Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, April 29, 2013

MẸ ĐÃ ĐI RỒI - Lê Văn Thanh họa bài CẦU MONG MẸ ĐƯỢC SỐNG LÂU của DIỆU HỒ

       
   
                     
          MẸ ĐÃ ĐI RỒI
     (Họa nguyên vận)

     Tuổi mẹ qua rồi ngưỡng chín mươi (*)
     Chắt chiu con cháu quấn theo người
     Bảy mươi tuổi mụ con bên mẹ
     Hạnh phúc nào hơn mẹ ở đời
     Còn mẹ thân con luôn trẻ mãi
     Chừ con mất mẹ quá chơi vơi
     VU LAN lễ hội không còn mẹ
     Bông trắng cài bâu lạnh buốt trời

                                Lê Văn Thanh

(*) Mẹ tôi sống đến tuổi 97. Tôi không thích hư cấu nên phải dùng lại từ "chín mươi," mong được chấp nhận.
   
   
CẦU MONG
MẸ ĐƯỢC SỐNG LÂU 

Lần lữa cầu mong Mẹ chín mươi
Vu Lan lễ Mẹ được theo người
Bông hồng cài áo con còn Mẹ
Nếp một, mía lau Mẹ có đời
Có Mẹ lòng con vui ấm mãi
Mẹ đi rồi nước mắt đầy vơi
Sum vầy cá nước con cùng Mẹ
Mẫu tử thiêng liêng tựa đất trời

Mẹ tròn 87
DIỆU HỒ
2004
READ MORE - MẸ ĐÃ ĐI RỒI - Lê Văn Thanh họa bài CẦU MONG MẸ ĐƯỢC SỐNG LÂU của DIỆU HỒ

Thơ Nguyễn An Bình - BÊN DÒNG THẠCH HÃN - DÒNG SÔNG NGÃ BẢY



BÊN DÒNG THẠCH HÃN 

Ta trở lại sau ngày ngưng tiếng súng
Quảng Trị ơi! thành phố đã hoang tàn
Hàng kẽm gai trơ mình trong nắng quái
Bụi mù trời giăng kín cả La Vang.

Kia Thạch Hãn! dòng sông đầy thương tích
Bao năm rồi dấu vết cuộc đao binh
Ta bùi ngùi nhìn cây trơ cành cọc
Mà thương hoài cho đất nước điêu linh.

Em có thấy nhịp cầu xưa đã gẩy
Mấy nhịp cầu là mấy nhịp tha phương
Biết bao giờ nối liền bờ nam bắc
Hay vẫn là dòng nước ngược mù sương?

Đây địa điểm tù binh người trao trả
Ta mong chờ tìm được bóng người quen
Bạn bè ta có thằng còn thằng mất
Bởi vô tình súng đạn chẳng quan tâm.

Em thấy không trên Cổ thành quạnh quẽ
Tiếng chim kêu ngơ ngác gọi tìm nhau
Ta đứng đợi bóng ai qua đầu núi
Mây Trường Sơn trôi dạt tự phương nào.

Ta sẽ về bên mái nhà ấu thơ
Nằm im nghe bên võng mẹ ầu ơ
Mùa xuân sớm về trên quê hương ấy
Có pháo hồng cùng đám cưới ngây thơ.

Mùa ngưng bắn 25/2/1973




DÒNG SÔNG NGÃ BẢY


Anh đi Cái Tắc về Long Thạnh
Nghe gió ngàn xưa chợt thổi lên
Xe qua Cầu Trắng buồn hơi thở
Cũng mấy hàng cây cuốn nỗi niềm.

Rồi cũng một lần xe đổ bến
Anh về Phụng Hiệp dựng ngày mơ
Chuông vọng giáo đường bay bãng lãng
Anh nghe hồn chết tự bao giờ.

Từ bốn phương trời con nước đến
Tạo dòng ngã bảy đất còn xanh
Như ước mơ ngày anh mới lớn
Bao năm xây mộng mãi chưa thành.

Trên gác anh nhìn ra bảy ngã
Lục bình trôi sẽ dạt về đâu?
Như tình anh khắc trtên đường phố
Biết có sau nầy phai rất mau?

Thì em một lần nghe anh nói
Dù mộng không tròn cũng thế thôi
Anh sẽ ra đi sầu viễn khách
Từng đêm ru giấc ngủ ngậm ngùi.

Như nước xa nguồn sông ngã bảy
Con tàu tách bến sẽ về đâu?
Như tình ta cùng chia nhiều lối
Chờ đợi nhau cũng đến bạc đầu. 


NGUYỄN AN BÌNH
luongmanh2106@gmail.com

READ MORE - Thơ Nguyễn An Bình - BÊN DÒNG THẠCH HÃN - DÒNG SÔNG NGÃ BẢY

Thơ Trúc Thanh Tâm - QUÊ HƯƠNG NẦY ĐÂU PHẢI MỘT RIÊNG AI - ĐẤT QUÊ TA ĐÂU CŨNG CÓ LINH HỒN




QUÊ HƯƠNG NẦY
ĐÂU PHẢI MỘT RIÊNG AI

Quê hương tôi mười lăm năm trở dậy
Gió mang hương một dãy nắng thanh bình
Những câu hát, những điệu hò bất tận
Trong tình người rợp mát bóng cây xanh !


