Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, January 13, 2012

VẮN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ

Nguồn: Am Thụy Ứng


Quảng Trị là một vùng đất giàu có vốn văn hoá phi vật thể, trong đó văn học dân gian có vị trí hết sức đặc biệt. Văn học dân gian Quảng Trị là sản phẩm chứng tỏ sức sống mãnh liệt của dòng văn học truyền khẩu. Xét giá trị nội dung và nghệ thuật, văn học dân gian Quảng Trị có những nét riêng, đóng góp cho văn học dân gian Việt Nam thêm phần phong phú. Văn học dân gian bao gồm nhiều thể loại (huyền thoại, huyền tích, tục ngữ, câu đố, truyện cười, tuồng hài…) song phong phú,đa dạng và giàu màu sắc địa phương và có thể phân thành 4 mảng chính là ca dao-dân ca, Tục ngữ-câu đố, Truyền thuyết-cổ tích-truyện trạng, hò vè



CA DAO - DÂN CA 

Nói đến dân ca là nói đến phương thức diễn xướng (bao gồm cả hình thức diễn xướng và môi trường diễn xướng) và các làn điệu. Dân ca lấy khung cảnh làng quê, đồng ruộng, mái đình, giếng nước, cây đa… làm môi trường diễn xướng. Ca hát gắn với con người từ khi lọt lòng đến khi nhắm mắt xuôi tay. Ca hát gắn với lao động, với sinh hoạt giải trí vui chơi, với sinh hoạt gia đình, sinh hoạt thôn xóm… Nhưng tuỳ nơi tuỳ lúc, tuỳ đối tượng sử dụng và thưởng thức mà lúc nó được hát bằng hình thức tập thể, lúc thì chỉ một cá nhân biểu diễn.

Ca dao- dân ca của bất cứ miền nào trước hết cũng là tiếng ca của nghĩa tình, tiếng nói của yêu thương. Trong sinh hoạt gia đình, làng xã, lúc làm việc cũng như lúc nghỉ ngơi, khi tiếng nói của con tim đã đã ở cung bậc cao nhất, người lao dộng dùng lời ca để bày tỏ tâm tình trước cảnh vật, trước những biến diễn của cuộc đời và trao đổi tâm tình với nhau. Tính trữ tình, bởi vậy thấm đượm trong nội dung lẫn âm điệu của các khúc hát dân gian. Một chút buồn thoáng qua của con người trước cảnh vật:
Chim kêu ghềnh đá gẫm thân thêm buồn
Một tình cảm thành kính dâng lên cha mẹ:
Tôm rằn bóc vỏ bỏ đuôi
Gạo de An Cựu mà nuôi mẹ già
Việc tìm kế sinh nhai nhưng người Quảng Trị luôn nhớ về quá khứ, nào công cha, nghĩa mẹ vô bờ bến, tình nghĩa vợ chồng keo sơn, gán bó dù sông cạn đá mòn:
Mẹ thương con qua cầu Ái Tử
Vợ trông chồng lên núi Vọng Phu
Một mai bóng xế trăng lu
Con ve kêu mùa hạ biết mấy  thu gặp chàng

Tất cả những biểu hiện khác nhau của mối quan hệ giữa con người với con người, tất cả những cung bậc phong phú, đa dạng, tinh tế của tình cảm con người, ca dao – dân ca đã “thấu đến chân tơ kẻ tóc” (chữ dùng của Xuân Diệu) và đã nói bằng một tiếng nói đằm thắm, sâu lắng, thiết tha. Tình cảm ấy mở rộng ra, nâng lên thành tình cảm đối với quê hương đất nước, thành tình cảm giai cấp, nghĩa đồng bào, và sau này trong thời đại mới là nghĩa quân dân, tình dân đối với Cách mạng, với Đảng, với Bác Hồ và tình nam Bắc ruột thịt. Những biểu hiện khác nhau ấy của tình riêng, nghĩa chung trong ca dao – dân ca miền nào cũng có. Vấn đề đặt ra là cần tìm ra những sắc thái riêng. “Những óng ánh riêng” trong cách biểu đạt tình cảm của ca dao dân ca mỗi miền.

