Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 1, 2013

Phan Kỷ Sửu - THIÊN THẦN CÓ THẬT

Tác giả PHAN KỶ SỬU

(Thân tặng Q.H và các bạn Điều dưỡng Bệnh viện ĐKTN )

Em không là những cánh trắng mơ hồ
Chỉ thấp thoáng cõi thiên thai huyền hoặc
Mà em chính là thiên thần có thật
Trên cõi trần, trên mặt đất này đây!
Cánh trắng đời em là áo trắng mây bay
Để lắng mãi vần thơ ai bối rối
Cho thơ được thay tiếng chim, tiếng suối
Dặt dìu reo quanh những bước thiên thần
Giữa những bức tường trắng lạnh xung quanh
Nồng mùi thuốc và mùi cồn quen thuộc
Lâu dần trở nên những gì không thiếu được
Như những điều gắn bó khó xa rời
Với riêng em nào khó hiểu em ơi!
Với đôi tay biết làm nên phép lạ
Phép lạ của trái tim luôn hối hả
Đập với nhịp đời khắc khoải, âu lo
Trong từng cơn sốt cao, trong rạn vỡ tiếng ho…
Trong giọt dịch truyền rơi tròn như nước mắt!
Phép lạ của niềm tin yêu chơn chất
Thắp lên mặt trời hy vọng sáng bừng
Xua bất hạnh đi qua cho nguồn sống trào dâng…
Trong mỗi phận người đang cần em thay đổi
Thiên thần của tôi ơi! tình em không biên giới
Em nói bằng vai áo thấm mồ hôi
Bằng những băn khoăn, trăn trở không rời
Đêm trực chầm chậm trôi, chầm chậm như giấc ngủ
Mà với em hạnh phúc nào hơn chứ!
Tôi vẫn chưa nói trọn được bằng lời.
Và mùa xuân như bất chợt kia rồi
Em lại đón bước giao thừa lặng lẽ
Vẫn trong cái không gian lâu rồi vẫn thế
Như chẳng có nét thơ nào mà thơ chẳng đâu hơn!
Biết chúc gì đây ngoài ước vọng dâng tràn
Mong xuân mãi dáng thiên thần nơi đó
Đôi cánh trắng vỗ dạt dào nhung nhớ
Giữa lắng sâu, thầm lặng đáy hồn ai?!

Xuân Quý Tỵ 2013
PHAN KỶ SỬU
kysuuttv@yahoo.com.vn

READ MORE - Phan Kỷ Sửu - THIÊN THẦN CÓ THẬT

Độc Hành - VỀ KHÔNG VỀ


Bà con giờ chẳng còn ai
Ly hương cách tổ đi hoài nhớ ghê
Đồng Nai xa tận trong tê
Lâu năm trở lại thăm quê một lần
Không về thì nhớ người thân
Về rồi ruột héo gan thâm lệ trào
Bà con lúc trước như sao
Bây giờ mất hết ôi chao là buồn
Không về quá nhớ cội nguồn
Về rồi tim nhói đầu luôn nhức hoài
Không về đạo hiếu nhạt phai
Về thì nước mắt chảy dài không ngưng.
Không ngưng đôi mắt đỏ sưng
Đỏ sưng đôi mắt nửa chừng mờ luôn…



ĐH
dochanh75@gmail.com
READ MORE - Độc Hành - VỀ KHÔNG VỀ

CÓ HẬU - truyện ngắn Phan Trang Hy




      Tôi kể chuyện này có thật ít nhất cũng được 51%. Có thể bạn hỏi sao không là 100% mà lại là 51. Thôi thì, tôi cũng xin thú thật chỉ có 51% là thật, còn 49% là giả. Giả chứ không phải dối! Giả chứ không phải gian! Và bạn có thể cho tôi chỉ biết hư cấu, hư cấu theo cái cách của bọn làm văn nghệ. Cũng được, nếu bạn nghĩ như thế.

      Chuyện là thế này.

      Mà tôi bắt đầu kể như thế nào đây khi tôi chứng kiến tại xóm tôi có hai người. Cứ gọi tên cả hai là ông Thật và ông Giả. Tôi xin chú ngoặc xin lỗi những ai có tên trùng với hai ông ấy. Thật lòng tôi chẳng biết đặt tên khác được.

      Vì là hàng xóm láng giềng, nên tôi chơi thân cả hai người. Biết hai người không ưa gì nhau, nên tôi cũng tùy thời cơ tạo mối quan hệ gắn bó. Thế nhưng, tội cho thân tôi, tội cho những việc làm, những nghĩ suy của tôi hòng làm cho ông Thật và ông Giả thân thiện nhau. Nhiều lần, tôi chơi oách, làm tiệc mời, nhất là tất niên mời cả hai đến dự. Cả hai chẳng thèm đến. Chỉ có bà con láng giềng. Hoặc năm khi mười họa, lão Thật đến thì lão Giả xin khất hẹn, khi lão Giả có mặt thì lão Thật vắng bóng. Dù cả hai không thèm gặp mặt nhau, nhưng bà con trong xóm thấy tính tôi hiền, lại thật thà, có chi nói nấy, nên bà con tin tưởng, giao cho tôi nhiệm vụ hòa giải, tạo sự liên kết mối tình hàng xóm láng giềng cho hai lão. Tôi mặc lời cảnh báo của vợ tôi: “Ông mà rớ vô chuyện của hai ông ấy thì phiền lắm đấy!”...

      Không thể một lúc gặp được cả hai người, tôi chỉ còn cách tìm từng người để trò chuyện. Thôi thì đủ chuyện, đủ lời qua tiếng lại giữa tôi và họ. Thường là những sáng chủ nhật, tôi hẹn gặp họ uống cà phê. Một hôm, tôi gọi điện mời họ. Cả hai đều hứa sẽ đến quán. Tôi đến trước ngồi đợi. Lão Thật đến trước. Lão Giả đến sau. Chẳng thèm chào tôi, lão Giả quay lưng một mạch ra khỏi quán. Tôi chỉ còn biết cười trừ. Cả buổi sáng hôm ấy, lão Thật tâm sự hết với tôi những điều chất chứa trong lòng. Và có khi có chút gì vui vui, tôi gọi mời hai lão. Lão Giả đến trước. Thế là tôi và lão cụng li, nói chuyện rề rà suốt buổi. Còn lão Thật, có thể lão đến, nhưng không thèm ngồi với tôi vì bên tôi đã có lão Giả.