Hãy cho nhau bằng nụ cười, ánh mắt
Sống với nhau bình đẳng chuyện đời thường
Hãy nhìn nhau bằng cái nhìn tình tự
Để trái tim còn ngọt vị yêu thương !

Hãy thở như hương đồng lúa chín
Rất tinh anh hạt sương sớm đầu ngày
Hãy lắng nghe lời chim thánh thót
Và ngưng chiều sợi khói nhà ai !

Em về đâu nghiêng vành nón lá
Gió lẳng lơ trên bờ tóc đa tình
Đời bắt đầu như nụ hôn rất lạ
Để con người thú thật chuyện ba sinh !

Hãy giữ cho nhau những mùa xuân chín
Mười lăm năm hơi thở tợ sông dài
Hỡi tất cả những hy sinh cao quý
Quê hương nầy đâu phải một riêng ai !

Châu Đốc, 22-3-1990
   
   


   ĐẤT QUÊ TA
   ĐÂU CŨNG CÓ LINH HỒN  

          
   Đưa em về, tìm lại quãng trời thơ ấu
   Mồ mả bà con từ dạo chiến tranh
   Chiếc cầu khỉ và con mương nhỏ
   Trăng phương nam, trai gái vẫn ươm tình  !


   Đưa em về, thăm đình chùa cổ kính
   Màu thời gian in dấu thăng trầm
   Mái trường cũ giờ chỉ còn kỷ niệm
   Những thâm tình đọng lại nỗi thương tâm  !

   Đưa em về, thăm vườn trái cây bóng mát
   Để em nghe tiếng chim hót tỏ tình
   Và quên đi những oán hờn, nước mắt
   Chỉ ngọt ngào dòng máu đỏ tinh anh  !

   Đưa em về, với buổi chiều ráng đỏ
   Dòng phù sa tim tím khóm lục bình
   Thương cánh cò qua hai mùa mưa nắng
   Dạ cổ, tình người chơn chất đất phương nam  !

   Đưa em về, cùng hương đồng lúa trổ
   Đất quê ta đâu cũng có linh hồn
   Từng hạt bụi cũng mang niềm trăn trở
   Từng nụ cười đầm ấm những nụ hôn  !

   Đưa em về, ngày hòa bình mở hội
   Với mùa xuân chan chứa thuở yêu người
   Chiếc áo bà ba và nét duyên con gái
   Nón lá hẹn hò tóc xõa nghiêng vai  !

   TRÚC THANH TÂM
   Cần Thơ, mùa thu 1976

   tructhanhtaam@yahoo.com
READ MORE - Thơ Trúc Thanh Tâm - QUÊ HƯƠNG NẦY ĐÂU PHẢI MỘT RIÊNG AI - ĐẤT QUÊ TA ĐÂU CŨNG CÓ LINH HỒN

VIÊN BI KHẾ MÀU VÀNG - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình




Tôi, Bình và Huyền là bạn thân nhau hồi tiểu học. Bình là cậu học sinh cùng lớp cao hơn tôi gần nửa cái đầu, bởi tôi là thằng con trai có vóc dáng thấp nhỏ và tôi đã mang cái mặc cảm thấp thỏi của mình suốt thời học sinh. Đứng gần ai cao hơn bao giờ tôi cũng nhón gót chân lên một chút. Bởi vậy tôi thường có ý tránh đứng gần những người cao hơn, nhất là đứng cạnh các bạn gái.  Đó là lí do khiến tôi dù rất thích Huyền nhưng không bao giờ dám đến gần Huyền. Huyền là cô gái cũng có vóc dáng nhỏ bé, học sau tôi và Bình một lớp, thế nhưng trông ra Huyền đã có vẻ cao bằng tôi rồi. Huyền có bao giờ biết được trong lòng tôi hồi ấy nó khổ sở như thế nào đâu, dù Huyền rất thân với tôi. Nhưng điều đó thì có ý nghĩa gì khi Huyền cũng rất thân với Bình mà Bình lại là thằng con trai cao ráo trông phong độ hơn tôi nhiều.


