Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, April 27, 2017

THƠ HOÀNG YÊN LYNH, MỘT GÓC NHÌN NHÂN VĂN - Nguyễn Hương





THƠ HOÀNG YÊN LYNH, MỘT GÓC NHÌN NHÂN VĂN
                                                                    Nguyễn Hương

    Khi đọc thơ của Hoàng Yên Linh tôi vẫn không quên hình ảnh một người chạy xe ôm, dáng vóc gầy gò đứng cô đơn bên góc phố Bảo Lộc và cũng ít ai biết đó là tác giả những bài thơ tình mượt mà viết về phố núi cao nguyên Bảo Lộc được tuyển chọn. Cũng đã hơn mười năm từ những ngày đầu gặp gỡ cho đến khi được đọc thi phẩm Chuyện Bên Đời  của Hoàng Yên Linh tôi vẫn nhận ra tính nhân ái trong thơ Hoàng Yên Linh. Nhìn con người, nhìn thiên nhiên, nhìn cuộc đời "Sông cứ theo nhau ra biển cả,biết bao giờ về với non cao...". Biển lớn chứa nước của các dòng sông,mọi con sông đều về với biển. Nghĩa cụ thể như vậy thì cuộc đời này là biển, có vô vàn điều để cho con người chúng ta khám phá và thử sức. "Non cao" chính là nơi cha mẹ sinh ra ta, cứ hãy sống hết mình vì nó,hãy yêu nó là ta đã chứng minh ta rồi. Lại nữa "Trăng vẫn tròn trăng từ vạn kỷ, nước có bao giờ lại cách sông ..." (Bài thơ Chờ). Sự vật vốn đã như thế, ta không nên và không thể đảo ngược được.
   Về Hà Tiên,mảnh đất cuối cùng phương Nam, Hoàng Yên Linh đã nao lòng nghĩ đến người xưa.

Bồng bềnh câu hát đưa duyên
Mắt em lẫn với Hà Tiên biển chiều ...
... Đông Hồ ơi tình chưa vơi
Trăng khuya còn đó tỏa soi biển rừng.

   Ta nhận ra tình quê hòa trong tình chung, thiên nhiên với con người như hòa quyện... Đó là yêu thương, nhân ái của tình người.
Lập nghiệp ở Đateh, điểm cuối cùng của cực nam cao nguyên, hương hoa cà phê là cái cụ thể mà ai cũng nhìn thấy. Nhưng với người thơ, hoa cà phê tuyệt đẹp, nó đẹp tự nó đã có nhưng thêm bàn tay con người nó lại cang xinh đẹp hơn.

Hoa cà phê trắng trong màu hoa bưởi
Tóc em xanh,xanh đẫm cả sương chiều ...
Chiều cao nguyên gió rừng pha sắc nắng
Em dịu dàng ẩn hiện thực hay mơ?

   Nắng cao nguyên lúc nào cũng vàng đẹp như mật ong rừng Tây nguyên. Trên đồi cà phê bạt ngàn hoa trắng, dáng sơn nữ đang chăm sóc cà phê cho ta hình ảnh ý nghĩa cuộc đời thật đẹp.
   Trong tập thơ Chuyện Bên Đời của Hoàng Yên Linh có hơn một nửa bài thơ viết về quê hương. Quê hương thể hiện trước mắt ta qua câu hò, điệu lý, ở bến sông, con thuyền. Ở cả cái nón lá, ở nhà tranh ven đồi, rừng cây. Phải có tình yêu sâu sắc tác giả mới để tâm viết về những điều trên.
    Sống ở Tây nguyên nhưng lòng vẫn hướng về quê mẹ, bởi hình ảnh quê mẹ in dấu thời thơ ấu là động lực để tác giả đi qua những khó khăn, thử thách trong quảng đời bôn ba, xuôi ngược.

Tôi sẽ về ngóng mây chiều An Lạc
Tiếng chuông chùa xa vọng những đêm trăng
Tôi sẽ về với bạn bè  tắm nắng...
Về với câu hò mẹ ru.

   Đọc những câu này,tôi tin rằng những ai lưu lạc đời xa xứ sẽ phải rơi nước mắt vì tác giả nói hộ cho mình nỗi khắc khoải về quê hương. Quê hương trong tim mỗi người, nói rõ ra rằng trong mỗi cuộc đời ai cũng có quê hương.

Đất cao nguyên tình cao nguyên vời vợi
Với bây giờ,mãi mãi là quê hương.

   Quê gốc ở Quảng Trị,lớn lên theo học ở Huế, cuộc bể dâu đã đưa bước chân anh đi qua miền Tây sông nước rồi đến cao nguyên,đến nơi nào anh cũng có những vần thơ về nơi ấy, cứ như nơi đó là quê mình,là nguồn cảm hứng cho sáng tạo, anh thăng hoa để rồi anh ghi lại,giới thịệu đến người đọc, bạn hữu.

Bồi hồi Dạ cổ hoài lang
Hiên nhà cũ, mái rêu phong úa màu...

    Đọc lên ta nghe như tiếng đàn bầu tha thiết trong đêm,âm vang bài ca "Dạ cổ hoài lang" để lại trong lòng ta những bồi hồi những nghĩ suy về một thời hằn sâu kỷ niệm. Thế mới hiểu sức sống của âm nhạc, lời ca, rồi đến sức sống của thơ. Nó hay ở chỗ, nói lên được nỗi niềm của người yêu thơ, người thưởng thức thơ. Có thể nó không hay với một số người, bởi số người này sống lặng lẽ, yên bình và không mấy nghĩ đến cái hay,cái chất của một bài thơ.
   Cho nên nhìn nhận một tác giả,một tập thơ,cũng là một quá trình thẩm thấu tập thơ đó.bài thơ đó, hoặc tác giả đó mà người đọc cần suy ngẫm. Với những bạn trẻ yêu thơ, những ai đang yêu xin hãy ngẫm nghĩ mấy câu thơ. 

Ở đây trời xa mây giăng núi
Trông chuyến xe qua lại nhớ người ...
Ừ nhỉ một thời yêu say đắm
Một thời áo trắng ngọt hương môi...

    Đó chính là hơi thở của tình yêu vẫn và mãi thao thức con tim dẫu thời gian,dâu bể cùa cuộc đời...
   Ai cũng có gia đình. Sống có tình nghĩa với người thân yêu của mình cũng là điều đương nhiên. Tình cảm đã được phản ảnh trong hàng vạn tác phẫm thơ ca, nhạc họa. Hoàng Yên Linh cũng có những bài thơ về tình cảm vợ chồng. Mỗi người viết về vợ chồng mình một cách khác nhau. Hoàng Yên Linh cũng vậy.

Em vẫn ở bên đời anh dẫu bao điều tủi cực
Đó là tình yêu... là hơi thở của anh
Là bông hoa nỡ giữa ngày băng giá
Là tiếng hát ru anh những năm tháng êm đềm ...
Biển dài rộng nhưng vô tình không biết
Chỉ vầng trăng vẫn mãi tỏa trăng vàng...
Nghĩa là có em vĩnh cửu trong đời.

