Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, January 3, 2015

VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng




VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN.
                                                                                         
(Nhân đọc cuốn sách  "Đối ngọn đèn khuya" - Tập nghiên cứu và phê bình văn học của Võ Văn Luyến, NXB Thuận Hóa, Huế 2014)
 
                                                                       Phạm Xuân Dũng


    Bên cạnh chân dung con người sáng tác với diện mạo của một nhà thơ, Võ Văn Luyến còn có gương mặt thứ hai của một người làm khoa học: nghiên cứu và phê bình văn chương.
    Phần đầu cuốn sách, tác giả nghiên cứu về "Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại". Đề tài mang tính học thuật này cũng là một thử thách không nhỏ đối với những ai lao tâm khổ tứ từ góc nhìn thể loại. Hơn nữa thơ tứ tuyệt tuy là thể thơ truyền thống có tuổi đời ngang ngửa ông Bành Tổ, nhưng lại không phải nhất thành bất biến hoặc ít thay đổi trong nội dung và hình thức biểu hiện. Thể loại "bé hạt tiêu" này vận động liên tục và ngày càng tung hoành, thể hiện một nội lực ghê gớm và không ngừng biến hóa trong đời sống văn học hiện đại  Đây là địa hạt  thú vị nhưng lại không hề đơn giản, nó đòi hỏi sức đọc, sức nghĩ và sức viết của người làm khoa học. Chính vì thế, người viết đã dành nhiều tâm can và bút lực cho những trang viết giàu chất lý luận nghiên cứu phê bình.
   Ngay trong lời nói đầu của công trình khoa học công trình khoa học về thơ tứ tuyệt, nhà nghiên cứu Võ Văn Luyến đã nhìn nhận sức sống mãnh liệt và sự bùng nổ của thể loại này trong văn chương Việt ngày nay. Theo đó, tác giả đã chỉ ra "Thơ tứ tuyệt là hiện tượng độc đáo của đời sống văn học. Sự quay trở lại rầm rộ với thể thơ tứ tuyệt (sáng tác, vận động dư thi, in tập của từng tac giả, in tuyển...) là dấu hiệu của sự thích ứng, phù hợp tâm lý sáng tiếp nhận của thời hiện đại." ( Đối ngọn đèn khuya, trang 8)
   Chương một " Thơ tứ tuyệt-cổ điền và hiện đại" đã khái quát  một số quan niệm về thơ tứ tuyệt. Trong phần này, tác giả đưa ra một cách nhìn về thể loại không nên quá câu nệ vào hình thức tứ tuyệt theo cách hiểu truyền thống, vì như vậy nó vừa gò bó, máy móc "họa bì" chưa "họa cốt" dễ dẫn đến nguy cơ đẽo chân cho vừa giày, lại vừa không bao quát hết những sáng tác hiện đại với những tìm tòi thể hiện vượt thoát khỏi những "khuôn vàng thước ngọc" cổ điển. Cũng bởi  Nàng Thơ Tứ Tuyệt bây giờ: "em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa"  như tác giả lý giải một cách xác đáng:" Qủa thực, văn hóa tri thức ngày càng đóng vai trò biểu cảm. Thơ suy tưởng mỗi một ngày nhiều hơn, biểu hiện thơ đa phức, đa tầng hơn. Tính triết lý là dấu hiệu nổi trội trong thơ, nhưng nhìn toàn cục thì độ đậm đăc triết lý trong thơ tứ tuyệt thấy rõ hơn, dường như tứ tuyệt là một thể thơ đắc địa, một mô hình cho tư tưởng giãi bày. Có phải vì thế mà thơ tứ tuyệt đang có chiều hướng gia tăng và ra đời với một gia tốc đáng được chú ý vào cuối thế kỷ XX này" ( tr 17, sđd ).
   Từ đó, nhà nghiên cứu đề xuất một quan niệm tương đối mới về thơ tứ tuyệt:"  Theo chúng tôi, tứ tuyệt là một thể thơ bốn câu bao gồm nhiều dạng (ngoài năm, bảy chữ còn có cả bốn, sáu, tám, lục bát, tự do) ôm chứa nhiều vấn đề nhưng trong mỗi vấn đề chỉ chọn ra một khoảnh khắc bất ngờ, đầy tính khám phá phát hiện, tính triết lý bằng việc đặt đối tượng phản ánh trong các mối quan hệ để bật ra một khía cạnh nào đó thuộc về bản chất." (tr 18,  sđd)
   Trong chương hai:"Diện mạo thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại qua các chặng đường văn học"  tác giả bằng thao tác khoa học đã đưa ra bảng thống kê về sự thay đổi của các thể tứ tuyệt, từ năm chữ, bảy chữ, bốn chữ, sáu chữ, tám chữ, lục bát, thơ tự do qua các giai đoạn : 1900-1945, 1945-1975, 1975 đến nay. Sự thắng thế của thể thơ bốn chữ, sáu chữ, tám chữ và thơ tự do từ năm 1975 về sau đã cho thấy xu hướng tự hóa trong hình thức thể hiện ngày càng rõ nét trong thơ nói chúng và trong thơ tứ tuyệt nói riêng. Phần này cũng đã phân tích và khẳng định sự đóng góp về phương diện sáng tác của các nhà thơ Việt Nam sau năm 1975 như Trần Mạnh Hảo và đặc biệt là Chế Lan Viên. Sự nở rộ của thể thơ cô đọng, hàm súc này chứng tỏ sức sống lâu bền và sự nở rộ của thơ tứ tuyệt trong quá trình cách tân. Nhận xét của Võ Văn Luyến cũng rất đáng lưu ý:" Chủ thể trữ tình được ẩn giấu (do hạn chế ngôn từ) trong thơ tứ tuyệt nhưng lại tỏa ra từ nhiều cái tôi (lemoi) khác nhau nên người ta tìm đến tứ tuyệt, ở phương diện thưởng thức, như tìm tới sự thức nhận cuộc sống giàu trí tuệ, tình cảm cho mình. Rút cục tính triết lý của tứ tuyệt dù ở giai đoạn nào cũng cần điều bổ ích mà lý thú đó." (tr 60, sđd)
