Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, July 29, 2017

TẢN MẠN GIỮA NHỮNG VẦN THƠ ! - Phan Quỳ

Xin giới thiệu một tản văn của Phan Quỳ - nguyên là cô giáo giảng dạy môn Tiếng Anh, người đã thay mặt tất cả anh chị em cựu học sinh Nguyễn Hoàng phát biểu cảm tưởng trong ngày Hội ngộ Nguyễn Hoàng lần thứ V ngày 15.7.2017 tại Quảng Trị !
Bài tản văn đã được tác giả của Miền Ký Ức đánh giá "Bài viết êm ái ru ta vào giấc mộng dài..." (LCD)



                        Tác giả  Phan Quỳ


               TẢN MẠN GIỮA NHỮNG VẦN THƠ !
                                                          Phan Quỳ 

Giữa bao bộn bề tất bật của mưu sinh và cả những nhọc nhằn hiu hắt của tuổi xế chiều, bỗng một hôm ta chợt nghe đâu đó thoáng về một tiếng cười giòn tan của kỷ niệm. Vang vọng đâu đây tiếng chú ve nhỏ hết hồn kêu vang trong một trưa hè đôi lứa. Và ta chợt thấy lòng bâng khuâng xao xuyến một trời mơ trở lại, ngọt ngào, tha thiết và đắm say:

Nhìn nhau cũng đủ lãng quên đời 
Vai kề vai một mái lầu phong nguyệt
Hanh phúc xa xa mĩm miệng cười.

Đó là niềm hạnh phúc lộng lẫy của Đinh Hùng, nỗi nhớ nhẹ nhàng lắng sâu bàng bạc của Trịnh, hay của hết thảy chúng ta khi hoài vọng về một bóng hình xa xôi trong nhạt phai dĩ vãng: 
Đôi khi nắng qua mái hiên làm tôi nhớ , đôi khi thoáng nghe bước chân về đâu đó của em...
Và đâu đó là nỗi nhớ trùm lấp, vây phủ không gian và thời gian trong một chiều vàng của Du Tử Lê:

Tôi ngồi trong nỗi tôi riêng,
Bên trong ghế lạnh ngoài hiên bóng rời
Phòng tôi trần thiết gương người.
Tường sơn kỷ niệm vách bồi dáng xưa.
Tóc người chảy suốt cơn mưa.
Ngực thơm hoa bưởi môi đưa bão về...

Người xưa như hiện hữu nơi nơi mình có mặt, mãi bên ta trong hiu quạnh  khôn cùng. Ta chợt nghĩ đến mối tình si của vị vua Tự Đức đáng kính năm nào:

Đập cổ kính ra tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại để dành hơi.

Bao tìm kiếm níu kéo trong vô vọng của người về một bóng hình đã quá vãng. Nỗi day dứt khôn nguôi vì thiếu vắng một tình thân. Câu thơ da diết trong ta một nỗi sầu đau về tử biệt sinh ly và hương hơi tràn ngập trong tim người ở lại, với một cõi lòng thương nhớ vô biên. 
Và rồi trong một buổi hoàng hôn kia tĩnh lặng, lòng mình cũng tựa như sương khói : 

Sân chiều chao nhẹ dăm tơ lá,
Và khói sương về cuộn cánh song.

Câu thơ của Nhã Ca gợi ta nhớ về nỗi buồn man mác diệu vợi của thi sĩ Hoài Khanh:

Ta ngồi lại bên cầu thương dĩ vãng, 
Nghe giữa hồn cây cỏ mọc hoang vu.

Biết bao lần ta đọc lại Hoài Khanh và biết mấy lần ta nghe mình buông tiếng thở dài hiu hắt tiếc thương, 
Và hẳn ai trong chúng ta cũng đã hơn một lần ngẩn ngơ với Tuệ Sĩ:

Đôi mắt ướt tuổi vàng
Khung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn 

Một người đã không còn vướng lụy bụi trần, thế mà tận trong cùng sâu thẳm đã có lúc phải thốt lên:

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan.

Bùi Giáng gọi đó là chất trang trọng dị thường của hoài niệm, là sự đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
Dù tà áo xanh kia đã không còn xanh nữa, nhưng đỉnh đá nầy và hạt muối đó chưa tan.
Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du. 
Thế đó, một bóng hình tưởng như đã sững im của ngày cũ, bỗng một hôm lồng lộng quay về làm Tuệ Sĩ phải thấy mình vội vã thắp ngọn đèn khuya....
Ở một cung bậc cảm xúc nhẹ nhàng hơn, chúng ta cũng thấy bóng dáng ngây thơ ngà ngọc của tuổi hoa niên làm lay động tâm hồn thi sĩ:

Em tan trường về,
Đường mưa nho nhỏ,
Chim non dấu mỏ,
Dưới cội hoa vàng. 
Bước em thênh thang, 
Áo tà nguyệt bạch...

Mối tình nhẹ như mây và đẹp như cổ tích của Phạm Thiên Thư thật dễ thương biết mấy:

Thương ơi vạn thuở,
Biết nói chi nguôi
Em mĩm môi cười,
Anh mang nỗi nhớ...
Và cả khi đã chia xa:
Dáng em nho nhỏ ,
Trong cõi xa vời,
Tình ơi, tình ơi...

Ai trong chúng ta đã đi qua tuổi học trò mà không chép thơ ông vào tập vở? Để rồi mỗi sáng nắng chiều mưa, chúng ta vẫn thấy vang lên từng giai điệu ngọt ngào của hương vị tình yêu buổi ban đầu ngập ngừng bỡ ngỡ như có như không, như mây chiều ngày hạ , như nắng sớm mưa thu của một Mường Mán dung dị ngây ngô mà đáng yêu đến lạ lùng: 

Có chi mô mà chân luống cuống
Cứ tà tà ta bước song đôi
Đi một mình tim sẽ mồ côi
Tóc sẽ lệch đường ngôi không đẹp

Để tóc rối cần chi phải kẹp

Nắng sẽ chia nghìn sợi tơ huyền
Buộc hồn O vào những cánh chim
Bay lên đỉnh hồn anh ngủ đậu

Cứ mím môi rứa là rất xấu

O cười tươi duyên dáng vô cùng
Cho anh nhìn những hạt răng xinh
Anh sẽ đổi ngàn ngày thơ dại

Mi khẽ chớp nghĩa là sắp háy

Hãy nguýt đi giận dỗi càng vui
Gót chân đưa bước mộng bồi hồi
Anh chợt thấy trần gian quá chật 

Và với Nguyên Sa thì ta lại được thưởng thức những âm thanh bay bỗng, óng chuốt, lấp lánh và vô cùng điệu đàng trong từng ý từng lời:

Có phải em mang trên áo bay, 
Hai phần gió thổi một phần mây,
Hay là em gói mây trong áo,

Rồi thở cho làn áo trắng bay? 

Và biết bao ân cần vỗ về cho người mình yêu dấu;
Anh sẽ vuốt tóc em cho đêm khuya tròn giấc,
Anh sẽ nâng tay em cho ngọc sát vào môi...

Anh sẽ vì em để pha màu mực tím, để đong đầy nghĩa yêu đương giữa ngàn hoa vàng và thắm biếc lá xanh.
Thế đó, biết bao ý tình thiết tha của buổi đầu hạnh ngộ vương vấn làm say đắm lòng ta từ bấy đến giờ:

Mùi phấn em thơm mùi hạ cũ,
Nửa như hoài vọng nửa như say,
Em đến như mây chẳng hạn kỳ,
Hương ngàn gió núi động hàng mi.
Tâm tư khép mở đôi tà áo, 
Hò hẹn lâu rồi em nói đi.

Thật kiêu sa và sang cả, Đinh Hùng cũng đã mang tặng chúng ta những cảm xúc vô cùng mới mẻ và những dòng thơ tuyệt bích và rồi với tài hoa của Phạm Đình Chương chúng ta lại được thưởng thức những cung bậc đẹp như tranh vẽ của lứa đôi hạnh phúc:

Hy vọng thơm như má chớm đào,
Ước nguyện chung giấc mộng trăng sao, 
Sánh vai một mái lầu phong nguyệt,
Hoa bướm vì em nghiêng cánh chao…

Cảnh như non bồng nước nhược, tình như đắm như say dưới một trời hoa mộng, ta nghe lòng êm ái một niềm yêu thương lan tỏa dịu dàng và tươi sáng. Thơ và nhạc như đan quyện vào nhau, hòa cùng nhịp đập thăng hoa cảm xúc của người thi sĩ và nhạc sĩ đã tặng cho đời những món quà xinh xắn và diễm lệ vô ngần. 
Đinh Hùng đã từng thốt lên : Em lộng lẫy như một ngàn hoa sớm... Chúng ta có thể nói thơ ông cũng lộng lẫy như một ngàn hoa sớm vậy:

Có những buổi ta nhìn em kinh ngạc 
Hồn mất dần trong cặp mắt lưu ly 
Ôi mắt xa khơi, ôi mắt diệu kỳ 
Ta trông đó thấy trời ta mơ ước. 

