Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, February 9, 2012

Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT


(Từ trang 31 đến trang 40)


Viếng Nghĩa Trang Cuối Năm

Thấm nghĩa vô thường: tình bớt hẹp
Nén hương lòng xin tưởng nhớ chung…
Sợi khói vấn vương chân mộ chí
Đám mạ ven cồn thấp thoáng xuân

(Trang 31)
------------


Gặp Lại Ta-Vô-Ngã

Thiền định hai mươi năm
Gặp lại Ta-Muôn-Thuở
Vô niệm giữa vầng trăng
Mộng mị chừ tan vỡ

(Trang 32)
-------------


Nhớ Học Trò Cũ

Sửa được bao lỗi lầm quá khứ
Đáy lòng tôi thấp thoáng niềm vui
Chợt nỗi buồn rưng rưng cửa lớp
Vết thương em ngày ấy, bây giờ…?

(Báo Giáo dục và Thời đại, 01/02/2001)

(Trang 33)
-------------


Buồn Cùng Taher Madrasswalla

Cọc cạch nhọc nhằn vòng quanh thế giới
Ông muốn trao thông điệp hoà bình
Nhưng trải qua mấy nghìn năm
Cái bản năng quyền lực
Đã ngấm sâu vào hành tinh
Và bom đạn bất nhân đang đi tìm
Niềm vui lấn lướt!
Và UNESCO còn mập mờ lúng túng
Giữa “con” và “người”!

(T. Madrasswalla là một người Ấn Độ;
UNESCO là Tổ chức giáo dục, khoa học,
văn hoá quốc tế).
 
(Trang 34)
-------------

                        
Li Hôn

Trái tim hoá thạch đã trừ nhau
Tuổi thơ ngồi cộng nỗi buồn đau
Nhân hoài điên đảo: trần thêm tục
Cha mẹ chia…, lòng con ở đâu?

(Trang 35)
------------


Dáng Núi

Ánh mắt khoả thân che khuất biển
Hàng cây nghe da thịt réo gào
Sáng chủ nhật biển trơ phàm tục
Hồn đại dương ẩn náu nơi đâu?

Từ giã biển, ta tìm đến núi
Cả đất trời một nét vô ngôn
Cánh chim cảm tạ tình che chở
Ta mang ơn khe suối cội nguồn…

Về phố thị… chợt như cổ thụ
Vô danh toả bóng giữa xô bồ
Đã đem dáng núi vào tâm thức
Cát bụi chợ đời không lấp nổi tiếng thơ

(Trang 36)
------------


Đi Tới Hiện Tại

Từng bước với đường chiều
Dưới hàng cây xanh mát
Giữa tâm hồn bát ngát
Sáng nụ cười tin yêu

Tôi đi trong tỉnh thức
Quá khứ? Đã qua rồi
Tương lai? Tuỳ duyên khởi
Tâm vô ngôn chiếu soi…

Em hỏi tôi đi đâu?
Tôi trở về hiện tại
Thiên đường không xa ngái
Dừng tâm: đã đến nhà

(Báo Giác ngộ, 10/6/2004)

(Trang 37)
------------


Đắm Say

Thuở đắm say em
Nặng ánh mắt tình nên quá tải
Chiếc thuyền đời chao đảo
Bến hạnh phúc xa tít cõi sương mù

Thời đắm say danh lợi
Gai lửa đầy lối đi
Hồn rát bỏng quẩn quanh ngõ cụt
Bãi chiến trường giữa trái tim si…

Chân phúc đến: vui trong Chánh Đạo
Tâm Xuân Bất Diệt gọi tôi về
Lòng-say-đắm neo thuyền bến giác
Vỡ chén phong trần - tỉnh cơn mê

(Trang 38)
------------


Trên Con Đường Tối Thượng

Tự tri: toả duyên lành cùng khắp
Giữa vầng trăng một niệm vô ngôn
Ta - người gợi sóng, nghe tức thấy
Tức lí đương nhiên, thôi nói năng…

Việc nói năng?
Phó thác ngày xuân muôn hoa nở…

Hết nghi rồi
“Chẳng dùng cầu chơn
Chỉ dứt sở kiến”
Chẳng sợ, chẳng nôn nao
Ung dung tự tỉnh…

Nếu kiếp này sinh tử còn vương
Kiếp sau nguyện sinh miền Đại Giác
Đồng hành bạn lữ Vô Sư Trí
Sự nghiệp muôn đời: Tâm Vô Sự
Cứu khổ chúng sinh - sự, vô tâm

(Thiền viện Thường Chiếu có
ghi âm bài thi kệ  này, ngày 26/7/1998).