   Chương ba và cũng là chương trọng tâm :" Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt"  đã có những đóng góp khá quan trọng trong việc nghiên cứu hình thức biểu hiện của thể thơ này. Võ Văn Luyến đã minh định về cấu trúc thơ tứ tuyệt với những đặc điểm như : một cấu trúc nhỏ nhìn ra thế giới rộng lớn khi phân tích những bài thơ của Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Yến Lan, Nguyễn Bính, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trung Thu...để thấy được quan hệ ánh xạ đặc biệt giữa nghệ thuật và thế giới khách quan, giữa thơ và hiện thực cuộc sống; hay sự tìm tòi vai trò, ý nghĩa của mỗi đơn vị câu thơ trong một bài thơ chỉ có bốn câu trong cấu trúc tứ tuyệt. Sự tháo dỡ "ngôi nhà thơ" tứ tuyệt để tìm ra đặc điểm của từng câu chính là sự tìm tòi về hình thức mang tính nội dung, giúp người đọc hiểu sâu hơn "thiết kế" của thể loại này. Tác giả thông qua phân tích dẫn chứng sáng tác cũng đã có những tiểu kết khoa học cần thiết về ngôn ngữ thơ :" Tứ tuyệt hiện đại giải phóng ngôn từ ra khỏi các công thức khô cứng để hướng tới cái đẹp khác, cái đẹp của giọng điệu, của tình cảm tự nhiên, của sắc thái, cá tính, của sự miêu tả cụ thể, tinh tế." (tr 87, sđd)
   Kết luận công trình nghiên cứu này, tác giả khẳng định và dự báo lạc quan về sứ mệnh thể thơ vi diệu:" Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thơ tứ tuyệt nhất định sẽ không ngừng phát triển trên cả hai phương diện; chất và lượng. Cũng như đời sống vật chất-tinh thần ngày cang cao, người ta cần chất hơn lượng mà ở tứ tuyệt "chất thống trị lượng" . Điều này cho thấy "ai không biết tự hạn chế mình thì không bao giờ biết viết văn" (Boileau). Tứ tuyệt là một cách biết hạn chế đúng mực vậy." (tr 104, sđd)
   Phần hai cuốn sách  phê bình giới thiệu tác phẩm thơ văn. Có thể nhận ra ở đây những cây bút từng sống và viết ở Quảng Trị như Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Chức, Trần Đình Thành, Lê Văn Hoan, Minh Tứ, Đức Tiên, Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Tài Mỵ, Võ Văn Hoa...  hay đã xa quê như Trần Xuân An, Võ Thị Như Mai...
   Thi sĩ Nguyễn Văn Đắc từng nổi tiếng với bài thơ "Cái rốn" đầy cảm hứng nhân sinh đọng lại trong mắt nhìn của cây bút phê bình Võ Văn Luyến: " Tác giả biết dựng dậy cơn ngái ngủ đời người trên trò chơi bập bênh con chữ bởi sứ mệnh thi ca đòi hỏi sự trầm tư trong hồn nhiên, sự cay đắng trong ngọt ngào ..." (tr 116, sđd)  Còn nhà thơ Trần Xuân An nhớ về cố hương bằng tâm cảm :" Nơi cho giọng nói chưa pha phách. Chốn yêu thương, về bỗng khóc ròng" (Tặng một người...) được đánh giá "Dù đi xa nhưng lòng vẫn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Đấy là lúc tình cảm câu thúc để có được những câu thơ dung dị, thật lòng mà thấm thía, cảm động." (tr 187, sđd)  Con mắt phê bình của Võ Văn Luyến đã tinh tế nhận ra một Lê Thị Mây đầy nữ tính trong "Đám cỏ xanh" khi người yêu lỡ hẹn:"Qúa trình từ vô thức "bứt cỏ" đến hữu thức "đau cây" hóa ra có ngọn nguồn cơn nhói của tim. Đấy là nỗi thất vọng  có cái gì đe dọa hơn cả sự thất tín, bởi linh giác đánh động sự mất yên tĩnh (phụ nữ thường sợ những  biểu hiện gơi cái mong manh, dễ vỡ)..." (tr 203, sđd)
   Cảm nhận  tập bút ký, phóng sự "Dòng sông ký ức" Võ Văn Luyến luận bình:" Có thể nói, Minh Tứ là cây ký có khả năng thâu tóm, lật xới sự kiện, làm nổi bật những vấn đề nóng hổi, xã hội quan tâm hay vấn đề xưa cũ nhưng tươi nguyên "chất sống" và lay thức tâm cảm người đọc." (tr 122, sđ d). Còn khi chiêm nghiệm truyện ngắn Hòa Vang, tác giả phê bình gọi tên lối viết đó là "dòng ý thức phản huyền thoại". Và truyên ngắn" Sự tích  ngày đẹp trời" viết lại câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh thực ra là một phản đề văn chương, vì thế Võ Văn Luyến   đã có lý khi  viết: "Thông điệp mà Hòa Vang muốn gửi tới  độc giả không như ngọn gió đi tìm sự đồng cảm mà là lời khẩn cầu về một lẽ công bằng cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc. Hơn cả chiêu tuyết, minh oan cho Thủy Tinh, nhà văn cố gắng làm thay đổi cái nhìn đơn giản một chiều, duy lý về nhân vật luôn bị xem là tội đồ đáng nguyền rủa." (tr 109, sđd)
   Dù còn đôi điều có thể cần phải bàn thêm về thơ tứ tuyệt; hay góp ý  nên chọn lọc hơn đối với tác giả thơ, để tránh sự ôm đồm  trong một tập sách phê bình đúng nghĩa, thì người đọc tựu trung, vẫn đồng cảm nhiều và trân trọng lao động của cây bút Võ Văn Luyến. Trong tình hình viết lách hiện nay, độc giả thêm trân trọng một cây bút nghiên cứu phê bình lặng lẽ và nghiêm túc, một mình đối ngọn đèn khuya, thức cùng trang văn để góp nhặt những gì đồng điệu.