Ta thấy bóng một vừng đông thuở trước 

Cả con đường sao mọc lúc ta đi 
Cả chiều sương mây phủ lối ta về 
Khắp vũ trụ đều vô cùng thương nhớ.

Chúng ta ngưỡng mộ những tài hoa và trân trọng bao ý ngọc lời châu, và chúng ta cũng thấy gần gũi và rất đỗi thân thương một Nguyễn Bính mộc mạc chân quê trong một mối tình gắn bó với cô láng giềng:

Nhà nàng ở cạnh nhà tôi ,
Cách nhau cái giậu mồng tơi xanh rờn.

Và đến bài thơ Trường Huyện thì chúng ta mới thấy hết điều dễ thương của ông:

Học trò trường huyện ngày năm ấy
Anh tuổi bằng em lớp tuổi thơ
Những buổi học về không có nón
Đội đầu chung một lá sen tơ

Lá sen vương phấn hương sen ngát

Ấp ủ hai ta chút nhụy hờ
Lũ bướm tuởng hoa cài mái tóc
Theo về tận cửa mới tan mơ. 

Mối tình tuổi thơ kỳ ảo mênh mông như cơn mưa bất chợt, như gió thoảng chiều thu, như sen tơ ngày hạ, như giấc mộng cuối trời. Và cả lũ bướm ấy cũng như say tình mộng ảo mà ngẩn ngơ theo về. 
Và hẳn ai trong chúng ta cũng đều mĩm cười thông cảm xẻ chia cái độ ghen phi lý mà rất mực Nguyễn Bính:

Tôi muốn cô đừng nghĩ đến ai
Đừng hôn, dù thấy cánh hoa tươi, 
Đừng ôm chiếc gối, đêm nay ngủ... 
Đừng tắm chiều nay, biển lắm người...

Tôi muốn làn hơi cô thở nhẹ. 

Đừng làm ẩm áo khách chưa quen. 
Chân cô in vết trên đường bụi 
Chẳng bước chân nào được dẫm lên...

Thế là tận cùng của chiếm hữu riêng tư, nhưng chúng ta vẫn thấy rất mực duyên dáng, ý vị và độc đáo một Nguyễn Bính trên thi đàn, và chúng ta càng thương mến và yêu kính ông hơn nhiều. 
Tiếc rằng Nguyễn Bính đã không gặp được Trịnh Công Sơn để nghe Trịnh một lần: Yêu em lòng chợt từ bi bất ngờ... và Ru em ngồi yên đấy, tôi tìm cuộc tình cho...
Cho dù có khác biệt nào giữa Trịnh Công Sơn và Nguyễn Bính, Nguyên Sa hay Đinh Hùng, Phạm Thiên Thư và Tuệ Sĩ thì tình yêu vẫn lên ngôi thần thánh, diễm lệ và trang đài, thi vị và liêu trai và mãi là nguồn cảm hứng bất tận trong tim người nghệ sĩ để dâng tặng cho những tâm hồn đồng điệu một vẻ đẹp thanh tao của đường tơ ngân lên giữa mây ngàn gió lộng, của âm nhạc tuyệt bích và lời thơ diễm lệ. 
........................
Có thể nói chúng ta là những người may mắn và hạnh phúc vì được thưởng ngoạn những tác phẩm nghệ thuật biểu đạt tình yêu đôi lứa với nhiều sắc thái bay bỗng, thăng hoa, phong phú, đa dạng và tuyệt vời. Và rồi mỗi lúc nghe cõi lòng lắng đọng những buồn vui, ta lại tìm đến như một cứu cánh để an ủi vỗ về tâm tưởng, Như những buổi chiều nay, khi ngoài trời âm ỉ những cơn giông và kéo theo những cơn mưa đầu hạ làm gợi lại trong tôi những tâm tình thiết tha và chợt nghĩ về Huy Cận: 

Hỡi mây trắng phất phơ màu gió cũ. 
Nước buồn ôi! còn lại bến sơ xưa. 
Cho ta gởi vọng xuôi về quá khứ. 
Đôi chút sầu tư nước đẩy, mây đưa...

Và một nỗi buồn man mác buổi tich dương của Nhã Ca:

Ngày cũng vừa xanh dáng tịch liêu,
Đường xa sầu tiếp với cây chiều
Bầy chim én cũ qua thành phố.
Về gọi thời gian vỗ cánh theo...

Và thế là mình nghe lòng buồn quá đỗi... Nhã Ca ơi.

                                                            Phan Quỳ 
                                                           20-5-2017

READ MORE - TẢN MẠN GIỮA NHỮNG VẦN THƠ ! - Phan Quỳ

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 25; 26


             Nhà thơ Chu Vương Miện




CHÙM THƠ CVM 25

em đi mất
anh đi tìm
tìm nơi nao ?
thác ghềnh
sáu mươi năm ?
bạc mái đầu
cầm bằng
thơ văn nơi quán cóc
dăm câu lác lác xàm xàm
chưng ra không ai đọc
tác giả cũng hơi buồn
lương tháng mấy chục bạc
lương thực càng leo thang
mớ lương tâm bỏ xó
trong xó bếp tro than
mèo kêu nghèo xót ruột
chó kêu càng thêm buồn
chém cha nghề viết lách
y nước chảy lá môn ?
ôi cái gì đã còn
ôi cái gì đã mất
chuyện rác rến ngoài tai
nón che ngang kín mặt
chuyện gì một dòng nước
lầm lũi nơi chân cầu
hiện tại quá buồn khổ
hi vọng gì ! tương lai !


CHÙM THƠ CVM 26

dòng đời
con diều bay
con diều rớt
mưa nhẹ hột 
mưa nặng hột

dòng nước trôi đi
ghềnh đá ở lại
con thuyền xuôi dòng
cọc bến vẫn bờ sông ?
con người chuyển bao kiếp
nghĩa trang cũng chả còn
sóng sau lùa sóng trước
ngàn đời nước cùng non
thơ hay như cụ Tản
trôi trôi trên sông Đà
Nguyễn Bính nghèo xơ xác
phơi một đống tài hoa
thế thời cùng thời thế
từng đợt gió phong ba
càn khôn cuồng hỗn loạn
nghiêng ngửa cõi sơn hà ?

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 25; 26

DẦM MƯA - Thơ Hiệp Kim Áo Tím



                     Hiệp Kim Áo Tím


DẦM MƯA

Ngày xưa ta thích dầm mưa
Chiếc dù nho nhỏ đủ vừa che thôi
Mưa phùn nhè nhẹ mây trôi
Hạt bay trên tóc , trên môi em hồng

Dầm mưa cứ thích lông bông
Tay thì xách guốc chân không cợt đùa
Ngây thơ mẹ cũng chịu thua
Ăn roi mà chẳng chịu chừa nghịch mưa

Bây giờ ngồi nhớ ngày xưa
Bật cười nhớ chuyện như vừa hôm qua
Bây giờ nhớ mẹ, thương ba
Mỗi khi con ốm cả nhà buồn hiu

Tuổi thơ ơi nhớ thật nhiều
Năm mười, rượt bắt, thả diều,nhảy dây
Đã rồi lại thích trèo cây
Đủ trò nhưng vẫn nhớ ngày... dầm mưa

Ước gì trở lại ngày xưa
Tay thì xách dép dầm mưa đã đời...

                    Hiệp Kim Áo Tím
                    Đà Lạt, 29/7/2015

READ MORE - DẦM MƯA - Thơ Hiệp Kim Áo Tím

CHÙM THƠ NGUYỄN LÂM CẨN



              Tác giả Nguyễn Lâm Cẩn


TA, NGƯỜI HÁT RONG

Ta hát không đàn âm thanh câm lặng
Hát cho giọt nắng ôm trời ô hô
Hát rong đời mình theo cơn gió lạ
Gió bay xa quá trở về hư vô

Hát rong đời tình vừa đi qua ngõ

Tình ra phía chợ bán mua ơ hờ
Hát rong đời mình ném vào cát bụi
Đời đi lầm lũi kiếp người rong rêu

Ta người hát rong thơ êm vần điệu

Thơ rồi chết yểu ai nhớ ai quên
Chỉ tình ta hát bóng qua chân thềm
Thơ mang bị gậy xin người triền miên

Người ơi ta hát xin đừng nghe chi

Bao nhiêu ngột ngạt gánh sang điêu tàn
Hát cho nhật nguyệt về trời xua tan
Đạo đời bến cũ bạc trên non ngàn.