Tiếp xúc với ca dao – dân ca Bình Trị Thiên, ta thấy có nhiều cách biểu đạt khác nhau về những khía cạnh tinh tế, phức tạp của tình cảm con người. Có bài ca dao hết sức mộc mạc, mộc mạc như là lời ăn tiếng nói hàng ngày, diễn đạt một tiếng long cũng hết sức giản dị, chân thực:
Đôi ta thương chắc mần ri
Bọ mẹ mần rứa, eng thì mần răng?
Có trường hợp là một tiếng nói mạnh mẽ, quyết liệt đấu tranh cho một nguyện vọng, một ước mơ một sự trọn vẹn của nghĩa tình.
Thiếp thương chàng gươm vàng không sợ
Súng bắn chin, mười lần duyên nợ không buông.
Chẳng thà chịu tiếng cho luôn
Gươm trường kề cổ không buông nghĩa chàng.

Song nhìn chung tiếng trong ca dao-dân ca Bình Trị Thiên, dù mỗi vùng sắc thái có khác nhau vẫn là tiếng nói đằm thắm giàu ân nghĩa chứ không thiên về rắn rỏi, mạnh mẽ, quyết liệt hoặc quá mộc mạc, trần tục…Cách diễn đạt lại thường nhẹ nhàng, bóng bẩy, có sự trau chuốt, gia công tỷ mỉ trong việc dùng chữ, đặt câu (sắc thái này thể hiện rất rõ trong ca dao dân ca vùng Huế -Thừa Thiên) 

Kháng chiến chống ngoại xâm là một nội dung khá quan trọng. Qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ, ca dao dân ca Quảng Trị vẫn không ngừng phát triển để đáp ứng yêu cầu của thời đại. Cuộc kháng chiến chống Pháp đã vẽ nên những trang sử oai hùng của dân tộc, cho Quảng Trị mà các địa danh Triệu Sơn, Ba Lòng, Như Lệ là những nơi tiêu biểu cho phong trào kháng Pháp. Những nơi khác cũng đã từng in dấu chiến tranh tàn phá như dãy Trường Sơn, sông Thạch Hãn, Bích La Đông, An Hoà, Đại  Hào, Phương Ngạn:
Ai về Bích La Đông khỏi lòng đau xót ruột
Ai về An Hoà khỏi hậm hực thù Tây
Mồ mả cha ông hắn cho xe xới, xe cày
Bao nhiêu oan hồn nước mắt nghĩ lại trăm đắng nghìn cay căm thù.

Cần ghi nhận là dân ca cũng theo thời sự mà chuyển biến, phát triển.
Chiến đấu để thống nhất, để được sống tự do, độc lập trên quê hương là niềm tin mãnh liệt của người dân Quảng Trị thể hiện rõ từ thời kháng chiến chống Pháp đến thời chống Mỹ. Ca dao dân ca Quảng Trị đã phản ánh một cách sinh động ý chí và  tâm tình thiết tha ấy.

Như vậy, sự thêm bớt chữ trong các câu ca dao Quảng Trị là không có quy tắc mà hoàn toàn tuỳ theo cảm hứng của người hò, sao cho tròn ý nghĩa là được. Sự hợp vần trong các  dao thường thay đổi, hết gieo vần lưng lại gieo vần chân, như quy luật hợp vần của thể lục bát và song thất lục bát, nhưng một số ít câu ca dao của Quảng Trị lại có lối gieo ở vần chân.

Nghệ thuật chơi chữ trong ca dao Quảng Trị cũng khá phong phú. Ta sẽ gặp ở đây những loại từ đối nghĩa, đối ý trong dân ca đối đáp:
- Bánh cả mâm răng gọi là bánh ít
Trầu cả chợ răng nói trầu không
Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi
- Chuối không qua Tây răng gọi là chuối sứ ?
Cây không biết chữ răng gọi là thông ?
Nam nhơn đà đối đặng quyết làm chồng nữ nhi
Trong lời hò đối đáp, lối ứng xử thật thông minh:
Ngồi buồn nói chuyện trên non
Một trăm thứ cá có con không thằng
Khi chọc ghẹo nhau vẫn giữ lối văn nhã:
Em mở khuôn ra cho anh đúc lấy lượng vàng
Hoạ may may hoạ thiếp với chàng dùng chung
- Anh về thưa với hai họ rõ ràng
Mời thân nhân lại, em mở khuôn vàng cho coi

Quảng Trị là vùng đất thành lập sau khi nước ta đã định hình hàng nghìn năm trước. Văn học dân gian vùng này là sản phẩm của những con người có gốc từ Thanh Nghệ truyền vào. Qua cuộc sống chung với dân bản địa ở vùng đất mới, dần dần con người  ở đây mới tạo được một phong cách riêng. Sự giao lưu văn hoá thế tất phải xảy ra. Ca dao là thể loại để lại những dấu vết rõ rệt trong ngôn ngữ văn học



