Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, December 20, 2016

UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH DƯỚI TRĂNG - Thơ Lang Trương

  
                                Lang Trương


UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH DƯỚI TRĂNG 
            (Thương tặng VTH)

Ta nâng chén, trăng mơ màng đáy cốc 
Trăng hoá hình em, một thủơ xuân thì 
Ta nốc cạn cả muôn vàn tinh tú 
Cả đất trời, cả một khối tình si.

Từ độ em đi mùa cũ thu phai 
Hương thời gian nồng nàn men rượu đắng 
Dấu hài xưa nhạt nhòa ngõ vắng 
Em đi rồi, hoa cỏ cũng buồn tênh.

Từng chén ly bôi ta uống một mình 
Màu thời gian dần phai trên mái tóc 
Từng giọt đắng cay, cõi lòng ai bật khóc 
Hun hút đường đời, mỗi bước mỗi chông chênh.

Ta vẫn một mình cứ mỗi độ trăng lên
Thả bóng liêu xiêu đổ dài bờ cát trắng 
Em mãi trong ta, bên bờ hoang biển vắng 
Uống rượu một mình, ta uống cả hình em.


                                           Lang Trương
                               
READ MORE - UỐNG RƯỢU MỘT MÌNH DƯỚI TRĂNG - Thơ Lang Trương

HỒN QUÊ - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn



HỒN QUÊ

Đưa cánh đồng về làng
Đưa làng về đâu?
Nhìn cây rơm cao ngút trên đầu
Tôi cắt nghĩa cha ông đang tồn tại

Trong cây rơm khô có liềm, có hái
Có con trâu thản nhiên nằm nhai lại
Có sảy sàng tay mẹ đêm trăng
Có mồ hôi cha mặn chát
Có cò bay đậu trắng lũy tre làng

Cọng rơm khô mùa màng
Em đứng cạnh tôn vinh màu quê kiểng
Ống kính chớp, mắt em còn lúng liếng
Vẻ tỉnh thành chất phác cọng rơm quê

Thôi mà em đừng bỏ bùa mê
Chết mệt hồn thơ đa cảm
Cây rơm khô tươi lên màu nắng
Và em rạng rỡ môi cười
Hồn quê đọng vào trong dáng em tôi!

                          Nguyễn Lâm Cẩn
                          Hà Nội, 4-4-2013

READ MORE - HỒN QUÊ - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn

Monday, December 19, 2016

SONNET CUỐI MÙA ĐÔNG - thơ Nguyễn Ngọc Hưng

Ảnh tác giả


SONNET CUỐI MÙA ĐÔNG

Gió bấc không đo lòng quân tử
Mưa phùn sao thấu dạ nữ nhân
Cần mỗi một thôi người không đến
Ối a người đến lại không cần

Ấy ơi, bên ấy bây giờ ấm
Đâu biết bên đây lạnh nửa đầu
Có người ngớ ngẩn vo niềm nhớ
Lăn trái tim mình xuống biển sâu

Ấy ơi, bên ấy đang vào hạ
Rộn ràng hoa nhiệt đới nở bung
Lặng lẽ rét về bên đây úa
Tàn đêm rơi chiếc lá cuối cùng

Sẽ còn những mùa đông khác nữa
Ai ngồi đan nắng tặng ai không?

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Trích từ tập thơ CHÚT NẮNG CHO HOA HỒNG,
NXB VĂN HỌC,
2015.

READ MORE - SONNET CUỐI MÙA ĐÔNG - thơ Nguyễn Ngọc Hưng

Thơ Ngưng Thu: NIỆM KHÚC MƯA XUÂN / XUÂN


Ảnh tác giả.



NIỆM KHÚC MƯA XUÂN

* Chuyển trời ... mưa, mưa lạnh, gió thoảng mái hiên buồn, ta ngồi nhai nỗi nhớ, mây trên trời... mây luông. Khoả vào lòng mênh mông chút tâm tư giá buốt, vách không chừng não nuột, từng kỉ âm vọng về.

* Đông vào hồn thiết thê, giấc mơ đưa vẵng tiếng, vườn sau con chiền chiện cất lời say hương tình. Mùa xuân bỗng giật mình, nụ hoàng hoa chớm nở. Ừ! thì ra mưa nhớ. Ừ! thì là mưa xuân.