      Như cái nhà kho sau vườn của những ông chủ giàu có, tôi đang tích trữ những tâm sự, những nỗi lòng của hai lão. Tôi nghe đủ cả niềm vui, nỗi buồn, sự lo lắng, thương yêu, gắt gỏng của cả hai. Tôi đựng chứa đầy ắp những tiếng cười, những giọt nước mắt của cả hai. Tôi xếp chồng trong tôi một mớ hỗn độn, xen kẻ giữa những ý nghĩ, hành động, lời nói, giữa những quá khứ, hiện tại và tương lai của hai lão.

      Có lúc tôi mệt nhoài vì lời qua tiếng lại của hai lão mà chỉ có  một mình tôi nghe, nhận lấy. Tôi thường nói đi nói lại cái điệp khúc với hai lão khi chia tay (chỉ một trong hai lão thôi): “Thôi mà! Cũng là bà con hàng xóm láng giềng, thương nhau chín bỏ làm mười. Có thế bà con hàng xóm mới vui!”. Chắc các bạn cũng đoán được lời của cả hai lão!...

      Tôi có lúc chán vì chuyện bao đồng. Ngẫm đi ngẫm lại lời vợ tôi cũng có chỗ đúng. Nhưng rồi tôi nghĩ, mình ở giữa hai người, như là số mệnh đi. Đã là hàng xóm, tôi không thể chọn một trong hai để chơi. Phải chọn cả hai mới hợp lẽ. Vì lẽ nhà tôi nằm lọt giữa hai nhà của họ. Bên trái nhà tôi là nhà lão Thật, bốn tầng. Bên phải nhà tôi là nhà lão Giả cũng bốn tầng. Còn nhà tôi là nhà cấp bốn. Lọt phỏm giữa hai nhà, tôi chỉ còn biết cam phận làm người hòa giải chứ biết làm gì bây giờ. Không ai gần hai lão bằng tôi, xét về phạm vi không gian lẫn thời gian. Tôi cười vu vơ cho ý nghĩ không đâu vào đâu của mình.

      Đang lúc suy nghĩ mông lung, tôi nhận được tin nhắn. Tôi mở di động ra xem. Không phải một tin, mà là hai tin. Tin thứ nhất: Mời thầy uống cà phê ở quán Hương Sen. Đó là tin của lão Giả. Còn tin thứ hai là của lão Thật cũng nội dung như lão Giả nhắn. Tôi không muốn làm mất lòng của hai lão. Tôi chẳng biết nên trả lời như thế nào đây. Nếu không trả lời, thì sợ cả hai trách. Tôi đang phân vân thì có tiếng vợ tôi: “Anh chuẩn bị xong chưa? Sáng nay anh chở em may áo quần mà”. Tôi sực nhớ lại lời hứa với vợ. Tôi bèn điện lại báo cho cả hai biết là tôi không thể đến uống cà phê được vì lí do rất ư là chính đáng. Thật may cho tôi. Tôi thầm cảm ơn vợ tôi đã cứu tôi bàn thua với hai lão hàng xóm.

      Tôi chở vợ đi vòng vòng khắp phố, thư giãn sau khi cô ta tốn khoảng 1 tiếng 55 phút cho việc chọn vải và đo ở tiệm may Làm Đẹp. Gọi là thư giãn cho nó có vẻ nhàn nhã, chứ thật ra tôi chở vợ ghé chợ, tiện thể cô ta mua ít thức ăn cho bữa trưa. Mất thêm cả tiếng nữa ở chợ. Cả buổi sáng hôm ấy, tôi thoát cảnh khó xử với lão Thật và lão Giả, nhưng lại mang cái vòng nặng nợ vợ nhà. Tôi tự an ủi chính mình là có lúc phải như thế mới hợp với những bức tranh thư pháp ghi một loạt chữ “nhẫn” được bày bán, được tô vẽ bởi gương mặt của những người treo nó. Khi chở vợ về, tôi cố nở bung xòe nụ tươi, nhưng tôi cảm thấy từng cánh mày, cánh mép của tôi đang cụp xuống. Tôi vẫn cố làm như chẳng có gì. Vợ tôi thấy tôi có vẻ lạ, bèn hỏi: “Hôm nay, anh làm sao thế?”. Tôi ấp úng: “Chẳng có chi…, chẳng có chi...”. May mà còn 15 phút nữa là đúng 12 giờ, nên vợ tôi hối: “Chở em về nhanh đi anh!”. Lần đầu tiên, kể từ khi hai đứa lấy nhau đến giờ, cô ấy mới hối tôi như thế.

      Tôi muốn kể về vợ tôi, về chuyện của hai đứa tôi cho các bạn nghe. Kể nhằm để quên lão Thật và lão Giả. Nhưng như ở phần đầu, tôi ở giữa hai lão. Muốn tránh hai lão cũng chẳng được. Vả lại, tôi là thầy giáo, đang mưu sinh bằng nghề dạy. Tôi nói mưu sinh là vì ngoài đồng lương nhận từ tiền thuế của dân, tôi phải dạy kèm thêm những đứa trẻ hàng xóm, trong đó có con của lão Thật và lão Giả.

      Các bạn biết không? Rất là lạ. Con của hai lão lại thân thiết với nhau. Rất là thân là khác. Ngược hai lão 180 độ. Tôi lấy làm mừng vì các con của hai lão có tình thân như vậy. Bọn chúng là học trò của tôi kia mà. Thực ra, tôi dạy ở trường Cao Thắng, trong khi chúng học tại Phan Bội Châu. Tôi chỉ dạy kèm chúng từ lớp 6 đến lớp 9, lại kèm bộ môn văn, cái môn tưởng dễ, nhưng khó gặm, nên cũng có tình cảm thầy trò với bọn chúng.