   Những lời thơ giản dị nhưng chân thành tràn đầy cảm xúc.Băng giá má hoa vẫn nỡ thể hiện một tình yêu đằm thắm, thủy chung, khi anh lâm trọng bệnh, người vợ lo lắng cho anh từng giây phút. Tình yêu đó đã đẩy lùi bệnh tật. Và rồi, vợ là vĩnh cửu của chồng ""Em là vĩnh cửu của đời anh. Không ai sống vĩnh cửu, nhưng vợ "vĩnh cửu" là tác giả muốn nói rằng dẫu qua bao nhiểu nhương biến loạn người vợ là tình yêu, là niềm tin với gia đình.Vợ là một nửa của đời ta.Vì thế, vợ là "hơi thở là vĩnh cửu" thì không có gì sai.
    Nhìn chung, đọc trọn vẹn tập thơ Chuyện Bên Đời và nhiều bài thơ khác của Hoàng Yên Linh, bài nào cũng toát lên tình cảm của tác giả. Nhiều bài viết về quê hương, về những mảnh đời bất hạnh, viết về gia đình, về bằng hữu, mỗi đối tượng chỉ một hai bài thơ nhưng đã làm nên một nét chung là "Cái tình trong thơ Hoàng Yên Linh". Một cái tìn rất cụ thể. Không ước lệ, không đánh bóng, không màu mè, sáo ngữ.
    Đó là cái, theo tôi cái "được" trong thơ Hoàng Yên Linh. Kết thúc mấy ý này,tôi lại nhớ đến câu cách ngôn "Trái tim cứng như đá không thể vắt ra được một giọt máu chân tình".
                                                                           Nguyễn Hương

READ MORE - THƠ HOÀNG YÊN LYNH, MỘT GÓC NHÌN NHÂN VĂN - Nguyễn Hương

"CHUNG", THƠ PHỔ NHẠC - Đặng Xuân Xuyến, Đỗ Thanh Khang





CHUNG
(Tặng Quỳnh Hương)

Em có cần anh không?
Nếu cần hãy cùng anh chung sống
Gạo nấu chung nồi
Chăn trùm chung gối
Ta chia chung ánh mắt nụ cười

Đừng ngại em ời
Giường nhà anh đủ dài đủ rộng
Chăn nhà anh đủ ấm đủ nồng
Ta khêu ngọn lửa hồng
Ta nối câu quan họ
Ta bện mây với gió
Kết thành thuyền chơi trăng…

Em sẽ là buồm căng
Anh sẽ là gió lộng
Thuyền trăng mình thơ mộng
Dập dìu giữa biển xanh
Em, nào, về với anh.
*.
Hà Nội, trưa 25 tháng 04. 2016
ĐẶNG XUÂN XUYẾN



                       Nhạc sĩ  Đỗ Thanh Khang



READ MORE - "CHUNG", THƠ PHỔ NHẠC - Đặng Xuân Xuyến, Đỗ Thanh Khang

Wednesday, April 26, 2017

“CON VỀ NGÕ NHỎ”: BÀI THƠ MỚI QUEN - Phạm Đức Nhì




“CON VỀ NGÕ NHỎ”: BÀI THƠ MỚI QUEN

Khi bắt đầu viết bài này tôi chỉ mới biết Ngọc Mai, tác giả bài thơ, khoảng một tuần trên Facebook. Chỉ mới quen biết, chưa kết bạn. Chị thường ghé vào bình luận những bài viết của tôi. Lời bình ngôn ngữ lịch sự, biểu lộ một sự hiểu biết về thơ khá vững. Nhắn tin qua lại mấy ngày chị tiết lộ “Em cũng làm thơ nhưng thơ chỉ nói về gia đình, làng xóm, quê hương, không có gì mới lạ đâu.” Chị rất ngại ngùng nhưng tôi khuyến khích chị gởi tập thơ của chị cho tôi đọc. Sau hai ngày du ngoạn trong thế giới thơ của Ngọc Mai, tôi chọn Con Về Ngõ Nhỏ để viết lời bình.

Con Về Ngõ Nhỏ

Con về ngõ nhỏ thoảng hương
lối vào vẫn lát vàng ươm nắng chiều
đâu rồi bóng mẹ liêu xiêu
đâu rồi dải yếm rất nhiều gió hong

còn đâu chổi quét lá bòng
còn đâu bông bưởi trắng trong rụng đầy
chẳng còn hoa khế tím cây
chẳng còn vai mẹ hao gầy gió sương

mơ màng khói bếp còn vương                      
thoáng hơi nước vối tỏa hương ngọt ngào
gạo khuya ai giã đêm sao
thèm nghe tiếng mẹ ho bào canh thâu

Trăng non (*) khóc đẫm lá trầu
kìa như tay mẹ chải đầu cho trăng!
(Ngọc Mai)
(*) Tác giả ví mình như vầng trăng non, lúc còn bé thơ thường đứng bên giàn trầu của mẹ mà

khóc dỗi hờn để được mẹ dỗ dành và chải đầu cho.

Tứ Thơ:
Không có ẩn dụ nên ý với tứ là một – tác giả qua ngõ nhỏ về thăm nhà, chỉ thấy quang cảnh cũ gợi lại biết bao kỷ niệm êm đềm, còn mẹ già đã khuất bóng.

Thể Thơ:
Thơ lục bát ngắn, 14 câu nhưng tác giả gieo vần nghiêm túc quá nên hơi “cứng”. Có 13 cặp vần thì đến 12 cặp là chính vận (y boong), chỉ có một cặp thông vận (hương, ươm). Giá tác giả bớt đi vài cặp chính vận thì âm điệu nhẹ nhàng hơn. Cũng may, bài thơ liền mạch, tứ thơ chảy thành dòng từ câu đầu đến câu cuối, chưa có hội chứng nhàm chán vần thì bài thơ đã hết.

Ngôn Ngữ Hình Ảnh:

Ngôn ngữ bình dị, dễ cảm, dễ thương, những hình ảnh dân quê, gần gũi đầy dấu tích, kỷ niệm của mẹ như: dáng mẹ liêu xiêu, giải yếm, chổi quét lá bòng, bông bưởi, hoa khế, nước vối, tiếng giã gạo, tiếng ho … đã được nữ thi sĩ liệt kê một cách rất nghệ thuật. Nói chung, ngôn ngữ, hình ảnh rất đậm “mùi” Nguyễn Bính nhưng ở tầm thấp hơn.