                                                                    Phạm Xuân Dũng
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng

SẤP, NGỮA - Tuyền Linh




SẤP, NGỮA

Khi bàn tay chạm đến một bàn tay
Mới chợt thấy lòng mình bốn bề hoang vắng
Những ân cần dần trở nên lạ lẫm
Và tin yêu vỡ vụn cuối mùa trăng

Ký ức lại dày thêm tủi, hận, hờn, ghen
Và hạnh phúc cũng chập chờn ngoài tầm với
Em đã đến từ một nơi nào xa lắm
Mà duyên đời ngỡ nặng nghĩa tao khang
Thế tại sao tơ phím lạc cung đàn
Tình dần chết theo giấc mơ chìm nổi

Ta vẫn là ta qua mấy mùa giông bão
Ao ước một lần…để lặn ngụp cả đời…
Những ước mơ nào có quá xa xôi
Vẫn giản đơn như mặt trời buổi sáng
Như cây cỏ chờ bình minh hé rạng
Tiếp chút ánh hồng dẫn dắt nụ mầm xanh
Ta nhìn cuộc đời Yến Yến…Oanh Oanh…
Thèm ứa lệ đôi bờ vai phu phụ

Ai sẽ vuốt mắt ta khi ta nằm xuống
Giọt lệ nào đúng nghĩa lệ phu thê
Hỡi những ai từng má áp môi kề !
Sao bỏ mặc ta trong mù sương huyễn ảo
Chẳng lẽ đây là cuộc chơi sấp ngữa ?

                                   Tuyền Linh

READ MORE - SẤP, NGỮA - Tuyền Linh

THIÊN NHIÊN - MÙA XUÂN - Thơ Phương Hà





NẨY CHỒI

Quắt queo trong đất, đợi chờ
Mưa xuân thấm xuống, hạt khô nhú mấm
Chồi non vươn cánh tay trần
Vén màn tăm tối, khoe thân giữa trời.


CÂY XANH

Lá gom nắng gió tự trời
Tinh hoa từ đất, ngời ngời sắc xanh
Nhựa luân lưu khắp ngọn cành
Trổ hoa tạo quả đem dâng cho đời.


THỤ PHẤN

Anh như ngọn gió thổi qua
Em là vòi nhụy giữa hoa, đợi chờ...
Rào rào hạt phấn như mưa
Nhụy vươn vòi đón trong mùa ái ân.

                             Phương Hà


READ MORE - THIÊN NHIÊN - MÙA XUÂN - Thơ Phương Hà

EM VỀ TRỜI CŨNG VÀO XUÂN - Hoàng Anh 79




EM VỀ TRỜI CŨNG VÀO XUÂN

Em về trời cũng vào xuân
Có con én mộng qua lưng chừng chiều
Tầm xuân ngát nụ thương yêu
Môi  hồng ngày cũ còn nhiều ước mơ

Thời gian kéo lại nẻo chờ
Cánh chim đổi xứ hẹn hò đường mây
Em về thả ngọn tóc bay
Hương đồng cỏ nội đong đầy tình quê.

Cho nhau một lối đi về
Đời chia muôn ngã giấc mê còn dài
Mùa vàng em đếm trên tay
Nắng mưa mấy thuở vòng quay đất trời.