                 Hà Nội, 16-10-2009


GIỐNG NHƯ

Giống như ai đang đặt nụ hôn lên môi mình
Ấm đêm buốt lạnh

Nhắm mắt lại cho hơi thở hồn nhiên, vô tư, đầy ăm ắp, thấm thật sâu nồng nàn

Sự tưởng tượng cất mình như có cánh

Giống như mẹ đặt núm vú lên môi bé xíu

Trong đêm chào đời mặt trời tí hon bừng nở
Trái tim mẹ nhỏ những giọt sữa tinh khiết tràn trề

Mở mắt ra ngắm

Khuôn mặt mẹ dịu hiền đẹp như thiên thần đang âu yếm
Ngón tay tí xíu ôm bầu vú mẹ đừng để ai dành dật đem đi

Giống như

Giống như
Giống như…

Bừng mắt dậy thấy em kề bên nhưng lại hóa ngay ra cái bóng

Bay lên
Bay lên
Bay lên…

Giống như em đang đặt bàn tay lên trái tim ta

Hát lời ru mộng mị
Giống như ai khao khát một tình yêu.

                          Hà Nội, 28-7-2017


THU LÊN...

Thu lên xanh ngắt…
Mơ màng
Kìa ai đang hái trăng vàng trao nhau
Hình như ở phía mai sau
Thu xanh nõn lá lên màu non tơ

Thu lên xanh ngắt…

Trời thơ
Kìa ai đang thả mộng mơ về giời
Hình như chiếc lá rong chơi
Trái tim vừa cháy…hát lời ý a…

Thu lên xanh ngắt…

Lòng ta
Trải ra muôn dặm
Biết là về đâu ?
Ngước lên 
Trăng chín trên đầu
Ô hay quả ngọt nhìn đâu cũng đầy!

               Hà Nội - thu, 8-9-2010
                    Nguyễn Lâm Cẩn

READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN LÂM CẨN

TƯƠNG TƯ ĐÊM MẦU VÀNG - Thơ Trần Mai Ngân





TƯƠNG TƯ ĐÊM MẦU VÀNG

Tương tư em hạt bụi
Tàn phai đóa hoa môi
Vàng nhuộm sau lưng tôi
Vàng cả đêm đơn côi

Tương tư em hư vô
Bao năm giọt lệ khô
Cho đôi mi đợi chờ 
Để đôi bờ chênh vênh

Tương tư em gọi tên
Tháng Tám chạm mông mênh
Đêm sâu nghe tiếng thở
Ai chong đèn làm thơ

Tương tư em... tương tư 
Vàng cả Thu không ngủ
Ngoài phố xe chạy vòng
Đường nhuộm vàng thinh không!

                       Trần Mai Ngân

READ MORE - TƯƠNG TƯ ĐÊM MẦU VÀNG - Thơ Trần Mai Ngân

Friday, July 28, 2017

NHỮNG CHUYỆN NGÔ TIẾN VINH KIỂM CHỨNG - Đặng Xuân Xuyến





NHỮNG CHUYỆN NGÔ TIẾN VINH KIỂM CHỨNG
                                Chuyện về niềm tin tín ngưỡng

Cuối năm 2010, Ngô Tiến Vinh về đầu quân cho Công ty Văn Hóa Bảo Thắng, đến cuối năm 2013 thì nghỉ việc. Tiếng là Công ty nhưng thực chất lúc đó chỉ còn lại Nhà sách Bảo Thắng được co cụm, rút về 7/61 Nguyễn Văn Trỗi (Hà Nội) để chờ ngày giải tán nên toàn công ty chỉ có mấy người, vì thế mà tôi và cháu (Ngô Tiến Vinh) có thời gian gần nhau nhiều.
Là thanh niên mới lớn, cháu không tin vào những chuyện như số mệnh, nhân quả, ... nên mỗi khi tôi nhắc đến những kiêng kỵ trong dân gian, cháu đều cười: - “Chú cứ mê tín rồi nói quá lên, chứ cháu không tin.”. Thế rồi, trong những bữa cơm, khi rượu đã ngà ngà, hứng lên, tôi bói tay cho mọi người, cháu ngạc nhiên vì những lời tôi “phán”. Bạn bè của cháu như: Sáng (Tâm Trong Sáng), Trình (Tien Trinh), Điệp (Phêrô Hoài Nam), Thương... lần đầu gặp vậy mà tôi tả chính xác khu đất nhà đang ở có hình dạng thế nào, địa thế làm sao, thậm chí còn “đọc” được ngôi mộ hợp với người đó là ngôi mộ của ai? Nằm ở địa thế nào (cách sông, đường, quang cảnh khu vực ra sao)? Điều lạ là những “bí ẩn” đó chỉ hiện lên ở gò Kim Tinh (bàn tay) khi tôi đang chuyếnh choáng men rượu, có tâm trạng muốn xem tay cho người đó. Khi đã “phán” xong, tôi không thể nhớ bất cứ điều gì. Nếu muốn hỏi điều chưa rõ, phải đợi lần sau, khi tôi đã ngà ngà men rượu, muốn xem tay cho người đó vì chính tôi cũng không hiểu được tại sao chỉ khi đã “liêng phiêng” men rượu tôi mới có thể “nhìn” được đất cát, mồ mả hiện lên gò Kim Tinh trên bàn tay người đó thế nào. Những “kiến thức” đó không thể có trong bất cứ cuốn sách nào về thuật xem tướng. (Thuật ngữ dân gian gọi đó là “lộc Thánh”.) Và tâm trạng “hứng” xem cũng không dễ xuất hiện, chẳng hạn như Ngô Tiến Vinh, phụ việc tôi từ cuối năm 2010, ngồi uống rượu cùng tôi nhiều lần, chứng kiến tôi xem cho nhiều người nhưng đến tận cuối năm 2015, tôi mới xem tay cho cháu.
Từ chuyện tôi xem bói tay, cháu bắt đầu để ý những liên quan đến lĩnh vực tâm linh, như cơ duyên của tôi với số 7, những năm chẵn, thế đất nơi ở và những linh cảm của tôi... lặng lẽ kiểm chứng.
Chẳng hạn, tháng 10 năm 2011, chị Ngô Thị Nguyện, con gái bác ruột bên ngoại của tôi, thống nhất bán cho tôi mảnh đất ở quê. Đặt cọc 100 triệu, tôi hẹn đầu năm 2012 sẽ về đo đất và sang tiền. Sau đó, tôi nói với cháu Ngô Tiến Vinh, anh Trần Tiến và chị gái rằng tôi linh cảm không mua được mảnh đất đó. Mọi người nghe nhưng không tin. Đúng ngày 17 tháng Chạp, ngày giỗ ông ngoại tôi, anh Ngô Khắc Thử (em ruột chị Nguyện) cùng chồng chị Nguyện lên nhà tôi ở Nguyễn Văn Trỗi (Hà Nội) nói không bán khu đất đó nữa. Tiếp lần 2, vào tháng 8 năm 2012, khi tôi bắt đầu triển khai xây nhà ở mảnh đất vừa mua (nhà hiện tại ở quê), chị Nguyện lần nữa đặt vấn đề nhượng mảnh đất lần trước. Tôi đặt cọc chị 300 triệu, hẹn 2 tháng sau về đo đất và sang tiền. Cũng như lần trước, tôi nói với mọi người, dù hợp đồng đã ký chặt chẽ đấy nhưng mảnh đất đó cũng không thuộc quyền sở hữu của tôi. Đúng ngày đo đất, chị Nguyện lại thay đổi, mảnh đất đó lần nữa không thuộc quyền sở hữu của tôi. Sau mấy lần mua đất không thành, cháu Vinh bắt đầu tin vào những linh cảm của thế giới tâm linh.
Tiếp đến chuyện xây cổng nhà ở quê.
Cuối năm 2012, nhà ở quê đã hoàn thiện nhưng chưa xây được cổng mới vì đã cận tết, đành để sang năm 2013 làm. Nhiều lần điện về, tôi giục anh Lê Xuân Hanh (anh em con dì con già) triển khai nhưng lần nào anh cũng nói thợ đang bận, để tháng 5 (âm lịch) sẽ triển khai. Tôi nói với anh Hanh (và nhiều người) không thể xây cổng trong tháng 5 âm lịch năm 2013 được vì nếu xây tháng đó, chắc chắn tôi sẽ bị hạn nặng. Mọi người cười tôi là mê tín. Tôi kệ mọi người, vẫn quyết không xây cổng trong tháng 5 âm lịch, nếu tháng 6 âm lịch, anh Hanh không tìm được thợ thì tôi sẽ nhờ anh Thắng (con bác ruột) tìm thợ. Chẳng hiểu sao, đầu tháng 5 âm lịch, khi nghe thằng cháu (dân xây dựng) nói: -“Cổng nhà ông, như thiết kế của ông Hanh, giỏi lắm hết mười, mười hai triệu, bố thằng nào dám nhận với ông Hanh để báo giá với ông là 35 triệu như ông Hanh kê giá. Ông Hanh chưa thuê được thợ là vì lý do đó, ông ạ.”, tôi liền quay sang động viên cháu nhận xây cổng. Y rằng, sáng triển khai xây cổng, thì chiều, lưng đau kinh khủng, tôi không thể đi lại được, đành phó thác mọi việc cho anh Thắng để lên Hà Nội. Cũng may thời gian đó, cháu Ngô Tiến Vinh còn phụ việc nên 3 tháng tôi nằm liệt giường, mọi việc của nhà sách được cháu giải quyết rất ổn. 
Thời gian làm ở Công ty Văn Hóa Bảo Thắng, cháu nhiều lần được “mục sở thị” sự bái phục của nhiều người khi nghe nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm (Thanh Lâm Nguyễn) luận giải lá số tử vi, nhưng cháu vẫn chưa tin vào sự “tương đối chính xác” của tử vi. Đầu năm 2015, cháu điện cho tôi, vòng vo tam quốc chán mới đặt vấn đề: - “Chú xem năm nay cháu cưới vợ được không? Bố mẹ cháu rất ưng bạn gái cháu nên bắt phải cưới năm nay. Cháu biết chú chỉ nghiên cứu tử vi chứ không có số làm thầy nên chú kiêng xem nhưng chẳng lẽ mỗi việc đó mà cháu lại đến nhà thầy Lâm.”. Tôi hẹn xong việc, về nhà sẽ xem cho cháu. Tối đó, tôi gửi tin nhắn, khoảng trên dưới 20 dòng, vắn tắt vài điều về lá số của cháu. Trong đó, có câu: “Năm nay, Ất Mùi (2015), cháu không có sự kiện của hỷ tín (cưới hỏi). Có nghĩa năm nay cháu không cưới vợ.”. 
Đầu năm nay (2017), đưa bạn gái đến chơi, Ngô Tiến Vinh nhờ tôi coi lá số xem năm 2017 hoặc 2018 cháu xuất ngoại được không? Ngó lá số nhưng tôi không nhắn tin trả lời vì tôi tin cháu đã tìm được câu trả lời khi đọc lại những lời tôi luận giải năm 2015.
Thưa quý vị!
Kể những câu chuyện rất thực với những con người rất thực như vậy, không phải để tuyên truyền, rủ rê quý vị tin vào thuyết định mệnh mà chỉ nhắc lại chuyện đã trải qua để thêm lần nữa xác thực niềm tin tín ngưỡng trong tôi: CON NGƯỜI CÓ SỐ MỆNH, LUẬT ĐỜI CÓ VAY CÓ TRẢ! 