Những Câu Thơ Hay:

     a/ Lối vào vẫn lát vàng ươm nắng chiều
Câu thơ tả cảnh lối vào trong nắng chiều thật đẹp.

     b/ Mơ màng khói bếp còn vương
         thoảng hơi nước vối tỏa hương ngọt ngào
Chỉ là hình ảnh ấm nước vối sôi trên bếp nhưng những con chữ kết hợp khéo léo đã vẽ lên một bức tranh rất thơ, có cả hương thơm ngọt ngào lan tỏa trong không gian.

Đoạn Kết Hay

Trăng non khóc đẫm lá trầu
kìa như tay mẹ chải đầu cho trăng

Đọc chú thích của “trăng non” mới hiểu được niềm mơ ước đơn sơ nhưng thấm đậm nỗi nhớ thương mẹ hiền của tác giả. Hai câu kết vừa đẹp, vừa nên thơ, tạo ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Cảm Xúc

Quang cảnh của “ngõ nhỏ” vắng lặng quá. Nhưng sức mạnh của những hình ảnh trong ký ức hiện về làm sống lại những kỷ niệm thân thương với mẹ hiền. Tác giả đã khéo léo đem niềm nhớ thương và nỗi buồn man mác ấy rải đều trên mỗi bóng hình của thời son trẻ, thơ dại. Phải nói bài thơ khá nhiều cảm xúc, nhưng hình như từ trong sâu thẳm của vô thức có một tiếng nói vô hình nào đó thì thầm, chỉ dẫn để dòng cảm xúc trong thơ chỉ ở mức vừa phải chứ không dậy sóng tràn bờ.

Theo tôi, Con Về Ngõ Nhỏ tròn trịa, không sai sót, có thể nói là bài thơ hay nhưng khi đọc lên vẫn không thấy cái gì đó thật đặc biệt. Nó như một viên đá quý, không tì vết nhưng lại không có nét riêng để hấp dẫn những tay chơi ngọc sành sõi. Nói rõ ra, Con Về Ngõ Nhỏ là bài thơ thiếu cá tính nên không gây ấn tượng mạnh mẽ cho người đọc.

“Hoa đẹp nằm khuất trên giàn
Em xinh đứng lẫn trong hàng, ai hay?” (PĐN)

Vâng! Bài thơ như một cô gái đẹp. Các chuyên viên thẩm mỹ nhìn cô - từ khuôn mặt đến vóc dáng -  không nhìn thấy điểm nào không vừa ý để chê bai. Nhưng cách ăn mặc, cách giao tiếp làm cho cô chìm khuất giữa đám đông. Giá cô biết thỉnh thoảng ăn mặc khác thường một tý (nhưng đừng lố lăng) và đứng ở một chỗ riêng biệt để vẻ đẹp của mình lộ diện, nổi bật trước mắt mọi người, thì chỉ cần thế thôi, cô sẽ có trong tầm ngắm của mình vô số những chàng trai hào hoa phong nhã, biết thưởng thức sắc đẹp và nét duyên dáng của phụ nữ, miệt mài săn đón.

Tôi chọn bình Con Về Ngõ Nhỏ vì quý một tài thơ chưa phát huy hết sức mạnh của mình. Ngọc Mai có kỹ thuật thơ nhuần nhuyễn, hồn thơ nhạy cảm nhưng còn e thẹn, ngại ngùng, chưa dám mở tung cánh cửa tâm hồn để những cảm xúc, những khát khao cháy bỏng của “cái tôi đích thực” đổ ập xuống trang thơ.

Kết Luận

Con Về Lối Nhỏ là bài thơ “mới quen”.  Tác giả của nó là người thơ ở mãi tận Bắc Giang chưa hề gặp. Ngay cả tấm hình trên Facebook để biếtmặt mũi ra sao cũng không có. Thôi thì cứ như Hoài Thanh, qua thơ,  “lấy hồn ta để hiểu hồn người”. Hiểu rồi thì viết mấy lời bình phẩm.  Nếu tác giả đọc bài viết này và dám “nghe lời xúi dại”, tôi tin rằng chị sẽ ung dung bước vào làng thơ với túi hành trang trên vai trong đó chứa nhiều bài thơ còn hay hơn nữa.

Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com
phamnhibinhtho.blogspot.com


READ MORE - “CON VỀ NGÕ NHỎ”: BÀI THƠ MỚI QUEN - Phạm Đức Nhì

HOA QUỲNH ĐỎ - Ảnh của Chu Vương Miện



 



 



 



 



 

READ MORE - HOA QUỲNH ĐỎ - Ảnh của Chu Vương Miện

ĐỂ ÔNG ĐÓN - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân



Ảnh tác giả


 ĐỂ ÔNG ĐÓN

Lê Hứa Huyền Trân

Kể từ khi ông Na dẫn thằng Du về nhà thì trong nhà không khi nào ngớt tiếng thở dài. Nhiều người cho rằng ông già rồi, dở người, không có việc gì làm nên sinh nông nổi, cố tạo cho mình bận rộn bằng việc nhận một đứa mồ côi làm cháu. Còn con cháu trong nhà thì không ngớt phản đối, đương không phải thêm một miệng ăn, có phải ông không có cháu đâu, cũng cháu con đề huề đó thôi. Rõ vẽ chuyện. Mặc cho ai có nói gì, ông vẫn như đinh đóng cột tuyên bố thằng Du là cháu ông, không chỉ thế ông còn tỏ ra cương quyết:
-Đây là quyết định của tao. Tao nuôi nó, tao không lấy bất cứ đồng tiền nào của tụi mày đâu mà tụi mày phải sợ.

Nghe ông cương quyết thế người trong nhà cũng bớt tiếng, chỉ thi thoảng cũng hục hặc, cũng kháo nhau với xóm làng: "Mình vẫn phải bỏ tiền vào chứ chẳng lẽ làm con mà không giúp ba mình, người ta nhìn vào, người ta cười thối mũi”. Nói đến quyết định của ông nó cũng đột ngột như chính tính tình ông vậy. Ngày trước ông lên phố tạo dựng sự nghiệp từ hai bàn tay trắng, tiền nong rủng rỉnh, con cháu cũng được nhờ. Đùng một cái ông bỏ phố về làng, bảo: "Tuổi già thì chỉ muốn về nguồn cội”, con cháu đứa muốn đứa không cũng lục tục kéo về theo. Miếng đất ông mua ban đầu cất đâỳ những nhà. Chẳng phải chúng nó thảo, mà vì chúng nó biết ông tuổi gần đất xa trời, đi theo phụng dưỡng những ngày cuối đời, biết đâu ông chia chác khi nhắm mắt xuôi tay.

Ông có ba người con, cũng sáu bảy đứa cháu, nhưng tụi nó cứ quen mặt phố, về làng mấy tháng rồi mà cứ chê này chê kia, hết phân trâu phân bò um đầy đường đến việc bóng tối nuốt trùm cả xóm nhỏ khi hãy còn sớm, chẳng ai ra đường. Thế rồi, ông lên trên trại mồ côi tỉnh, dẫn một đứa nhóc về và tuyên bố với cả nhà đó là cháu của ông. Thằng nhóc ấy được ông đặt tên là Du. Nó bằng tuổi đứa cháu nhỏ nhất của ông, năm nay mới lên mười.