(Trang 39-40)


Tuệ Thiền Lê Bá Bôn 
lebabon04@gmail.com
READ MORE - Tuệ Thiền Lê Bá Bôn - ĐƯỜNG VỀ MINH TRIẾT

Wednesday, February 8, 2012

HOA DẠI - Trương Nguyễn



 (Tặng người em Hà Nội)

Em mù sương 
xa tít chân trời
Sao hơi thở tưởng như gần gũi
So với người ta chỉ là hạt bụi
Không làm cay…
             được ánh mắt hồn nhiên

Em mặn mà 
mang sức hút thôi miên
Ta chợt yêu giữa một vòng say đắm
Dù đơn sơ 
đã chảy vào sâu thẳm
Thơ rùng mình khắc họa nét nguyên sơ

Ngất ngây thôi 
                          men rượu uống hờ...
Khoảng cách ấy đào sâu thêm nỗi nhớ
Ta ngồi đây gom nhiều mảnh vỡ
Lắp ghép lên tranh ngôn ngữ mượt mà

Vẫn mong người độ lượng dung tha
Ta yêu người và hằng mơ ước
Loài hoa dại ngàn năm xanh mượt
Mãi trung trinh nguyên vẹn dáng hình .


Trương  Nguyễn 
truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - HOA DẠI - Trương Nguyễn

BAY HƠI DANG TRẦM* - Lê Văn Trạch


Theo đà tiến hóa và phát triển, con người chinh phục, cải tạo thiên nhiên để bảo đảm tồn tại, thỏa mãn nhu cầu vật chất trong sinh hoạt, với trí tưởng tượng và sự năng động khám phá, họ đã có những thành tựu đáng kể. Những kết quả đạt được đôi khi tác động ngược lại, phá hủy quân bình tự nhiên, tạo những mâu thuẫn gay gắt khó giải quyết, không chỉ ở môi trường mà chính ngay trong bản thân họ.


Bằng tuệ nhãn để thấy được những nguy cơ như thế nên nhiều bậc vĩ nhân đã đưa ra những giáo lý - dù hình thức hướng dẫn tâm linh khác nhau, nhưng tựu trung cũng là để dẫn dắt tâm thức đi theo đường thiện nhằm tạo sự cân bằng, ổn định xã hội, tiến đến mục đích tối hậu là con người có được cuộc sống bình an, hạnh phúc. Tuy nhiên tùy theo truyền thống văn hóa và tôn giáo, mỗi khu vực đều có quan niệm, cách hành xử riêng.

Từ ngàn xưa, trinh tiết của người phụ nữ đã được loài người quan tâm đúng mức. Có bộ lạc ở châu Phi xem trinh tiết của con gái là tài sản của cha mẹ nên họ có quyền rao bán, chàng nào trả giá cao nhất sẽ được. Trong lúc đó ở Ấn Độ vào thời cổ đại, trinh tiết là một thứ linh thiêng, người phàm tục không được thụ hưởng, kể cả vua chúa, các đạo sĩ, thầy cúng, đại diện thần linh đón nhận sự dâng cúng này. Cùng thời điểm đó, tại Ai Cập lại kỳ quái hơn: xứ sở này tôn sùng thần Kim Ngưu, người ta chọn nuôi những con bò thuần chủng. Sau bốn tháng tuổi, những con bò nầy được đem đến miếu thờ để các trinh nữ hành lễ hiến dâng. Ngay ở thế kỷ 21 nầy mà tại Iran, tử tội trinh nữ phải bị phá trinh trước giờ hành quyết. Người Mỹ lại khác, một số học sinh sau ngày ra trường High School sẽ có một bữa tiệc lớn gọi là Prom, người con gái dâng hiến trinh tiết cho bạn trai để ghi nhận sự trưởng thành; đã ở thế chủ động, tự lập không còn lệ thuộc vào cha mẹ nữa.