Gió ngàn xa hát bên đồi
Sao đêm lấp lánh len đôi mắt huyền
Xuân nồng anh tặng riêng em
Mưa thơm lất phất ướt thềm lá hoa!

                        Hoàng Anh 79
                        23/12/2014

READ MORE - EM VỀ TRỜI CŨNG VÀO XUÂN - Hoàng Anh 79

CHÙM THƠ TRÚC THANH TÂM





VIỆT NAM MẾN YÊU

Muôn đời đẹp mãi Thăng Long
Tháp Rùa trầm mặc sông Hồng êm trôi
Nam Quan biên ải đâu rồi
Lên trời ngọn khói hồn chơi vơi hồn .

Vọng từ Thiên Mụ tiếng chuông
Tràng Tiền nhớ áo tím buồn phượng bay
Sông Hương ai đợi chờ ai
Trăng yêu thả mộng xuống bài thơ yêu .

Còn nhau ánh mắt trông theo
Nhớ xưa nhạc ngựa lá reo bên đường
Xa người để nhớ để thương
Sài gòn muôn thuở tình vương vấn tình.

MỘNG PHÙ DU

Ta về phố cũ vời vợi phố
Hàng cây đợi gió gió lặng im
Từng mùa khắc khoải trong luyến tiếc
Đêm cũng tàn đêm ánh trăng chìm

Qua bến sông buồn sông dậy sóng
Một người đưa tiễn một người đi
Sương khói hồn nhau mờ nhân ảnh
Phơ phất ngàn sau áo xuân thì

Mộng phù du gởi sầu viễn xứ
Mắt biếc ngày xưa mắt lệ nhòa
Mưa cũng vỡ òa mưa bong bóng
Một thời hoa mộng áo hoàng hoa

Quên đi hết chuyện đời bạc bẽo
Một ngày hạnh phúc nhớ trong tim
Thư tình ngày đó bao kỷ niệm
Đốt chắc gì quên hay nhớ thêm !

TRÚC THANH TÂM
 (Châu Đốc, 1 / 2015)

READ MORE - CHÙM THƠ TRÚC THANH TÂM

Friday, January 2, 2015

VỀ ĐÌNH BẢNG ẨM TỬU - Thơ Nguyễn Khôi



com-img


VỀ ĐÌNH BẢNG ẨM TỬU
   (Tặng : Lê Xuân Quang)
                   -----
"Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh" 
Thánh Hiền tên tuổi bặt đi
Chỉ phường Thánh Rượu tiếng ghi muôn đời.
                     - Lý Bạch
Rượu Đình Bảng (rượu chui : Quốc lủi)
đến Nguyễn Tuân, Lê Đạt còn thèm ? (1)
Chỉ một giọt rơi vào cổ họng
đã thấy mùi, hồn bốc lên Tiên...
                       
Tất niên, lượn về thăm vườn cũ
Ba anh em ngất ngưởng nâng ly
-Nào cạn chén, bõ thời gian khổ
Chú đi B, mất cẳng ,còn về ! (2)
-Nào cạn chén,chú Ba -Ải Bắc
đánh Tàu xong, xuất khẩu làm thuê !
-Nào chén này, rửa đời cơ cực
Ngâm câu thơ lấp lánh Sao Khuê !
                        
Rượu làng mình đời đời "Quốc lủi"
Chẳng Vua nào cho phép kinh doanh ! ?
"Đi săn Chuột" chẳng ai quản lý
"Món Gà đồng" còn "sạch" ...yên tâm !
Rượu Đình Bảng lâng lâng khí phách (3)
"Quốc túy" đây - Trai Đình Bảng anh hùng
Tổ Quốc gọi : ta lên đường đánh giặc
Hòa bình rồi về xóm làm dân.
                         
-Ừ, ta lập Công ty, xưởng máy
Kẻ Báng đây, buôn bán kỳ tài
"Đại gia" lắm nhưng không tham nhũng
Làng anh hùng, rất quý con trai.
                          
-Ừ, xây đời xông pha tiến tới
Nghỉ về làng : Quốc lủi- Cầy tơ
Nào ta cứ nhâm nhi ngất ngưởng
sảng khoái
nào 
cùng đọc "Chiếu dời Đô".

               NGUYỄN KHÔI
Quê Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
                   30-12-2014

.................................

(1) Nhà thơ Lê Đạt : quê mẹ Đình Bảng, quê cha Á Lữ.
(2) đi B = đi đánh nhau ở Miền Nam 1956 -1975
(3) Mượn ý thơ Kha Tiệm Ly.
    
READ MORE - VỀ ĐÌNH BẢNG ẨM TỬU - Thơ Nguyễn Khôi

HAI ĐẦU NỖI NHỚ - Thuý Ngân





                  HAI ĐẦU NỖI NHỚ

                                                         Nguyễn Thị Thuý Ngân


      Tiếng chuông đổ dồn dập từ chiếc điện thoại di động làm Ý An giật mình. Liếc nhìn thấy số máy của Bảo Nam, cô vội vàng bấm máy:
- Dạ, em nghe.
- Anh đây - chiều, tối nay ta gặp nhau nhé, được không em? Bảo Nam hỏi.
- Thiệt không anh, anh tới hồi nào sao không báo em trước? Ý An lo lắng hỏi lại.
-  Thì bây giờ anh báo nè. Anh đang trên đường tới em…Gần tới nơi anh sẽ điện một lần nữa em đón anh nhen…? Bảo Nam thông báo.
- Anh được nghỉ mấy ngày, xa quá mà anh, sao…! Cô định nói tiếp, nhưng đầu dây bên kia đã chen ngang: “ Anh không đợi được nữa. Ồ! Không sao - có xa, ba sông anh cũng lội, bảy đèo anh cũng leo…hiihi…đón anh nhé”. Rồi cúp máy.