Ngày nó mới về nhà, chẳng ai ưa. Một phần vì nó là một đứa không ruột thịt máu mủ gì, phần khác vì nó lầm lì ít nói, lúc nào cũng im lặng, chui rúc một xó trong phòng, chẳng mở lời nói chuyện với ai, chỉ cất tiếng duy nhất với ông. Du ít nói đến độ gương mặt nó lúc nào cũng lạnh tanh, nhưng tận sâu trong tim nó luôn có trái tim ấm áp, tôi biết rõ điều đó vì tôi là bạn thân của nó. Nhà tôi và nhà ông Na cách nhau chỉ mỗi bụi tre, rào qua rào lại bởi những nhánh tre khô, bà tôi hay bảo tôi qua chơi với đám nhỏ nhà ông Na vì tụi nó từ phố về làng chẳng có bạn. Tính tôi hiếu động, lại đầu têu đám nhóc trong xóm nên dễ kết bạn, thế nhưng đám nhóc nhà ông Na tôi chẳng ưa tẹo nào, tụi nó chảnh. Cho đến khi ông Na dắt thằng Du về, tôi lại cảm thấy có gì đó gần gũi. Tính nó im nhưng tốt. Lúc nó mới về, ông ra ngoài có việc, nó ngồi tiu nghỉu một góc thềm, tôi ngó qua thấy nó dóng hỏi:
-Sao mày ngồi đó? Đang ăn cơm ở trỏng mà.
-Mày mặc kệ tao.
-Ơ, thằng này hay, bố láo. Tao có lòng mà mày chảnh à?
-Mày có lòng nhưng tao không có mượn.
Rồi nó nhích qua bên kia thềm ngồi. Tôi nghĩ bụng: "À, hóa ra thì thằng này cũng chảnh như đám nhóc kia”.

Tôi thấy ông Na về, nó nhảy chân sáo từ thềm ra ôm chầm lấy ông, không hiểu sao trong giây phút đó, tôi thấy trong đôi mắt ông như ánh lên nụ cười và có cảm giác, ấn tượng ban đầu của tôi về nó không còn tệ lắm. Tối, tôi đi bắt đom đóm chơi, đi chụp ếch khuya cùng đám nhóc lọ mọ mới về nhà, thấy ông đang ngồi hút tẩu, ông ngoắc tôi vào sân nói chuyện :
-Con thấy thằng Du thế nào?
-Nó chảnh, y hệt mấy đứa kia. Nó còn lầm lì nữa. Ai ưa nó nổi ông? Con không hiểu sao ông lại nhận nó về làm gì.
-Không phải nó chảnh đâu. Vì nó sợ bắt đầu một mối quan hệ, nó sợ ai đó sẽ bỏ nó đi như ba má nó.
-Uả, không phải nó mồ côi hả ông?
-Nó bị ba mẹ bỏ lại tại trại mồ côi, từ đó nó sợ người, ông cũng phải mất một khoảng thời gian dài mới thân được nó. Nếu được, con có thể gắng làm bạn với nó không?
Tôi gật đầu. A, thì ra thằng nhóc này có vết thương lòng đến vậy. Mấy hôm sau, tôi hay rủ nó đi chơi, ban đầu nó vẫn “chảnh”, vẫn “khó gần” nhưng tôi vẫn chai lì, sau dần chẳng biết từ lúc nào hai đứa chẳng mấy khi rời xa nhau nửa bước. Rồi nó đi học, trường cách nhà khá xa, đa số lũ trẻ trong xóm đều có xe đạp đi hoặc người nhà chở, chỉ có nó vò võ đi bộ mất cả tiếng mới đến được trường. Chẳng phải vì tôi không muốn đi chung với nó mà vì tôi cũng là phận đi nhờ không giúp gì được. Bẵng đi ít hôm tôi nghe bên nhà ông Na tiếng cãi nhau í ới, ông Na đề nghị một người trong nhà chở nó đi học, tất cả đùn đẩy nhau, thậm chí to tiếng :
-Tụi con đứa cũng bận đi làm, đứa cũng chở con cái, hơi đâu lo cho thằng người dưng?
-Ai người dưng của tụi mày? Tụi mày sẵn chở con tụi mày đi đèo thêm nó.

Tiếng cãi nhau vẫn không dứt, chỉ có thằng Du lầm lũi kéo áo ông "con tự đi được mà ông”, ông vuốt tóc nó rồi nhìn đám con của mình bất lực “ con cứ lo học đi, việc đón con cứ để ông”. Từ đó mỗi ngày tôi đều thấy hinh dáng một người đàn ông gầy gò chở đứa cháu của mình trên con đê sớm, chưa khi nào trên môi hai người đó bớt những nụ cười. Khi nó vào cấp ba, trường vẫn xa nhà, ông mua cho nó chiếc xe đạp nhưng nó vẫn vòi ông chở, tôi hay mắng nó:
-Mày cứ vẽ chuyện, ông lớn rồi, mày bắt ông chở thế rồi sao ông có sức, tướng mày lại cao to tồng ngồng thế kia.
Nó chỉ cười không nói gì, mãi sau khi tôi đi học sớm tôi mới để ý, sáng nào nó đi học cũng thấy ông đứng bồn chồn không yên, nửa cứ muốn theo, miệng ngập ngừng : "Để ông đưa đón”, thì ra thói quen mỗi sáng chở nó đi ông không dứt được. Nó hiểu ý luôn để ông chở đi, nhưng cứ một lúc nó lại giành chở. “Như thế vẫn là ông đưa đón cháu mà”. Tôi phục cái tính biết nghĩ của thằng bạn tôi dữ lắm. Đùng một phát học hết cấp ba nó được học bổng đi du học tận trời Tây, ngày nó quyết định đi hay không nó suy nghĩ dữ lắm, ông không nói không rằng cũng thức trắng một đêm, hôm sau nhất quyết bảo:
-Con đi học đi, thành tài rồi về, con không đi, ông từ mặt con.
Nó bàng hoàng, cả buồn. Nhưng nó hiểu ông làm thế vì tốt cho nó. Vì ngày nó đi ông cũng buồn dữ lắm. Ngày nó lên xe vào phố để bay sang chốn xa xôi ấy chỉ có tôi và người ông lúc nào cũng cất tiếng quen thuộc “để ông chở đi” tiễn, người thân trong nhà chẳng ai ló dạng. Tôi buông miệng “ bạc bẽo đến thế là cùng” nhưng nó suỵt: "Các cô chú nghĩ du học lần này là ông bỏ tiền ra cho đi chứ không phải học bổng”, tôi vùng vằng: "Mày học giỏi là thế” nhưng nó chỉ cười.