                                           Hà Nội, 27 tháng 07 năm 2017
                                                ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - NHỮNG CHUYỆN NGÔ TIẾN VINH KIỂM CHỨNG - Đặng Xuân Xuyến

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 23; 24



         Nhà thơ Chu Vương Miện



CHÙM THƠ CVM 23

chỗ núi cao
chỗ đất trũng
nơi đồng lúa 
chốn xe ngựa
chốn xe lửa
người đi bộ
người đi ô tô
trường giang
sóng sau xô sóng trước
trường đời 
sóng trước dìm sóng sau
làm sông 
thì lặng lẽ qua cầu

Nguyễn Du đã buồn
Nguyễn Bính càng buồn hơn
huống gì ? Nguyễn Bắc Sơn
buồn trước 
buồn sau?
chiến tranh Trịnh - Nguyễn
chiến tranh Gia Long - Tây Sơn
và bây giờ chiến tranh
còn khốc liệt hơn ?
miền Bắc khó khăn
theo miền Bắc
miền Nam đau buồn 
theo miền Nam
đông tây toàn tro than ?


CHÙM THƠ CVM 24

ta dzìa lại Cần Thơ tìm lại bậu
bậu cần tiền bậu ngó lơ ta ?
30 năm đáng giá một canh gà
thôn Thọ Xương ngày nào cũng gáy
bậu thề thốt với ta ta tin vậy vậy
ba mươi năm ta sống sót đẻ chờ
không đêm nào mà ta chả nằm mơ
để mơ lúc tái hồi Kim Trọng
nhớ bậu quá ta đổ bia vào cuống họng
say vật vờ để ngủ nhớ bậu chơi
ba mươi năm chỉ đáng một cơn cười
cổ nhân phán "bóng câu qua cái xẹt"
ta dzọoc qua đây vẫn còn nguyên kiếp
kiếp mần thơ nghèo rớt mồng tơi 
nhìn ta bà tứ xứ có cặp đôi
ta cà lơ phất phơ độc thân cái một
có lắm lúc nghĩ mình lên rừng theo Lương sơn bạc
làm tặc dzăng chúa núi rừng xanh
dòng sông nào mà chẳng uốn quanh
chẩy ưỡn ẹo vẫn xuôi về biển ?

con ngựa cái chạy trước
con ngựa đực chạy sau
qua một cánh đồng dâu
qua một cánh rừng
chỉ thấy hai cái đầu ?

CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 23; 24

ĂN KỴ - Ugno.Vn



        
                              Tác giả Ugno.Vn



    ĂN KỴ

Lệ thường, mỗi sáng thức dậy là hắn cố lục lọi trong trí óc hôm nay đến lượt nhà nào. Trí nhớ của hắn còn khá tốt. Họ gần, họ xa, láng giềng, làng nước, xóm trên, xóm dưới… hắn nhớ vanh vách. Thế mà cái bữa kỵ chết tiệt nhà mụ Đẹt xóm trên, cho uống thứ rượu chi thơm thơm, cay cay, uống vào dễ đưa cơm như bỡn, mà tối ấy về hắn say đáo để, say sật sừ, đầu nhức như búa bổ. Cái tính rượu vào lời ra, khua chân múa tay thâm căn cố đế của hắn  không phát huy tác dụng. Hắn lủi thủi bước hụt mấy lần mới lên được  bậc  đá ngoài ngõ. Cái bậc đá thấp thôi, chỉ đủ ngăn dòng nước mưa từ sân chảy xuống xói mòn, cuốn trôi đất cát của con dốc từ nhà ra xóm. Thường ngày hắn chẳng để ý, thế mà lần này, hắn bước mãi mới lên được. Vợ hắn cũng ngạc nhiên khi hắn lù lù xông vào cửa lớn rồi đổ ập sóng soài trên nền nhà đất. Sững sờ, trân trân trước cái xác thằng chồng già dịch, mụ  lặng đi không biết xử lý thế nào. Sau một chốc định tâm, miệng mụ bai bải:“ Bớ thằng Cu, con Gái,… bớ làng nước… cứu chồng tui!!!...”. La mãi chẳng thấy ai vào, mụ và hai đứa con xốc hắn lên chõng, đặt hắn nằm ngay ngắn, rồi nguýt, rồi lườm, rồi lấy dầu xứt gió, lấy vôi ky(1a) vào bàn chân. Đêm ấy hắn cựa quậy mãi. Mỗi lần cựa quậy là mỗi lần hắn nôn ọe. Lúc đầu còn ít, mụ bỏ liều cho hắn  xoay xở, đến khi hắn nôn thốc, nôn tháo, mụ đâm lo. Mụ lại ky vôi, mụ xoa dầu, mụ bắt gió, mụ quát nạt con Gái, thằng Cu là “đồ vô tích sự”. Mụ cứ ngồi mãi bên hắn. Khi hắn đã nôn hết thứ của quí trong bụng, ngủ yên yên vài giấc, mụ đi dọn “bãi chiến trường” của hắn tung ra, rồi lẳng lặng vào bếp nấu bát cháo hành ngồi chờ hắn thức dậy.
 Hắn nằm rịch mấy buổi, ăn hết mấy tô cháo hành. Miệng hắn đắng nghét không buồn nói. Mụ vợ hết đay nghiến đến mỉa mai: “Răng không tộng thêm chút nữa cho xong đi luôn”, “Rượu mụ Đẹt ngon răng không kêu con nớ xuống coi ông uống ngon ra răng?”, “Uých…Tra đời không trót thế!”. Hắn chỉ việc nằm quay mặt vào tấm phên tre. Khi không có mụ, hắn vói tay tướt vài cọng phên xỉa xỉa mấy cái răng cho có việc.

