thương/ Đủ rồi”.
Đọc những dòng thơ, như nghe tiếng nước mắt chảy ngược vào tâm, giọt nước mắt long lanh ánh sáng thức ngộ - Thức ngộ sau chén say, mê đắng của tình yêu: “Ta gạ em cạn chén/ Thế là em cạn ta.../ Nửa đời trai trinh bạch/ Em nhuộm ta ngả màu”.
Màu của tình yêu là màu gì vậy? Là bảy sắc cầu vồng sau chiều mưa chăng? Không! Màu tình yêu là muôn màu, màu của hạnh phúc và khổ đau, không họa sĩ nào vẽ nổi, nó biến ảo trong không gian, thời gian, trong tâm thức mỗi người.
Với Đặng Xuân Xuyến là màu say đắm và màu “Chán Yêu” hòa quyện, là màu “Bồng bềnh người ơi/ Mây tím lưng trời” chìm vào “nụ cười bạc phếch/ Xộc xệch tình.../ Lếch thếch tiếng yêu.”
Tôi tìm thấy ở Đặng Xuân Xuyến màu của “Đêm trở mình nhiều hơn/ Tóc dầy thêm sợi bạc”. Và đặc biệt ở Đặng Xuân Xuyến là màu của tình yêu máu thịt với cậu con trai - cái màu máu thiêng liêng của tình cha con đã giải thiêng mọi màu sắc của tình yêu lứa đôi. “Lặng nhìn con nằm ngủ/ Ngổn ngang nỗi tơ vò”.
Sau màu yêu ngày tươi đẹp đã qua, con chim thi ca vẫn cất cao giọng hót nhưng không còn là bản tình ca réo rắt mà là giọng to nhỏ thì thầm: “Mình già rồi anh nhỉ/ Thời gian thế mà nhanh/ Mới vài chuyện loanh quanh/ Tóc đã pha màu bạc.../ Giọng thoảng nghe khang khác/ Mình già rồi mà anh.”
Không ai khuất phục được thời gian, không ai ở mãi trên đời, yêu đương... mê ngộ một thời rồi đi. Và Đặng Xuân Xuyến cũng nằm trong quy luật của thời gian như mỗi chúng ta. Chính vì hiểu quy luật của thời gian mà anh đã “Cưỡng Xuân”, anh “Cưỡng Xuân” và xuân cũng cưỡng anh.
Nhà thơ “Lánh Yêu” mà vẫn bị yêu: “Sao chẳng nói yêu từ sớm/ Khi anh đương còn trẻ trai/ Bây chừ lừ đừ, lọm khọm/ Nào ai dám mộng với ai.”. Nhà thơ trách cô gái trẻ chậm nói lời yêu nhưng trong lòng tự biết tuổi của mình, sức đã “chồn chân mỏi gối”, lòng thèm yêu lắm nhưng “Chỉ e nhỡ đường ân ái/ Khiến em đứt ruột chiều tà.”
Tôi cam đoan rằng: Tuổi của Đặng Xuân Xuyến mới 52 còn tràn đầy sinh lực, chưa “chồn chân mỏi gối” tí nào, anh như con chim bị trúng thương tình ái, đổ vỡ duyên vợ chồng nên sợ “cành cây cong” như chiếc cung thôi. Và chất quê Hưng Yên ở trong máu còn thắm chưa phai, chưa nhiễm chất thị thành, nên thèm yêu mà vẫn lo xa.
Lo xa nên nhà thơ mới tỏ tình với ngôn ngữ dân dã chân thành: “Em có cần anh không/ Nếu cần hãy cùng anh chung sống”. Chữ “cần” mộc mạc mà rất thơ mang nặng tâm tình. Tình yêu cần tình yêu như con người cần không khí để sống. Thiếu sự “cần” ấy - thiếu không khí - có ai sống được bao giờ. Bài thơ “Chung”, tôi đã bình rồi, không bình lại nhưng vẫn bị sự mộc mạc của câu thơ “Em có cần anh không” níu kéo. Tôi đành nhắp thêm chén rượu nữa cho hồn say với sự “cần” yêu.
Thơ của Đặng Xuân Xuyến chưa đến bực tài hoa, mà là thơ của nỗi lòng, tình yêu và sự đớn đau trong tình yêu nâng hồn anh thành cánh chim bay đến phía sau của chân trời tình yêu và trở về với hồn quê - Đất nhãn Hưng Yên: “Về đi em! Về ngắm trăng buông/ Câu mái đẩy lèn sâu ký ức/ Dựa vai anh ngắm đời rất thực/ Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi.”.
Nếu có tài họa sĩ, tôi sẽ vẽ bức tranh đồng quê, có đôi trai gái ngồi ngắm trăng buông. Cô gái tựa vào vai chàng trai, ngắm trăng trời và nghe trăng ở lòng thổn thức. Nhưng vẽ “Cổ tích trầu cau đã hết nhựa rồi” thì thật khó. Chỉ có thơ, hồn thơ quê của Đặng Xuân Xuyến mới vẽ được. Tôi nhắm câu thơ này cho rượu thêm hương.
Rượu và thơ dẫn tôi đi, tôi lang thang trong sự “Cưỡng Xuân” của Đặng Xuân Xuyến. Mỗi bài thơ như cưỡng tôi yêu, và tôi bằng lòng với sự cưỡng yêu ấy.
Tôi bị cưỡng vào những khao khát và những giấc mơ, mà từ những khát khao và những giấc mơ ấy tôi lại được trôi dạt tới bờ bến của dại khờ. Ôi! Sự dại khờ trong tình yêu như một cõi tiên. Trên đảo bồng lai của dại khờ tôi gặp tôi, gặp những khát khao chân thực của tình người. Tình yêu cần sự dại khờ hơn khôn ngoan.
Có phải yêu thật lòng quá thành dại khờ nên Đặng Xuân Xuyến đã “Cưỡng Xuân” chăng. Tôi nghe thẳm xa trong hồn tiếng của trời, tiếng của mùa xuân thì thầm trong hoa lá: “Tôi bằng lòng… bằng lòng.”. Thì ra mùa xuân cũng khát yêu và thèm sự “Cưỡng” như con người. Lâu lắm, xa lắm, trên thế gian chưa có ai, chỉ có Đặng Xuân Xuyến “Cưỡng Xuân”.
Vì “Cưỡng Xuân” - Tập thơ đầu tay của Đặng Xuân Xuyến, tôi tự rót rượu thưởng cho mình.
(xem: http://dangxuanxuyen.blogspot.com/p/cuong-xuan-tho-tinh-ang-xuan-xuyen-tinh.html)
*
Hà Nội, ngày 08 tháng 06 năm 2017
NGUYỄN THANH LÂM
Địa chỉ: Số 4, ngõ 179 Minh Khai
quận Hai Bà Trưng, tp Hà Nội
Email: thanhlam.tho@gmail.com
Điện thoại: 0984787426