* Có chi mà bâng khuâng, có chi mà thê thiết, vạt nắng nào hay biết màu mưa làm nên thơ, hạt mưa làm cơn mơ êm đềm ru khoảng mộng. Cánh đồng thơ lồng lộng, hồn thơ vào phiêu du.

* Đất trời nhớ mùa thu, lá say chiều lá hát, khúc yêu thương dào dạt, thả hồn cơn mưa chiều. Ta nhớ người ta yêu mùa xưa nghe lá rụng... phím dương cầm bung tiếng gọi mùa thu quay về.

* Mưa vào hồn đắm mê, ta say chiều ta nhớ... hạt mưa ơi cứ ngỡ, lạc vào niềm riêng ta. Mưa vào hồn thiết tha, mưa vào hồn câm nín ... Cơn mưa nào an tịnh cho ta vào cơn mưa...


XUÂN

Ôm choàng
lên tháng mười hai
chạm làn đông
buốt bờ vai dương trần
hoàng hoa trước ngõ
tần ngần
rủ rê ong bướm
xa
gần
về qua.
Gió xuân
khẽ lướt hiên nhà
mây xuân thở nhẹ
thơm tà áo xuân
vào mùa
cánh én vòng quanh
tháng giêng về
gọi yến oanh sum vầy.

NGƯNG THU


READ MORE - Thơ Ngưng Thu: NIỆM KHÚC MƯA XUÂN / XUÂN

ANH TẶNG EM - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên


          Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên



ANH TẶNG EM
      (Tặng T.)

Anh tặng em những buổi sáng êm đềm
Tiếng chim thánh thót hót bên thềm
Hương hoa bay rộn trong vòm lá
Ngây ngất như là hương tóc em!

Anh tặng em những buổi chiều
Vườn xưa nhà cũ cảnh thân yêu
Sau bao nhiêu tháng ngày phiêu dạt
Về lại chốn xưa buổi quạnh hiu!

    Hải Hậu Nam Định, 12 /1013
              Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - ANH TẶNG EM - Thơ Nguyễn Ngọc Kiên

EM - Thơ Đặng Xuân Xuyến


      
        
       EM

Ta gạ em cạn chén
Thế là em cạn ta
Nửa đời ta trễ hẹn
Em nồng nàn đốt ta.

Run rẩy, em ghì ta
Quấn vào ta hoang dại
Thẫn người, ta ngây dại
Uống em từng giọt say.

Trời đất như cuồng say
Ngả nghiêng theo nhịp phách
Nửa đời trai trinh bạch
Em nhuộm ta ngả màu.

  Hà Nội, đêm 21 tháng 01 năm 2015
  Đặng Xuân Xuyến

READ MORE - EM - Thơ Đặng Xuân Xuyến

NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ (4) - TS Nguyễn Ngọc Kiên


       

            NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ 

            TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ - PHẦN IV

                                                       TS Nguyễn Ngọc Kiên

 (9) Mài sắt nên kim

Thành ngữ “mài sắt nên kim” (铁棒磨成针 / 铁柱磨成针) [thiết bổng ma thành châm / thiết trụ ma thành châm] được lưu truyền rộng rãi như một lời dạy, lời giáo huấn mọi người về ý chí bền bỉ trong công việc nói riêng, trong cuộc đời nói chung.
Đến như sắt mài mãi cũng thành kim, thì bất cứ việc gì cũng có thể làm được, miễn là chúng ta biết chịu khó khổ luyện, biết kiên trì nhẫn nại, không quản gian lao vất vả. Lời giáo huấn biểu hiện qua câu thành ngữ “mài sắt nên kim”, một mặt được nhận thức qua ngôn từ của nó mà mấu chốt là sự đối lập giữa hai hình ảnh sắt và kim, mặt khác, thông qua sự liên hệ tới giai thoại về cuộc đời của nhà thơ nổi tiếng đời Đường ở Trung Quốc – nhà thơ Lý Bạch.
Tương truyền, thuở niên thiếu, Lý Bạch là cậu bé không chịu khó học hành, ham chơi như bao đứa trẻ bình thường khác. Một hôm, cậu bé chán học, lẻn sang chơi ở chân núi phía Đông. Kỳ lạ quá! Trước mắt cậu bé là một bà lão đang cắm cúi mài một thanh sắt bên một tảng đá lớn. “Bà già tóc bạc đến dường kia mà lại chăm chắm mài một thanh sắt để làm gì nhỉ?” Cậu bé hết sức phân vân, bèn rón rén đến bên cạnh cụ già rồi cất tiếng hỏi:
- Cụ ơi, cụ mài sắt để làm gì vậy?
Bà lão ngoảnh mặt lên, hiền từ trả lời:
- Để làm kim khâu cháu ạ.
- Làm kim khâu ư? Thanh sắt thì làm thế nào mà trở thành cái kim khâu được? Cậu bé chất vấn bà lão.
- Mài mãi cũng phải được. Kẻ có công mài sắt thì có ngày nên kim chứ - Bà lão trả lời một cách tin tưởng như vậy.
Lý Bạch nửa tin nửa ngờ hỏi lại:
- Liệu hôm nay có xong được không hở cụ?
Bà lão thong thả trả lời hoà nhịp với động tác mài kim:
- Hôm nay không xong thì mai lại làm tiếp vậy, năm nay không xong thì sang năm tiếp tục làm, ngày lại ngày, già nhất định mài xong.
Nghe đến đây, Lý Bạch chợt hiểu ra và im lặng. Về nhà Lý Bạch thường ngẫm nghĩ về những lời của bà lão mà càng chuyên tâm học tập. Chẳng bao lâu, Lý Bạch trở thành nhà thơ lỗi lạc với những áng thơ Đường tuyệt mĩ, có một không hai trong nền văn học Trung Quốc. Từ đó, trong dân gian lưu truyền câu tục ngữ “Chỉ yếu công phu thâm/ Thiết trụ ma thành châm” (只要功夫深, 铁柱磨成针), nghĩa là “có công mài sắt, có ngày nên kim”; trong đó có chứa thành ngữ “mài sắt nên kim”. Thoạt đầu, nó như một nhận xét về cuộc đời, văn nghiệp của Lý Bạch: từ chỗ lười học, nhờ sự tỉnh ngộ qua cuộc gặp gỡ với cụ già mà siêng năng, kiên trì học tập và cuối cùng trở thành tài. Nhưng dần dần câu tục ngữ “có công mài sắt, có ngày nên kim” được lưu truyền rộng rãi, vượt qua phạm vi của một cuộc đời, một sự nghiệp, trở thành một lời dạy, lời giáo huấn mọi người về ý chí bền bỉ trong công việc nói riêng, trong cuộc đời nói chung.
(Theo chuyện kể của Trịnh Mạnh)


Ở Việt Nam, ngoài thành ngữ “mài sắt thành kim” còn có tục ngữ “có công mài sắt, có ngày nên kim” cũng được sử dụng rộng rãi như một lời khuyên, răn dạy về đức tính kiên trì sẽ dẫn đến thành công, nhưng trên thực tế, ít người biết đến nguồn gốc của nó.

(10) Buôn tảo bán tần
Thành ngữ “buôn tảo bán tần” có xuất xứ từ bài thơ “Thái Tần” (采蘋) của Khổng Tử. Nguyên văn:
于以采蘋?
南澗之濱。
于以采藻?
于彼行潦。
Phiên âm:
Vu dĩ Thái Tần,
Nam gián chi tân
Vu bỉ Thái Tảo
Vu bỉ hàng lạo
Dịch nghĩa:
Đi hái rau Tần,
bên bờ khe phía nam,
đi hái rau Tảo,
bên lạch nước kia.
(Chú giải:
tần: rau lục bình nổi trên mặt nước, người Giang Đông gọi là bèo.
tân: bờ nước.
tảo: rong tụ, tảo ở đáy nước, cọng như ngọn cây thoa, lá như cỏ bồng.
hành lão: cái rãnh nước mưa chảy cuốn đi.
Nước ở phía nam chịu sự giáo hoá của Văn Vương, vợ của quan đại phu năng đi việc cúng tế, người nhà của nàng mới kể lại việc ấy mà khen tặng).
(Theo chú giải của Chu Hy)
Dịch thơ:
Để mà đi hái rau tần,
Núi nam hay mọc ở gần bờ khe.
Tảo kia ta hái luôn về,
Bên đường nước chảy dầm dề sau mưa.
(Bản dịch Tạ Quang Phát)
Theo cách chú giải truyền thống thì câu thơ trên ca ngợi người “vợ hiền dâu thảo”, chăm chỉ hái rau Tần, rau Tảo về làm cỗ cúng tổ tiên. Trong truyền thống văn hóa Trung Quốc, “Tảo Tần” tượng trưng cho đức tính siêng năng, chịu khó, hay làm hay làm của người phụ nữ. Thành ngữ “buôn tảo bán tần” đã xuất hiện trong Kinh Thi.
Ở Việt Nam, ý biểu trưng của “Tảo Tần” cũng được sử dụng nhiều trong văn học cổ. Chẳng hạn, trong truyện Phạm Tải – Ngọc Hoa:
Sớm khuya chăm việc tảo tần
Thờ cha kính mẹ đôi lần chẳng sai
Về sau: thành ngữ “buôn tảo bán tần” được dùng với nghĩa rộng hơn, chỉ đức tính đảm đang việc nhà của người phụ nữ. Chẳng hạn:
Cô Hai buôn tảo bán tần
Cô Ba đòi nợ chỗ gần chỗ xa
(Ca dao)
……………………
(còn nữa)
 