Nhà của ba đứa chúng tôi ở cùng một đường xóm. Từ đường cái chính rẽ vào thì gặp nhà Huyền trước sau đó đến nhà Bình, cuối cùng mới đến nhà tôi. Ngôi nhà của  tôi ở tận dưới chân một ngọn núi, có cái khe nước nhỏ bao quanh mọc đầy lau lách. Vào mùa đông căn nhà chìm trong mầu trắng của bông lau. Mỗi khi có ngọn gió đông thổi quanh chân núi làm run rẩy cả rừng lau thì đứng xa xa nhìn về căn nhà  mình tôi có cảm giác như ngôi nhà của tôi đang trôi bồng bềnh giữa đám mây trắng.Tôi thích Huyền từ lúc tôi mới học lớp nhất (lớp năm) và Huyền học lớp nhì (lớp bốn) cùng trường tiểu học. Sau nầy tôi và Huyền xa nhau, có lẽ cũng bắt nguồn từ cái mặc cảm trẻ con ấy, bởi chính nó cứ gây trong lòng tôi một sự dỗi hờn âm thầm mỗi khi thấy Huyền và Bình gần nhau. Nhất là Bình nó bao giờ cũng vui vẻ hồn nhiên khi đứng cạnh Huyền. Điều đó càng làm tôi ghen tức. Rồi một sự việc xẩy ra đã đẩy tôi xa hẳn Huyền và làm nên một nỗi đau trong tôi suốt đời không khuây khỏa được. Giờ nghĩ lại thật là quá ngớ ngẩn. Ai dám bảo sự sai lầm của trẻ con là không nghiêm trọng!

Buổi chiều hôm đó tôi và Bình đi học về ngang qua trước nhà Huyền thì  bị hai con chó của nhà cô bé lao ra rượt. Tôi nhác thấy Huyền cầm cây củi phóng theo chận con chó mực  đang đuổi Bình, còn tôi thì cô ấy bỏ mặc cho con chó vàng bám theo sát gót. Và nó đã táp vào gót chân tôi một miếng dù không đau lắm. Sau sư việc đó tôi hiểu tình cảm của Huyền đã dành cho Bình. Tôi âm thầm buồn và ít chơi với Huyền hơn. Còn với Bình tôi đã trút hết sự uất ức trong lòng mình vào cậu ta. Những ván bi hơn thua thường là trò chơi trẻ con nhưng với Bình thì tôi  quyết hơn thua với cậu ấy sau những giờ tan trường, có lẽ đó cũng xuất phát từ ý nghĩ muốn chiến thắng cậu ta. Vì ngoài ra tôi không biết phải chiến thắng cậu ấy bằng cách gì khác. Mà thật là bất công, cậu ấy cao hơn tôi, đẹp trai hơn tôi, đã dành được tình cảm của Huyền  nhiều hơn tôi, đến việc đánh bi cậu ta cũng hay hơn tôi. Cậu ta có những ngón tay vàng. Những ngón tay thuôn nhỏ và dài, mảnh mai như ngón tay con gái nhà khuê các. Viên bi từ hai ngón tay Bình búng ra đánh xẹt một đường thẳng tắp, và sau cùng phát ra một tiếng kêu “cắc” gọn gãy khi chạm vào viên bi của tôi. Mười lần như một. Và hình như cậu ta có khả năng điều khiển được viên bi giống như bây giờ người ta điều khiển loại tên lửa hành trình vậy. Chạy vòng vèo đâu mặc kệ nhưng cuối cùng vẫn chạm vào đích. Có một lần viên bi của Bình phóng ra chạm phải một viên sỏi, hòn bi bật tung lên rồi rơi xuống. Tôi chắc mẩm viên bi khi rơi xuống sẽ dừng lại, không đủ sức lăn đến tận viên bi của tôi. Nhưng không đâu nhé, viên bi mầu vàng của cậu ta sau khi bật lên rồi rơi xuống,  vẫn tiếp tục lăn một cách chậm rãi khoan thai. Mỗi bước lăn của nó làm tim tôi muốn nghẹn thở. Nó cứ chầm chậm bò đến viên bi của tôi, đến nổi tôi hốt hoảng bất giác nhìn Bình. Vẻ mặt cậu ta vẫn bình thản tự tin. Tôi cố giữ cho mình niềm tin rằng viên bi của Bình sẽ không thể lăn đến để  chạm vào viên bi của tôi, trước vẻ lăn gần như kiệt sức của nó. Nhưng không, nó vẫn ngoan cường lăn, cho đến lúc  gần như bất lực  thì chính giây phút đó nó  chạm vào viên bi của tôi, trước tiếng cười đắc thắng của Bình và trước sự thẩn thờ của tôi. Mãi sau nầy tôi nghĩ,  đường bi của Bình bắn ra trong trò chơi từ thời học trò nó như báo trước định mệnh về cuộc đời của cậu ấy. Bình đã anh dũng hy sinh vào chính thời điểm mà trên tất cả các mặt trận, quân Giải phóng đã làm chủ tình thế.

   Ngồi trước ngôi mộ của Bình tôi vẫn tiếp tục nhớ lại những kỷ niệm thời thơ ấu của chúng tôi.