   Ý An nhìn chiếc di động một lát, rồi như chợt tỉnh, la lên: “ Thôi chết rồi, bây giờ làm sao đây?” Tiếng la của cô làm chị Hồng cùng phòng đang làm việc, ngẩng lên hỏi:
- Có chuyện gì vậy em?-
- Dạ, dạ hổng có gì đâu chị. Cô mắc cỡ trả lời tay gãi gãi đầu, sơ ý cô làm đổ ống đựng viết làm chúng rơi tung tóe. Cô cúi xuống nhặt. Chị Hồng nhìn cô cười tủm tỉm làm An càng thẹn hơn. Chỉ còn vài tiếng nữa … cô lo lắng thật sự, nên chốc chốc lại nhìn đồng hồ. Miệng lẩm bẩm: “ Làm sao đây…làm sao đây”. Hay về nói thiệt với nhỏ Út, nhờ nhỏ ấy…”. Ai biểu mi chơi trò cút bắt làm chi. Lòng cô đang rối bời vì chưa tìm ra cách giải quyết. Cô đành xin phép chị Hồng cho về sớm một chút. Khi ra đến cửa, chị Hồng nói với theo: “ Gặp người yêu chứ có phải gặp mẹ chồng lần đầu mà lo dữ vậy em…”. Cô quay chào chị lần nữa nở nụ cười  lấy lệ, khỏa lấp.

    Ra lấy xe xong, cô phóng thẳng một mạch về nhà. Vừà
dựng chân chống xuống, cô leo hai bậc cầu thang một lúc, lao thẳng vào phòng cô em gái
- Út ơi! Giúp chị với – Cô rối rít làm nhỏ em hoảng hốt.
-  Chị Hai, chuyện gì mà giúp. Chị tông phải ai hả, người ta có   sao không? Chị có bị gì không? Quay qua em coi - Con Út nắm tay cô xoay một vòng rồi nói: “… Chị hổng có sao hết là mừng rồi!”
- Út à - Út.. tối, tối nay em đi thay chị … Cô ấp úng không biết mở lời từ đâu. Chuyện là.. là.. trời ơi..!! Cô vò đầu.
- Gì mà như gà mắc tóc vậy chị Hai, bộ chị biểu em đi gặp người yêu thay chị hả. Đâu có được – Nó nói bâng quơ làm cô giật mình. Hổng lẽ con nhỏ này biết hết chuyện rồi. Thấy bà chị lúng túng nó trêu tới.
- Anh Hai dễ thương không chị? Lỡ anh ấy già em gọi bằng chú sao đặng…mà biết đâu, em gặp rồi em cũng tương tư thì là m sao? Hổng lẽ cả hai chị em mình…Nó nói xong dợm quay đi.
- Nhưng…chị Hai lấy thơ và hình của Út gởi cho người ta… Chưa nói hết câu con nhỏ la làng
- Thôi chết con rồi ba má ơi. Ba ơi cứu con với…Nhỏ Út la toáng lên làm ông Bảy ngồi uống trà ở hàng ba, rầy: “ Có gì mà chị em bây rộn lên dzậy, lớn cái đầu  mà hơi chút là ba ơi…thiệt tình!” Ý An đành nói thật sự việc cho nhỏ em nghe. Nhỏ nhe răng cười thấy ghét: “ Kệ bà, bà làm bà chịu, tui hổng biết dzụ này à nha…” Cô dành xuống nước năn nỉ. “ Thôi được thế này nhé...nha.. Chị cứ nói vầy hé…”. Nó miễn cưỡng dàn sếp. Hổng biết nó nghĩ gì lại lăng xăng chuẩn bị quần áo cho cô. Nó bắt cô thử cái này không ưng ý lại thay cái kia. Cô chẳng còn đầu óc đâu để mà ngắm. Thôi phó thác cho nhỏ vậy.

   Tiếng chuông lại đổ dồn làm cô giật bắn người. Nó đẩy cô ra cửa. Cô sợ,  quay lại nhìn vào gương lần nữa nói: “ Thôi, chị không đi gặp đâu Út ơi…”. Nhỏ em  trấn an: “ Em thấy chị như vầy là xinh nhất rồi. Giản dị nhưng thanh lịch. Không sao đâu, chị đi đi em theo sau có gì em cứu hộ cho” - Nó khích lệ.