                                                                   TS Nguyễn Ngọc Kiên
                                                             
READ MORE - NHỮNG THÀNH NGỮ CÓ XUẤT XỨ TỪ THƠ CỔ VÀ ĐIỂN CỐ (4) - TS Nguyễn Ngọc Kiên

Sunday, December 18, 2016

ÔNG CỬ LÀNG PHONG THỬ - Lê Thí

Khu lưu niệm Phan Châu Trinh ở Sài Gòn nằm trên đường Phan Thúc Duyện. Ai cũng biết Phan Châu Trinh nhưng ít người biết một đồng chí thân tín của ông. Bài viết tặng một học trò cũ đã có lần hỏi tôi: "Thầy ơi, Phan Thúc Duyện là ai?" Bài đăng trên QNCT ngày 16/12 vừa rồi.



Phan Thúc Duyện (1873-1944).
Ảnh từ baoquangnam.vn


ÔNG CỬ LÀNG PHONG THỬ

Phan Thúc Duyện* là nhân vật quan trọng hàng đầu của Phong trào Duy tân. Ông“đứng mũi chịu sào” ở lãnh vực kinh tế-thương mãi, lãnh vực khó khăn nhất của phong trào. Điều đáng buồn là ông rất“nổi bật” trong cái nhìn của đồng nhân, đồng chí và cả của kẻ thù nhưng lại “mờ nhạt” trong mắt các nhà nghiên cứu.

Vị cử nhân của khoa thi đặc biệt

       Cử Diện hay cử Phong Thử là tên dân gian gọi Cử nhân Phan Thúc Duyện. Gọi là cử Phong Thử vì ông quê làng Phong Thử, nay là xã Điện Thọ, thị xã Điện Bàn. Còn cử Diện là do giọng Quảng thường đọc vần uyên thành vần iên. Quốc triều Hương khoa lục của Cao Xuân Dục lại ghi tên ông là Phan Sung (theo nhiều nhà nghiên cứu thì do chữ Duyện và chữ Sung có tự dạng giống nhau).

       Phan Thúc Duyện hiệu Phong Thử, tự My Sanh, sinh năm 1873 , trong một gia đình nông dân, đông anh em. Ông là học trò xuất sắc của trường Đốc Quảng Nam cùng với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Đình Hiến…Ông đỗ vị trí thứ 6 trong khoa thi Hương năm 1900, một khoa thi đặc biệt đối với sĩ tử Quảng Nam. Khoa này Quảng Nam có 14 người đỗ trong số 42 người của cả trường thi, lại chiếm luôn 4 vị thứ đầu bảng. Đây là khoa thi đóng góp các danh hiệu cao quý như “tứ tuyệt”, “tứ hổ”, “tứ hùng” cho Quảng Nam.

       Nhưng đặc biệt hơn, rất nhiều người đỗ khoa này sau đó được Quốc triều Hương khoa lục ghi thêm chữ “can tội” phía sau tên vì đã “cả gan” chống lại chế độ thực dân phong kiến thối nát (đối với dân tộc, ngày ấy tội càng nặng, thì công càng lớn) như Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Lê Bá Trinh, Lê Lượng…

       Thi đỗ xong, ông không chịu ra làm quan mà ở nhà cùng các đồng hương thực hiện công cuộc duy tân với mục tiêu “khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Không những là người sáng lập, tham gia ngay từ đầu Phan Thúc Duyện còn là một lãnh tụ quan trọng của phong trào, đảm nhận lãnh vực thương mại, lãnh vực khó khăn và mới mẽ, nhất là đối với các nhà nho.