Thuờ nhỏ tôi mê chơi bi đến nổi bỏ cả học hành. Có một lần tôi nhịn tiền ăn sáng để dành mua hai viên bi. Những viên bi bằng chai trong veo, ở trong lòng có in hình một trái khế năm cạnh, có trái màu vàng có trái màu tím trông đẹp mắt lắm. Tôi chọn mua hai viên, một màu đỏ, một màu xanh. Bình biết tôi có bi mới sang gạ đánh bi với tôi. Mặc dù trong lòng đã mang sẵn mối hận về chuyện Bình đã đoạt tình cảm của Huyền mà tôi chưa có ván bi nào để trút hận, nhưng thấy mấy ngón tay của Bình tôi đã gờm rồi. Tôi từ chối. Bình đòi xem hai viên bi của tôi. Tôi cho xem để khoe hai viên bi màu xanh và màu đỏ của mình. Xem xong, biết không gạ được tôi, Bình lẳng lặng bỏ về. Nhưng lát sau Bình trở lại và mang cho tôi xem viên bi mới toanh của cậu ta. Một viên bi khế mầu vàng chói lóa làm tôi mê mẫn.

-Đánh không? Bình hỏi.

Thích viên bi của cậu ta thì ít nhưng thích chiến thắng cậu ta thì nhiều, nhưng tôi không dám. Tôi lắc đầu.

Bình đề nghị:

-Thôi đánh ba ván, nếu cậu thắng mình một ván thì xem như cậu ăn. Còn nếu cậu thua luôn cả ba thì mình ăn. Được chưa.

Nghe đề nghị nghe ngon quá, một đằng thì thấy viên bi mầu vàng quá đẹp, một phần vì nghĩ chẳng lẽ ba ván mình chẳng ăn được ván nào sao. Thỉnh thoảng tôi vẫn thắng cậu ấy kia mà.

-Được, chơi. Tôi trả lời.

Ba ván đầu tôi thua liên tiếp. Cầm hai viên bi xanh đỏ trong tay, tôi tiếc quay, đắn đo không biết đưa cậu ta viên nào. Tôi chìa viên mầu xanh cho Bình, chính viên bi đã đem lại thất bại cho tôi.

-Đánh nữa không?

-Đánh . Tôi trả lời không đắn đo, vì tôi đang nổi khùng. Tôi tự nhủ, nếu trận nầy mà thua  thì tôi nhất định không gặp mặt Huyền nữa. Tôi sẽ về tìm trả lại cho cô bé cây bút E rơ vơ mà cô ấy đã  khắc hình một bông hoa mầu trắng và đã cho tôi vào dịp nghỉ hè năm ngoái. Định bụng sau đó thì nhất định tôi không chơi với cả hai người nữa.

Và trận nầy thì tôi đã phá sản hoàn toàn. Điều nầy cũng tất nhiên thôi vì bàn tay tôi cứ run lên, mồ hôi ướt nhẹp, bắn đâu có chính xác nữa. Thay vì đưa bi cho Bình, tôi ném viên  bi mầu đỏ xuống đất rồi lẳng lặng bỏ về không nói với Bình nửa tiếng. Đi được mấy bước tôi bỏ chạy, nhất định về lấy cây bút E rơ vơ  trả lại cho Huyền, ngay tức khắc. Mới chạy được vài chục mét tôi nghe Bình gọi tên tôi. Tôi quay mặt lại, nhưng không hỏi.

Bình thọc tay vào túi rồi cầm ra cái gì đó. Bỗng nhiên Bình dang tay ném mạnh về phía tôi. Tôi giật mình né tránh. Dưới ánh sáng mặt trời gần trưa tôi thấy ba vệt ánh sáng lóe lên ba màu, xanh, vàng, đỏ phóng về phía tôi rồi  rơi ngay dưới chân. Tôi nhìn xuống: Ba viên bi sáng chói nằm im dưới ánh nắng. Tôi nghe Bình nói:

-Cho cậu cả đó.

    Những năm tháng sau đó chiến tranh tràn về quê tôi. Vùng tôi ở đã biến thành vùng xôi đậu. Ban ngày phía “Quốc gia” kiểm soát, ban đêm quân Cách mạng kiểm soát.Tôi lên tỉnh học Trụng học. Thỉnh thoảng vài tháng về thăm nhà một lần. Ban ngày tôi ở lại trong nhà, nhưng tối đến phải xuống một thị trấn cách nhà chừng vài ba cây số để ngủ lại. Thị trấn nầy đang nằm trong vùng chiếm đóng của quân “Quốc gia”. Ngôi nhà của tôi vẫn ở dưới chân núi, mùa đông vẫn phủ đầy bông lau trắng xóa. Trong thời gian nầy tôi được biết Bình lên núi hoạt động Cách mạng còn Huyền thì bỏ quê hương theo gia đình vào Nam. Sao họ chia tay nhau nhỉ, tôi thắc mắc trong lòng. Năm tôi học lớp mười hai, có một lần vê thăm nhà, tối đến  tôi sửa soạn bỏ xuống thị trấn. Mới bước ra khỏi ngõ thì gặp ngay một người mang quân phục, chân đi dép cao su, đầu  đội mũ có bọc lưới ngụy trang, dáng người khong khỏng cao đứng chận ngay trước mặt. Người  lạ  chỉa súng vào tôi và quát, tiếng quát không lớn lắm nhưng tôi cũng giật thót mình:

-Thanh! Cậu đã bị bắt.