      Lão Thật có hai đứa con: trai đầu, gái út. Lão Giả cũng vậy. Hai đứa con trai của hai lão đều sinh giống cả ngày, tháng, năm sinh. Hai đứa con gái của hai lão kém anh 4 năm 2 tháng 12 ngày 6 giờ 15 phút.

      Còn tên của các con lão lại hiệp nghĩa với từng lão như bất cứ người làm cha làm mẹ nào cũng muốn tên con mình có ý nghĩa gắn kết với mình. Thằng Nam, con Nữ là con của lão Thật; thằng Trai, con Gái là con của lão Giả. Cứ cho là cũng thuận tai: Thật – Nam - Nữ; Giả - Trai – Gái.

      Nhân ngày 20 – 11, ngày lễ dành cho những người dạy học như tôi, một chút buồn, một chút vui, một chút bâng khuâng cho nghề nghiệp. Tôi đang ngồi đọc những bài thơ trong tập san của Sở giáo dục viết về nghề giáo, thì có tiếng gọi:

- Thầy ơi! Chúng em đến thăm thầy đây.

      Ra mở cổng, thì ra là Nam và Trai, con của lão Thật và lão Giả đến thăm tôi. Hai đứa ra bộ thân ghê lắm. Mới đó mà chúng đã 28 tuổi rồi. Cùng chung lớp, chung trường, chung cả thầy dạy, kể cả tôi, giờ chúng lại cùng nghề. Công việc của bọn chúng cũng khá – khá theo cái kiểu kiếm khá tiền ấy mà.

      Qua chuyện trò, tôi biết thêm về hai gia đình của lão Thật và lão Giả. Biết qua lời kể của Nam và Trai. Thật là kì cho hai lão. Thằng Nam nháy mắt với Trai, rồi nói:

      - Thưa thầy! Ba em lạ lắm. Thấy bác Giả có thứ gì là ba em phải sắm thứ ấy cho kì được. Tết vừa rồi, bác Giả sắm được chậu mai cảnh, thì ba em cũng tìm cách có chậu mai như bác Giả.

      Tôi nghe Nam nói thế, bèn nhớ lại. Đúng rồi! Tết vừa rồi đi thăm hàng xóm, lão Giả đã tâm sự với tôi: “Thầy thấy đó, lão Thật hơn gì tôi. Thấy tôi mua chậu mai, lão nóng mặt nóng mũi thế nào cũng mua chậu mai cho hơn tôi. Nhưng nào có hơn được. Chậu mai tôi mua 4 triệu, còn chậu mai lão có 3 triệu 9, mà lại là mai giả. Hơn gì được tôi, phải không thầy?”.

      Thằng Trai lại ngắt lời Nam:

      - Ba em cũng lạ lắm thầy ạ. Thấy bác Thật mua chiếc xe máy đời mới là ba em hối em đăng báo bán chiếc xe cũ, và mua chiếc xe giống như xe của bác Thật. Chỉ tội cho tụi em phải chiều ý của ba mình.

      Tôi cười nhớ lại cái lần lão Thật tâm sự cùng tôi khi uống cà phê: “Thầy thấy đó, lão Giả hơn gì tôi, thấy tôi có xe, lão cũng mua xe. Bắt chước tôi thì có, thầy ạ!”.

      Trong tôi, một chuỗi các sự việc, sự kiện của hai lão hàng xóm, sát cạnh nhà tôi hiện lên trong trí nhớ của mình. Nhà lão Thật có gì, thì lão Giả cũng phải tìm thứ ấy, dù chẳng biết để làm gì. Dẫu không thích đọc sách, nhưng thấy lão Thật sắm một tủ sách để đọc, để nghiền ngẫm, lão Giả bèn tìm cách lôi kéo tôi: “Thầy thích đọc sách gì cứ qua nhà tôi lấy mà đọc. Chữ nghĩa trong sách nhà tôi thiếu thứ gì. Đâu phải chỉ có lão Thật mới có sách? Tôi mới sắm một tủ sách ngon lắm. Thầy qua lão Thật làm gì cho mất công”. Tôi ầm ừ trả lời: “Cảm ơn! Khi nào cần, tôi sẽ qua mượn”. Lão Giả cười vui: “Nhớ nghe thầy!”. Còn lão Thật, trong một lần bách bộ, tôi cùng lão vừa đi vừa nói chuyện, lão mời tôi: “Mời thầy qua nhà tôi hát karaoke. Tôi vừa sắm một dàn máy xịn lắm”. Chả là lão sắm để cho bằng lão Giả ấy mà! Và từ đó, mỗi lần nhà lão Giả vang lên tiếng nhạc, thì nhà lão Thật cũng tiếng nhạc vang lên. Nhà tôi ở giữa, dù không sắm dàn máy, vẫn được nghe nhạc miễn phí. Giống như cửa hàng, siêu thị khuyến mãi trong các đợt giảm giá những mặt hàng gần hết hạn sử dụng cùng các mặt hàng lỗi thời, các mặt hàng ế..., tôi cũng được hai lão hàng xóm khuyến mãi những dòng nhạc, bài hát thịnh hành của thời hiện đại.

      Một hôm, tôi bị ốm. Sốt cao. Giọng đờ ra, tôi như người mất tiếng nói. Tôi nằm liệt giường. Sau này, tôi biết cả hai lão hàng xóm nhắn tin mời tôi uống cà phê buổi sáng. Không thấy tôi nhắn lại, cả hai đến thăm tôi. Tôi không nhớ lão Thật hay là lão Giả thăm tôi trước. Trong đầu tôi như đun nóng bởi cái nóng khủng khiếp như chưa từng có. Tôi như không biết gì...