Đất nước Việt Nam ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài văn hóa Trung Quốc, lấy triết lý Khổng Mạnh làm nền tảng. Triết lý này nhấn mạnh đến sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân, sự chính xác của các ràng buộc và quy phạm làm người, trong đó gia đình là đơn vị căn bản để kiến tạo xã hội (Tề gia - Trị Quốc - Bình thiên hạ). Những quy phạm đó nhằm thiết lập một quan hệ gắn bó và những điều lệ khắt khe kèm theo - như một thứ Đạo giữa mọi thành phần xã hội: Vua-Tôi; Cha-Con; Thầy-Trò; Chồng-Vợ … Với mục đích là giữ gìn giềng mối kỷ cương phép nước. Một cách tổng quát, họ phân công cụ thể theo giới tính: Đàn ông lo việc bên ngoài, đàn bà chăm sóc chuyện gia đình theo những ước lệ định sẵn: Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín Công - Dung - Ngôn - Hạnh với khuôn mẫu phải theo: 

Trai thời trung hiếu làm đầu
Gái thời tiết hạnh làm câu răn mình

Người con trai phải trung với vua, hiếu với cha mẹ, chăm lo trau dồi kiến thức để phục vụ xã hội. Ý tưởng này là một bắt buộc rất quyết liệt, biểu tượng sự hiện hữu, sống chết.

Có trung hiếu mới đứng trong trời đất
Không công danh thà nát với cỏ cây

Đối với phụ nữ trong tứ đức, tiết hạnh là điều quan trọng, chả thế mà nhà vua có bảng vàng  Tiết Hạnh Khả Phong để ban cho những người phụ nữ mẫu mực,  sắt son gìn giữ … 

Đối với truyền thống văn hóa Việt Nam, trinh tiết là điều cốt lõi để đánh giá phẩm hạnh người phụ nữ. Hơn ai hết, người con gái được dạy dỗ để giữ gìn và chỉ trao cho người con trai sau khi làm lễ thành hôn có sự chứng giám và chấp nhận của Tổ tiên Ông Bà Cha Mẹ, thực sự là người chồng của mình ....

Trong một lần hẹn hò, Kim Trọng ngắm nhan sắc Thúy Kiều, con tim rạo rực và bản năng chiếm hữu hiện ra như thói thường của người con trai khi ngồi cạnh người yêu:

Sóng tình dường đã xiêu xiêu
Xem trong âu yếm có chiều lả lơi

Thúy Kiều cảm nhận điều ấy, nhưng vốn được giáo dục chu đáo về quan hệ nam nữ khi chàng chưa là chồng của mình, nàng đã nhẹ nhàng ngăn lại:

Vẽ chi một đóa yêu đào
Vườn hồng chi dám ngăn rào chim xanh
Đã cho vào bậc bố kinh
Đạo tòng phu lấy chữ trinh làm đầu

Ngoài ra, trinh tiết của người con gái Việt Nam còn là uy tín dòng họ và danh dự làng xã: Trong tục lệ cưới hỏi, khi đưa dâu về nhà chồng, bà cô hoặc bà dì ở lại, để trong đêm động phòng, nếu người chồng phát hiện vợ mình mất trinh, sẽ dựng giường lên, đuổi cô gái ra khỏi nhà, bà Dì /Cô kia có nhiệm vụ dẫn cháu trở về.

Nhiều làng còn có những luật lệ khắt khe, dã man đối với phụ nữ không chồng mà chửa (chửa hoang) bằng cách đào hố, nằm xỉa úp bụng xuống mặt đất, giăng nọc ra (đóng 4 cọc và trói tứ chi vào đó), rồi đánh, có nơi còn đuổi cô gái ra khỏi làng.