Sáng nay, thấy người đã phấn chấn, hắn vươn vai bước dậy khỏi chõng. Ăn vội chén cơm gạo đỏ bùi bùi, hắn vào bếp lấy cái gàu mo cau uống nước móc bên ống tre, rót đầy,  tu một hơi hết gàu nước chè xanh mới nấu, còn ấm trên bếp tro. Vợ hắn và hai đứa con đã ra đồng. “Kệ! Đó là việc của họ, can chi đến mình”. Hắn chưa khi mô thấy chén cơm gạo đỏ hẻo rằn và gàu nước chè xanh vợ hắn nấu ngon như sáng hôm nay. Hắn nghĩ đến vợ… “Mà thôi!...Kệ nó!...”. Hắn lại lục lọi vào trí nhớ: “Chết tiệt!...Nằm ba ngày!...Rứa là qua cái kỵ nhà thằng Đáp hôm qua rồi!”…. “Cái thằng xấc láo! Cha mi với tau là anh em cùng một ông cố ngoại, rứa mà kỵ cha mi, mi thấy tau nằm đống, mi không tới mời. Đồ coi trọng miệng ăn, không nghĩ tới bà con! Thứ nớ thì suốt đời cất trốốc(2) không nổi!”. Hắn tức nói thế nhưng nghĩ lại thằng Đáp cũng giàu đấy chứ. Chỉ tội là suốt ngày lam lũ với con trâu, đồng ruộng chẳng mấy khi thanh nhàn được như hắn. Hắn bĩu môi: “Đồ con ma chự(3) của!”. Hắn lại nhớ hôm nay nhà thằng Mẻ kỵ ông nội nó. Tính trong bổn tộc nội thân, ông nội thằng Mẻ và cha hắn tuy khác phái nhưng đồng hàng. Hắn thuộc phái nhì. Thằng Mẻ thuộc phái sáu. Rứa là thằng Mẻ phải gọi hắn bằng bác. Thằng đó cũng là quân không biết điều. Lần chạp họ năm ngoái, cả họ đã mắng cho nó một trận nên thân vì nó dám ngồi vào bàn trên. Cái thằng Mẻ tuy hơn hắn mấy tuổi, râu dài và đã có vài sợi bạc nhưng vẫn là vai cháu của hắn. Nó có tiền, có của thì huênh hoang ở đâu, chứ về họ thì răng ngồi trên hắn được. Mà thôi! Chuyện qua rồi, chấp làm chi cho nhọc xác. Sau một hồi ngẫm nghĩ, hắn vói tay rút cái quần trắng vắt trên sào tre rồi cầm vội cái quạt mo cau che đầu bước ra xóm, xăm xăm đi xuống bến sông. Dọc hai bên đường là mấy vuông nương  và cánh đồng quân điền(4) trải dài với nhiều đám cà, ớt, bắp, đậu, kê, mè…xanh mơn mởn. Buổi sáng, bến sông chưa bị lũ trẻ quậy phá, nước trong vắt thấy cả lớp cát vàng và đàn cá bống cát kiếm ăn dưới đáy nước. Bến vắng người, hắn cởi tồng ngồng xuống tắm. Nước mát lạnh làm hắn tỉnh ra. Búng mấy hớp nước sông súc miệng sòng sọc, hụp chìm cái đầu bù xù mấy ngày không tắm gội xuống làn nước trong xanh, hắn cào cấu da đầu, xoa xát mái tóc rồi khạc khạc nhổ nhổ, khuấy động cả một khúc sông. Hắn bấu mấy đầu ngón tay kỳ cọ  cáu ghét da thịt thấy khoan khoái hẳn ra. Ngâm mình trong nước hắn thấy người nhẹ tênh, mát lạnh cả lục phủ ngũ tạng đến chán chê. “Lâu rồi, Thôi! Lên thôi!”. Bình thường, trước khi lên, hắn bơi  một đoạn ra giữa dòng, lấy tay bóp sóng mũi, hụp ngữa  cái đầu cho tóc chảy xuôi như lược chải. Nhưng hôm nay hắn thấy sợ. Sao hắn sợ nhỉ? Hắn ngại ngần, vươn tay mấy lần định bơi ra rồi lại thôi. “Hụp đây cũng được, còn sạch chán, ra ngoài dòng mà chi, lở…rách việc!”. Hắn lên bờ mặc vội cái quần, trở về nhà ngồi chờ người nhà thằng Mẻ đến mời ăn kỵ chiều nay.
                                       *

Ngồi một mình trong căn nhà rỗng toác, hắn có dịp nhìn lại mình. Dù sao hắn cũng là con nhà gia thế.Vai vế trong họ thì là thuộc bậc trên. Trong xóm làng thì hắn cũng là con ông bát phẩm(5). Thân phụ hắn lúc sinh tiền là tiên chỉ(6) trong làng chứ chẳng phải vừa. Khi còn bé, hắn bị cha hắn gởi cho ông đồ nửa mùa ngồi dạy cho trẻ làng học chữ thánh hiền trong sách Tam Thiên Tự. Chữ nghĩa thì bây giờ hắn đã trả lại hết cho thầy, chỉ còn lại trong hắn là nỗi nhớ về những lần bị đét đít, gõ đầu, quì xơ mít đau điếng, lột da đầu gối. Khi có lớp dạy chữ quốc ngữ ở trường huyện, cha hắn lại nhét hắn vào lớp vỡ lòng. Hắn lớn tồng ngồng còn chung lớp với mấy đứa đồng ấu. Thế mà mấy năm sau, hắn cũng không qua được cái bằng yếu lược(7). Nhớ ngày trước khi thi, cha hắn cúng trời đất con gà trống và mấy chén chè, mấy dĩa xôi nếp đậu đỏ để cho hắn ăn lấy lộc. Cha hắn hẹn khi hắn đậu bằng yếu lược mang về sẽ có lễ tạ trời đất, tổ tiên với con heo ủn ỉn đang nuôi trong chuồng. Thế mà hắn hỏng. Cả trường hơn ba chục đứa chỉ có bốn thằng hỏng, ở lại lớp ba, trong đó hắn là một. “Cái việc đi học tưởng dễ, rứa mà cũng khó ra phết!” Hắn cay đắng nhớ lại rồi chặc lưỡi mấy lần. Mà cũng may, nhờ có mấy năm học chữ quốc ngữ, nay hắn mới viết được ngày kỵ của mấy nhà bà con trong cuốn vở học trò, hắn cẩn thận cất kỹ trên bàn thờ như là một thứ lịch gia phả.

Một lần nữa, cha hắn cho hắn theo một ông thầy cúng trong làng học lấy nghề cúng bái kiếm cơm sau này. Nghề này cũng lắm nhiêu khê. Một lần đi cúng phải hai ba thầy, kèm theo mấy ông thổi kèn, đánh trống. Cả nhóm thầy cúng gồm thầy chính, thầy phụ, phường bát âm cũng hơn bảy, tám người. Chán nhất là mỗi lần đi cúng, nhiệm vụ của hắn chỉ lẽo đẽo theo thầy với cái tay nải nặng trịch vắt vai gồm chuông mõ, trống, chiêng lỉnh kỉnh. Khi về còn thêm  oản xôi, nải chuối, cái đầu heo hoặc con gà luộc. Mà mang về hắn được ăn cho cam! Mụ vợ keo kiệt của lão thầy cất hết vào chạn gỗ, chẳng hé ra chút nào cho lũ học việc như hắn. Theo thầy mấy năm chẳng thăng được chức thầy phụ cúng, nghĩa là cũng chỉ mang tay nải đi về theo thầy, rửa dọn bàn thờ cho thầy. Câu kinh, bài sớ lắp bắp mãi chẳng thuộc. “Thôi về nhà làm ruộng còn hơn!”. Thế là hắn từ giã nghề thầy cúng, theo nghề làm ruộng từ đó.

Mấy năm sau, cha hắn chọn cho hắn một cô thôn nữ nết na con một ông cửu phẩm trong làng. Rứa cũng là môn đăng hộ đối! Con ông cửu lấy được con ông bát thì còn gì bằng. Vợ hắn về nhà chồng trong niềm kiêu hãnh của họ hàng đôi bên. Hắn cũng cảm thấy hả dạ. “Người chi mà đẹp rứa!... Lại còn giỏi giang  nữa!”. Quần quật trên ruộng cạn, ruộng sâu hết mùa này đến vụ khác mà nét trẻ trung, duyên dáng chẳng vơi chút nào. Đúng là “gái có hơi trai như khoai có hơi cuốc”. Hai đứa con  ra đời, lớn lên cũng đẹp và giỏi như mẹ nó. Thằng Cu tuổi mới  đủ giáp đã tập cày trâu. Con Gái tuổi mười lăm đã theo mẹ đi cấy. Bây giờ hai đứa đã lớn, việc đồng áng quần quật như trâu. Còn hắn thì mỗi ngày càng tệ hơn: Nay kỵ nhà bà con, mai chạp họ, mốt cúng nhà xóm trên, xóm dưới… say sưa túy lúy ba mươi ngày một tháng. Hắn tự nhận là người vai vế, được xóm làng nể trọng mới được mời mọc khao vọng, không như mụ vợ hắn chỉ biết cắm mặt cho đất, phơi lưng cho trời. Khi cao hứng, hắn lên nước mắng chửi vợ con không biết quí trọng hắn, chì chiết vợ hắn là hết biết đẻ vì “chỉ hai đứa con thì làm sao rạng rỡ tông đường được”. Chỉ cái cớ này, hắn làm tình làm tội mụ vợ khi ma men nhập hồn vào hắn.