      ... Bên tai tôi có tiếng thì thầm của vợ: “Nè anh! Lão Thật chết rồi. Bị trúng gió chết. Tội cho lão thật!”. Vừa lúc đó thằng con trai tôi ở ngoài chạy vào, báo tin: “Ba ơi! Bác Giả chết rồi! Bị nhồi máu cơ tim”. Tôi vội dậy, đến thăm hai lão. Tôi không biết phải thăm ai trước, ai sau. Nhưng rồi, thuận theo quy luật âm thanh, tôi đến thăm lão Thật trước. Tôi không ngờ mới cùng lão trò chuyện, uống cà phê, giờ lão đã từ trần. Dù gì đi nữa, lão cũng là hàng xóm, là bạn hàng xóm của tôi. Biết tôi có thể viết chữ tương đối rõ, đẹp, nên gia đình lão nhờ tôi đã ghi cáo phó giúp, để gọi là... Xong việc, tôi lại đến thăm lão Giả. Như lẽ tự nhiên dành cho người có chút chữ, bà con hàng xóm nhờ tôi viết cáo phó cho lão Giả. Tôi không thể tin được. Hai lão đến cái chết cũng trùng nhau: cả hai đều từ trần cùng thời điểm – cùng giờ cùng ngày; kể cả năm sinh cũng như nhau; chưa hết, giờ nhập quan, thành phục, lễ viếng, đưa linh, di quan, hạ huyệt cũng trùng nhau; chưa hết cả hai an táng cùng một nghĩa trang. Chỉ có cái tên, cái họ là khác thôi.

      Cả xóm tôi được nổi tiếng khắp quận. Nổi tiếng vì tin đồn có hai đám tang cùng xảy ra một lúc, lại gần nhau, chung một tổ dân phố. Cả hai đêm, cả tổ phải nghe những điệu nhạc ai oán bởi những nghệ nhân dân gian trình tấu. Kèn trống nổi lên. Âm thanh tang chế vang lên như báo cho mọi người biết kiếp người đang hết. Giờ, tôi không còn được hai lão khuyến mãi dàn âm thanh hifi khi cả hai ra sức hát karaoke nữa. Giờ, tôi cũng không còn được hai lão khoe những quyển sách; cũng không còn ai rũ đi uống cà phê. Tôi đang được gia đình hai lão khuyến mãi điệu sầu bi.

      Cả hai gia đình lão cùng thuê dịch vụ mai táng một chỗ. Việc mai táng tiến hành đồng thời. Trong khi đưa tang hơi lộn xộn một tí. Gọi là một tí vì không biết nên di quan tài của ai trước. Cuối cùng một sáng kiến cực vui trong tang lễ là làm cái lễ bốc thăm để có quyền di quan trước. Chứng kiến lễ bốc thăm, tôi sực nhớ tới những năm tháng khó khăn, có được mặt hàng phân phối nào là phải tiến hành bốc thăm để được nhận. Giờ, không thể không bốc thăm, vì hai gia đình ai cũng muốn xong việc di quan, an táng. Chỉ tiện cho hàng xóm khi đưa tang là lên bất cứ xe nào cũng được, vì tất cả các xe đưa tang đều cùng đến một chỗ. Chợt có tiếng ai đó như đang đùa khi xe chạy được một quãng: “Tất cả cùng về La Mã”.

      Ngồi trên xe đưa tang, tôi chợt nhớ tới việc làm của hai lão. Cả hai, chẳng ai chịu thua ai. Khi lão Thật dành dụm tiền, sắm cho vợ cái vòng vàng, đeo ở cổ tay, thì lão Giả, chẳng biết nghe ai, cũng mua chiếc vòng giả vàng để đeo cho vợ. Lão Giả đã khoe với tôi: “Thầy biết đó, thời buổi này, làm đẹp, tội gì mua vàng thật. Lỡ bị cướp, bị trấn lột thì khổ! Thật quá hóa ngu mà thầy”. Nghe lão khoe, tôi chỉ cười trừ cho cái lí sự của lão. Chưa hết, lão còn lên lớp tôi: “Thầy thấy ở cuộc đời này, có bao nhiêu thứ thật thì có bấy nhiêu thứ giả. Có Phật thật, thì cũng có Phật giả; có tiền thật thì cũng có tiền giả; có bằng cấp thật thì bằng cấp giả thiếu gì; đạo đức thật có đó, thì cũng có đaọ đức giả thôi... Có bao nhiêu thứ thật thì có bấy nhiêu thứ giả ở trên đời... Nhiều khi, những thứ giả lại cần hơn những thứ thật kia mà!”. Nghe lão nói một hơi, tôi nghiệm ra lời lão cũng có điểm đúng. Cây mai giả lão mua, đã chưng 5 cái Tết rồi mà vẫn còn đẹp, luôn hợp thời; chớ mai thật như của lão Thật, có năm mai nở sớm, có năm mai nở muộn, thì chẳng có mai để chưng Tết. Hoặc như mấy thằng cha có bằng giả mà làm chức này chức nọ lại có quyền lợi hơn những người có bằng thật và sống thật. Hoặc đâu đó, có kẻ sử dụng âm vật giả, dương vật giả, đôi khi lại rung, bóp hơn cả thật, chớ chẳng chơi đâu... Tôi thở dài cho chuyện thật giả.

      Rồi xe cũng đến nghĩa trang. Hai cái huyệt của hai lão nằm sát bên nhau. Khi cả  hai quan tài nằm yên dưới ba tấc đất, người thân, bà con, bạn bè đã bỏ chút đất cho người dưới mộ. Tôi nắm đất hai tay, cùng bỏ một lượt xuống hai huyệt. Tôi thầm khấn : “Hai người giờ đã yên phận. Chắc cả hai không còn tranh hơn thua. Xin chúc hai người an lạc bên nhau!”.

      ... Tôi chợt tỉnh giấc. Đầu tôi vẫn còn nặng trịch.

      Mấy ngày sau, tôi khỏe hẵn. Lại đến trường dạy. Chuẩn bị cho hội trại mừng ngày thành lập trường, học sinh lớp tôi chủ nhiệm đang tập văn nghệ. Chúng đã kéo tôi vào sự đam mê của chúng. Chúng nhờ tôi cho ý kiến về kịch bản, cách đóng... Đọc kịch bản, tôi thấy bọn nhỏ bây giờ khác thế hệ chúng tôi trong cách nghĩ. Chúng có cái hay, cái đúng của chúng. Cuộc sống tương lai đâu có dành cho những kẻ chớm lão như tôi. Cuộc sống của chúng thì để cho chúng quyết định. Thế hệ chúng tôi nào có quyết định được gì khi không còn hơi sức để làm việc.