Tôi bàng hoàng chưa biết phải xử trí  sao. Bỏ chạy thì không còn kịp nữa. Tôi đứng im trong hoảng sợ.

Người lạ một tay giữ súng một tay tháo mũ, xong nhìn tôi mỉm cười hỏi:

-Cậu có nhận ra mình không?

Tôi đã lấy lại chút bình tĩnh, và không khó khăn gì để nhận ra đấy là Bình. Dù cậu ta trông hơi gầy và đen đi nhiều so với thời chúng tôi còn là bạn của nhau cách đây cũng đã sáu bảy năm. Tôi thốt lên:Bình, rồi im lặng.

-Cậu sợ lắm sao. Bình hỏi rồi nói: Cậu đi học thì ai làm gì cậu mà sợ, thôi vào nhà ngủ đi đừng trốn đi đâu cho mệt. Muốn bắt cậu thì mình bắt từ lâu rồi. Lần trước cậu về thăm nhà, lúc bỏ di ngủ cậu đi ngang qua trước mặt mình mà cậu không thấy. Định gọi cậu  nhưng lại thôi vì tối đó mình đang nhận công tác phải giữ bí mật.

Nói xong Bình vỗ vai tôi thân mật dặn:

-Nhớ học thành tài rồi về phục vụ cho nhân dân nhé. Mình muốn có lúc được chơi với cậu một ván bi. Nhưng muốn có được ngày đó thì cậu nhớ đừng làm việc cho địch đấy. Thôi vào nhà, đừng có bỏ đi nữa. Bình dặn lại rồi nói: Đã gặp mình rồi mà cậu bỏ đi là rất nguy hiểm đấy. Không phải mình dọa đâu. À nầy… chợt Bình hỏi:

-Lâu nay cậu vẫn liên lạc với Huyền chứ? Gặp cô ấy cho mình gởi lời thăm nhé. Mong hòa bình sẽ gặp lại.

Tôi nói:

-Đáng lẽ mình hỏi cậu về Huyền mới phải chứ. Sao cậu lại hỏi mình?

-Vậy ra cậu không gặp Huyền à. Hồi trước với hai đứa mình thì Huyền chỉ có cảm tình với cậu thôi. Vậy mà không biết, cậu thật là ngớ ngẩn. Thôi vào nhà ngủ đi. Mình đi đây, hẹn có ngày sẽ gặp lại để chơi bi với cậu. Bình nhắc lại: Gặp Huyền thì cho mình gởi lời thăm nhé.

 Tôi hiểu ý nghĩa câu nói của Bình khi khuyên tôi không nên bỏ đi lúc đã gặp cậu ấy. Tôi lẳng lặng trở lại nhà trước những đôi mắt kinh ngạc của những người trong gia đình.
Và sau lần đó tôi không trở về thăm nhà nữa.

  Tốt nghiệp Đại học Sư phạm tôi nhận công tác giảng dạy ở một trường thuộc  thị xã vùng Cao nguyên. Tôi không biết tin tức gì về Bình người bạn thuở ấu  thơ  đã trả lại cho tôi hai viên bi màu xanh màu đỏ và cho tôi thêm một viên mầu vàng của cậu ta nữa. Tôi cũng không biết tin tức gì về Huyền cô bạn gái năm xưa mà tôi đã trả lại cây bút hiệu E rơ vơ có khắc hình một bông hồng màu trắng để tặng tôi. Tôi để tâm  tìm kiếm tin tức của Huyền nhưng cô ấy vẫn bặt vô âm tín.

Sau ngày đất nước thống nhất, tôi được chính quyền Cách mạng tuyển dụng trở lại theo diện giáo viên lưu dung.

Hôm nay ngày giỗ cha,  lần đầu tiên tôi trở về quê sau lần gặp Bình hồi ấy. Chị tôi đã có gia đình và có hai con, một trai một gái. Chồng chị làm ở Hợp tác xã. Gia đình chị   vẫn ở lại trong ngôi nhà của cha mẹ chúng tôi nằm trong khóm lau lách năm xưa, nhưng bây giờ đã được phát quang sáng sủa. Con đường xóm đi qua nhà Huyền và Bình  năm nào đã được lát xi măng rộng rãi. Tất nhiên Huyền và Bình đã không còn ở đó từ lâu rồi.

Chị tôi kể về Bình. Cậu ấy đã bị địch phục kích bắt, và bị bọn chúng  đem ra sát hại ở ngoài quận. Khi bị địch bắt cậu ấy kiên cường lắm.

Tin nầy, lúc đi dạy xa tôi đã nghe, nhưng không cụ thể lắm. Tôi hỏi:

-Đó là năm nào chị?

-Trước ngày hòa bình đâu hơn  một tháng chứ mấy. Chị không nhớ rõ ngày, nhưng nhớ đó là những ngày cuối tháng ba năm bảy lăm.

-Còn Huyền chị có nghe tin tức gì về cô ấy không?

Như nhớ ra chị tôi kể:

-Huyền thì mới về thăm quê năm ngoái đây.