Có thể ở góc khuất thầm kín của Tình yêu, người con gái cắn răng chịu đựng những hậu quả do sự mất mát của mình nhưng cha mẹ là người đau khổ, cảm thấy nhục nhã, xấu hổ với những người chung quanh, gia đình nào có con gái phạm lỗi như thế bị xem như "Gia môn bất hạnh". Đặc biệt người mẹ, tự thấy trách nhiệm thuộc về mình (Con hư tại Mạ, má hư tại trưa) nên ray rứt, chẳng yên tâm để làm được việc gì.

Kim găm bâu áo mất rồi
Uổng công thầy mẹ đứng ngồi chọn kim.

Màng trinh chỉ là cấu tạo của cơ thể theo bình thường vật lý, sự mất đi đánh dấu một thay đổi để chuyển sang giai đoạn phát triển toàn diện mang trạng thái hoàn hảo khác. Nhưng theo quan niệm xưa đó là tiết hạnh, là kho báu vô cùng quý giá. Hơn thế, trinh tiết còn là một biểu tượng thiêng liêng, người con gái để mất trinh tiết là mất tất cả:

Ôi thôi rồi khóa rớt chìa rơi
Rương vàng hở nắp, bay hơi dang trầm

(Có bản ghi: Lư đồng hở nắp, bay hơi dang trầm. Trên thực tế là vậy, bởi vì khi xông trầm, nắp có hở, hương trầm mới bay ra, chuyện thường tình, thế thì đâu có gì để phải thất thanh kêu trời! Rương vàng là câu nói ẩn dụ biểu trưng cho một diễn đạt khác, để bổ sung ý này, ta hãy nghe lời than vãn của chàng trai khi bị người tình phụ:

Ngày nào em nói em thương,
Như trầm mà để trong rương chắc rồi.
Bây giờ khoá rớt chìa rơi.
Rương long nắp vỡ, bay hơi mùi trầm.)

Xem đây như là lời của người Mẹ,  đưa hai bàn tay ra, thảng thốt kêu trời "Ôi thôi rồi ! " - đặc ngữ biểu tượng một mất mát bất ngờ ập đến ... khóa, chìa mỗi thứ một nơi, bị bẻ gãy, kho tàng mất sạch.

       Chữ Trinh đáng giá ngàn vàng.

Nhưng ở đây vàng bị đẩy xuống một bậc, chỉ là vật liệu chiếc rương - dùng để giữ thứ quý giá hơn, không những thế mà còn cung kính thiêng liêng nữa.

Từ trạng thái vật lý bình thường, sự trinh tiết mang ý nghĩa trang trọng, đôi khi như là huyền thoại, ảnh hưởng cả một nền đạo lý, cho nên khi rương vàng hở nắp, hơi dang trầm bay đi, tất cả sụp đổ, kéo theo chuỗi hệ lụy ràng buộc, đan chéo nhau.

Trong ý tưởng đập cổ kính ra .. để trân quý một thời tổ tiên ta đã có những ý niệm đúng mức về giá trị đạo đức trong quan hệ giữa con người, ý niệm ấy là động lực tạo sự bình an, niềm tin để cùng nắm tay nhau xây dựng và phát triển, hình thành một giai đoạn lịch sử thịnh vượng, bờ cõi được mở mang, để chúng ta có được một dải giang sơn gấm vóc như hôm nay .

Lê Văn Trạch
                                                                               letrach@yahoo.com

*Nhang (nói theo giọng Huế là dang)
***
Chú thích về hình giữa bài:
Tờ sắc Tiết Hạnh Khả Phong của vua Bảo Đại cấp cho 
bà Nguyễn Thị Mai vợ của ông Phan Văn Chi
ở Phủ Thừa Thiên, huyện Hương Thủy,
tổng Lương Văn, xã Thần Phù,
Bảo Đại năm thứ mười hai, tháng ba, ngày mười tám.
(Theo http://bcdlldb.com)



READ MORE - BAY HƠI DANG TRẦM* - Lê Văn Trạch

Tuesday, February 7, 2012

HÀ NỘI QUA THƠ CỦA NHỮNG THI NHÂN - Phạm Ngọc Thái



      Hà Ni qua thơ ca nhng thi nhân và trong dân gian nhiu không k hết: Cũng ging như bóng trăng trong tâm khm mi người, đm tình và giu hương sc. Tri qua bao thế h, đã tr thành trung tâm t hi chính tr, văn hoá xã hi cùng tình cm ý chí dân tc.