      Và rồi, tin lão Thật và lão Giả làm sui với nhau làm cho cả xóm tưng hửng. Trừ tôi! Thằng Nam thì lấy con Gái. Thằng Trai thì lấy con Nữ. Bọn chúng đã làm cho cha chúng vào cái thế chẳng đặng đừng. Dù hai lão không ưa nhau, nhưng con cái hai lão ưa nhau, thì chúng có quyền bắt hai lão phải chiều chúng. Chúng dọa, nếu chẳng sống được cùng nhau thì chúng chẳng thèm lấy ai, để cho gia đình hai lão tiệt nòi. Sợ tiệt, nên hai lão tìm đến tôi phân trần. Tôi đã thuyết phục hai lão nên vì con mà chấp nhận cho chúng lấy nhau. Chúng quyết định đời chúng, chứ những người thuộc thế hệ như hai lão, như tôi, thì có quyết định được gì cho cuộc sống sau này của chúng. Tôi đưa ra cái lí là bọn chúng lấy nhau không vi phạm đạo đức, không vi phạm luật pháp. Chẳng có điều gì khó xử ngoài chuyện niềm vui nhân theo cấp số nhân.

      Hai lão đồng ý trở  thành sui gia. Và ngày cưới của con các lão cũng trùng nhau. Cả hai đều thống nhất ngày rước dâu, đưa dâu. Thống nhất tổ chức hôn lễ tại nhà  hàng lớn của thành phố. Hai lão nhờ tôi giúp ý kiến in thiệp cưới, thiệp mời như thế nào cho phải. Tôi cười:

      - Hai bác lo gì chuyện ấy. Tôi nghĩ nên ghi cả tên vợ chồng các bác và tên thằng Nam - con Gái, thằng Trai – con Nữ vào cả.

      Cả hai lão ôm tôi, ghì  chặt lấy tôi. Người tôi có chút đau bởi vòng tay của hai lão. Tôi đau, nhưng hạnh phúc, hạnh phúc bởi hai lão là hàng xóm của tôi, không còn ganh ghét nhau nữa.

      Tôi mường tượng trước mắt tôi, cháu của hai lão xúm xít bên nhau. Cháu nội của lão Thật là cháu ngoại của lão Giả; còn cháu nội của lão Giả là cháu ngoại của lão Thật. Bọn chúng vui hát bên nhau. Chúng hát rằng chúng có ông nội, ông ngoại tên là Thật, là Giả. Và bên tai tôi vẳng lên bài hát “Đám cưới đầu Xuân”.

      Bạn có cùng tôi dự  đám cưới con của hai lão không? Xin mời bạn đi coi cũng được!


Tháng 2 -2012 
Phan Trang Hy
READ MORE - CÓ HẬU - truyện ngắn Phan Trang Hy

THƯ PHÁP XUÂN - Lê Đăng Mành


                                       Thư pháp Quê tặng Xóm giềng
                                  Tung tăng bút vẫy mênh mang nghĩa tình
                                  Chữ nghe mầm nứt, giật mình
                                  Mới hay xuân quảy yên bình về đây..!
                                                              Lê Đăng Mành

      Một số Thư Pháp Xuân đã viết tặng xóm làng dưới đây:

                                                alt

                     Xuân đến hoa nào chẳng tốt tươi
                     Ưa mi vì tiết sạch hơn người !
                                             NGUYỄN TRÃI
                                                        
                                               alt

               "Không thể sống thiếu trúc"

                                                               alt
                                
                 Trước sân trúc báo chữ bình an
                 Ngoài cửa mai truyền hoa phú quí. 
                                                                      
                                                 alt
               Cám ơn đời mỗi sớm mai thức dậy
               Ta được thêm ngày nữa để yêu thương
                               Kahlilgibran (Bùi Giáng dịch)

                                                  
                                                       alt
                       
alt
                                                                           Viết trên  tre



                                                   alt
READ MORE - THƯ PHÁP XUÂN - Lê Đăng Mành

Thursday, January 31, 2013

NỖI NIỀM - NGHĨA NẶNG TÌNH SÂU - thơ mời họa của Trần Ngộ



Thơ mời họa: 

NỖI NIỀM 

Mới đó mà nay đã bạc đầu
Đêm nằm tính đốt hãy còn lâu
Sáu mươi năm lẻ đời thương hải 
Bảy chục tuổi tròn kiếp bể dâu
Trôi dạt thân bèo bờ suối cạn
Nổi chìm phận bọt bến sông sâu
Bao giờ về với miền quê mẹ
Vui thú điền viên thỏa mộng cầu.



NGHĨA NẶNG TÌNH SÂU

Đường về quê mẹ rộng mênh mông
Qua nhịp cầu tre dưới nắng hồng
Sặc sỡ vườn cà hoa nở tím
Nồng nàn hương bưởi nõn nà bông
Cù lao chín chữ ơn trời thẳm
Cúc dục đôi vần nghĩa biển đông
Hiếu đạo chưa tròn lòng báo đáp
Mưa chiều se lạnh gió ngàn thông.

Trần Ngộ
Bảo Lộc, Lâm Đồng
thỉnh mời họa

READ MORE - NỖI NIỀM - NGHĨA NẶNG TÌNH SÂU - thơ mời họa của Trần Ngộ

LỄ ĐỘ VĂN CHƯƠNG – Trần Tấn



Xưa nay, phàm những người làm văn chương thường hay khiêm nhường, tế nhị và lễ độ. Song gần đây, tôi giật mình khi đọc một tờ báo nọ đăng bài giới thiệu tập thơ mới của một tác giả đã đứng tuổi, có chân trong Hội Nhà văn Việt Nam hẳn hoi, lại viết những vần thơ vô lễ quá chừng. Nên khiến tôi thấy cần phải viết một chút về: Lễ độ văn chương! Coi đây là một tiếng chuông rè góp phần cảnh tỉnh số người có giọng điệu ấy. Câu thơ đó là: Rượu này ta rưới thơm mộ Nguyễn (Trước mộ Nguyễn Du). Ở đây không tiện nêu tên tác giả.