    Cô hòa vào dòng người. Tối nay cô thấy thành phố của cô thật lạ. Hàng cây hai bên hè phố vui hơn mà chúng đang thầm thì với nhau chuyện gì đó. Cả ánh đường dường như cũng sáng hơn. Cả ánh mắt mọi người cũng như đang chăm chú nhìn cô tò mò, tìm hiểu, vừa  giễu cợt vừa thích thú. Lòng cô lâng lâng thật khó tả. Anh ấy thấy mình bình thường như vầy có thất vọng không? Anh có vui khi gặp cô không? Lát nữa mình sẽ nói gì nhỉ(!).Lạy trời cho anh đừng có hỏi tới mấy bài thơ của nhỏ Út.  Chắc lúc đó cô chỉ mong đất nứt ra làm hai cho cô chui xuống. Sao mà mi quê thế - Cô nói thầm trong bụng. Bởi Cô chưa chuẩn bị gì cho cuộc gặp gỡ vô tình này. Cô cứ nghĩ chuyện trao đổi thư từ, thơ thẩn theo phong trào: “ Cả nước hướng về Trường Sa thân yêu” do đoàn thanh niên tổ chức. Thư thì cô viết thật lòng. Còn những bài thơ thì lại của nhỏ em lanh chanh. Rồi một thời gian quen nhau, thư qua thư lại tình cảm cũng theo đó nảy mầm một tình yêu thật trong sáng. Bảo Nam nói  vậy. Anh đã bày tỏ: “ Vẫn thường giở những bức thư của cô ra đọc đến thuộc làu mỗi khi rảnh rỗi, hay những lúc nhớ cô quay quắt. Những chiều hoàng hôn anh hay ra biển trèo lên mỏm đá lớn dõi mắt về đất liền. Nhớ nhất là những đêm trăng sáng vằng vặc giữa bốn bề sóng nước mênh mông. Biển như hát, như ru lòng người: “ Không xa đâu Trường Sa ơi…Không xa đâu Trường Sa ơi… Vẫn gần bên em vì Trường sa luôn bên anh…”.Lời bài hát đã nói lên tất cả nỗi nhớ của những người đang làm nhiệm vụ xa nhà. Tình yêu cuả người lính biển thật khoáng đạt và cũng vô cùng ấm áp. Cứ mỗi lần nhận được thư Bảo Nam cô vừa mừng vừa lo. Cô mừng cho cả hai người đã có một tình cảm đẹp. Nhưng cô cũng lo lắng sợ anh sẽ phát hiện cô nói dối về những bài thơ: “ Mi nên thật thà nói cho người  ta biết đi, chứ để lúc anh ấy  phát hiện ra thì lòng tin sẽ giảm, đôi khi còn làm người khác bị tổn thương. Mà tình cảm của anh ấy quá chân thành. Cô thấy hối hận là đã không nói rõ từ ban đầu. Thôi để lát nữa ta nói cho anh biết luôn, rồi tùy anh hiểu. Bên cạnh đó cô cũng đắn đo - nếu nói ra anh cho cô là người dối trá rồi chia tay thiệt thì sao. Bởi Bảo Nam yêu người trong ảnh và yêu luôn những bài thơ chân chất lẫn lãng mạn của nhỏ Út. Đến lúc này cô lại sợ mất anh. Ôi! Cô không thể nghĩ mọi việc lại khó xử như thế này:” Em xin lỗi” – cô nói thầm.

    Cô dừng xe cách nơi hẹn một đoạn để lấy tinh thần. Bảo Nam đi tới đi lui nôn nóng, đôi khi lại nhìn theo một cô gái nào đó đưa tay vẫy vẫy. Có lẽ Bảo Nam sợ cô không nhận ra anh. Anh đứng quay lưng lại nên không biết cô đã tới.
-  Bảo Nam - Cô gọi nhỏ.
-  Ý An, là em sao.  Anh đang lo em không nhận ra anh, hay thấy anh rồi làm ngơ đi luôn.” Anh mừng rỡ nói luôn một hơi. “ Anh không có nhiều thời gian, mình vào quán nước ngồi nói chuyện được không em? Anh dắt xe và nắm tay cô vào quán. Gọi thức uống xong anh nói tiếp: “ Anh đi công tác đột xuất. Sáng mai 6 giờ anh phải lên tàu về lại đơn vị. Anh chỉ có mấy tiếng đồng hồ thăm em. Em khỏe không, hình như em gầy hơn và…Hai bác thế nào?
- Dạ, em khỏe, công việc cũng bận rộn – Cô giải thích vội vàng để anh không nhận ra sự khác biệt giữa người thực và ảnh. Đúng là cô gầy hơn và già hơn- Ý An đâm lo.
- Anh dặn em rồi, làm gì cũng phải giữ gìn sức khỏe để yêu anh và đợi anh, vì cuộc chiến còn kéo dài mà – Anh cười nửa đùa nửa thật. Thấy cô im lặng anh lo lắng hỏi: “ Em không vui khi gặp anh sao? Hay anh không giống như em tưởng tượng…” Anh nhìn sâu vào mắt cô, có điều gì đó vừa thoáng qua.
 - Đâu có, em bất ngờ quá nên… Cô bối rồi cúi đầu ấp úng - Em.. muốn nói với anh một chuyện. “ Nếu em không giống người trong ảnh, hay..hay… anh có yêu em không? - Cô ướm lời dò hỏi.
- Vậy em có thật sự yêu anh không? Anh hỏi lại rồi nhìn cô chăm chú, chờ đợi.
- Em yêu anh Bảo Nam – Cô trả lời thật lòng
- Anh cũng nghĩ vậy. Em có nhớ đã viết cho anh bài thơ: Biển và anh: “…Anh là đại dương. Bao la nỗi nhớ. Em con thuyền nhỏ. Bơi trong anh mênh mang…” Giờ thì anh biết con thuyền nhỏ của anh rồi, và em vẫn mãi như thế nhé Ý An? Anh mạnh dạn tìm tay cô nắm chặt.