Không hiểu sao kể từ khi nó đi nhà ông đổi vận. Bao nhiêu của cải của ông con cháu chia chác bán cho hết rồi cũng thiếu tiền. Khi ông không còn khả năng chu cấp ông bỗng thành “của nợ”, thậm chí cứ mấy tháng một lần ông lại được “sang tay” cho người con này người con kia nuôi mà chưa bao giờ thoát khỏi cái nhíu mày, cái ánh nhìn tỏ vẻ phiền muộn khi phải nuôi một người già mắt mờ tai điếc. Nó đi học xa, vẫn hay nhắn nhủ tôi qua chăm ông mỗi khi ông lại nhà, nhưng nhìn ông tôi không dám nói những gì ông đang gặp phải. Ông dặn tôi giấu để nó bớt lo. Thế mà nó cũng đi đằng đẵng suốt mấy năm trời, nó từng bảo với tôi chỉ khi nào thành công nó mới về. Rồi thi thoảng tụi tôi liên lạc, tôi cũng nghe nó đã kiếm được công việc tốt bên đó, chỉ đợi ngày về.

Và thế rồi đùng một phát nó thông báo nó sẽ về. Có vẻ trong đám cháu con nhà đó nó giống ông ở cái tính bất chợt đó. Tôi qua thông báo với ông, những người thân của nhà vội tụ tập lại, bu lấy tôi: "Nó về hả con? Khi nào nó về?”, “Nó có nói nó về khi nào không con? Có bảo về làm gì không con?”, “Chắc nó đi làm bên đó rồi đó, bên đó nhiều tiền lắm đó”. Tôi nhìn mấy người đó không tránh khỏi thất vọng, chỉ có ông đôi mắt ươn ướt im lặng không nói. Hôm nó về, nó vẫn thế, chỉ cao lên, sang hơn, chững chạc hơn chứ làn da ngăm và cái tính ít nói vẫn còn. Vừa nhìn thấy nó người thân họ hàng bu lại nắn tay nắn chân vốn như thân thiết lắm, cốt ý để mong có một suất bảo lãnh sang Tây hưởng phúc phận người giàu. Nhưng nó nhìn ông, tiến thẳng về phía ông, ông đã già rồi, gần như lẫn rồi nhưng thấy nó ông vẫn cười như nhận ra, nó ôm lấy ông: "Ông ơi, con về rồi, giờ đã đến lúc con đón ông đi rồi đấy. Ông đi với con nhé?” Tôi bật cười, thằng Du bật cười, ông cũng bật cười. Tới tận giờ, tôi vẫn rất phục thằng bạn thân của mình, nó chưa bao giờ quên những gì người ta đã làm với nó.

Tác giả  : Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định
Mọi thư từ phúc đáp xin chuyển về địa chỉ : Lê Hứa Huyền Trân, Hội VHNT Tỉnh Bình Định, 103 Phan Bội Châu, thành phố Quy Nhơn, Tỉnh Bình Định



READ MORE - ĐỂ ÔNG ĐÓN - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

ĐẤT QUÊ, ĐÂU CŨNG TÌNH - thơ Trúc Thanh Tâm



ĐẤT QUÊ, ĐÂU CŨNG TÌNH


Em dòng sông êm ả

Chở nắng vàng bình minh

Thời gian chờ ở bến

Đất quê, đâu cũng tình!


Tóc em dài sóng lượn
Nghiêng đời với nghìn xưa
Ướp tình anh hương gió
Em nói gì trong mưa!

Sông Bình Di uốn khúc
Sương sớm lá đời xanh
Nhịp tim hòa nhịp thở
Mắt em cười mắt anh!

Vẫy tay chào biên giới
Phố Châu Đốc lên đèn
Hoa nhà ai hương thoảng
Tương tư anh và em!

Bờ mi em khép lại
Là lúc anh mở lòng
Là lúc ta đắm đuối
Không gian nầy mênh mông!

TRÚC THANH TÂM
( Châu Đốc )
READ MORE - ĐẤT QUÊ, ĐÂU CŨNG TÌNH - thơ Trúc Thanh Tâm

Mùa Hè Tới (Phạm Anh Dũng) Thái Hiền (4K)

READ MORE - Mùa Hè Tới (Phạm Anh Dũng) Thái Hiền (4K)

Monday, April 24, 2017

NHƯ MỚI HÔM QUA - Truyện ngắn của Thủy Điền


  


NHƯ MỚI HÔM QUA
 
 
   Lâu lắm, 42; 43 năm rồi. Thời gian đâu phải là ngắn, trên dưới nửa đời người. Vì cuộc sống bôn ba nơi hải ngoại, dường như đã làm cho tôi quên mất những cảnh cũ, xưa mà tuổi xuân tôi từng trải. Nhưng trong tiềm thức thì còn. Bởi nó là kỹ niệm. Hôm nay Chúa nhật, đường phố vắng lặng, lộ ít xe chạy, mọi người gần bên hình như còn ngủ nướng. Bỗng tiếng chuông nhà ngân lên- mở cửa, thì ra bạn tôi Nhà văn, Nhà thơ Lê Thanh mang đến tặng tôi hai bức ảnh về Mỹ Tho xưa (Quê hương của chúng tôi) Đó là ảnh một bến xe Lam nơi mà thời học sinh tôi và Thanh mỗi ngày lên và xuống để về một quận lỵ cách Mỹ tho 12 cây số và ảnh cây cầu Quây được bắt ngang qua sông Bảo Định là cầu nối giữa thành phố Mỹ tho và xã Tân Mỹ Chánh nơi chúng tôi theo học. Nơi ấy chính là trường trung học Nông Lâm Súc Định Tường.
Tôi vui mừng chào Thanh và hỏi ?
-Hôm nay mầy ngủ không được sao mà tìm đến tao sớm thế ?
Thanh cười.
-Ngủ ngon, nhưng tao vừa tìm được hai bức ảnh hay quá, chẳng lẽ xem một mình nên vội mang tặng mầy để cùng xem cho vui.
-Thế thì tuyệt, vào đi Thanh. Tao làm hai cốc Cà- phê tao với mầy uống nhá.
-Ừ.
 
     Hai thằng vừa uống vừa ngắm ngía hai bức ảnh rất vui thú, như hai thằng nhóc con không khác. Thanh thì nhận diện một đường, còn tôi thì nhận diện một ngã thật buồn cười. Nhưng cuối cùng cũng đi đến kết luận chung và chính xác nơi chúng tôi thường qua lại.
 
     Suốt ba năm dài, khi hai tôi chuyển từ trường Nông Lâm Súc Tân Hiệp về NLS Định tường để học, ngày nào hai thằng cũng cho hai chiếc xe đạp lên mui và đi xe lam đến Mỹ Tho, rồi từ đó chạy tiếp hơn bốn cây số nữa để đến trường và chiều về ngược lại cũng y như thế.
 