Nếu không biết về thân thế sự nghiệp của người có câu thơ "ghê gớm" đó và của cả Nguyễn Du thì người ta sẽ nghĩ đây là hai người cỡ bạn bè với nhau, ngang tầm nhau, thậm chí người viết này còn trên tài cả Nguyễn Du ấy chứ! Chén rượu của "ta" - bậc bề trên,  làm rạng danh - "thơm" mộ của kẻ hèn kém "Nguyễn" kia! Thật oái oăm thay, một con dán đất mà khinh bạc, khinh cả con đại bàng khổng lồ! Một đứa cháu miệng còn hơi sữa dám khinh cả cụ Tổ lừng lẫy bao đời nay, lẫy lừng cả năm châu bốn biển.

 Trong các trường phổ thông của ta trước đây và hiện nay thường có khẩu hiệu: "Tiên học lễ, hậu học văn" để răn dạy các thế hệ học trò: Lễ độ là việc đầu tiên, sau đó mới nói đến học văn hóa. Thật là chí lí và sâu sắc!

Đối với Nguyễn Du - Danh nhân văn hóa Thế giới, xét về lịch sử thì cụ là là cụ Tổ mấy đời của người có câu thơ trên. Quả là người ba đấng thật! Không còn gì để nói nữa.

Ngày trước, nhà thơ Tố Hữu khi viết về Nguyễn Du mà còn phải viết rất khiêm nhường là: Nửa đêm qua huyện Nghi Xuân / Bâng khuâng nhớ Cụ, thương thân nàng Kiều.

Qua việc này, xin lưu ý người biên tập tập thơ có câu thơ trên ở NXB Hội Nhà văn, tháng 7-2012, để lọt lưới câu thơ xấc xược ấy! Ở đây có sự nể nang hay có thâm ý gì chăng?

Trời đất rộng bao la, văn chương biển học vô bờ, viết gì thì viết cũng phải có tâm, có nhân cách, nhân văn và phải biết mình là ai. Lễ độ văn chương là một việc lớn, làm trái với nó  thì tai họa sẽ lớn vô cùng, khi bút đã sa ... thì gà chết thôi!

TRẦN TẤN
READ MORE - LỄ ĐỘ VĂN CHƯƠNG – Trần Tấn

GIẤC MƠ PHÙ SA: GIẤC MƠ VỀ CỘI NGUỒN THÁNH THIỆN - Trần Thị Tích đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng


Nhà thơ Nguyễn Ngọc Hưng và hình bìa tập thơ Bài Ca Con Dế Lửa (2012)



GIẤC MƠ PHÙ SA

Như sực tỉnh giấc mộng vàng hối hả
Anh lên tàu giáp Tết ngược miền Trung
Chưa hết “mồng” lại ra đi vội vã
Tiễn bước tha phương gió cũng ngại ngùng

Một con mắt hút chân trời trước mặt
Một mắt còn thăm thẳm phía sau lưng
Thương dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa
Sợi khói lam vờn tóc bạc rưng rưng

Quên sao được mùi rạ rơm thơm thảo
Giun dế mùa tha thiết gọi bình yên
Tai ù đặc bốn phương đời bão nổi
Còn vẳng đâu đây một tiếng chim chuyền

Sao đành bỏ những bờ xôi bãi mật
Nơi hồn cây vía cỏ rất ngoan hiền
Đến bắp ngô non cũng tròn căng sữa
Hôi hổi chờ tay ngỏ ý trao duyên

Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành
Vào mê lộ mãi loanh quanh tìm kiếm
Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh

Dùng dằng gió quật anh về hai phía
Lại cuốn vào cơn lốc xoáy miên man
Nghiêng bóng tháng giêng đổ vào tháng chạp
Mơ phù sa sinh nở những mùa màng!

 Nguyễn Ngọc Hưng
(Báo Phụ nữ Việt Nam cuối tuần số Tết Tân Mão 2011)