     Cô để yên tay mình trong tay anh. Bàn tay chai sạn và tin tưởng. Cô lý nhí: “ Em nhớ anh.” Anh nghe được cô nói nhưng lại giả bộ hỏi. Ánh mắt nồng nàn.
- Em mới nói gì đó, anh nghe không rõ.
- Em nhớ anh – Cô ghé tai anh nói nhỏ thẹn thùng.
- Ôi tuyệt quá. Bảo Nam ôm chầm lấy cô. Môi hai người vô tình chạm nhau dừng lại, ngỡ ngàng, say sưa.

    Anh đưa cô về trước cổng. Hai người bịn rịn chia tay. Anh dúi vào tay cô gói quà. Đó là một cây san hô đỏ.Món quà của người lính biển.  Đêm đã khuya. Bảo Nam đón chuyến xe sớm trở lại thành phố khác để tiếp tục cuộc hành trình. Anh đã vượt mấy trăm cây số để gặp cô vỏn vẹn có mấy giờ đồng hồ. Cô thấy lòng mình rưng rưng. Bóng đêm như thông cảm và đồng lõa với tình yêu. Anh kéo cô vào vòng tay, ôm cô thật chặt. Nụ hôn như không muốn rời. Xe đến đón, anh mới buông cô ra: “ Em sẽ mãi mãi đợi anh…”. Cô nói với theo.

                                                                  Nguyễn Thị Thuý Ngân

READ MORE - HAI ĐẦU NỖI NHỚ - Thuý Ngân

Wednesday, December 31, 2014

MẸ HÁT RU XUÂN - thơ Trương Lan Anh


Tác giả Trương Lan Anh

Mẹ hát ru xuân

Buổi sáng mùa xuân
          ta cùng cò
                   về thăm làng ngoại
Con đường xa ngái
          quãng đê dài
                   và qua khúc sông sâu
Ngược xuôi đò về
          nước chảy đôi dòng
                   bè ai trôi thong thả
Dòng sông xuân
          sáng trong êm ả
                   soi bóng cò
                               sải cánh bay ngang
Cò đậu hàng hàng
          trên đồng lúa xanh non
                    mùa Xuân nay
                               cò may thêm áo mới
Trắng phau phơi
          trên đồng lúa trổ
Cò về rồi
          cò đã thuộc chưa?
Câu hát nỉ non
          thân dặm trường xưa
                   thương một đời lam lũ
Cò chẳng ngủ
          đêm khuya lặn lội
Cò ăn đêm
          "đậu phải cành mềm"
Mẹ thương cò
          ru câu hát êm êm 
Cánh vạc gầy
          mỗi mùa đói kém
Ta lớn lên
          trong lời ru của mẹ
Có cánh cò
          đậu trắng giấc mơ
Bao năm qua
          mà con vẫn đợi chờ
Nghe câu hát xưa
          ru đời con khôn lớn
Nhịp võng đưa
          qua tháng năm dài rộng
Con vẫn ước về
          nghe mẹ hát
                    ru xuân…


                                       Tháng 1/2011




Đã đăng trong tập thơ
NGƯỜI ĐÀN BÀ MẶC CHIẾC ÁO CHOÀNG,
tác giả Trương Lan Anh,
NXB Hội Nhà Văn, 2008,
tác giả gởi tặng.


READ MORE - MẸ HÁT RU XUÂN - thơ Trương Lan Anh

EM BIẾT - thơ HỒNG TÂM




Em Biết

Em biết mình còn say đắm yêu anh
Dù năm tháng trôi âm thầm lặng lẽ
Ôi bao mùa đi qua rất nhẹ
Thắm thoắt thoi đưa gần chục năm rồi

Xa rồi, vị ngọt đôi môi
Dư âm đắng chút men tình trỗi dậy
Dấu yêu tình đầu người đâu có thấy
Có em đây, lẽ bóng nhớ người

Khi hoàng hôn buông xuống cuối chiều
Bóng đêm về, tâm hồn trống trải
Chuyện chia ly gây bao điều ái ngại
Yêu thật nhiều mà chẳng được bên nhau


Em biết! Lòng người đâu đo được chiều sâu
Và đâu đoán được trái tim người và lý trí
Trong lòng em bao giờ vẫn nghĩ
Tình yêu nào mà chẳng chút thương đau

Thôi nhé anh! Mình đành hẹn kiếp sau


Hồng Tâm  ( Lý Thị Minh Tâm - Bến Cầu - Tây Ninh )
Email: lyminhly456@gmail.com
Điện thoại:01285990757
READ MORE - EM BIẾT - thơ HỒNG TÂM

TÌNH YÊU EM - thơ Trúc Thanh Tâm- Phổ nhạc Đắc Lợi - Trình bày ca sĩ Hải Đăng




TÌNH YÊU EM

Chiều đi sâu vào nhớ
Anh nghe đời chiêm bao
Ngồi nghe từng tiếng lá
Thời gian buồn theo nhau ! 