READ MORE - NHẮM RƯỢU VỚI “CƯỠNG XUÂN”, THƠ ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Nguyễn Thanh Lâm

BÀI THƠ VIẾT TRÊN ĐỒI CHARLIE / ĐỒI SẠC LY - Thơ Nguyễn Khôi



                  Nhà thơ Nguyễn Khôi

Bài 1: BÀI THƠ VIẾT TRÊN ĐỒI CHARLIE

 Đồi Charlie anh đi không về nữa

 Cỏ chân đồi máu tưới bốc màu xanh
 Sông Pô kô thuyền trôi theo sóng lũ
 để muôn đời vang tiếng hát A Sênh...
                         *
 Ôi cuộc chiến ta qua "kênh" đạn lửa
 Hai mươi năm còn cháy khét tiếng lời
 Máu thịt đổ...mộng hóa thành Chim Quý ?
 Ai thương người mẹ góa, con côi ?!
                          *
 Ơi nhân loại, khác chi bầy muông thú
 tiêu diệt nhau để độc chiếm...lạ gì ?
 Xứ dân Thượng có cần chi bão lửa
 Mong chi Đồi đẫm máu Charlie ?!


                     Kon tum 30/4/1992


                     
 Bài 2: ĐỒI SẠC  LY
                     
 Đồi Sạc Ly em đi, anh ở lại
 Sông Sa Thầy dào dạt tình thương
 Cuộc chiến dữ khó nói điều phải trái
 Nỗi đau buồn để mãi ở làng buôn.
                      
 Đồi Sạc Ly máu xương xa vời vợi
 Đất Kontum heo hút một miền rừng
 Người nằm đây  nói chi niềm mong đợi
 Em phương trời thương nhớ một người thương.


                         Sa Thầy - Kontum 2/11/1993
                                    NGUYỄN KHÔI
                                   (Nhà văn Hà Nội)