GIẤC MƠ VỀ CỘI NGUỒN THÁNH THIỆN

Hiếm có bài thơ nào diễn tả thấm thía đến thế bi kịch và nỗi lòng của người con buộc phải xa quê dấn mình vào chốn thị thành kiếm sống trong cực nhọc và lạc lõng, nói theo người xưa là “ tha phương cầu thực”. Bài thơ không chỉ nói đến thân phận của một người (“anh”) mà là thân phận của không ít người - những con người đang phải để mình bị “cuốn vào cơn lốc xoáy miên man” của cuộc sống thời công nghiệp hóa, đô thị hóa. Biết bao người đã phải lìa xa quê hương để tìm nguồn sống, vì làm nông nghiệp  (thuần nông) không thể đủ sống trong thời nay! Tâm trạng của họ ra sao? Nguyễn Ngọc Hưng bằng trái tim đầy nhạy cảm đã khắc họa tâm trạng ấy trong “Giấc mơ phù sa”.
Không phải lần đầu tiên người con trai ấy ra đi từ làng quê để mưu sinh nơi thành thị. Nhưng lần nào cũng day dứt, cũng vội vàng, nửa như cố dứt bỏ để tiếp tục kiếm sống nơi xa xứ, nửa đầy nuối tiếc. Tết chưa qua hẳn:  “chưa hết mồng” mà đã phải ra đi. Tất cả chỉ vì cơm áo. Nhưng làm sao dứt hẳn, quên hẳn được nơi anh vừa bỏ lại, nơi sinh thành ra anh, nơi có mẹ, có đồng quê yên ả, có một thời yêu dấu... Cho nên:
“Một con mắt hút chân trời trước mặt
Một mắt còn thăm thẳm phía sau lưng”
Làng quê ấy, nơi mà có lẽ một năm anh chỉ về được một lần vội vã vì xa xôi cách trở với nơi đang sống, đang làm việc (phải đi tàu, vào dịp Tết) có biết bao điều níu kéo anh lại:
Nào là:
“Dáng mẹ trăng chiều nhen bếp lửa
Sợi khói lam vờn tóc bạc rưng rưng”
(Hình ảnh không mới, nhưng vẫn đầy xúc động. Mẹ bao giờ cũng là hình ảnh đầu tiên mà mỗi người con nhớ về khi nghĩ đến quê hương, hình ảnh mẹ hóa thân vào quê hương, chồng lên hình ảnh quê hương
Nào là đồng quê với mùi rạ rơm, giun dế, tiếng chim chuyền vẫn hiện về trong  anh  ngay cả những khi khốn khó, sóng gió nhất nơi xa xứ: “ Tai ù đặc bốn phương đời bão nổi”. Nào là những “bờ xôi bãi mật”, “bắp ngô non” ấm áp, thơm ngọt trao tay trong tình quê mộc mạc... Tất cả như một thiên đường trong ký ức.
(Có thể có người nghĩ rằng hình ảnh ở khổ thơ thứ ba không sát thực với miền Trung “đất cày lên sỏi đá”, với hoàn cảnh nhân vật buộc phải tha phương kiếm sống, nhưng đây là logic của thơ. Quê hương trong tâm tưởng vẫn đẹp biết bao, màu mỡ và trù phú biết bao dù ít ỏi những “bờ xôi bãi mật”, bởi ký ức con người luôn nâng niu vẻ đẹp của quê hương).
 Nhưng, bi kịch thứ nhất là ở chỗ, anh phải dứt bỏ tất cả những điều
 đó để mà:
“Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành
Vào mê lộ mãi loanh quanh tìm kiếm
Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh”.
Đây là khổ thơ tâm điểm của bài thơ, đầy tâm trạng, được khái quát và triết lý hóa. Buộc phải vào thành thị kiếm sống, chất “nhà quê” vẫn keo sơn gắn với  con người anh, nó khiến anh trở nên lạc lõng, giữa những giả dối, bon chen, giẫm đạp nhau mà sống trong “mê lộ” nơi phồn hoa xa lạ. Một hình ảnh thật đắt giá:
“Xuân ngơ ngác giữa cao tầng, cao tốc
Mắt nhà quê bạc trắng khói thị thành”
Không thể hòa nhập được với những điều đó, người con của làng quê vẫn cố tìm kiếm những điều tốt đẹp: một cuộc sống ấm no, chan chứa tình người. Và có lẽ cả thành công, vinh quang nữa. Nhưng:
“Chưa thấy vàng đã mất nửa đời xanh”
Những hình ảnh đối lập nhau: “xuân” - “cao tầng, cao tốc”, “nhà quê” - “thị thành”, “vàng” - “nửa đời xanh” càng làm bật lên bi kịch thứ hai của người con xa quê: không thể hòa nhập, không thể vươn lên trong một môi trường xa lạ đến thế.
Và, tất yếu sau những bi kịch ấy là sự giằng xé:
“Dùng dằng gió quật anh về hai phía”
Ở lại thì không thể sống (về mặt vật chất), mà ra đi thì đau đớn (về tinh thần). Rồi vẫn phải ra đi vì cuộc sống. Tưởng như bài thơ sẽ kết thúc một cách ảm đạm. Nhưng không, tác giả đã hạ câu kết bất ngờ làm sáng cả bài thơ:
“Nghiêng bóng tháng giêng đổ vào tháng chạp
Mơ phù sa sinh nở những mùa màng!”
Có thể nói đây là một sáng tạo độc đáo của tác giả, một cách giải quyết có hậu cho những bi kịch trong bài thơ. Đó cũng chính là tên bài thơ: “Giấc mơ phù sa”.  Những người con của làng quê không thể ở lại quê hương vì sinh kế, nhưng vẫn có quyền hy vọng, mơ ước đến những điều tốt đẹp cho tất cả, nhất là khi tháng giêng- đầu năm mới đã đến. Và như vậy, bài thơ đã làm dịu lòng những thân phận tha hương, dịu lòng người đọc. Người ra đi không đơn độc, sau lưng anh vẫn có mẹ hiền, quê hương yêu dấu, đêm về sau những nhọc nhằn, giằng xé anh vẫn được ru êm bằng giấc mơ phù sa ngọt ngào.
Bài thơ xúc động và hay không chỉ vì tứ, vì nội dung. Bằng nghệ thuật thơ tinh tế, những câu thơ 8 chữ khắc khoải, dồn nén như lời kể nghẹn ngào, những lời như tâm sự “quên sao được”, “sao đành bỏ”, những hình ảnh thơ đúng chỗ, đắt giá, những từ ngữ sắc sảo như trong phóng sự: “ngơ ngác”,  “bạc trắng”, “loanh quanh”, “chưa thấy … đã mất”, tác giả đã gieo vào lòng người đọc niềm đồng cảm với thân phận con người trong bài thơ và giấc mơ về cội nguồn thánh thiện, điểm tựa tinh thần cho người con tha phương: “giấc mơ phù sa”.

Trần Thị Tích


ĐỊA CHỈ LIÊN LẠC:

NGUYỄN NGỌC HƯNG
Đội 10, thị trấn Chợ Chùa
huyện Nghĩa Hành, tỉnh Quảng Ngãi
ĐT: 055.3861.312
Email: nguyenngochung204@gmail.com



READ MORE - GIẤC MƠ PHÙ SA: GIẤC MƠ VỀ CỘI NGUỒN THÁNH THIỆN - Trần Thị Tích đọc thơ Nguyễn Ngọc Hưng

Wednesday, January 30, 2013

Trần Bình - TANG BỒNG NỢ DUYÊN

Tác giả TRẦN BÌNH












Trăng đà chếch mái hiên cong
Tàn đêm thức với tang bồng nợ duyên
Nặng lòng  cái nỗi nhớ quên
Chừng đem rót hết ưu phiền mà xanh

Cớ can chỉ tại lòng anh
Đắm mê buộc với mông mênh lạt mềm
Còn chi để nói đâu em
Những điều né tránh, mà nên lỡ làng…

Hình như đã quá muộn màng
Tôi đi chậm chuyến đò sang bến tình
Hình như là tại em xinh
Mà lay ánh mắt chùng chình buộc tôi

Trái ngang chi rứa ông Trời
Bến mô trong đục cho người đa đoan?