Trời mang màu mây tím
Gió gợi hồn cô đơn
Anh mong chờ xuân đến
Trên môi hồng yêu thương !

Anh về ru điệu hát
Ngày tháng dài buông xuôi
Niềm tin đầy như biển
Mắt em một bầu trời !

Em từ vầng trăng sáng
Qua hồn anh đêm nay
Anh nằm ôm trăng ngủ
Mộng ước về tương lai !

Bờ tóc dài thương nhớ
Máu đổ về trong tim
Anh nghe mùa xuân đến
Chỉ còn tình yêu em !

TRÚC THANH TÂM 
( Châu Đốc )
____

MỜI BẤM VÀO ĐÂY ĐỀ NGHE CA KHÚC TÌNH YÊU EM TRÊN NHẠC CỦA TUI.
READ MORE - TÌNH YÊU EM - thơ Trúc Thanh Tâm- Phổ nhạc Đắc Lợi - Trình bày ca sĩ Hải Đăng

EM HÁT "CHỊ TÔI CHƯA LẤY CHỒNG" - thơ Vân Trinh




EM HÁT "CHỊ TÔI CHƯA LẤY CHỒNG" (*)

Thân tặng Chị Tư Hổng Trầm của Hồng Phượng.





Em hát  "Chị tôi  chưa lấy chồng..."

Mà nghe day dứt cứ mênh mông

Cái  ngày con gái xa, xa mãi

Mưa nắng thời gian héo hắt lòng



Lận đận đường đời bước thấp, cao

Khó lường gai gốc biết nhường nào?!

Chị quên cả giọt mồ hội đổ

Miển khói cơm thơm bếp ngọt ngào



Chị lo tấm áo em lành lặn

Lo chiếc mền đêm rét bất thường

Mà quên cả khỏang trời hoang vắng

Trong chị lạnh lùng bao gió sương..!



Thương sóng bạt đầu phai tóc mẹ

Và bước cha như chậm lại rồi..!

Mà quên chiếc bóng mình riêng lẽ

Sớm tối đi về... cứ thế thôi!



Em hát "Chị tôi chưa lấy chồng..."

Nhưng mà chưa mãi ... cũng bằng không

Cái "không" là cái vô bờ bến

Là sự quên thân đến tột cùng...



Số mệnh sao mà... thôi  chịu vậy

Để các em vui hạnh phúc riêng

Bè bạn đủ đôi mừng thật đấy

Có đẹp nào hơn một trái tim..!



Biết chúc gì đây xuân đã sang?

Còn có lời nào xứng đáng chăng?

Ơi! Chị của em là tất cả

Ý nghĩa mùa xuân trên thế gian!



                                       VÂN TRINH

___________

(*lời ca trong ca khúc "Chị tôi" của NS Trần Tiến.)






READ MORE - EM HÁT "CHỊ TÔI CHƯA LẤY CHỒNG" - thơ Vân Trinh

MỘT THỜI PHÚ YÊN - thơ Huy Uyên





Một thời Phú-Yên

(Cảm xúc từ truyện ngắn Dì Lucia của Mang Viên Long)




Phố và những thiếu-nữ dịu hiền

con đường, ngã ba, ngã tư đơn lẻ

nhà thờ tượng Chúa lặng im

bên sông dài về đâu nước chảy.



Một mình Trần-Hưng-Đạo loang đầy nắng

chiếc xe thổ mộ ngựa phì phò

dài theo từng bóng cây

chợ Tuy-Hòa trầm vắng

nghiêng treo giọng ca ai - đời chơi vơi.



Em ở đâu em gái Tuy-Hòa

chiều thả tóc bay cùng gió

ngậm trong hồn tình ai - Dì Lucia

sao quá  chao lòng người yêu xưa bé nhỏ.



Quê nhà chiều ba mươi rét ngọt

người một mình lầm lũi bước, lạnh con đường 

sầu liêu xiêu bay ngọn cây hồn phách

nỗi đau tan theo đốm lửa sau cùng.



Ai đi về bên trời xẻ chia

nụ hôn cũ từ lâu dấu kín

hoài niệm xót xa chi nữa một thời

ngọn roi quất ngước một đời thâm tím.



Lung linh cửa sổ nhà ai ngọn nến

Phú-Yên tối chìm, phố ngũ hoang-mê

bao nhiêu năm không người đưa tiễn

đào mộ chôn người lấp nỗi cay se.



Xót chi hoài ký-ức trong tôi

em một lần treo tim đứng ngó

em rồi như rong biển, mây trời

Tuy-Hòa xa không ngày quay lại .



                                24-12-2014

                                Huy Uyên
READ MORE - MỘT THỜI PHÚ YÊN - thơ Huy Uyên