READ MORE - BÀI THƠ VIẾT TRÊN ĐỒI CHARLIE / ĐỒI SẠC LY - Thơ Nguyễn Khôi

Friday, May 25, 2018

THIỆP HỒNG -Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân


Tác giả Lê Hứa Huyền Trân
                            
THIỆP HỒNG
Truyện ngắn
LÊ HỨA HUYỀN TRÂN

     Hắn cầm chiếc thiệp hồng mà nàng mới đưa chiều nay trên tay, miệng hắn tự động nở một nụ cười chẳng rõ khinh bạc hay vui vẻ. Hắn đốt điếu thuốc hút và khẽ gẫy tàn thuốc văng tứ tung, xong như chực nhớ ra đang cầm trên tay tấm thiệp, hắn vội dụi điếu thuốc. Rồi bỗng dưng hắn bật cười rõ to, nụ cười giống như cay đắng nhất mà hắn từng có:” Tại sao tới lúc này tôi vẫn sợ em thấy tôi làm những điều em đã cấm tôi?”. Bốn năm rồi, đã bốn năm rồi kể từ lúc nàng và hắn chia tay, thời gian đủ lâu để hắn có thể yêu thêm một ai khác và cũng đủ lâu để hắn có thể quên đi một mối tình từng làm hắn vò xé tâm can.  ý thế mà giờ hắn vẫn thấy ngai ngái trong lòng, cái nỗi đau thỉnh thoảng nhói lên từng cơn trong tim hắn, hắn chẳng rõ là vì lòng hắn còn thương hay bởi vì con người vốn vô cùng ích kỉ, dù đã chia tay rồi vẫn muốn người ta mãi yêu và thương mình.
     Hắn và nàng học chung lớp đại học. Trong khi nàng là cô sinh viên giỏi nhất lớp luôn sống hết mình theo chuẩn mực thì hắn lại là một kẻ hơi ngông và bất cần đời. Thậm chí đôi khi hắn vẫn hay tự hỏi tại sao hắn lại đậu được đại học, mà theo nàng là “ tuy hắn ngông nghênh nhưng rất thông minh”. Những tưởng hai con người vốn chẳng thể nào ưa nhau được ấy thế mà lại quyến luyến nhau lúc nào không hay. Cho tới tận bây giờ hắn vẫn thầm tự hỏi mối quan hệ của hắn và nàng là gì, liệu có thể khi xa nhau gọi là chia tay được không khi chẳng có một mối ràng buộc nào rõ ràng ngoại trừ danh xưng “ bạn thân”. Nàng và hắn bắt đầu là “ bạn thân” từ giữa năm một, lúc đó phải nói cả lớp đều ú òa trong ngỡ ngàng, vì rõ ràng hai người khác nhau là thế, và cũng vì vốn theo thói chọc của mọi người giữa nam nữ thì làm gì có tình cảm nào gọi là bạn thân. Hơn nữa, ở cái lứa tuổi này, bạn thân chỉ như một bước để chờ “ tiến thêm bước nữa”. Mặc kệ những gì người ta nói, mỗi ngày hắn và nàng vẫn đi cạnh nhau, cái tướng dong dỏng cao của hắn, áo lúc nào cũng bỏ ngoài quần, tai lúc nào cũng gắn headphone, còn bên cạnh là nàng, thấp bé, đôi kính cận dày cộp, quần áo chỉnh tề, trông hắn hệt như đang đi cùng người mà mình bắt nạt.
     -Tôi nghĩ là từ giờ bà đừng có đi cạnh tôi nữa. Trông tôi vốn đã như kẻ xấu rồi mà đi cạnh bà càng giống kẻ xấu hơn.
     Và thể nào nàng cũng phụng phịu giãy nãy:
     -Nếu tôi mà không đi học cùng ông thì thể nào ông cũng sẽ lại trốn học cho coi.
     Hắn chỉ biết thờ phào. Kì lạ một điều là dù không thích học nhưng lần nào điểm hắn cũng cao, có lẽ bởi thế, hắn không cảm thấy chênh lệch quá nhiều về trình độ khi ở bên cạnh nàng. Có điều kì thực là hắn hay trốn học, nhưng nếu nàng bắt được hắn, thì hắn sẽ lại lò dò theo nàng đến lớp. Đôi khi, nàng cũng để cho hắn trốn học vì cuộc sống mà hắn đang có thực sự đôi lúc cần được “ nghỉ ngơi”. Nhiều lúc hắn nghĩ có lẽ vì vô tình biết được gia cảnh hắn mà nàng cảm thương, vì kí thực nàng vốn rất thương người, cứ như nàng sinh ra để ban phát tình thương cho kẻ khác, và rồi luôn ở cạnh hắn: từ nhỏ hắn đã ở với bà nội- những người luôn chối bỏ sự tồn tại của hắn, ba mẹ hắn lại luôn ở xa không biết hắn thiếu thốn tình thương, vì thế hắn luôn sống theo kiểu bất cần đời mà như nàng nói” sống bất cần đời chỉ để được người ta chú ý và quan tâm, vậy thì từ giờ có tôi quan tâm ông rồi đấy”.                  
     Hắn hay say, cái say của kẻ hay uống. Người đời nhìn vào hắn và thế là thêm đủ chuyện thêm thắt, Hắn không chối vì quả thật hắn hay cùng đi uống với những người anh em trong văn nghệ, tụ tập đàn hát rồi vài lon bia, nhưng chưa bao giờ hắn không kiếm chế nổi mình, có điều, những con người ngoan hiền khi nhìn người khác có chút bia rượu trên người thì cũng cho đó là tiền để để đánh giá. Nàng hay đón hắn đi học tại quán mà hắn hay uống, những lúc đó nàng sẽ là người là người đèo hắn trên cái xe đạp cọc cạch giữa trưa nắng , để rồi lúc nào đến lớp,áo nàng cũng thấm đẫm mồ hôi. Những lúc ấy hắn hay nói với nàng:
     -Tôi cảm thấy tôi không phải là người tốt, có khi nào sau này bà hối hận khi có người bạn thân nhất là tôi không?
     -Ông đừng có ở đó mà ngốc nữa, dù ông có bỏ rơi tôi, tôi nhất định cũng không bao giờ xa ông đâu.
     Những mối quan hệ của con người thường không rõ những nguồn cơn. Hắn tồn tại bên cạnh nàng như một người bảo vệ, mà như nàng hay nói:” nếu sau này chúng ta có xa nhau, tôi sẽ nhớ những lúc ông say rượu gọi cho tôi nói rằng ông nhớ tôi, tôi sẽ nhớ những chai nước mát ông đưa cho tôi sau giờ tập thể dục, nhớ những lúc qua đường ông luôn đi bên phía có xe, nhớ lúc mà chỉnh lại quần áo cho tôi, nhớ lúc ông nhìn tôi khen tôi dẽ thương (lúc đó nhìn mặt ông ngu lắm), dù biết rằng tôi ko có dễ thương nhưng nghe ông nói thế vân thấy rất vui,nhớ những lúc mình vui vẻ và cả những khi mình dõi hờn…”.Nghe những câu đó, hắn thậm chí còn không biết mình đã làm được nhiều điều cho nàng như vậy, vì tính hắn vốn là người lầm lì ít nói, ít khi thế hiện ra ngoài nhưng nàng luôn cảm nhận được.
     Thế giới mà hắn đang sống và thế giới mà nàng đang sống kì thực rất khác nhau, nhưng nàng luôn nói:” Cứ từ từ từng chút một thôi, hãy để tôi bước vào thé giới của ông, tuy tôi có cuộc sống vô cùng đơn giản và không hiểu hết những gì ông chịu đựng nhưng hãy đợi tôi nhé?”. Nhưng hai người vẫn cứ thế, vẫn chỉ gọi nhau là những người bạn thân dù qua thời gian, những câu thể hiện tình cảm đã nhiều dần từ “ tôi thương ông/bà” sang “ ông/bà là người khác giới quan trọng nhất của tôi”. Nhưng tình cảm cứ ngầm hiểu vậy thôi, chứ chẳng bao giờ rõ ràng.
     Cho tới khi, thân thiết với nhau quá cũng là lúc những tổn thương dần đến. Cuối năm một, hắn và một thằng cùng lớp đánh nhau, nàng hết sức can ngăn, nhưng trong lúc nóng giận nhất hắn đã nói điều không nên nói:” Vì bà là lớp phó nên bà lúc nào cũng muốn điêu tốt cho lớp chứ chẳng bao giờ nghĩ đến cảm xúc của tôi”. Hắn biết nàng tổn thương vì câu nói đó nhưng rồi nàng vẫn ở bên hắn, thế nhưng lâu dần, khi ở cạnh nhau nhiều quá, với tính nóng nảy của hắn và tính nhẫn nhịn giấu mọi cảm xúc của nàng mọi tổn thương cứ ngày càng đè nén. Thậm chí, có lần khi hắn lên nhà nàng chơi, (cha mẹ nàng thậm chí còn cùng hắn đi hái đậu vì đã quá thân thiết), vào buổi sáng sớm khi hai người cãi nhau nàng đã vừa khóc vừa nói với hắn:
Tôi không rõ chúng ta ở cạnh nhau có sai không nữa. Ông là người làm tôi tổn thương nhiều nhất nhưng cũng là người tôi yêu thương nhất. Tôi muốn rời xa ông nhưng lại ở cạnh ông như môt chân lí. Nhiều khi tự dặn lí trí phải ngừng lo cho ông nhưng rồi lại đến bên ông.
     Có một điều những kẻ mụ mị vẫn hay hiểu sai, khi người ta nói thế nghĩa là người ta đã tổn thương quá nhiều rồi, nhưng lúc đó trong đầu hắn chỉ nghĩ nàng thương hắn nhiều hơn hắn nghĩ, và hắn, lại cứ làm tổn thương nàng. Sang những năm cuối đại học, khi cuộc sống gia đình làm hắn trở nên chật vật, hắn hay nghỉ học hơn và hắn và nàng liên tiếp cãi nhau to giận nhau suốt mấy ngaỳ. Cả hai cứ nghĩ giận rồi quay lại nhưng ngày này nối tiếp ngày kia và cứ thế dần dần hai người bắt đầu có những khoảng trống không nhau mà không biết. Hắn giấu nỗi buồn của hắn, nàng giấu nỗi lo của nàng. Và khi người ta chợt nhận ra họ không hiểu nhau họ dễ xa nhau. Rồi hắn chợt nhận ra sự thất vọng của nàng lớn dần trong mắt, cũng như cuộc sống của hắn bắt đầu không có những nỗi lo của nàng. Hai người lại cãi nhau, và câu cuối cùng hắn nghe được từ nàng đó là:
     -Có lẽ chúng ta nên rời xa nhau thôi. Sau này khi gặp lại, có lẽ sẽ có một cảm giác yêu thương mãnh liệt dấy lên, nhưng cả hai chúng ta đều biết nó không đủ sức để đưa chúng ta quay trở lại.
     Và rồi, bốn năm đã trôi qua kể từ ngày ấy, không một tin nhắn, không một tin tức, chỉ có giờ, sau từng ấy năm nàng gửi cho hắn một cái thiệp hồng, và cái thiệp hồng ấy như một trang nhật kí nhắc hắn nhớ lại toàn bộ những cảm xúc mà hắn đã từng quên. Cái thiệp hồng ấy rốt cuộc chẳng hiểu đến tay hắn để làm gì, phải chăng như để nhắc nhở nàng vẫn luôn xem hắn như “một người bạn thân” suốt mấy năm qua nên khi ngày trọng đại của cuộc đời mình nàng vẫn nhớ tới hắn. Hay để nhắc cho hắn nhớ, nàng đã từng, là đã từng rất-thương-hắn?