Cũng là một kiếp hồng nhan
Mà em bạc phận…, sao đành hả tôi
Thuyền duyên ngơ ngác nửa vời
Nghẹn ngào khóc giữa chơi vơi bãi bờ…

Tôi ngồi với những câu thơ
Chợt nghe đắng chát dại khờ thi nhân
Một u tình, một vương lân
Một tôi với cả một lần sẻ san…

Em về lạc phía thời gian
Đắng dòng cảm xúc, mờ tan bóng chiều
Ngập ngừng tôi nói lời yêu
Lại ngập ngừng với bao điều trở trăn…

Thế thôi, thôi thế cũng đành
Phận người khép mở, rách lành còn trang
Ta chia nhau chút đa mang
Một thương yêu, một dở dang, một đời…

Thôi thì em, thôi thì tôi
Tang bồng nợ chút duyên bôi lỡ làng…
Luyến lưu thêm sự bẽ bàng
Ta về ôm một bóng trăng lẻ tình!

Ơ hơ ơ ….hơ…
Oái ăm cái nỗi riêng mình!
                             
2010
TRẦN BÌNH
ĐT: 0935359405
tranbinhga@gmail.com

READ MORE - Trần Bình - TANG BỒNG NỢ DUYÊN

Vũ Từ Sơn - KHÓC DUY PHI

Nén tâm nhang viếng Nhà thơ Duy Phi 

Nhà thơ DUY PHI


Tuyển tập vừa xong mấy chục chương
“Ngó ý” tơ lòng những vấn vương
ký tặng bạn thơ ... lâm bệnh hiểm
anh đi ... thăm thẳm vạn cung đường ...

Nước mắt tang phòng ướt lại khô
tác phẩm văn chương đặng mấy bồ
Bắc Giang yêu quý ... miền Kinh Bắc
sóng đời, sóng bệnh, vạn sóng xô

Đưa tiễn anh đi biết nói gì
lưu dấu trần gian những chi chi
bảy ba có lẻ ... tình sâu nặng
một giấc ngủ trưa ... đời mấy khi?

Anh đi, đi nhé ... Hỡi Duy Phi
đất thẳm trời cao ... Ôi ! Biệt ly ...!


  
Bắc Giang, 28-1-2013 
VŨ TỪ SƠN
vutuson01@gmail.com


Nhà thơ Duy Phi (tên đầy đủ: Nguyễn Duy Phi) sinh năm 1940. Quê quán: Mão Điền, Thuận Thành, Bắc Ninh. Ông là nhà thơ, nhà văn và dịch giả. Duy Phi là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, hội viên Hội VHNT Bắc Giang, hội viên Hội VHNT các Dân tộc thiểu số Việt Nam.

Các tác phẩm chính:
- Lửa xanh (Miền quê quan họ), NXB Tác phẩm mới, 1981
- Cánh buồm mở hướng (thơ), NXB Thanh Niên, 1983
- Đối thoại cùng sông (thơ), Hội VHNT Hà Bắc, 1984
- Ngổn ngang trăm mối (thơ), NXB Hội nhà văn, 1992
- Rêu thức (thơ), NXB Thanh Niên, 2000
- Đêm thần minh (thơ), NXB Hội nhà văn, 2002
- Vòm trời lưng nghé (thơ thiếu nhi), NXB Văn hoá dân tộc, 2005
- Chóp nón đi nghiêng (thơ), NXB Hội nhà văn, 2006
- Giọt nhũ (thơ), NXB Hội nhà văn, 2012

Sau thời gian lâm bệnh, mặc dù đã được gia đình tận tình chăm sóc và cứu chữa, nhưng do bệnh nặng, tuổi cao, nhà thơ Duy Phi đã từ trần hồi 8h00, ngày 28/1/2013 tại nhà riêng: Số 82, phố Chợ Thương, Thành phố Bắc Giang. Hưởng thọ 73 tuổi.

VNQT xin gửi lời chia buồn sâu sắc tới gia đình nhà thơ Duy Phi, Hội Nhà văn VN, Hội VHNT Bắc Giang, và Hội VHNT các Dân tộc thiểu số VN.



READ MORE - Vũ Từ Sơn - KHÓC DUY PHI

TRÔNG TẾT - ĐÊM CUỐI ĐÔNG - Ngọc Tình họa thơ Thương Yến Tử



TRÔNG TẾT

Họa thơ: Đêm cuối đông - Thương Yến Tử

Ngóng trông nguyên đán kìa đang tới
Gió lạnh se se liễu rủ lay
Háo hức trẻ em khoe áo mới
Ngắm nhìn thiếu nữ thả hồn say
Ngập ngừng mai đợi xuân mau đến
Xao xuyến núi chờ suối biếc vây
Đàn én rộn ràng chao cánh lượn
Ồ ai ngơ ngẩn mộng tình bay.

TN 30-1-2013
Ngọc Tình
nguyentinhtn@yahoo.com.vn



ĐÊM CUỐI ĐÔNG

Đêm nay gió chở mùa xuân tới
Lành lạnh bốn bề lá nhẹ lay
Náo nức hoa rừng đùa tiết mới
Thì thầm sóng biển dỗ tình say
Bâng khuâng đường phố đèn chong đợi
Luyến tiếc ngày đông sương phủ vây
Trở giấc trước thềm mai mở cánh
Nghe trong hơi gió thoảng hương bay.

Thương Yến Tử
BR-VT
READ MORE - TRÔNG TẾT - ĐÊM CUỐI ĐÔNG - Ngọc Tình họa thơ Thương Yến Tử