       Năm 1908, nhân vụ kháng thuế, Phan Thúc Duyện bị kêu cùng mức án và cùng bị đày Côn Đảo một lượt với Huỳnh Thúc Kháng “…Nhưng xét Phan Châu Trinh đã vâng án nghị xử tử, phát đi Côn Lôn; Huỳnh Thúc Kháng, Phan Thúc Diện, xin cùng Phan Châu Trinh đồng định tội xử tử, phát án Côn Lôn “ ( Nguyễn Thế Anh- Phong trào kháng thuế ở Miền Trung qua các châu bản triều Duy Tân, Nxb Văn Học, 2008, tr 57). Đến năm 1919, nhờ con trai vốn là người có quốc tịch Pháp khiếu nại, ông mới được trả tự do nhưng bị chỉ định cư trú ở Quảng Bình để dễ kiểm soát. Tai đây ông đã xây dựng một trang trại theo mô hình ‘vườn,ao, chuồng” như một thử nghiệm cho sản xuất nông nghiệp kiểu mới. Trang trại của Phan Thúc Duyện sau này được người dân Quảng Bình gọi là “vùng đất Quảng Nam”. Năm 1930, ông về quê sau đó (1932) vào Phan Thiết xây dựng “nhàn điền” nhưng có lẽ để liên lạc với Công ty Liên Thành, một tổ chức Duy tân ở phía Nam. Năm 1935, ông về lại Quảng Nam cộng tác với một số nhà thầu để làm đường sắt, xây ga Phước Cang (Thăng Bình). Năm 1937, ông về lại Phong Thử tham gia xây dựng, qui hoạch lại quê hương theo tinh thần xây dựng nông thôn mới của phong trào Duy tân. Ông vận động xây dựng sân vận động, chợ, nhà hát, đường sá, qui hoạch lại nhà cửa, lập hương ước…góp phần biến quê hương ông trở thành một vùng quê trù phú, văn minh hàng đầu trong tỉnh như tinh thần mà các đồng chí của ông đã mơ ước từ những ngày trứng nước của phong trào Duy tân.

       Ông mất ngày 3/10/1944, thọ 72 tuổi. Mộ ông hiện nay được qui hoạch về nghĩa trang thị xã Điện Bàn.

       Nhà Duy tân thực hành

       Phan Thúc Duyện được xem là người có khả năng đa diện nhất của phong trào Duy tân, cân bằng giữa lí thuyết và hành động, có tính thực tiễn rất cao. Ông lãnh đạo phong trào trên cả ba mặt trận: Nông hội, thương hội và giáo dục.

       Phan Thúc Duyện là đồng tác giả của các Nông hội trong tỉnh như Cờ Vĩ, Yến Nê, Bửu Sơn , Mĩ Sơn … với mục đích đổi mới trong sản xuất nông nghiệp, đưa nông nghiệp đi lên sản xuất lớn, trở thành một ngành sản xuất hàng hóa, gắn liền với các thương hội.

       Phan Thúc Duyện là người thành lập và điều hành Hợp thương Diên Phong ở Phong Thử vào thời kì 1906-1907. Đây là tổ chức kinh doanh lớn nhất, hiệu quả nhất và có tiếng tăm nhất thể hiện tư tưởng, tinh thần của phong trào Duy tân. “… Hợp thương Phong Thử biến thành đầu não cho các thương cuộc trong tỉnh….. Có thể nói đây là thương cuộc có qui củ bậc nhất của nước ta thời ấy...” (Nguyễn Văn Xuân, Phong trào Duy Tân, Nxb Lá Bối, 1970, trang 188). Năm 1906, khi xây dựng Hợp thương Hội An, các lãnh tụ phong trào cũng cử Phan Thúc Duyện điều hành cơ sở này.