-Năm ngoái Huyền có về? Tôi sững sốt kêu lên.

Chị tôi gật đầu kể thêm:

- Lúc về Huyền có ghé lại nhà mình chơi. Huyền hỏi thăm cậu. Tội ghê. Cô ấy nói sao cậu biết không?

-Huyền nói sao?

-Cô ấy bảo lúc trước cô ấy rất muốn được làm dâu nhà mình, nhưng cô ấy không có duyên số với nhà mình.

-Cô ấy bảo vậy sao? Đúng thế không? Tôi hỏi chị tôi trong tâm trạng bang hoàng xúc động.

-Ừ cô ấy nói vậy. Mà sao hồi trước chị thấy hai đứa bây chơi thân nhau lắm, sau đó cô ấy không qua nhà mình chơi nữa, là sao vậy.

Tôi chẳng biết trả lời sao, tôi nói với chị:

-Chuyện trẻ con ấy mà, ai để ý. Bây giờ tình hình gia đình, chồng con  cô ấy ra sao? Cô ấy có để  địa chỉ lại cho chị không?

-Cô ấy có chồng là sĩ quan chế độ cũ. Cải tạo xong về làm ăn nghe nói cũng được, có một đứa con trai. Cô ấy có ghi số điện thoại lại cho chị và bảo khi nào em về thăm thì gọi cho cô ấy.

Tôi mừng rỡ:

- Đâu chị đưa em.

-Chị  ghi vào mảnh giấy nhưng để lạc mất đâu rồi tìm không ra.

-Trời đất!

     Tôi ra nghĩa trang liệt sĩ thăm mộ Bình. Ngôi mộ gọn gàng xinh xắn nằm chen giữa những dãy mộ xếp ngay hàng thẳng lối, sơn quét mầu vôi còn trắng tinh. Ai mới vừa thắp nhang cho Bình xong. Trên bia mộ của Bình chỉ ghi họ tên ngày hy sinh của cậu ấy mà không có ảnh. Tôi thắp nhang cho Bình, ngồi xuống bên mộ bạn. Mình vẫn nhớ và đã làm theo đúng  lời dặn của bạn, nhưng ván bi như bạn hẹn thì ta không còn cơ hội để chơi với nhau được nữa.

Trong đầu tôi, một viên bi chai trong lòng có in hình trái khế mầu vàng lóng lánh, chậm rãi lăn tới, lăn tới... Khi  không đủ sức lăn tiếp nữa thì nó vừa chạm vào viên bi mầu xanh, rồi ngừng hẳn. Cùng lúc, đâu đó âm vang tiếng cười chiến thắng của Bình.


NGUYỄN BÁ TRÌNH
Sinh ngày: 03-9-1946.
Quê quán: Lương Điền, Hải Sơn, Hải Lăng, Quảng Trị.
Cử nhân toán ĐHSP Huế.
Giáo viên toán THPT.
Hiện nghỉ hưu.
Email: bichlien101046@yahoo.com.vn

READ MORE - VIÊN BI KHẾ MÀU VÀNG - Truyện ngắn Nguyễn Bá Trình

Sunday, April 28, 2013

Đọc sách: “NHÌN LẠI THƠ MỚI VÀ VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN” , MỘT TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU VĂN HỌC RẤT CẦN THIẾT HIỆN NAY - Phan Kỷ Sửu