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân,
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định.




READ MORE - THIỆP HỒNG -Truyện ngắn - Lê Hứa Huyền Trân

HÓA QUỲNH ĐỎ - Chùm ảnh- Chu Vương Miện









READ MORE - HÓA QUỲNH ĐỎ - Chùm ảnh- Chu Vương Miện

PHẠM NGỌC THÁI VỚI TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG THA THIẾT - Bùi Văn Dong




PHẠM NGỌC THÁI
            VỚI TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG THA THIẾT
                   . Trích tiểu luận "Phạm Ngọc Thái -
                   Con người và thi ca" - Tập sách sắp xuất bản




    Tôi biết Phạm Ngọc Thái từ thuở còn chiến tranh, cùng là anh lính chiến ăn rừng ngủ rú trên mặt trận Tây Nguyên – Nam Bộ. Suốt chặng đường chinh chiến ấy, Thái ham viết nhật ký và làm thơ. Nhiều đêm nằm với nhau bên võng giữa rừng, anh thường đọc thơ cho chúng tôi nghe. Được biết những cuốn nhật ký đó đã bị mất trong chiến tranh, tác giả chỉ còn nhớ lại ít bài tản mạn, cũng là một điều đáng tiếc.
     Bọn lính Hà Nội cùng trong tiểu đoàn chúng tôi ra đi hồi đó, hết chiến tranh kiểm lại chỉ còn mươi đứa sống sót trở về. Chẳng ai có thể ngờ rằng: cái anh chàng lính trận rất ham thích thơ thuở đó, nay đã trở thành một nhà thơ nổi danh trên văn đàn. Thái cho xuất bản cũng đến gần chục tập thơ và bình, qua các tác phẩm đó và nhiều chùm thơ anh cho quảng bá trên mạng - Không khỏi ngỡ ngàng về tâm lý, tình cảm Phạm Ngọc Thái hôm nay khác xưa nhiều quá?

      Nếu đọc ở mảng thơ tình ta nhận thấy một tâm hồn tha thiết yêu nhưng hoang dã, mà phần nhiều đều là những mối tình dang dở hoặc tan vỡ, tác giả nuối lại những kỷ niệm xa xưa.Trong số bài thơ khác, ta lại thấy một cái bóng bảng lảng, quanh quất cõi thiền của một con người vào tuổi hoa niên. Có lẽ không phải chỉ là vấn đề tuổi tác, còn do khách quan cuộc sống và thời thế… đã làm thay đổi những suy nghĩ và tâm hồn tác giả - như trong tựa đề của tập thơ Người Đàn Bà Trắng:
                           
Tiếng chuông chùa bốn phía âm vang
                           Mình lễ cả ba thiên toà phật
                           Người có vận! Thôi đừng oán trách
                           Chuyện thơ văn vừa thực, vừa chơi...
    Phảng phất nỗi u hoài, tìm đến nơi cửa Phật. Còn tựa đề tập Rung Động Trái Tim, thì tâm tư nhà thơ lại hoà trộn vào cát bụi cuộc đời:
                          Con sẻ hót mênh mông đồng nước
                          Người hát rong hát vui sân ga
                          Tiếng Hát Đời Thường thường lẫn vào bụi cát
                          Anh hát cho đời...
                          Anh hát em nghe...
      Phạm Ngọc Thái lớn lên khi đất nước chìm ngập bởi chiến tranh. Mới bước qua ngưỡng cửa thời niên thiếu, anh đã rời bỏ cuộc đời sinh viên đại học - Từ giã Hà Nội vào chiến đấu trên chiến trường miền Nam, tới tận ngày chiến tranh kết thúc. Khi đó tâm lý cũng đã mệt mỏi đường chinh chiến,  Phạm Ngọc Thái rời khỏi quân ngũ trở về thành phố quê hương, tiếp tục theo học trường Đại học Ngoại thương, để trở thành anh cán bộ ngành ngoại thương quốc tế.
     Diễn biến tư tưởng và tình cảm cuộc đời tác giả, những năm hoà bình trở lại đây khá phức tạp: Có lúc anh rơi vào sự chán chường thời thế, chẳng khác nào một người đi ở ẩn, sớm hôm sống lẩn khuất hoặc phiêu lãng với bạn bè, vui thú thơ văn. Tâm trạng ấy đã được tác giả bộc lộ ở nhiều bài:
                               Ta đã sống phần đời sau chót
                               Trong ngôi nhà ẩn khuất bóng nhân gian
                               Một cuộc sống bình thường bầu bạn
                               Nửa trăng hồ, nửa gã hiền nhân.
                                          (Trên nấm mồ truyền thuyết)
     Khi lại rơi vào sự cô đơn đến gai người:
                              Hãy vứt ta lên chiếc giường
                              Phủ đệm, chăn, màn...
                                                 làm bằng những tế bào đói khát
                              Ta không đói khát tình em?
                              Mà đói khát bầu trời.
     Hay là:
                              Một thứ ma người
                              Quen hút khí đêm thay cho sữa mẹ
                              Chơi với hoa, với cá, với chim
                                                             (Cô đơn)
     Tha thẩn với trăng sao:
                              Ta! Anh thi sĩ của nhân gian
                              Tạc thù với cả khối sao trăng
                              Hồn hoa nâng cốc xin dốc cạn
                              Dẫu chỉ mình thôi vẫn mê man
                                                             (Tối quán)
     Cuộc đời tác giả trải qua bao phong trần, phải chấp nhận không ít những mất mát về cuộc sống và tình yêu? Tất cả những sâu sắc ấy đều được dội vào trong thơ. Bởi vậy, một mảng lớn thi ca Phạm Ngọc Thái đầy ắp tính hiện thực. Nó bao chứa tính nhân sinh xã hội cùng thế giới quan của nhà thơ.