Năm ngoái, hắn đủ bốn mươi tuổi mụ. Hắn thét vợ con làm cho hắn một cái kỵ cha thật to, dọn hơn mười mâm, để hắn luôn dịp này tuyên bố với làng nước, họ hàng là hắn đã lên lão. Từ đó hắn để râu, xênh xang áo dài, khăn đóng, guốc mứt mỗi khi thù tạc lễ nghi, cúng kỵ. Vai vế của hắn với đám trẻ trong làng cũng khác trước. Hắn tự xưng “ôn” với hết thảy lũ trẻ. Trong nhà, hắn thoát ly hẳn công việc đồng áng, buổi sáng còn bắt vợ con cung phụng một bình trà để hắn nhâm nhi. Hắn thường quát nạt vợ con: “Mụ mi được sang mà không biết mừng. Chi đi nữa cũng là ôn lớn,  mụ lớn trong họ, thê tử của gia thế bát phẩm tiên chỉ  chứ chơi!”.

Trưa nay hắn ngồi chờ mãi chưa thấy người nhà thằng Mẻ đến mời. Hắn ra bếp mở nắp om cơm, cạo ra chén mấy cục cơm nguội. Hắn ăn qua quít bữa trưa rồi lại vào nằm trên chõng tre nhìn ra ngõ. Nắng đã nghiêng bóng xuống hàng gạch trọọc(8) nước giọt trước hè nhà. “Rứa là quá ngọ lâu rồi!”. Gió nồm dưới sông thổi lên đã xô đẩy mấy đọt tre cao nhất trước xóm cong rạp, chờn vờn như múa may. Bầy chim bồ chao kêu inh tai nhức óc ngoài hàng tre phía sau nhà. “Rứa là chiều rồi!”… “Cái nhà thằng Mẻ ni chắc cũng quên mình rồi?”. Hắn lẩm bẩm mấy lần rồi đứng lên. “Đồ không biết điều! Đồ chẳng ra chi! Tau là bác của mi  mà mi dám quên hả?”…,“Rõ là cái thứ keo kiệt!”. Hắn nhìn ra ngõ rồi lại nhìn vào nhà. “Nó không mời mà tới tay không răng được!... Cái thằng thiệt tệ!... Nó mời mình một tiếng thì có hay hơn không.”  Hắn nhìn quanh, trong nhà không có gì. Hắn ra vườn. Cam quít thì chưa đến mùa, có buồng chuối già thì sao được, còn xanh phải giú mấy ngày mới chín. Thôi mấy quả khế chua này là  thứ cứu tinh! Hắn lấy cây sào dài, khệ nệ dựng cái thang tre vào gốc khế, khoèo chọc một hồi, khế rụng đầy gốc. Hắn chọn những trái chín mẩy, đều tắp làm một xâu dây lạt, hí hửng đi dự đám kỵ nhà thằng Mẻ.
Vào đến sân, cái miệng hắn đã toe toe :
- Cái thằng Mẻ ni mi định quên bác mi hả? Chi đi nữa, ngày kỵ chú, mi phải báo tau đến thắp hương cho ông mi chứ. Tau còn gọi ông mi bằng chú mà mi quên thật hay cố tình quên?
Hắn xăm xăm vào nhà, ông Mẻ vội vàng đỡ lấy xâu khế của hắn đưa xuống bếp. Hắn cự ngay:
- Tau đem xâu khế đến thắp hương cho chú tau thì mi phải để trên bàn cúng cho phải lễ. Răng mi đưa xuống bếp?
Hắn giành lại xâu khế, đặt trịnh trọng trên quả bồng có sẵn nải chuối cau chín vàng, đốt nhang khấn vái, trông thật chững chạc.

Lễ lạt mọi thứ đã xong, khách mời đông đủ, ông Mẻ rót đủ ba tuần rượu cúng, chuyển qua cúng nước đã hai lần chiết trà. Hắn thập thò chỉ chờ một lần chiết trà nữa là xong lễ cúng cơm chiều. Hắn chễm chệ trên chiếc phản gỗ gian giữa, đàm đạo gia sự với những bậc cao niên cùng vai vế, một phần là để xác nhận với mọi người về thứ bậc trong gia tộc, phần nữa là chọn giữ chỗ trong bữa ăn kỵ sắp dọn ra. Sáu người trong mâm thì hắn là người trẻ nhất nhưng lại ngồi ở chỗ thứ hai bên tả. Như thế, nếu theo thứ bậc thì  hắn là vai vế thứ ba trong mâm cỗ. Râu hắn chỉ mới một chòm dài chừng lóng tay, quặp ngược vào cổ, hắn đưa tay lên vuốt mãi nhưng vẫn không thẳng ra được. Tóc thì chưa có sợi bạc.
  Hắn nhìn một lượt mâm cỗ mới được đặt xuống phản. “Cũng vậy cả thôi!”. Hắn liếc qua mấy dĩa hàng mộc, mấy chén thịt kho, tô hầm, tô canh bún… Hấp dẫn hắn nhất là dĩa chả lụa, dĩa cuốn ram, mỗi dĩa chỉ dọn 6 miếng đủ cho số thực khách trong mâm. Hai đầu mâm cỗ là hai dĩa cơm, mấy dĩa bánh, chén xôi đường… Thứ chén dĩa nào cũng nho nhỏ, đặt sát nhau, màu sắc sắp xếp hài hòa trông vào đã thấy thích mắt. Hắn chặn nước bọt ứa ra trong miệng, chặc lưỡi nghĩ thầm: “Cái nhà thằng Mẻ ni, cha nó mới vào làm tay sai vặt trong đội Lý Thiện(9) mà mâm cơm cúng cũng na ná mâm cúng  trong họ nhà vua. Nhiều món, món nào cũng tí tí một ít, dọn chật chiếc chiếu, chiếm cả chỗ ngồi thực khách.” Sáu cái chén đất mắt trâu và chai rượu được ông Mẻ trịnh trọng mang ra, đặt xuống  chiếu, mời thực khách khai tiệc. Một màn ăn uống im ắng bắt đầu, bù lại cho không khí rôm rả trò chuyện trước đây.

                           *

Chiều nay thằng Cu, con Gái và  vợ hắn từ đồng về nhà. Trời tối đen. Mụ lọ mọ vơ quanh cái kệ bếp tìm cây đèn chai, kẹt bích kê(10) mấy lần mới có ngọn lửa châm đèn. Nghe tiếng người, con heo trong chuồng kêu eng éc, nhảy chồm lên cửa chuồng đòi ăn. Mụ vào nhà, không thấy hắn, quýnh lên: “Cha tụi bây mô rồi?”. Mụ ngó lên cây sào tre bên tấm phên liếp, không thấy cái dù  đen, khăn đóng và áo dài. “Rứa là đi ăn kỵ nhà mô rồi!”. Mụ sai thằng Cu lật cuốn vở của hắn để trên bàn thờ, xem hôm nay kỵ nhà ai? “My tới dắt cha mi về, để ông tộng rượu vô thì cũng như bữa trước”. Con Gái đang loay hoay vo gạo nấu cơm, cũng góp vào: “Kệ cha! Kéo ông về ông lại chửi cho!”. Thằng Cu chần chừ mãi không chịu đi, mụ lại thét: “Bây muốn giết cha bây hả?”. Ngay lúc ấy thì từ đầu xóm, tiếng hắn đã oang oang vọng vào. Mụ lại tru lên: “Ơi!... Đồ già dịch!”. Nhưng mụ lại hối thúc thằng Cu: “Mi còn chưa chịu ra đỡ cha mi vô hả!”.

Vào đến nhà, hắn khua chân múa tay:

- Cái quân không biết chi! Kỵ ông nội nó là chú của tau mà nó không tới mời một tiếng… Mà tưởng rứa là xong hà? Xong răng được! Thằng cha nó không có cha tau đem vô sai vặt trong đội Lý Thiện thì có cơm dư, cá thừa đem về nuôi mấy anh em nó  lớn như ri chắc?... Đồ quên ơn! Đồ không biết chi!... Rứa mà nó cũng còn là quân biết điều!... Nó mời tau ngồi phản giữa thì cũng còn biết tau là bác nó… Mà nó chẳng biết cái cóc khô chi cả!… Tau đưa xâu khế vô, nó lại sai con nó mang xuống bếp!... Xuống bếp răng được? Của tau đem tới cúng cho chú tau  mà!… Một xâu khế cũng là lễ!... Mà lại là khế chua! Ha…Ha…Ha!… Hắn có giàu, có của thì cũng là thằng Mẻ! Nó có hơn  tau mấy tuổi thì cũng là cháu tau. “Bò ngã gặp khi khế rụng” quí giá chi mô!..Ha…Ha…Ha….