TỤC NGỮ - CÂU ĐỐ 

Tục ngữ và câu đố là hai thể loại suy lý phổ biến ở Quảng Trị . Cũng như ở các nơi khác, tục ngữ Quảng Trị được phân làm hai tiểu loại: Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết và sản xuất. Các câu phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về đời sống xã hội.  Đây là phần quan trọng nhất là mọi người cần quan tâm khi viết về đề tài ca dao- tục ngữ

Nhìn chung, kinh nghiệm của nhân dân ở đau cũng tương tự như nhau. Ở Quảng Trị có những câu tục ngữ phản ánh kinh nghiệm của nhân dân về thời tiết như sau: Chớp ngã Cồn Tiên; Mưa liền một trộ; hoặc : Sấm Đầu mâu không cầu cũng đến.

Lại có những câu đề cập đến sản vật đặc biệt của từng địa phương. Chính qua những câu tục ngữ này, chúng ta lại càng hiểu sâu sắc hơn văn hoá vật chất của vùng đất Quảng Trị:
-Nem chợ Sãi, vải La Vang
-Khoai quán Ngang, dầu tràm Đại Nại
-Gạo Phước Điền, chiêng Sắc Tứ
- Khoai từ Trà Bát, quạt chợ Sông
-Cá bống Bích La, gà Trại Lộc...

Kinh nghiệm về đời sống xã hội có những câu thật xác đáng và thực tế:
-Chạy lóc xóc không bằng góc vườn
-Nhiều nghề cá trê húp nác(nước)

Người miền núi cũng bày tỏ kinh nghiệm của họ:
- Đừng mau phai như hoa Toang-a-rát
- Đừng chóng bạc như vôi
- Xách bầu phải xem quai
- Địu con phải xem vải buộc
- Làm cỏ phải xem cán nắm

Về hình thức nghệ thuật, các câu tục ngữ ở Quảng Trị thường hợp vần theo lối yêu vận chứ không theo lối cước vận.

Câu đố Quảng Trị có thể phân thành những tiểu loại:
-Về những bộ phận cơ thể của con người
-Về những hoạt động của con người
-Về các con vật
-Về các loại cây trái
-Về các sự vật hiện tượng khác.

Qua những câu đố ấy, ta thấy được sự tinh vi trong những nhận xét về sự vật, con vật sống cạnh người, như đố về con gà trống:
Đầu rồng, đuôi phụng cánh tiên
Ngày năm bảy mụ tối ngủ riêng một mình.
Hoặc con chó :
Khen ai nho nhỏ
Mắt tỏ như gương
Tối trời như mực
Biết người thương ra chào

Có nhiều khi sự liên tưởng vô cùng sâu sắc. Đố về cau, trầu, vôi có câu:
Hai cây cao đã nên cao
Một người dưới rào xa đã nên xa
Ba người họp lại một nhà
Kết duyên phu phụ duyên đà mặn duyên

Có thể nói sự thông minh dí dỏm, óc nhận xét tinh vi của người Quảng Trị đều được thể hiện trong câu đố:
Da non mà bọc lấy xương
Lửa cháy trên đầu chúa chẳng thương
Đêm năm canh tiêu hao mình thiếp
Nghĩ đến đoạn trường nước mắt nhỏ sa
( Cây đèn sáp)
Một mẹ sinh đặng ngàn con
Trai có gái có , tài khôn rõ ràng
Mặt trời đã xế vàng vàng
Con xa ngái mẹ lại càng thương thay
Cách nhau đã bốn năm ngày
Con lại gặp mẹ mừng thay là mừng
(Phiên chợ Cam Lộ)
Một số câu đố khác theo lối "đố tục giảng thanh" cũng thường được nhân dân Quảng Trị vận dụng để sáng tác.


TRUYỆN TRUYỀN THUYẾT - CỔ TÍCH - TRUYỆN TRẠNG

Truyền thuyết ở Quảng Trị phong phú, những truyền thuyết về tên đất, tên làng, và kể lại sự nghiệp của những người có công khai sinh ra làng xã là khá phổ biến trong dân gian. “Nguồn gốc Câu Nhi”, “ Nguồn gốc Như Lệ” là hai truyền thuyết tiêu biểu giải thích làng xã Quảng Trị.