      Cụ Nguyễn Du trên đường đi sứ qua Thăng Long (1813), xúc động mà hoài cảm về những kỷ niệm xưa:
                Núi Tản, sông Lô vẫn núi sông,
                Bạc đầu còn được thấy Thăng Long...
                Người đẹp thưở xưa nay bế trẻ,
                Bạn chơi thưở nhỏ trở thành ông.
      Từ kỷ niệm riêng tới chung với đất nước, lòng cụ bồi hồi:
                Thành mới trăng xưa bóng tỏ mờ
                Thăng Long nghìn trước chốn kinh đô,
                Dấu xưa khuất lấp đường xe ngựa
                Điện mới xô bồ nhịp trúc tơ.
                                    ( Thành Thăng Long )

      Còn nữ sỹ Hồ Xuân Hương lại ngợi ca tiên cảnh ở Tây Hồ:
                Phong cảnh Tây Hồ chẳng khác xưa...
                Trấn Bắc rêu phong vẫn ngấn thờ,
                Nọ vực trâu vàng trăng lạt bóng,
                Kìa non Phượng Đất khói tuôn mờ.
                              ( Chơi Tây Hồ nhớ bạn )

      Á Nam Trần Tuấn Khải (1894-1983) chơi ở thành Cổ Loa, lòng gợi nhớ tới sự tích thời Thục An Dương Vương và bi tình Mỵ Châu - Trọng Thuỷ:
                Thành quách còn mang tiếng Cổ Loa
                Trải bao gió táp với mưa sa,
                Nỏ thiêng hờ hững dây oan buộc,
                Giếng ngọc vơi đầy giọt lệ pha.
                             ( Chơi thành Cổ Loa )

      Nhà thơ Nguyễn Khuyến dẫu 30 năm xa cách, vắng bóng , mà lòng vẫn khôn nguôi nhớ về hồ Hoàn Kiếm:
                Ba chục năm trời cảnh vắng ta,
                Hồ Gươm dấu cũ đã phai nhoà...
                Chiếc én tìm về quên lối cũ,
                Đàn cò tối đậu lẫn sương mờ.
                              ( Hồ Hoàn Kiếm )

      Vũ Trấn Quốc cùng thời với cụ Cao Bá Quát đã ngợi ca cảnh phường Bích Câu:
                Thành Tây có cảnh Bích Câu,
                Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao,
                Đua chen thu cúc xuân đào,
                Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.
                               ( Cảnh Bích Câu )

      Nhưng kinh đô Thăng Long trong tâm khảm các nhà thơ thời trước không chỉ được ngợi ca phong cảnh đẹp, mà còn ghi nhiều dấu ấn chống ngoại xâm - Trần Quang Khải (1241-1294) viết trên đường đưa vua về kinh đô:
                Bến Chương Dương cướp giáo giặc
                Cửa Hàm Tử bắt quân Hồ.
                                ( Phò tá về kinh )

      Lý Thường Kiệt (1019-1105) - Ông từng làm thơ, vừa để huấn dụ vừa khích lệ lòng tự hào dân tộc của ba quân:
                Nam Quốc sơn hà Nam đế cư,
                Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

      Thời tiền chiến - Hình ảnh Hà Nội cũng rất gắn bó trong nỗi tình thơ của các thi nhân. Họ ghi lại những tâm trạng, những kỷ niệm vui, buồn... trong cuộc đời ở nơi phố phường. Nhà thơ Vũ Hoàng Chương sau bao năm tháng phiêu bạt trở về phố cũ, lòng ông vẫn xốn xang:
                Ôi chốn ngày xưa vai sánh vai...
                Hồ Gươm sóng lụa bờ tơ liễu...
                Thấp thoáng hè qua đài phượng rụng,
                Lào rào thu muộn lá xoan rơi.
                Nửa kiếp lênh đênh dừng phố cũ,
                Tình thơm mộng nhỏ tóc buông vai.
                                          ( Phố cũ )