Bên cạnh Hội thương và Nông Hội, Phan Thúc Duyện cũng là một thành viên quan trọng trong lãnh vực giáo dục của phong trào Duy tân. Ông là người sáng lập, quản lí và giảng dạy ở trường Diên Phong, một trong hai trường lớn nhất của phong trào (ở Phong Thử cạnh Hợp thương Diên Phong). Trường Diên Phong “gây một tiếng vang rộng lớn hơn cả vì trước hết nó không phải là của chính quyền mà là của tư nhân. Nhà trường tự định liệu các sách học, các môn hát và thể dục… Diên Phong gồm hai trường, một ngôi ở ngay Hội thương… ngôi thứ hai ở chùa (gần chợ Phong Thử). Tổng số học sinh cả 2 ban cũng lên tới hơn 200 người… Ngoài việc giảng dạy trường thường tổ chức các cuộc diễn thuyết có hội thảo để các bậc khoa cử tới dự”.(Nguyễn Văn Xuân, Sđd, tr 214)

Sự đánh giá thiếu công bằng

Người Pháp đã qui cho Phan Thúc Duyện rất nhiều tội nào là mặc âu phục vào “quậy” ở Văn thánh Điện Bàn, lập thương hội, tham gia diễn thuyết, viết thư cho Huỳnh Thúc Kháng với lời lẽ “cường quyền diện tự”, liên lạc với Trần Quý Cáp và hoan hô cuộc biểu tình chống thuế… nên kết án “trảm giam hậu” ngang mức án với Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.

       Lúc sinh thời nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Xuân hay than phiền việc các nhà nghiên cứu xếp Phan Thúc Duyện sau bộ ba Duy tân Quảng Nam (Phan-Trần-Huỳnh). Ông cho đó là không công bằng, thua cả người Pháp. Lý giải việc này, ông đưa ra mấy lý do: “Giữa xã hội trọng hư danh, Phan Thúc Duyện không có bằng đại khoa là một thiệt thòi rồi. Ông tuy làm thơ hay song không phải là thi sĩ lớn, lại là một thiệt thòi thứ hai đối với sĩ phu thích ngâm nga. Ông lại đăng ký vào lĩnh vực mà trí thức thời ấy hoặc không tôn trọng là:kinh tế, thương mãi…” Và cao hơn là do: “Các tác giả Việt Nam thường ít chịu tra cứu hoặc có tra cứu cũng chỉ bám chặt vào mấy đại danh hay hư danh mà không đi vào thực chất của vấn đề”.(Phan Thúc Duyện trong phong trào Duy tân Việt Nam, Nxb Văn Hóa, 1997, tr 184).

       Nguyễn Văn Xuân viết: “Bệnh học khoa cử in sâu vào tâm não của sĩ phu và cả quần chúng cho nên dầu công lao của Phan Thúc Duyện cực kỳ lớn lao, đứng vào hàng tiền đạo của phong trào, nếu ở nước khác thì đã tượng đồng bia đá, không khác gì Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, thì ông trở nên mờ nhạt. Ông chỉ nổi bật trong hàng ngủ đồng nhân đồng chí và với cả kẻ thù:đế quốc Pháp và Nam triều” (sđd, trang 185).

       Có lẽ đã đến lúc có sự đánh giá công bằng và hợp lý đối với ông!
                                                             LÊ THÍ



READ MORE - ÔNG CỬ LÀNG PHONG THỬ - Lê Thí

HOÀNG ANH 79 - Tác Phẩm &Tác Giả * M.Loan Hoa Sử & Chu Vương Miện thực hiện

Nhà thơ Hoàng Anh 79


HOÀNG ANH 79
Tác Phẩm &Tác Giả
*
M.Loan Hoa Sử & Chu Vương Miện
thực hiện
*
Bút danh Hoàng Anh 79.
Tên thật Hồ Mạnh Phi Hùng.
Năm sinh 14.09.1973.
Địa chỉ mail: homanhphihung.mt@gmail.com.
Điện thoại: 0918239523
Blog: hoanganh79.blogspot.com.
Một số bài thơ được đăng trên tạp chí Văn Nghệ Châu Đốc và in chung trong các tuyển tập thơ.  Cộng tác vói nhiều trang web, blog Văn Học Nghệ Thuật.
-
Em bỏ cả trời mơ ước xưa
có hay nắng tắt chuyển sang muà
tóc thề em thả qua sông rộng
còn nhớ đường về trong gió mưa
ta đã xa thời yêu dấu yêu
hàng cây trút lá đổ muôn chiều
đèn treo phố nhỏ vàng thương nhớ
trăng ngủ bên đồi cỏ quạnh hiu
(Như cánh chim buồn, trang 138)

Thế thôi, chả khác gì nhà thơ Tạ Hữu Thiện:
Ai lớn lên không từng yêu đương
Ai biết yêu không từng hò hẹn
Việc ấy lẽ thường.