     Thơ Phạm Ngọc Thái rất hàm súc, kể cả những bài viết dưới dạng triết lý đến những bài trải theo dòng cảm xúc tự nhiên. Từ nhận thức về tình yêu và cuộc sống được trải nghiệm qua đường đời, thấm tháp chảy vào thơ. Thơ tình thì huyền diệu, có sức rung cảm trái tim người yêu thơ! Thơ đời lại ôm bọc những giá trị hiện thực xã hội sâu sắc. Đặc điểm cơ bản trong tính triết lý thơ đời của tác giả, là vận từ đời sống dân gian, nỗi kiếp con người. Thơ được chắt ra từ tim óc nên đọc không bị gò ép, mà tạo thành bản sắc riêng của thơ anh. 
      Nhiều bài thơ của Thái bắt nguồn từ đời thường. Cái đời thường ấy được khái quát sâu sắc giữa con người với xã hội, cá nhân và thế giới, tuỳ theo cảnh tình mà tạo thành vóc dáng thơ ca. Nó chẳng những có giá trị hiện thực, còn mang theo tính triết học, một nhân sinh quan sâu sắc cùng thế giới quan phong phú, cô đúc đến mức điển hình. Như những bài: Nỗi trăn trở người đi tìm vàng, Em bán xoài, Làm ma em vợ, Khoảng trời phía sau, Những kỷ niệm bên con, Đêm trung thu và đứa ăn mày v.v...
      Trên đây tôi chỉ nêu ra một số nét để dẫn dắt cuộc bình luận, giờ xin đi vầo chủ đề cụ thể.
  


                 PHẠM NGỌC THÁI VỚI TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG THA THIẾT
     Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ trước, nhà thơ Phạm Ngọc Thái được Bộ ngoại thương biệt phá ra nước ngoài công tác, quản lý những người đi xuất khẩu lao động, đồng thời kết hợp làm kinh tế gia đình. Những năm tháng xa nước ấy, anh đã viết nhiều thơ về quê hương:
                        Có một khoảng trời để thương, để nhớ
                        Là khoảng trời ở đó có em
                        Những bóng cây in trên đường phố thân quen
                        Đêm đêm chiếc lá nhớ lại bay về, xào xạc...
                                                (có một khoảng trời)
     "Có một khoảng trời" cũng là nhan đề của tập thơ đầu tay, mà anh đã cho xuất bản sau thời gian đó. Thơ chan chứa những kỉ niệm yêu thương. Tiếng hát từ trong tâm khảm, trái tim nhà thơ bay lên! Nó mang hơi thở nơi dân dã, tình cảm đầm ấm chốn đời thường. Những sự việc, hình ảnh, ta thường gặp trong các mái nhà nơi phố nghèo; trên một bến ga thân quen hay bên bờ hồ trăng thanh, gió thổi. Đôi khi tiếng hát ấy vẳng lên cô quạnh, lẻ loi, lầm lụi hoà vào trong cát bụi cuộc đời.
      Như bài “Khúc hát người tha phương”:
Đi về đâu cuối chiều
Khi xung quanh vắng lặng
Con thú nào lạc bạn
Hoảng hốt giữa đồi nương

Suối róc rách bìa rừng
Cứ kêu hoài chân vực
Một thành phố quê hương
Hiện lên trong đáy mắt.

Ôi, cuộc đời nghèo xác
Nằm chết giữa tình thương
Có người vợ hiền lành
Với con tôi ở đó...

Chiều nay trong nắng đỏ
Bước lang thang mình tôi
Khúc buồn như chim bay
Hỡi người tha phương ơi?

Đi về đâu cuối chiều
Đời xa nước cô liêu!

                        Nước Đức
                         4/9/1988
     Thơ của Thái về nơi chôn rau cắt rốn ấy, bộc lộ những tình cảm rất máu thịt. Trong chủ đề về “Tình yêu quê hương” này, tôi xin phân tích đôi ba bài để thấy rõ điều đó.

1/.         TRỞ VỀ 
Đôi cánh chim trời quạt gió mây
Ta về non nước nước non đây
Nghe thu xào xạc rung mùa lá
Đông cũng hương đông lạ chưa này?

Ở chốn quê nhà bụi cát bay
Hoà bình mà tan mộng trăng say
Ta về bầu bạn cùng mưa nắng
Lưu lạc người ơi! Gió cuốn thôi…