      Tản Đà thì mô tả trong đêm ở hồ Tây:
                Hiu hắt hồ Tây chiếc lá rơi
                Đêm thu vằng vặc bóng theo người,
                Mảnh tình xẻ nửa ngây vì nước
                Tri kỷ trông lên đứng tận trời.
                               ( Tây Hồ vọng nguyệt )

      Trần Huyền Trân thả nỗi niềm về những ngày tháng sống lận đận trong cái túp lều bên hồ Cống Trắng, ở phố Khâm Thiên. Lòng tri kỷ với phố mà vẫn buồn man mác:
                Tôi ở lều gianh Cống Trắng này
                Chạnh lòng cá nhảy với chim bay,
                Đêm sầu kẽo kẹt ngư bà thức
                Giăng phải hồn tôi một lưới đầy.
                               ( Mưa đêm lều vó )

      Nhà thơ Thế Lữ đứng giữa đêm giao thừa Hà Nội trước năm 1945, than cho kẻ phải sống lang thang bụi đời:
                Lê gót mòn trên đá,
                Ngẩng đầu trông cơn gió thổi
                Lá vàng rơi lác đác
                Cùng rơi theo loạt nước đọng trên cành,
                Những cây khô đã chết cả mầu xanh...
                Hỡi người bạn! Anh định về đâu đó?
                                 ( Con người vơ vẩn )

      Nhà giáo và cũng là một nhà thơ Vũ Đình Liên lại hoạ cảnh một Ông Đồ thường ngồi bên phố, viết câu đối thuê cho khách:
                Nhưng mỗi năm mỗi vắng,
                Người thuê viết nay đâu?
                Giấy đỏ buồn không thắm,
                Mực đọng trong nghiên sầu.
                                 ( Ông Đồ ) 

   Nguyễn Bính nói về cảnh chia ly của những người trên sân ga:
                Những cuộc chia lìa khởi tự đây...
                Những chiếc khăn mầu thổn thức bay
                Những bàn tay vẫy những bàn tay
                Những đôi mắt ướt tìm đôi mắt
                Buồn ở đâu hơn ở chốn này?
                              ( Những bóng người trên sân ga )

      Nhưng Hà Nội trước kia không phải chỉ có buồn như thế. Nữ thi sỹ Anh Thơ đã mô tả về nỗi lòng rạo rực về một cảnh đêm Hà Nội:
                Căn phòng ta thênh thang hai cửa sổ
                Mây trắng đi qua, sông Hồng thả gió,
                Mỗi năm mùa hè, tắt điện đón trăng khuya...
                               ( Căn phòng ta )

      Thơ ngợi ca về Hà Nội trong hai cuộc kháng chiến cũng rất nhiều. Hồi đánh Pháp, Nguyễn Đình Thi đã không nén nổi xúc động khi đứng giữa Thủ đô đã được giải phóng:
                Hà Nội chiều nay mưa tầm tã
                Ta lại về đây giữa phố xưa...
      Ông reo lên như muốn vỡ tung tim:
                Ta đứng khóc giữa trời mưa hắt
                Leng keng chuông xe điện đổ hồi
                Lòng ta bỗng như dòng suối mát
                Ta đã về đây Hà Nội ơi!
                                   ( Ngày về )

      Những năm đánh Mỹ nhà thơ Nguyễn Mỹ đã viết về cảnh chia ly ở Hà Nội nhưng khác hoàn toàn cảnh sầu thảm xưa kia, bởi vì cuộc chia ly này Hà Nội đã tiễn người đi chiến đấu để giữ nước:
                Đó là cuộc chia ly chói ngời sắc đỏ
                Tươi như cánh nhạn lai hồng
                Tôi nhìn thấy một cô áo đỏ
                Tiễn đưa chồng trong nắng vườn hoa...
      Và nhà thơ kết luận:
                Như chưa hề có cuộc chia ly!
                              ( Cuộc chia ly màu đỏ )