Tôi đã từng yêu, từng chán nản
Không bao giờ thấy nguội con tim
Không bao giờ thoả mãn
Khát khao Em, tôi vẫn gắng công tìm. 
Rồi lại theo chân nhà thơ Chế Vũ "Hồ Xuân Tịnh":
- Anh biết tìm em ở đâu?
Chẳng lẽ tìm em trên hết địa cầu
Trở lại với thơ Hoàng Anh:
Em có về Cẩm Giang chốn cũ
nghe sóng ru điệu nhớ bao ngày
cầu Quan đó những lần hò hẹn
ngọn tóc thề thả gió chiều bay
anh đã lỡ làm thân cố tứ
như cánh chim chưa hẹn quay về
ai biết được thời gian bóng ngả
vẫn chưa tàn một giấc ngủ mê
(Nắng Tây Ninh, trang 139)

Từ Gò Dầu đến Dên Dên "Thạnh Đức", nơi đồn điền cao su xanh bạt ngàn, đi khoảng chừng 30 cây số là tới Cẩm Giang, xứ của tre trúc, tầm vông kế cận ngã ba Giang Tân, một lối đi thẳng là thị xã Tây Ninh, còn rẽ bên phải là tới Long Hải, đi thêm là chợ Hòa Thành, "Tòa thánh Tây Ninh". Mưa Cẩm Giang là những cơn mưa phùn lai rai rất nên thơ, mà mưa cả ngày.
Hoàng Anh là người làm thơ sau này đương đại, nhưng thơ của anh lại thoang thoảng thơ tiền chiến trước năm 1945 và thơ giai đoạn 1954-1975. Noí rằng cổ điển thì không mà nói là thơ tân cổ điển cũng không nốt, tuy trong những dòng thơ bẩy chữ, cũng có nhiều cái lạ, cái tình tứ, cái âm vận và gia từ cũng nhẹ nhàng phong phú. Còn về ý thì từ xưa cho tới bây giờ thơ Tình thì có nhiều người làm, không thơ Tình thì thơ Quê Hương, thơ Nhân Loại, thi sĩ vốn là cái Nòi Tình, tình là đứng đầu trước tiền - tù - tội [bốn t], thi sĩ ưu tiên cái đầu tiên, còn ba cái sau thì không bao giờ màng tới, ai muốn dành thì dành, chuyện làm thơ và chuyện đọc thơ. Không phải ai làm thơ cũng hay, mà người đọc thơ không phải ai cũng hiểu thơ đồng cảm với thơ, đôi khi trống đánh xuôi kèn thổi ngược tréo cẳng ngỗng, ông nói gà bà nghe vịt. Thơ cũng như Nhạc, toàn là cảm tính, mỗi người có mỗi sở thích khác nhau, không ai giống ai, mỗi người làm thơ  là một cái rốn vũ trụ, vô cùng vĩ đại, vô cùng tự do, muốn nói gì thì nói và muốn viết gì thi viết.   
-
Bầu rượu đế phải đâu nước mắt
sao vẫn cay vẫn đắng và nồng
uống đi anh một lần tới bến
ta già rồi biết gặp lại không
mai tôi đi mang nhiều nhung nhớ
đêm Mỹ Tho sương trắng lạnh rơi
bài thơ gởi theo sầu vạn cổ
chờ nghe anh một cuộc luân hồi
(Sông Tiền Với Bạn Hữu, tặng nhà thơ Kha Tiệm Ly, trang 141)

Hành trình qua thơ Hoàng Anh, thoang thoảng một ít bài, thấy con đường thi ca của nhà thơ còn quá dài, quá rộng, không thể kết luận vội vàng ngay từ bây giờ, nhưng qua ý thơ tứ thơ và chất thơ toát ra cho người đọc hiểu đựợc cái ý chí ngang tàng của một lãng tử giang hồ bất cần đời của một nhà thơ tưổi trẻ tài hoa.
M.Loan Hoa Sử & Chu Vương Miện.