Ta về trọn cuộc đất cố hương
Với mộng ngàn thu gửi nhân gian
Đông Âu bão giật xiêu Thành Mác
Bốn bể chân trời lạc khói sương.
      Bài thơ được tác giả sáng tác ở nước ngoài vào cuối năm 1990, khi Đông Đức mất vào tay Tây Đức, kéo theo một loạt nước XHCN Đông Âu bị sụp đổ. Sau những năm ra ngoại quốc, lúc này anh đang chuẩn bị rời khỏi Đức trở lại quê nhà. Tuy hoàn cảnh thời thế bắt buộc phải trở về cố hương trước thời hạn, nhưng lòng anh lại vui mừng khôn xiết. Ta hãy nghe nhà thơ thổ lộ:
                          Đôi cánh chim trời quạt gió mây
                          Ta về non nước, nước non đây
     Lấy hình ảnh cánh chim quạt vào trong mây gió, để nói lên nỗi lòng xốn xang:
                          Nghe thu xào xạc rung mùa lá
                          Đông cũng hương đông, lạ chưa này?
     Lá mùa thu thì xào xạc vì vui, còn mùa đông lạnh lẽo khô khốc… thế mà người lại cảm thấy ngào ngạt hương hoa trái? Quê huơng, xứ sở đã chắp cánh để hồn thơ bay! Thời kỳ đó để mưu cầu cuộc sống, có biết bao người tìm cách ở lại, hoặc chạy sang Tây Đức. Mặc dù anh biết ở quê hương vẫn đang trong cảnh nghèo túng, khó khăn, như đã mô tả:
                          Ở chốn quê nhà bụi cát bay
                          Hòa bình mà tan mộng trăng say
     “…tan mộng trăng say”: câu thơ nói lên sự tan vỡ trong lòng tác giả, sau một cuộc chiến tranh trở về. Những hy vọng, ước mơ về cuộc sống cũng thành mây khói… vậy mà giờ đây khi nghe tin trở lại quê nhà, thái độ của anh vẫn rất dứt khoát:
                         Ta về bầu bạn cùng mưa nắng
                         Lưu lạc người ơi! Gió cuốn thôi...
     Hay là:
                         Ta về trọn cuộc đất cố hương
                         Với mộng ngàn thu gửi nhân gian
    Mộng và hồn của tác giả bài thơ "Trở về" này, quả thật là gắn bó máu thịt với quê hương.

 2/.  “TIẾNG HÁT ĐỜI THƯỜNG” - cũng được tác giả sáng tác ở nước Đức vào năm 1989. Bài thơ viết về người vợ hiền với đứa con thơ ở nơi quê nhà đang mong mỏi đợi chồng:
                         Trong một phố nghèo có người vợ trẻ
                         Vẫn đón con đi, về... như thường lệ
                         Vóc em thanh cũng thể mùa xuân
                         Đôi mắt em, đôi mắt ấy màu đen.
     Đôi mắt màu đen là đôi mắt người phụ nữ Á Đông, mà người ta thường gọi là đôi mắt đen huyền. Nhưng ở đây, đôi mắt đen mà tác giả gợi lại của người vợ trẻ trở nên yêu dấu và tha thiết biết bao: Đôi mắt em, đôi mắt ấy màu đen /- Đó là đôi mắt của quê hương, ngày đêm vẫn ngước nhìn lên bầu trời xanh thăm thẳm chờ anh. Lời thơ tha thiết, khó có bút nào tả hết.
     Nếu Xuân Diệu viết:
                         Mắt em thăm thẳm như màu gió
                         Thơ cũng vàng trong như nắng hanh
     Đó là đôi mắt hẹn hò của tình yêu trai gái. Còn trong bài thơ này, đôi mắt lại chứa đựng một nỗi niềm của người vợ gần gũi bên chồng: buồn vui và sướng khổ trong cuộc sống. Ngày ngày nàng vẫn đón con đi, về... nơi quê nhà. Thơ tả bình dị nhưng vẫn đọng.
     Đó chính là cái phố nghèo mà nhà thơ đã từ biệt để ra đi đất khách, quê người. Quê hương, còn ở đâu thân thiết hơn thế nữa! Nàng là tình yêu trái tim của cuộc đời anh. Hình ảnh thành phố thân thuộc được tác giả gợi ra:
                        Ôi quê hương!
                        Cái phố nhỏ cứ mưa là lầy lội
                        Cháu gái nhà bên tuổi không đoán nổi
                        Chưa tối đã khêu đèn, bê mẹt thuốc rao đêm
                        Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội.
     Đứa cháu gái bé bỏng ấy cứ tối tối phải bê mẹt thuốc rao bán kiếm sống, đến nỗi không còn đoán ra được tuổi đời của nó? Con phố nhỏ thân quen thì mỗi cơn mưa xuống lại ngập úng, lầy lội - Ở đó, vợ con anh: Ngày hai bữa, bữa nào cũng vội /- Tất cả cứ thế, cứ thế chảy trào trong cảm xúc của nhà thơ. Lời thơ không cầu kỳ mà vẫn tạo dựng những hình ảnh quê hương thân thiết. Ngay ngôi nhà vợ con anh đang sống, cũng được miêu tả bằng những hình ảnh gần gũi mà đầy ý nghĩa:
                        Ngôi nhà nhỏ bên đền
                        Gốc đa, quán báo
                        Nơi ngày xưa ai bán chiếu gon (1)
                        Đêm hồ ước trăng soi
                        Chiều lá me, lá sấu
                        Cung thành xưa dấu đại bác còn. (2)     
-  Chú thích (1) ý rằng: Ngôi nhà nhỏ ngày đêm soi mình lên bóng nước, với câu chuyện xa xưa: Nàng Thị Lộ đi bán chiếu gon ở Hồ Tây đã gặp ông Nguyễn Trãi, cùng câu chuyện đối đáp giữa hai người đã trở thành truyền thuyết lưu tụng đến ngày nay.
      Nguyễn Trãi ướm hỏi Thị Lộ rằng:
                       Ai ở Tây Hồ bán chiếu gon?
                       Chẳng hay chiếu hết hay còn
                       Xuân xanh chừng độ bao nhiêu tuổi
                       Đã có chồng chưa được mấy con?
     Nàng Thi Lộ đáp lại:
                       Tôi ở Tây Hồ bán chiếu gon
                       Cớ chi ông hỏi hết hay còn?
                       Xuân xanh chừng độ trằng tròn lẻ
                       Chồng còn chưa có, hỏi chi con.
-  Chú thích (2): Là hình ảnh Thành Thăng Long Cửa Bắc, còn in dấu đạn đại bác khi quân Pháp đổ bộ vào đánh chiếm cố đô. Thăng Long thất thủ, quan tổng đốc Hoàng Diệu đã phải thắt cổ để tuẫn tiết.
     Bài thơ thật sâu sắc, ý tình chan chứa vô cùng. Chính cái thành phố quê hương ấy và  những người thân, từng một thời đã theo anh ra mặt trận của cuộc chiến tranh xưa:
                       Miền đã theo tôi vào cuộc Trường Sơn
                       Hành quân rừng già võng treo sườn gió
     Giờ lại theo anh trong cuộc sống tha phương nơi đất khách, quê người:
                       Ai biết chiều nay người vợ trẻ
                       Đứng mong chồng bên đứa con thơ
                       Giọt lệ cháy xót lòng mang sắc xanh thu!  
     Nó heo hút tựa con chim sẻ hót trên cánh đồng mênh mang nước, lại thân thương trong tiếng của người hát rong trên sân ga. Ta cảm thấy như nhà thơ đã khóc! Nước mắt anh chảy tràn trong bể tình nhân thế này. Giọt lệ ấy đẫm tình người mà xanh sắc mùa thu quê hương. Bài thơ muốn nhắn nhủ cùng những ai khi rời xa tổ quốc, luôn hướng về nơi chôn rau cắt rốn của mình:
                       Tuyết bạc quê người... xứ sở mưa cau...
                       Đi đâu, đến đâu: Nhớ về phố ấy!
     "Tiếng hát đời thường" là một bài thơ quê hương hay! 