     Đến năm 2012, phong trào Thơ mới  và Tự lực Văn đòan đã 80 tuổi kể từ khi thành lập đến nay. Đó là hai hiện tượng văn học quan trọng của 80  năm về trước thế mà cho đến nay trong điều kiện đổi mới của đất nước nó lại là đối tượng nghiên cứu rất cần thiết của tất cả những người quan tâm đến lỉnh vực văn học Việt Nam hiện đại trong đó  có các thầy cô giảng dạy văn học và sinh viên học sinh trong cả nước.
    Tập sách  “NHÌN LẠI THƠ MỚI VÀ VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN” nxb Thanh Niên-2013 là một tác phẩm tổng hợp 50 tham luận của các hội thảo về văn học do các Trường Đại học KHXH Nhân văn và Đại học Sư Phạm  TP/HCM tổ chức vào năm 2012. Chủ biên cuốn sách là. ba tác giả Trần Hữu Tá,Nguyễn Thành Thi và Đoàn Lê Hương. Sách có sự hợp tác thực hiện của tạp chí Thế Giới mới.
    Các tác giả hầu hết  đều là những giáo sư, phó giáo sư, nhà nghiên cứ văn học tên tuổi trong nước như GS Nguyễn Đăng Mạnh, GS Phong Lê, GSTS Trần Đình Sử, GSTS Hùynh Như Phương, GS Nguyễn Huệ Chi  cùng nhiều tác giả ở Hà Hội,Huế Đà Nẳng và nhiều tỉnh thành khác,nòi chung đó là những chuyên gia hàng đầu trên lỉnh vực này…Từ những cái nhìn bao quát, hệ thống 2 hiện tượng văn học nói trên,phân tích những đánh giá nhận định của giới trí thức qua các giai đọan lịch sử của đất nước. Các tác giả đã  khẳng định những đóng góp hết sức quan trọng của thơ mới  và văn xuôi Tự lực Văn đòan đối với văn học Việt Nam. Bên cạnh đó sách  còn nêu bậc nhiều vấn đề cần phải nhìn lại để đánh giá đúng  đắn cũng như  hiểu rõ hơn những nhận định sai lầm trước đây về hai hiện tượng văn học ấy.
     Trong bài viết “Địa vị lịch sử của Phong trào thơ mới” GSTS Trần Đỉnh Sử đã khẳng định “Thơ mới là thơ của Tiếng Việt hiện đại có khả năng phát huy mọi tiềm năng thẩm mỹ của tiếng Việt cho thơ…Thơ mới đúng là cuộc cách mạng thi ca vĩ đại nhất trong lịch sử thơ va Việt Nam”
     Trong bài”Tự lực Văn đoàn và Thơ mới,sau hơn nửa thế kỷ-nhìn lại “ đã kết luận “ Mười năm tồn tại của Tự lực Văn đoàn đã để lại những dấu ấn đậm nét trên tiến trình hiện đại hóa văn chương-học thuật Việt Nam thế kỷ XX”
     Một vấn đề rất mới mà sách đề cập đến xoay quanh văn học Quốc ngữ Nam Bộ qua các giai đọan từ 1900-1954 như các bài “Một số nhà thơ nữ Nam Bộ trong phong trào Thơ mới” của PGS Đòan Lê Giang, “Nhà thơ Đông Hồ và phong trào  Thơ mới” của TS Lê Thị Thanh Tâm v.v…
    Sau cùng là những vấn đề vế phương pháp giảng dạy thơ và  văn xuôi Tự lực Văn đòan trong nhà trường của các tác giả vốn là các thầy cô giáo dạy Văn.

                                     PHAN KỶ SỬU

READ MORE - Đọc sách: “NHÌN LẠI THƠ MỚI VÀ VĂN XUÔI TỰ LỰC VĂN ĐOÀN” , MỘT TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU VĂN HỌC RẤT CẦN THIẾT HIỆN NAY - Phan Kỷ Sửu

Hồ Trọng Trí và Lê Văn Thanh họa thơ Vũ Nam và Lôi Vũ Tử




Bài họa:  KHÚC TỰ TÌNH

          Một thời ly loạn dậy non sông
          Một quảng lao đao chuyện lệch dòng
          Một thuở trở trăn vì hẫm vận
          Một niềm u ẩn đến nao lòng
          Một đời suy ngẫm trong đơn độc
          Một kiếp lặng thầm giữa đám đông
          Một độ tư duy bừng trí huệ
          Một giây liễu ngộ sắc hòa Không.

                                     Hồ Trọng Trí
                                     Kim Long, BRVT
                                     ĐT: 01667332652



     Họa bài THUẬN MỆNH của Vũ Nam

     TÙY DUYÊN

      Một cánh bèo trôi dạt mấy dòng
      Một thân cô lữ buốt chiều đông
      Một con cò lạc trên đồng cạn
      Một kẻ tìm đò vắng bến sông
      Một bước truân chuyên bền vững chí
      Một đời khốn khó chớ nao lòng
      Một trời thử thách đang chờ bạn
      Một ánh trăng ngời sáng khoảng không

                                         Lê Văn Thanh






             Bài xướng: THUẬN MỆNH của Vũ Nam
                
             Một thuyền thả lái ngắm triền sông
             Một thoáng ưu tư đứng giữa dòng
             Một chút bâng khuâng nơi xóm vắng
             Một trời thăm thẳm cuối chiều đông
             Một thân chới với chưa về bến
             Một kiếp đa đoan hẵn chạnh lòng
             Một mảnh trăng suông còn sáng tỏ
             Một khi phận bạc có như không.

                                         Vũ Nam      




Họa y đề:  VÀO CUỘC 70 của Lôi Vũ Tử

             Xế chiều ngẫm kỹ hảy vui cười
             Kiếp sống con người chỉ mấy mươi
             Thế sự nhìn qua trò bịp bợm
             Nhân sinh ngoảnh lại tấn tuồng đời
             Núi sông thưởng ngoạn lòng thư thái
             Bè bạn giao du dạ tỏ soi
             Khắc khoải làm chi thân với phận
             Trần gian cõi tạm chỗ ta ngồi

                                     Hồ Trọng Trí
                                     Kim Long, BRVT
                                     ĐT: 01667332652



Bài họa:  (Nguyên vận-Thơ Lôi Vũ Tử )

        CÕI TẠM

       Thiên hạ ngẫm trông thấy nực cười
       Cuộc đời không quá hai năm mươi
       Tham lam say đắm mùi trần tục
       Chụp dựt bon chen vị thế đời
       Tai vểnh - Lợi danh mê mẫn gọi
       Mắt trừng - Mộng tưởng cố săm soi
       Ta cùng thơ bạn ung dung vậy
       Tam mượn nhân gian một chổ ngồi

                                     Lê Văn Thanh




                  Bài xướng: VÀO CUỘC 70

                  Gần tuổi xuân qua chợt mỉm cười
                  "Cỗ lai hi" trót hẹn mười mươi
                  Nửa hồn lãng tử quên mùi tục
                  Mấy độ phong lưu khướt vị đời
                  Ngắm cảnh xa hoa phù phiếm gọi
                  Trông màu lương thiện nhạt nhòa soi
                  Thôi thì ta cứ như ta vậy
                  Cược với trăm năm một thế ngồi.