     Hồi ấy còn trẻ cũng khá vui, bạn bè thường gọi tôi và Thanh là hai nhà thơ “Bồ Đề “. Nhiều lúc cũng giận, nhưng nhiều lúc tôi nói với Thanh họ nói cũng đúng. Từ hai đối lập ấy hòa lẫn với nhau nên chúng tôi lờ đi, ai gọi gì thì gọi, tùy họ. Tại sao họ lại gọi chúng tôi như thế ? Bởi, dân học Nông Lâm Súc là dân mặc áo màu nâu hơn nữa đoạn đường từ thành phố Mỹ tho về trường hồi ấy hai bên đường có rất nhiều quán Hủ tiếu chay của người đạo Dừa từ cồn Phụng  ở Bến Tre sang, bán rất rẻ và ngon khoảng 150 đồng (Thời ấy) Một tô còn mấy quán Hủ tiếu thịt thì mắc hơn, nên tôi và Thanh thường hay ăn Hủ tiếu chay vào những buổi trưa để cầm hơi và vào học tiếp cho mãi đến chiều. Ngoài ra những lúc thực tập nông trại ngoài hiện trường tôi và Thanh hay làm những bài thơ tình trêu ghẹo những cô bạn gái cho vui. Trong nhí nhỏm nầy chúng tôi chưa bao giờ nhận được lời phiền trách mà ngược lại họ rất thích vô cùng nên họ ban tặng cho chúng tôi cái tên khá hay đó là nhà thơ “Bồ Đề” Danh hiệu nầy suýt chút nữa nếu không đi vượt biên ở nhà chắc hai tôi ế vợ luôn.



     Qua Tây rồi cũng thế, thằng Thanh có bản tính đùa dai, hay gợi lại chuyện cũ ngần mấy năm trời và vô tình để lọt vào tai một ít người. Tôi thấy ngại nên bảo: Thanh mầy làm ơn chuyển hướng và tắt cái đài mầy giùm tao không khéo nơi mơi nó lan tràn hết nước Đức có môn hai thằng xin vô chùa ở luôn. Nó hỡ là cười. Thì đâu có sao đâu, vào đó bọn mình còn sướng hơn, khỏi lao động và còn gặp rất nhiều Tài tử- Giai nhân nữa là khác. Và, ta tha hồ làm thơ ca tụng.
 
 
     Nói chung chuyện xưa, tích cũ nếu kể thì kể sao cho hết. Nhưng ấn tượng nhất là khi nhìn lại hai bức ảnh mà Thanh mang tặng, tự dưng cảm giác tôi  nghĩ về nó như vừa mới hôm qua.
 
                                                                                        Thủy Điền
                                                                                       23-04-2017

READ MORE - NHƯ MỚI HÔM QUA - Truyện ngắn của Thủy Điền

CHẤP CHỚI - Thơ Đặng Xuân Xuyến





CHẤP CHỚI

Có người líu ríu theo chồng
Buông lơi lời hát
Bỏ ngày xuân ngăn ngắt
Thúc nhịp trống dồn...

Se sắt buồn
Ơi người “xe chỉ luồn kim”
Ơi người nhớn nhác đi tìm
Đầu ghềnh cuối bãi
Lời xưa có còn mê mải...

Tìm ai...
Kìa ai...
Lừng chừng câu hát
Gió gằn ràn rạt
Trời mưa...
Chấp chới cánh diều.

Làng Đá, 21 tháng 04.2017
ĐẶNG XUÂN XUYẾN

READ MORE - CHẤP CHỚI - Thơ Đặng Xuân Xuyến

MẶT TRỜI XANH - Truyện ngắn của Lê Mai

 
            Nguyễn Ngọc Kiên và Lê Mai (từ trái sang)