Vợ hắn đã chán nghe những lời đại loại như vậy mỗi lần hắn đi ăn kỵ về, cũng chẳng bận tâm làm gì. Cứ để hắn nói, nói cho đến khi không còn nói được nữa thì thôi. Mụ nhặt cái dù có quấn cái áo dài đen và cái khăn đóng treo lên sào tre. Nhìn xuống chân hắn chỉ có  một chiếc guốc, mụ gào lên:
- Mô một chiếc guốc rồi? Cu! Mi ra  tìm guốc cha mi rớt chỗ mô? Đồ ăn hại! Đi guốc rớt ra chân cũng không biết.
Mụ xốc hắn ngồi xuống chiếc chõng tre, miệng không ngớt tru tréo:
- Tộng vô cho lắm! Tộng hết nhà hết ruộng cũng chưa bưa cái miệng. Tộng mãi của người ta rồi lấy chi mà trả nợ miệng. Khổ cái thân tui!...
- Nợ miệng!... Cả làng, cả họ phải trả nợ miệng cho tau… Tau thì trả cho ai?... Cái thằng Khá… cậu của thằng Mẻ, mà nó sắp ngồi trước tau… Ngồi đầu phía hữu!... Thằng Khá thợ cày… ăn cơm nhà cha tau mòn răng… rứa mà dám gọi tau là chú… Chú là chú em…Đồ xấc!...Quân láo!... Tau nhỏ tuổi hơn nó nhưng nó làm thuê cho nhà tau… Mụ có biết thằng Khá… nó xỏ tau ra răng không?... Nó dám kêu tau là chú râu quặp… Nó râu quặp thì có!... Râu tau chưa mọc hết,… vài năm nữa thì cả làng này thấy râu tau đẹp phải biết!... Thằng Mẻ đưa chai rượu cho nó,… nó giữ riết, không chuyển cho ai… “Ừa!…Thượng điền tích thủy, hạ điền khan”… Khi nó chuyền xuống dưới thì đã hết hơn nửa… Nó cũng là thằng tham ăn… Thằng Mẻ giết heo làm chả thiệt ngon!… Kể ra nó cũng biết điều!...Ờ!... Dĩa chả nó đặt ngay trước mặt tau… Tau mới ăn hết miếng thứ hai,… động đũa định gắp thêm thì thằng Khá châm đũa vào cùng mấy thằng kia gắp hết dĩa chả… Đồ quân tham ăn!…Quân không biết nhường nhịn!...

Giọng hắn mỗi lúc càng lè nhè. Vợ hắn xô hắn nằm xuống mấy lần, hắn lại mấy lần ngồi lên. Hắn nói, nói mãi. Thằng Cu sau khi tìm thấy chiếc guốc mứt của cha, đem vào kê làm đòn ngồi chẻ lạt, chuẩn bị sáng mai, nhổ mạ cấy ruộng. Con Gái thì loay hoay với nồi cám heo trên bếp. Bữa ăn vợ hắn đã dọn ra trên cái chõng kê ở nhà sau, chưa có ai ngồi vào. Trong nhà hắn cứ lè nhè hết chuyện nọ xọ chuyện kia, chê thằng này tệ, khen ông kia biết điều, chốc chốc hắn ngáp dài.

Khi không còn nghe tiếng hắn lải nhải, mấy mẹ con mụ ngồi vào chiếu cơm quây quá cho xong bữa tối. Trong chuồng, con heo sau khi ăn no đã hết kêu. Đang ăn, thằng Cu nghe tiếng huýt huýt ngoài xóm, đã bỏ đũa, đi theo bạn bè. Con Gái xong việc bếp núc, đã lên giường. Mụ sắp dọn hết đồ đạc chuẩn bị cho buổi nhổ mạ và cấy ruộng ngày mai vào chiếc ky (1b), bưng ra để ngoài sân. Mụ vào nhà, đá nhẹ hai chiếc guốc gỗ của hắn vào chân chõng tre, đẩy hắn nằm lại ngay ngắn trên chõng. Mụ trân trân nhìn hắn một lát rồi quay ra bậc cửa ngồi nhìn đêm đen. Có thể đây là phút nghỉ ngơi đầu tiên của mụ trong ngày. Không gian về đêm thật yên lặng. Tiếng ngáy của hắn đều đều, có khi đàm chận luồng hơi sùng sục, rè rè. Không biết mụ ngồi đến bao giờ. Thỉnh thoảng mụ có một tiếng thở ra nhè nhẹ.

                                                                 Ugno.Vn

Chú thích:

(1)Ky :- Bôi vào, trét vào (1a)
           - Đồ dùng đan bằng tre như rổ (1b)
(2)Trôốc: Cái đầu
(3)Chự:  Giữ
(4)Quân điền: Ruộng công của làng chia cho dân canh tác
(5)Ông Bát, Ông Cửu: Hệ thống quan lại, lính tráng  triều Nguyễn có
9 bậc. Tuần tự từ Cửu phẩm, Bát phẩm, Thất phẩm... Người Huế gọi tên người có chức luôn kèm theo chức vụ (Cửu Lạp, Bát Hồi, Thất Thau…)
(6)Tiên chỉ: Người về hưu có chức vụ cao nhất hoặc lớn tuổi nhất trong
Hội đồng kỳ mục của làng.
(7)Yếu lược: Cấp sơ học(Élémentaire, từ lớp 1-3)
(8)Trọọc: Đường nước mưa từ mái nhà giọt xuống trước hiên nhà
(9)Lý Thiện: Đội nấu cỗ bàn tế lễ, phục vụ ăn uống trong Hoàng cung
(10)Bích kê: Cái bật lửa (Briquet)


READ MORE - ĂN KỴ - Ugno.Vn

THI PHẨM HƯƠNG KỶ NIỆM CỦA THI HỮU HOÀI THY LỆ VỪA XUẤT BẢN


XIN GIỚI THIỆU THI PHẨM "HƯƠNG KỶ NIỆM" CỦA THI HỮU HOÀI THY LỆ  (Nguyễn Thanh Bá)

       

 
                                                 BÌA TRƯỚC


                                                  BÌA SAU

READ MORE - THI PHẨM HƯƠNG KỶ NIỆM CỦA THI HỮU HOÀI THY LỆ VỪA XUẤT BẢN

HỘI NGỘ NGUYỄN HOÀNG QUẢNG TRỊ LẦN THỨ V (15/07/2017)




READ MORE - HỘI NGỘ NGUYỄN HOÀNG QUẢNG TRỊ LẦN THỨ V (15/07/2017)

Thursday, July 27, 2017

SÔNG ĐỜI - Thơ Đình Thu

Tác giả Đình Thu
           
SÔNG ĐỜI          

Sông đời trôi về đâu?
Mà ngàn năm lãng mạn
Nước khi đầy khi cạn
Vẫn mang màu quê hương

Con sông của yêu thương
Chảy tràn trong tiềm thức
Chở ta vào ký ức
Lênh đênh một con thuyền

Sông đời trôi bình yên
Trong gam màu lặng lẽ
Ước mơ thời tuổi trẻ
Bôn ba một kiếp người

Tiếng khóc và nụ cười
Cũng chỉ là hư ảo
Suốt cuộc đời tần tảo
Chắt chiu cho ngày sau

Sông đời trôi qua mau
Không bao giờ dừng lại
Em lỡ thì con gái
Chơi vơi lạc giữa dòng

Quàng tay ôm vào lòng
Anh  nghe từng hơi thở
Nhận về mình bên lở
Để phần em bên bồi!

Sông đời vẫn cứ trôi
Dòng thời gian ngược xuôi
Thăng trầm và thay đổi
Vẫn cho nhau nụ cười

Chảy về đâu sông ơi!
Con sông của cuộc đời
Giọt phù sa lắng đọng
Thấm vào giọng ru hời

Sông đời trôi vạn nẻo
Đục trong những bến bờ
Muốn làm con sóng nhỏ
Cho em niềm ước mơ. 


  Đình Thu

READ MORE - SÔNG ĐỜI - Thơ Đình Thu

BÊN ĐÈO MÂY TRẮNG BAY - Bút ký của Chế Cẩm Đình



Ảnh trên trang này của chính tác giả.