                                              Lôi Vũ Tử   
READ MORE - Hồ Trọng Trí và Lê Văn Thanh họa thơ Vũ Nam và Lôi Vũ Tử

NÉT ĐẸP HUẾ - thơ Độc Hành



Huế thơ có núi Ngự Bình
Trước tròn, sau méo trữ tình dễ thương
Xa rồi lòng mãi vấn vương
Ước gì về lại Huế thương ngắm hoài
            Tràng Tiền xinh dáng lược cài
            Thi nhân nhạc sĩ lưu hoài thơ ca
Hương Giang tô thắm HUẾ ta
Lượn ngang thành  phố tựa là thanh long
Chuông chùa Thiên Mụ ngân trong
Nguyện cầu phố Huế môt lòng thương yêu
            Hoàng hôn VỌNG CẢNH về chiều
            Thông reo trổi nhạc đón nhiều tình nhân
Ai về Vĩ Dạ dừng chân
Ghé qua Cồn Hến một lần xem sao?
Ấm lòng cơm hến ước ao
Món ăn đặc sản thuở nào lưu danh
            Lăng Triều Cung Điện nội Thành
            Hương sen tỏa ngát trong lòng Tịnh Tâm
Thác cao Bạch Mã đổ ầm
Dòng sông An Cựu mưa râm trong ngần
Nắng chang nước đục trăm phần
Hang đèo tuyệt tác Hải Vân Huế mình
Tam Giang Cửa Thuận Huế xinh
Lăng Cô Đá Bạc ai nhìn cũng mê
Nữ sinh Đồng Khánh tóc thề
Tan trường áo trắng đi về tung bay
Ai chưa biết Huế đến ngay
Tham quan nét đẹp mê say khắc lòng.

ĐỘC HÀNH
READ MORE - NÉT ĐẸP HUẾ - thơ Độc Hành

Nguyễn An Bình - VỀ ĐÂU, SÔNG ƠI…

NGUYỄN AN BÌNH


     *Tặng anh Vĩnh Thuyên

Có một dòng sông
Chia hai nỗi nhớ
Khi Tây lại Đông
Chung nguồn Vàm Cỏ.

Mưa đục, nắng trong
Bên bồi bên lỡ
Tím cả triền sông
Mùa lục bình nở.

Có một người dưng
Sao thương lại nhớ
Guốc khua ngập ngừng
Áo hồng qua ngỏ.

Tiếng chim chiền chiện
Hót vọng bên trời
Vàng bông điên điển
Vương vấn tình tôi.

Về đâu sông ơi
Sao đi mãi miết
Đưa người xa người
Tháng năm biền biệt.

Về đâu sông ơi
Ngược, xuôi trôi mãi
Lạc mất tình tôi
Đầu bờ cuối bãi.

Đời như dâu bể
Sông ơi hãy đưa
Một lần thôi nhé
Ai về bến xưa.

Về đâu sông ơi
Sông ơi
Về đâu?  …

                tháng 4/2103
                Nguyễn An Bình

READ MORE - Nguyễn An Bình - VỀ ĐÂU, SÔNG ƠI…

PHẬT Ở ĐÂU - Chùm thơ ngắn của Quỳnh Hoa

TT QUỲNH HOA

PHẬT Ở ĐÂU

Lời rằng :
Phật không xa
Phật tại lòng ta.
Nhưng lòng ta đang dập dềnh muôn lượn sóng
Phật sẽ về đâu















PHÙ SA

Sông dài mông mênh
Một chiếc thuyền con lênh đênh.
Thủy triều lên
Thủy triều xuống
Lớp phù sa óng ánh
Bồi đắp tình chông chênh.














SỰ THẬT

Gió đùa sóng nước
Mặt hồ nhăn
Gió tan
Sóng lặn
Im lìm đáy nước
Trăng vàng thanh trong












GIAO MÙA

Có phải tiết đang xuân
Sắc mai vàng óng ả
Hay khung trời  mùa hạ
Phượng thắm tình bâng khuâng





DỊU DÀNG

Dịu dàng nắng
Dịu dàng mưa
Dịu dàng góc phố
Ta về sớm trưa.

TTQH

tranquynhtn@yahoo.com.vn
READ MORE - PHẬT Ở ĐÂU - Chùm thơ ngắn của Quỳnh Hoa