      Vũ Quần Phương mô tả về Hà Nội trong những ngày tháng chống chiến tranh phá hoại của Giôn Xơn, để sau 12 ngày đêm lịch sử Hà Nội đã trở thành lương tri và phẩm giá loài người:
                Cả Hà Nội rung lên, xe xích chạy rung đường,
                Đêm ấy tôi nghe những em bé qua tôi
                                                  vẫy bàn tay sơ tán.
                Bé lên mười dắt bé lên năm,
                Hà Nội toả đi xa những cô giữ trẻ,
                Bệnh nhân đi và thầy thuốc đi theo.
                Hà Nội nhận vào lòng những cỗ pháo phòng không,
                Những cỗ xe tên lửa.
                                    ( Tâm sự một căn nhà )

      Dù xưa hay nay, chiến tranh và hoà bình, đến thời buổi kinh tế thị trường mở cửa này... Hà Nội quay chóng mặt - Nhưng Thủ đô của chúng ta vẫn mãi là một thành phố trữ tình, như nhà thơ Xuân Diệu đã viết:
                Em đưa anh vào trong bóng trăng
                Anh đưa em cành liễu thung thăng
                Đường Láng thơm bạc hà kinh giới
                Xuống đây, đi với anh đêm trăng.
                                 ( Đêm trăng đường Láng )

      Thanh Thảo viết:
                Gia đình mình đã sơ tán chưa em,
                Chiều thứ bảy em có về phố nhỏ
                Có ngập ngừng trước khi mở cửa,
                Lá sấu rơi xúc động bên thềm...
                Gốc sấu này mòn dấu em chờ anh.
                                 ( Dòng chữ cho em )

     Nỗi tình của nhà thơ Tế Hanh thì lại được ông diễn tả đầy thi vị:
                Thế là Hà Nội vắng em...
                Người qua lại tưởng anh tìm bóng cây?
                                 ( Hà Nội vắng em )

      Tôi cũng có nhiều kỷ niệm về Hà Nội. Dù Hà Nội đã có bao thay đổi, nhưng vẫn mãi mãi là những hồi ức như thưở còn thơ, tựa thể một ngoại ô xưa... Hơi hiu hắt mà thơ mộng, có lá sấu rụng, lá me rơi. Tối tối những đôi trai gái dắt nhau ra tình tự bên hồ. Những tiếng xe điện leng keng thưở xa xưa, những chuyến tàu chạy xình xịch vào ga Hàng Cỏ. Người tiễn kẻ đi xa, người đón kẻ trở về:
                Hà Nội cứ suốt đời nghe lá rụng
                Những ngọn đèn ô cửa mùa đông
                Trái sấu nhỏ bàng hoàng như kỷ niệm
                Nước hồ xanh rêu bám kín Tháp rùa.

                Hà Nội cứ rầm rì trang tình tự
                Của những đôi trai gái bên bờ...
                Tà áo trắng em bay một thời thiếu nữ
                Theo anh hoài đến tận lúc già nua.

                Hà Nội mới mà như là cổ tích
                Phía nhà ga đoàn tàu đến rồi đi,
                Những giọng nói lẫn vào lời gió thổi...
                Ai trở về... và ai sắp chia ly?

                Đêm tóc trắng lại nghĩ về Hà Nội
                Nằm thở dài, nhớ quá! Bóng em xưa...
                               (Nghĩ về Hà Nội - Phạm Ngọc Thái)

      Hà Nội mãi mãi sống trong cõi lòng và trái tim tha thiết của tôi!

                                          PNT. 
thai_quanthanh@ymail.com


Ảnh minh họa:
Công nhân Hà Nội thời kỳ chống chiến tranh phá hoại (1972) -  Ảnh:  Xuân Liễu


***
READ MORE - HÀ NỘI QUA THƠ CỦA NHỮNG THI NHÂN - Phạm Ngọc Thái