MẶT TRỜI XANH

Có tiếng gõ cửa rụt rè. Ông Nhân nhẹ nhàng đỡ vợ nằm xuống giường rồi vội vàng ra mở cửa. “Ai thế nhỉ?” Ông tự hỏi mình. Gần 20 năm nay, từ ngày ngưng nghỉ “chèo đò”, ông đã quá quen với cảnh bến mình đìu hiu, quạnh vắng.
Trước mặt ông là một người khách lạ, người gày gày, da mai mái nhưng thần thái vẫn rực lên những nét quyền uy, lịch lãm.
- Thầy có phải là thày Nhân không ạ? Người khách lạ rụt rè hỏi.
- Vâng. Tôi là Nhân. Ông gặp tôi có việc gì ạ?
- Thầy không nhận ra em sao? 
Ông Nhân chăm chắm nhìn người khách rồi khẽ lắc đầu. Nhưng vẫn có những nét gì ngờ ngợ trong ông. Từ ngày về hưu tới giờ, thi thoảng ông vẫn có trò cũ tới thăm, nhưng đa phần những trò đó thủa nhỏ đều là những học sinh cá biệt, không ai có thần thái oai phong chững chạc như người khách này. Song nét mặt này.... Ông cố lục trong ký ức....Rồi ông bật lên câu:
- Ông... Ông có phải là giáo sư tiến sĩ THIỆN TÀI.....trưởng....trưởng ban.... Ông...vẫn lên vô tuyến nói...nói hay lắm....nói hay lắm......
- Thiện Tài là danh xưng thôi. Em là thằng Thất còm, con ông Chánh Đức ở Đậu Xá - Mỹ Xuyên, học trò cũ của thầy ở trường Quyết Thắng đây mà, thầy còn nhớ không?
- Ối giời....Nhớ! Nhớ chứ! Đúng là vật đổi sao dời....Vào nhà đi! Vào nhà đi! Làm quan to đến thế này mà còn nhớ tới thày là quý lắm, hiếm lắm đó! 
Ông Thiện Tài hớn hở bước vào nhà. Ông đưa mắt nhìn quanh cái không gian mờ mờ ẩm thấp. Đúng như ông dự đoán: nhà thầy nghèo, nghèo quá! Đồ vật duy nhất trong căn nhà này còn có thể bán được cho đồng nát là chiếc Tivi LG 14 inch đã cũ, cũ lắm. Còn các vật dụng khác thì....cho cũng khó có người nhận. Thương thày, mắt ông Thiện Tài bỗng nhoè đi. Ông thầm nghĩ: Biết làm sao được... Người lao động lương thiện....Lương ba cọc ba đồng lại còn tính thương người....
Ông Thiện Tài lễ phép đón chén nước ông Nhân đưa bằng hai tay rồi khẽ đưa lên miệng nhấp nhấp vẻ hài lòng. Ông Thiện Tài kín đáo nhìn cái chén và cả thứ nước trong chén. Ông mủm mỉm cười, nghĩ: Có lẽ đến vài chục năm nay chưa ai có đủ dũng cảm mời ông uống nước như thế này. Đợi cho ông học trò đặt chén nước xuống bàn, ông Nhân mới thủng thẳng nói:
- Đời tôi, đến hôm nay đã ba lần đổi tỉnh, sáu lần đổi nhà mà anh vẫn biết tôi ở đây thì cũng tài. À mà, Thiện Tài cơ mà. Thiện tới đâu, Tài tới đâu mà làm quan to thế?
- Danh xưng hão thôi mà thày. Thày còn lạ gì thói đời, thiếu cái gì thì khát cái đó. Thiện tài gì đâu mà thày hỏi cho em xấu hổ. Nói thầy thông cảm, suốt cuộc đời này chưa có lúc nào em dám quên ơn thày. Ngày đó không có mươi lon gạo thầy cho, không có lời dặn của thầy: Khó mấy cũng không được bỏ học thì em đâu có được như bây giờ. Vì bận mưu sinh chưa đến thăm thầy cô được, em rất hối hận. Nhưng mỗi bước biến đổi của thày em đều biết rõ. Bệnh của cô có khá lên được chút nào không thầy? Thày cho em vào thăm cô ít phút.
- Bà ấy vừa chợp mắt. Chúng mình đừng làm phiền bà ấy. Mươi năm gần đây bà ấy cứ quên quên, nhớ nhớ; người ngợm chân tay cứ run run, rẩy rẩy. May mà tôi về hưu có thời giờ săn sóc không thì....Nghĩ cũng thấy xót xa, anh ạ. Giá mà mình có tiền thuốc thang, bồi bổ tốt hơn thì...Nhưng đào đâu ra anh. Lương hưu trong cái thời gạo châu củi quế này, khoẻ mạnh còn khốn khó thì nói gì đến ốm đau.
Ông ngừng nói, hai mắt nhắm nghiền như đang lạc vào cõi mộng. Rồi ông bỗng như bừng tỉnh, nở một nụ cười mụ dạy, ngượng nghịu nói tiếp:
- Xin lỗi anh, kể lể miên man. Bệnh của tuổi già mà. Thôi, nói chuyện khác đi
- Vâng! Thưa thày, gần năm chục năm nay em cứ canh cánh trong lòng câu hỏi: Ngày ấy, thày dám sai thằng Dũng mang gạo và lời nhắn tới cho nhà em, thày có sợ không? Trí - Phú - Địa – Hào đào tận gốc, trốc tận rễ cơ mà. Đã trí thức lại còn tiếp tay cho phong kiến đế quốc thì cầm chắc tru di tam tộc rồi.
- Sợ chứ anh. Ngày ấy, người ta còn dám vận động con dâu tố bố chồng hiếp dâm man rợ khác gì tội đốt sách chôn học trò của Tần Thuỷ Hoàng, thì việc gì họ không dám làm. Thân bại danh liệt là cái chắc. 
- Cuộc cách mạng diễn ra trên một nền văn hoá phong kiến, lại còn bị thực dân đế quốc ngu dân thì tránh sao khỏi những biến tướng trở thành quái thai của lịch sử. Trong bối cảnh ấy, dám hy sinh thân mình để cứu những người không máu mủ ruột rà, không dây mơ rễ má thì thật lá khí phách, thạt là dũng cảm. Ơn ấy, nghĩa ấy em làm sao trả nổi.
- Đừng phức tạp hoá sự việc lên như vậy. Hành động của tôi đối với gia đình anh lúc đó có gì là anh hùng, nghĩa hiệp, đâu dám sánh với khí phách anh hùng, hào kiệt của kẻ: Giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha. Nó chỉ đơn giản là: Người lương thiện thấy người lương thiện sa cơ lỡ vận thì gồng mình, tái mặt mà giúp, được đến đâu hay đến đó, thế thôi. Tình người mà anh. Theo tôi biết, bố mẹ anh là người có học, học cao là đằng khác, lại là người nhân đức chỉ trị bệnh cứu người. Tổng mình lúc bấy giờ  nếu lôi lão đội Nhương ra tố thì sẽ ít oan hơn, ít ức hơn. Tôi nói vậy vì thực chất lão đội Nhương cũng chỉ là kẻ phu phen tạp dịch ở bên Tây. Về nước có chút của cải hơn những người nông dân kiệt quệ ở làng, lại do ít học nên nhiều lúc lão ra vẻ ta đây ngông nghênh, lấc cấc nên có nhiều người khinh, người ghét. Nhưng chẳng hiểu sao, đúng lúc đó lão ấy lại bỏ làng ra đi. Thế chẳng nhẽ lại là tôi à? Thế là bố mẹ anh phải vào thế chỗ. Việc nó chỉ thế thôi. Mà tôi hỏi khí không phải: Hôm nay anh sang tôi chơi hay còn có việc gì?
- Có. Em còn muốn nhờ thầy giúp cho một việc. Chẳng biết thày có sẵn lòng giúp cho không?
- Có việc gì anh cứ nói. Tôi không có thói quen rào trước đón sau. Giúp được đến đâu tôi sẽ cố đến đấy.
- Việc của Dũng thày ạ.
- Dũng nó có việc gì?
- Thưa thày, dạo này Dũng nó ốm lắm. Chung quy chi tại cái nghèo thôi thầy ạ. Bệnh nó, nếu có tiền thuốc men chu đáo thì đâu đến nỗi. Nhưng nhà nó nghèo lắm, nghèo đến mức chi có ruồi muỗi đến chơi thôi. Em có tiền muốn giúp nó, nhưng biết nó sẽ không nhận. Chết nó cũng không nhận, khái tính lắm. Thày ạ! Em muốn nhờ thày lấy số tiền em đã chuẩn bị để thuốc thang tẩm bổ cho nó. Chỉ có cách duy nhất này mới cứu được nó thôi. Em biết, vợ chồng nó không dám từ chối sự giúp đỡ của thày đâu. Thày giúp em cứu nó nhé.
- Của người phúc ta. Tiền của anh, ơn tôi được. Tôi không bao giờ làm thế đâu.
- Thày ạ, cứu bệnh như cứu hoả. Nó khỏi bệnh rồi, thày trò mình cùng nói cho nó rõ, có gì thày phải lăn tăn.
- Ừ.... ừ...Thế cũng được.
- Em cảm ơn thày! Vừa nói ông Thiện Tài vừa thò tay vào cặp, rút ra một bọc nilon to cỡ chừng vài viên gạch, hai tay lễ phép đưa ông Nhân.
Không giơ tay đón gói quà, ông Nhân dè chừng hỏi:
- Gói gì đấy anh?
- Thưa thày, gói tiền.
Ông Nhân trợn tròn mắt nói:
- Tiền! Tiền mà nhiều thế này sao? Anh mang về đi. Sau này cần dùng tới đâu ta mang theo đến đó cho gọn anh ạ.
- Nhưng... Nhưng mai em phải đi công tác xa rồi. Dăm bữa nửa tháng nữa em mới về.
- Đưa tiền cho vợ con giữ, khi nào đi công tác về, đến đây ta cùng đi.
Mặt ông Thiện Tài bỗng nhiên buồn rười rượi. Ông nói nhỏ và chân thành:
- Thày ạ. Vợ con em đã bỏ em lâu rồi. Hiện nay họ đang làm ăn ở Mỹ. Giàu lắm. Giàu tới mức không còn tình người. Khi thong thả em sẽ thưa hết chuyện để thày rõ. Em sống độc thân đã lâu rồi.
Ông Nhân khẽ thở dài, nói:
- Thôi, đưa tôi giữ cho. Công việc xong nhớ đến đây ngay ta cùng đi anh nhé. Nhớ đến ngay đấy. Để tiền nhiều trong nhà tôi sợ lắm. Anh thông cảm cho tôi.
Đợi thầy nói hết câu, ông Thiện Tài đột ngột đứng dậy, khẽ ghì thày vào lòng, mắt ông nhoè lệ. Rồi cũng đột ngột ông chào thày ra về. Có một cái gì đó tồi tội, thê lương.....
***
Hơn 2 tháng nay, ông Nhân không dám đi đâu lâu, tưới rau cũng vội vàng, đi chợ cũng quáng quàng vội vã. Ông lo. Thời gian đầu ông lo đống tiền lù lù trong tủ, nhỡ mất cắp thì mang tiếng cả đời. Đào đâu ra tiền mà trả. Rồi còn căn bệnh của Dũng. Dũng nó mắc bệnh gì? Cứu bệnh hơn cứu hoả. Nhanh một ngày. Chậm một ngày....Rồi thời gian sau ông lo sang Thiện Tài. Công tác gì mà lâu thế? Có trục trặc gì không? Cỡ quan ấy  nếu gặp mệnh hệ gì thì thiên hạ đã ầm lên rồi. Ông ngồi nhà đợi trò mà long như thiêu như đốt. Ngu quá! Dốt quá! Sao hôm ấy ông không ghi lại số điện thoại của Thiện Tài, không hỏi địa chỉ cơ quan, không hỏi địa chỉ nhà ở.....Giờ đây ông chẳng biết liên hệ với ai. Ông chỉ còn cách ngồi chờ...chờ....và chờ...
Có người đến. Ông lao ra cửa. Người khách lạ nhìn ông từ đầu xuống chân rồi nhẹ nhàng hỏi:
- Thày có phải là thày Nhân không ạ?
- Vâng. Tôi là Nhân. Anh đến có việc gì?
- Dạ. Có lá thư anh Thiện Tài gửi thày.
Người khách đưa lá thư cho ông rồi về ngay. Ông Nhân lập cập đeo kính rồi mở thư ra đọc. Lá thư viết:

“ Thưa thày! Khi thày cầm trên tay lá thư này thì em đã vĩnh viễn đi xa. Em đã chết.”

Luồng dương khí thoát nhanh khỏi cái cơ thể vốn đã già, lại còn suy dinh dưỡng của ông Nhân. Ông rã rời tay chân. Ông lặng người, mặc mấy giọt cặn lệ nhoè tan đi trong đôi mắt. Lặng người một lúc, ông run rẩy đọc tiếp:

“ Cái chết đối với em không đột ngột. Nó đã được các giáo sư lừng danh dự đoán chính xác tới tận ngày.
Thưa thày! 
Lần vừa rồi em đến thăm thày, thày có hỏi “Thiện đến đâu, Tài đến đâu mà làm quan to thế?” 
Thày ơi, thời này có phải thời Lê Thánh Tông đâu mà thày nhắc đến Thiện, Tài. Quan trường là chiến trường khốc liệt, vì chính nó đẻ ra quyền lực - tiền tài - danh vọng. Ở đó không có chỗ cho lương thiện, hiền tài. Đời em là  một chuỗi dài các sự dối trá. Như lẽ tự nhiên, càng làm quan to lời nói dối càng đậm nét chân thành. Chắc thày còn nhớ ngày em đến thăm, em có gửi thày một số tiền để thày trò mình chuẩn bị đến thăm Dũng. Đó là lời nói dối cuối cùng của đời em đấy. Dũng nó đã hy sinh từ năm Mậu Thân, chưa vợ, chưa con. Biếu được số tiền để thày cô phần nào bớt được sự khốn khó trong cuộc sống chồng chất khó khăn này làm sự ra đi mãi mãi của em trở nên thanh thản. Đời mình cũng có lúc làm được việc nghĩa nhân, theo mong muốn của thày.
Thày ơi! Đến lúc chết em mới hiểu lời dạy của thày: Học để làm Người chứ không phải học để làm Quan.
Làm Người thì ií tiền, ít quyền và khốn khổ.
Làm Quan thì nhiều tiền, nhiều quyền nhưng khốn nạn.
Nếu có kiếp sau, phải lựa chọn hai cái khốn, thì em xin vui lòng đứng vào phe những người khốn khổ. Khốn đấy! Khổ đấy! Nhưng thanh thản, thấm đẫm tình người. Còn khốn nạn thì....Chỉ nghĩ tới đó em đã rùng mình...
Để minh chứng cho sự giác ngộ của mình, em có gửi cho anh em trong cơ quan bài thơ sau, thày xem có được không nhé:

MẶT TRỜI XANH
Đừng cho phủ hoa lên mộ của Anh
Đó là sự dối trá.
Cả đời Anh chưa một lần vinh quang tử tế
Sao hôm nay hoa nhiều đến thế?
Tầng tầng – lớp lớp đè tức ngực Anh.
Em hãy xem
Những bông hoa biết thẹn
Những vòng hoa biết xộc xệch héo tàn
Đốt cho anh nén nhang
Đốt càng nhiều càng tốt.
Lửa sẽ làm cạn khô những giọt nước mắt cá sấu
Lửa sẽ thiêu cháy những lời nói dối chân thành
Lửa sẽ làm môi trường quanh anh thanh sạch.
Lần đầu tiên trong đời, Anh thấy: MẶT TRỜI XANH.

Thày ơi! Những kỷ niệm ấm áp về thày, tình thày, đời thày đã mở cho em (một ông quan - một kẻ đang hấp hối), một cuộc đời mới với trang đầu bằng lá thư này,với những lời nói thật...”
Đặt lá thư xuống bàn ông Nhân thờ thẩn ngứơc cặp mắt hoen rỉ nhìn vào khoảng không mờ ẩm trước mặt. Không gian bổng chuyển màu ngọc bích xanh suốt mang mang ... và phía xa, xa thẳm của không gian ngọc bích một đốm sáng nhập nhoà nhấp nháy như vẩy như gọi ông ... mông lung, mờ ảo. Ông vật người ra nghế cố ghìm tiếng thở dài. Tiếng thở buồn, tê tái như hơi thở của rừng già heo hút.

LÊ MAI
p 703 – N5A khu đô thị Trung hoà Nhân chính phường Nhân chính  
quận Thanh xuân- Hà nội 
đt : 0422153125

READ MORE - MẶT TRỜI XANH - Truyện ngắn của Lê Mai