CHÙM THƠ HOÀNG ANH 79
ĐỒI GIÓ TRĂNG 



Ru ta chén rượu mềm môi
Ngủ say đi nhé trên đồi gió trăng
Buồn rơi theo lối ăn năn
Bây giờ chỉ khói sương giăng mịt mù



Đâu rồi mắt biếc tiểu thư
Tình trôi xa lắc tàn thu mấy mùa
Còn yêu chi nụ cười xưa
Để mình hiu quạnh giọt mưa rớt lòng
Nhớ chi một chút hương nồng
Đêm nằm rượu chảy lớn ròng tim, đau
Trả đời lại gánh công hầu
Mà ta trót nợ bên cầu chiêm bao
Trả em cái vẫy tay chào
Câu kinh sớm tối nhiệm mầu ta ru
Cuối đường còn mớ phù du
Đưa tay bám víu mà cưu mang mình
Lỡ rồi thôi kiếp phù sinh
Sông hồ rộng lớn mà tình đơn côi
Tàn đêm chén rượu đầy vơi
Em ơi có biết đất trời điêu linh !
Ngày 13/12/2016
HOÀNG ANH 79
 TRĂNG TÀN ĐÊM HỒNG NGỰ
Buồn làm chi để mưa rơi ướt lối
Mưa bay bay bong bóng vỡ trên sông
Con cá lội trắng đồng mùa nước nổi
Cánh hoa rơi trôi dạt phía Tân Hồng
Bao lâu rồi ta không về Cao Lãnh
Chắc đường xưa thăm thẳm dấu hương yêu
Sắp vào đông nên trời hiu hiu lạnh
Nhớ em xa nghe lá rụng muôn chiều
Ta nợ em bài thơ tình chưa trả
Em nợ ta khung trời tím mộng mơ
Ta nợ nhau giữa dòng đời nghiệt ngã
Trả chưa xong và trả đến bao giờ
Cũng cám ơn em cho ta hi vọng
Chút rong rêu cứ ngỡ cả trời xanh
Thì đã quen đời một mình một bóng
Giấc mơ xưa xem như chuyện dỗ dành
Đừng ngậm ngùi trăng tàn đêm Hồng Ngự
Khóc hay cười cũng tiếp tục cuộc chơi
Em nhớ chi gã giang hồ lãng tử
Như chim đêm gãy cánh một phương trời !
NGÀY 11/10/2016
HOÀNG ANH 79

***

CHÙM THƠ HOÀNG ANH 79
TIỄN EM VỀ BUÔN HỒ
Em đi về với Buôn Hồ
Con đường bụi đỏ mịt mờ cao nguyên
Đêm nghe mưa dạt ngoài hiên
Chắc gì em nhớ nắng quen đồng bằng
Em về phố núi sương giăng
Đồi khuya hiu quạnh giọt trăng cuối mùa
Rượu nồng đã nhạt môi xưa
Thôi thì cạn chén ta đưa tiễn người
Tóc thề em thả ra khơi
Ta còn ở lại với trời hư không
Có loài hoa rụng bên sông
Nước theo đường nước chia dòng bể dâu
Còn ta em cứ quên mau
Nhớ chi cái kẻ đa sầu viển vông
Dường như có lệ trong lòng
Khóc cho ai giữa mùa đông lạc loài
Chiều nghiêng cánh nhạn mồ côi
Bay trong mưa gió về nơi xa nào
Ừ tình là giấc chiêm bao
Sao đêm tà tịch ta gào tên em!
Ngày 9/12/2015
Hoàng Anh 79
QUÁN CŨ KHÔNG EM
Quán cũ không em giờ lặng lẽ
Đèn treo phố nhỏ ướt mưa nhoà
Chắc em  đêm với dòng dư lệ
Khóc gã giang hồ biền biệt xa
Ai bảo em yêu thu vàng úa
Tình sầu  như chiếc lá chiều rơi
Trăng mái lầu cao chia hai nửa
Ta nửa đơn côi một góc trời
Ai bảo em yêu đông lạnh giá
Đời ta ướt sũng dưới mưa tuôn
Mai kia mình trở nên xa lạ
Dòng tóc mây bay có sợi buồn?
Ai bảo em yêu  ta khốn khó
Gót chân mòn mỏi khắp sông hồ
Cuộc tình rồi sẽ như sương gió
Rớt lại bên cầu chút hư vô
Ai bảo ta yêu em thiếu phụ
Đêm về thui thủi một mình ta
Quán cũ không em ly rượu nhạt
Chợt nghe tiếng quốc dặm trời xa !
Ngày 22/8/2016
HOÀNG ANH 79


READ MORE - HOÀNG ANH 79 - Tác Phẩm &Tác Giả * M.Loan Hoa Sử & Chu Vương Miện thực hiện