3/. Bài “NGƯỜI CON GÁI SÔNG XƯA” - Nhớ về những tháng năm, khi đất nước vẫn còn trong chiến tranh đánh Mỹ. Có một chiều trên đường ra mặt trận, nhà thơ đã cùng đơn vị dừng chân nghỉ lại ở một thôn xóm nhỏ. Khi ấy, làng quê Việt Nam rất yêu thương với những người chiến binh ra đi, vào nơi chiến trường đánh Mỹ. Lúc đó, Phạm Ngọc Thái là một anh lính trẻ, chàng trai tuổi mười chín, đôi mươi, với một trái tim đang khát vọng và cháy bỏng tình yêu.
      Chính trong tối đó, anh gặp một thiếu nữ làng. Làng em ở bên con Sông Hồng, cuồn cuộn phù sa… màu son sắt, thủy chung:
                        Sông Hồng chảy muôn năm vẫn đỏ
                        Bãi ngô non xanh gió chân mây
                        Người con gái anh gặp thời chinh chiến
                        Cái buổi qua làng lâu bấy đến nay.
     Tuổi trẻ hồn xuân phơi phới. Cô thiếu nữ làng lại xinh xắn, dễ thương. Thế là, chỉ giây lát của tình quân dân thắm thiết, anh và nàng đã đã dan díu với nhau. Hẳn người con gái ấy phải để lại trong anh nhiều nỗi cảm thương - Bởi vậy, dù  mấy mươi năm qua, khi mái tóc trên đầu đã ngả bóng, nhà thơ vẫn bồi hồi nghĩ về những kỉ niệm xa xưa. Bài thơ được ra đời như thế! Lòng anh giữa trời sao mênh mông nỗi nhớ:
                        Lá tre rụng bao mùa, trôi dĩ vãng
                        Và quê em, đời sống có nâng cao?
                        Người năm ấy, em ơi! Giờ tóc trắng
                        Đang bồi hồi thao thiết giữa trăng sao.
     Tác giả kể lại: Tối đó, người con gái ngồi bên anh trong ánh bếp lửa hồng. Tháng năm, bóng em vẫn còn soi mãi vào cuộc đời anh với tình quê đằm thắm:
                        Làng em luỹ tre xanh bất tử!
                        Mới gặp một đêm mà đã thấy thương thương
                        Bóng nhìn anh, mắt theo giờ còn biếc
                        Như phù sa cứ bồi mãi khôn cùng...
     Phạm Ngọc Thái là một con người của quê hương bình dị, thân thương. Khi cuộc đời nhà thơ sau này đầy những đắng đót, xa xót... thì những kỷ niệm ngọt ngào xưa lại càng da diết trái tim anh. Lời thơ viết về hồi ức mà thật rung cảm, tưởng như có cả lệ chảy ở bên trong. Tình em quyện với tình quê hương máu thịt, tha thiết mà vô biên. Tất cả theo thời gian, như bóng câu bay qua để không bao giờ còn quay lại - nhưng vẫn còn đây, tấm tình thuỷ chung, in dấu trong thơ của thi nhân:
                        Người con gái sông xưa, ơi có biết!
                        Một thời trai bão táp cuộc hành quân...
                        Đêm thành phố nhớ em buồn da diết
                        Em bây giờ, có hạnh phúc không em?
    Bài  thơ đầy ắp tính nhân văn.     
                                                                      
               BÙI VĂN DONG
     Nguyên GV Trường ĐH Quốc gia                                                                                
    NR: 35 phố chợ Gia Lâm, Hà Nội
.
READ MORE - PHẠM NGỌC THÁI VỚI TÌNH YÊU QUÊ HƯƠNG THA THIẾT - Bùi Văn Dong