BÊN ĐÈO MÂY TRẮNG BAY
Chế Cẩm Đình

Lâu thật lâu lắm, tôi mới xuôi đèo Lò Xo rời cao nguyên về lại đồng bằng. Hơn mười năm trước, cái thời còn đi bán xi măng cho các dự án thủy điện thì qua lại đây thật nhiều, trên cơ thể vẫn còn lưu hăm mấy nốt sẹo do côn trùng đốt làm kỷ niệm với vùng đất cổng trời này.
Rời Kon Tum bốn giờ chiều, trời gắt nắng chứ không làm mưa như phía Gia Lai hay Đắc Lắc, tuy rằng cùng là đất Tây Nguyên nhưng bên này ở mé sườn đông, nên hơi ngược mùa mưa nắng với phía tây dãy Trường Sơn. Qua ngã ba đi Kon Rẫy, nhớ lời hẹn sẽ cùng em Y Ngom về thăm palei Kon Dơ Xing xinh đẹp bên dòng Dakbla chảy xuống từ đỉnh Ngọc Linh huyền bí, nhưng lúc này thì chưa phải dịp.
Thị trấn Đắc Hà nằm im lìm bên đường chiều, thiếu hẳn sự nhộn nhịp như ngày trước tôi qua, e vì lúc này không còn đông người dưới xuôi lên làm công việc xây dựng giao thông, thủy điện. Tu Mơ Rông, Đắc Tô, Tân Cảnh lần lượt hiện ra trên những tấm bảng chỉ dẫn địa danh. Nơi đây từng là chiến địa ác liệt nhất trong các cuộc giao tranh giành quyền làm chủ cửa ngõ vào Tây Nguyên của quân lực hai bên Nam - Bắc Việt, bởi ai chiếm cứ mái nhà Đông Dương thì hiển nhiên sẽ cầm trịch được cuộc chiến. Đường băng sân bay dã chiến chạy dọc theo đường quốc lộ đến mấy cây số nay được bà con dùng phơi nông sản, như mùa này đương phơi sắn lát, bay mùi tinh bột thiu thiu.
Huyện lỵ Plei Cần của huyện Ngọc Hồi nhà cửa chợ búa đông đúc hơn hẳn mấy nơi kia. Đây là trung tâm phía bắc tỉnh Kon Tum, nơi có cửa khẩu Bờ Y cách đó mươi hai cây số chính là ngã ba Đông Dương giữa ba nước Việt – Lào – Cam. Người ta lên đây buôn bán làm ăn khá nhiều, tạo ra một vùng kình tế biên mậu khá trù phú. Ra khỏi thị trấn là bắt đầu đổ đèo, đường nhựa được thay bằng đường bê tông chống trượt, tiếng lốp xe cán đường gằn lên pật pật rần rần chứ không êm mịn. Lúc này gần sáu giờ chiều, trời buông chút nắng nhạt cuối ngày. Từng lọn mây trắng kéo về vần quanh mấy rặng núi xanh ngắt nhô lên giữa bình đồ. Dòng sông Pô Kô mùa này ít nước, chỉ rì rầm chảy theo ven đường mười bốn như tiếng hát tự tình của đôi trai gái vào tuổi yêu.
Đắc Glei hiện ra trong màn sương mỏng giữa lưng chừng ngọn đèo. Hàng quán đã bắt đầu sập cửa nên thưa hẳn người qua lại, lác đác vài ba chiếc gùi nhấp nhô trên lưng các chị gái đồng bào trung tuổi ruổi bộ nhanh nhanh qua mấy con dốc trong thị trấn, để kịp về nhà trước khi trời tối hẳn. Như tôi giờ này cũng rất vội, trong lòng có ý tìm cho được một bản làng bên đường có nhà Rôông hay nhà Gươl để ghé lại thăm chơi, sợ trời tối thì không tìm được nữa mà phải về xuôi ngay trong đêm nay.
Rồi điều mong ước cũng đến, từ xa thấp thoáng một mái nhà Gươl với hai cái sừng trâu nhọn hoắt trên hai đầu mái nằm bên triền đồi đoạn cây số 1.450 đường HCM. Dừng xe hỏi thăm mới biết đây là một bản người Giẻ Triêng, mừng lắm, xin phép được vào thăm và trò chuyện với dân làng. Hỏi thăm vì sao lại gắn sừng trâu trên mái nhà Gươl, à, nó biểu tượng cho sức mạnh của thanh niên trong làng đấy, phải khỏe mới vật được con trâu, mới lấy được cái sừng gắn lên đó! Hỏi làng ta còn đâm trâu nữa không ạ? Bây giờ cấm rồi, cấm rồi, chỉ khi nào được mùa to lắm thì mới lên huyện xin phép, có khi được cho đấy! Người Giẻ Triêng trông khá giống người Kinh, chứ không giống người Khơ Me dù họ cùng ngữ hệ. Trong làng cũng còn nhiều họ tộc như họ Kring, họ Xiêng, họ Hliêng và họ Bloong, nhưng tên thì đã Việt hóa, như anh Ngọ, người đã trò chuyện cùng tôi đây cũng đã đổi tên.
Lúc trước đọc sách của bác Nguyên Ngọc, thấy mô tả người Giẻ Triêng chỉ ở lưng chừng núi, vì trên đỉnh núi là lối đi của Kia (thần linh), dưới thung lũng là nơi ma quỷ trú ngụ cũng phải tránh ra, bây giờ đến thăm thấy đúng vậy. Hỏi về quan niệm lúc mình sinh ra có 7 linh hồn tốt, xấu, siêng năng, ăn cắp … được bà mụ thổi vào thì không còn ai biết. Chắc vì bây giờ đỡ đẻ là có y bác sĩ hộ sinh rồi, nên tục xưa quên mất.
Xuống thêm chừng mười cây số, gặp một bản khác ngay bên đường, lại dừng xe vào thăm hỏi. Không phải bản Giẻ Triêng đâu nhé, mà là bản người Hà Lăng, một nhánh hay một tên gọi khác của đồng bào Xơ Đăng. Đám trẻ con trong bản chạy lại vây quanh khi thấy có người lạ đến chơi, vui quá. Chụp hình, chụp hình nào, ai nấy đều hồ hởi, chỉ mấy cô sơn nữ thì còn chút e thẹn né ra ngoài khuôn hình. Mà kỳ lạ lắm, người Hà Lăng có vóc dáng rất cao ráo, da trắng và khuôn mặt tây tây. Trong các khảo cứu về nguồn gốc dân tộc Việt của cố văn sĩ Bình Nguyên Lộc từng đề cập đến những người như “Tây trắng” ở trên dãy Trường Sơn có khi là đây? Ông biết được thông tin về chủng người này qua các tài liệu của người Pháp, chứ ông chưa gặp được bao giờ.
Đồng bào Hà Lăng ít ở nhà sàn, mà làm nhà trình tường bằng đất như dưới đồng bằng hồi chưa có xi măng sắt thép. Họ cũng làm lúa nước, cũng biết rèn các công cụ nông nghiệp như người kẻ ruộng vậy. Cây lúa gọi là “mạu”, trong khi dưới xuôi gọi là “mạ”, rõ là có họ hàng ngôn ngữ với nhau. Xin thâu âm số đếm từ một đến mười, thấy trùng với tiếng Việt đến 8 con số, trừ số 2 và số 6 ra mà thôi. Hỏi thêm một số từ nguyên thủy như nước thì gọi là “dak” (âm Việt cổ là nác), đất là “nei”, hỏi có biết biển không? Biết đấy! Gọi là gì? À, ừ, à là “Dak xi”, cho dù tôi chưa tìm thấy mối liên hệ giữa âm “xi” với âm “biển” nhưng khả dĩ rằng tổ tiên họ đã đi lên từ dưới xuôi thì mới biết biển và có từ vựng để chỉ biển. Như mặt trời thì họ gọi là “mat ngay”, tức là “mắt/mặt ngày”. Người quê tôi, cảm thán vẫn gọi ngày là “ngay”, như trong câu “ban ngày ban mặt” thì nói là “ban ngay (nhấn dài) ban mặt”. Trong tiếng Việt có tính từ “ngay” để chỉ sự ngay thẳng, ngay ngắn, có lẽ bắt đầu từ âm “ngay ” này, với ý nghĩa rõ ràng (như ban ngày). Đó, tiếng Việt của chúng ta đó, nguồn gốc dân tộc ta đó, hiện rõ trong tiếng nói của người đồng bào trên dãy Trường Sơn, chứ tìm đâu cho xa!
Xe tiếp tục đổ xuống con đèo dài cả trăm cây số, nó dài đến nỗi mà đoạn trên bên đường một chiếc xe tải mất phanh đổ gục vào vách núi khiến tôi rùng mình, đoạn dưới hai xác xe khách giường tầng cháy trơ khung sắt nằm ven đường cách nhau vài cây số, vì phải phanh liên tục đến cháy lốp, bắt lửa lên cả xe. Màn đêm sập xuống khiến núi rừng mờ mịt, chỉ còn ánh đèn pha trước đầu xe thắp phực lên những đóm mắt phản quang như mấy đầu que diêm quẹt lửa cắm thẳng hàng dẫn tôi xuống tận chân đèo qua địa phận huyện Phước Sơn thuộc Quảng Nam. Núi rừng Tây Nguyên ơi, sao lại làm cho tôi yêu đến vậy, tôi còn lên nữa đấy, hãy cứ chờ tôi!

11/6/2017













READ MORE - BÊN ĐÈO MÂY TRẮNG BAY - Bút ký của Chế Cẩm Đình