Các truyền thuyết về đền- tháp- miếu- chùa  như “Sự tích tháp Dương Lệ và tháp Trung Đan”, “ Đề Tương Hầu”, “ Miếu Tương Nghè”…đã vẽ lại một giai đoạn lịch sử lâu đời lúc thần linh còn ngự trị khá sâu sắc trong tư tưởng của nhân dân.. Qua các truyền thuyết đó, ta thấy được lòng tôn trọng văn hoá, biết ơn những vị có công với đất nước, quê hương

Truyện cổ tích lại mang một nội dung khác. Đó là những chuyện phản ánh tâm tư, nguyện vọng của con người, đề cập đến những tình cảm riêng tư trong sinh hoạt cá nhân, gia đình và xã hội. Hệ tư tưởng nho giáo có ảnh hưởng sâu sắc trong các truyện cổ. Nhiều truyện nêu bật các đức tính chung thủy, hiền hậu, đảm đang, cần kiệm. Truyện” Vác mía tìm dâu”, “Tình mẹ con” có mục đích khuyến dụ thanh niên nam nữ giữ gìn và phát triển những đức tính ấy để bảo vệ tình cảm, đạo đức trong cuộc sống gia đình. Truyện” Vợ làm quan cho chồng” đề cao người vợ khôn ngoan cũng là truyện có khuynh hướng đạo lý… Có thể nói các truyện cổ tích dân tộc kinh tại  vùng đất Quảng trị dù phương thức diễn đạt khác nhau, có truyện mang tính thần kỳ, có truyện mang tính khôi hài… nhưng nhìn chung xu hướng trong các truyện cổ là đe cao đạo lý làm người.

So với truyện cổ dân tộc kinh thì truyện cổ miền núi Quảng Trị phong phú hơn. Một số truyện cổ tích có tính suy nguyên luận như “ Sự tích sao hôm sao mai” (taôi), “ Tình nghĩa gà vịt” (Vân kiều)…phản ánh sinh hoạt xã hội, có mục đích khuyến giáo đạo lý làm người, đề cao sự chung thuỷ, phê phán những hạng xảo trá, lừa đảo trong quan hệ gia đình, xã hội. Truyện cổ tích thần kỳ miền núi khá hấp dẫn ở những yếu tố người thần, vật thần. Truyện “Con voi thần” hấp dẫn ở nội dung độc đáo, thể hiện sự chất phác cùng sự dung dị trong nếp sống, nếp nghĩ của dân tộc miền núi.

Tư tưởng bao trùm lên các truyện cổ là điều thiện thắng điều ác, tình yêu chung thuỷ luôn được đề cao, những kẻ thống trị tàn bạo luôn bị lên án, cuối cùng bị trừng phạt. Nghệ thuật xây dựng truyện được cấu trúc trên hai tuyến nhân vật chính diện và phản diện, từ đó chủ đề truyện được bộc lộ.

Trong kho tàng truyện kể Quảng Trị, truyện cười cũng chiếm số lượng lớn và vô cùng phong phú. Đặc biệt vùng đất Như Lệ khô cằn lại tập hợp một khối lượng truyện cười đáng kể. Đáng chú ý hơn cả là truyện Trạng Vĩnh Hoàng. Nghệ thuật kể truyện Trạng Vĩnh Hoàng tuy cũng dùng biện pháp khoa trương, phóng đại, nhưng dựa trên cơ sở  hiện thực như chuyện "Trâu đen trâu bạc" là để phóng đại dưa hấu ở Vĩnh Hoàng, chuyện "Mắc cọp mà cày" là để phóng đại việc người Vĩnh Hoàng ngày trước đi cày rất sớm và vùng này cũng nổi tiếng có nhiều cọp như ở Thuỷ Ba. Về phương thức phóng đại, người Vĩnh Hoàng không dùng lối trực tiếp mà diễn tả bằng lối gián tiếp. Để chỉ quả dưa khổng lồ, họ không so sánh quả dưa đó với vật thể nào mà diễn đạt một cách thông minh hơn: dưa mà đạn bắn vào mắc kẹt không ra được, cả đàn quạ chui vào ruột khoét dưa ăn, rồi mang cả dưa lẫn quạ bay lên cao.
Truyện Trạng Vĩnh Hoàng đã nêu bật được bản sắc độc đáo của con người Việt Nam ở Vĩnh Hoàng. Tuy là truyện Trạng nhưng vẫn có một giá trị hiện thực. Đây không phải là những truyện bông lơn, nói láo một cách hời hợt dễ dãi mà xây  dựng từ những thành quả lao động và chiến đấu. Giá trị ấy cần phải được khẳng định khi xét đến mối tương quan của nó với các loại truyện khác như Trạng Quỳnh, Trạng Lợn...

Ngoài ra, một loại truyện khác mang tính chất vui tươi, hài hước, thú vị và nhẹ nhàng là các giai thoại dân gian. Phần lớn những giai thoại này xuất phát từ những cuộc hò đâm bắt, hò môi miếng. Có những giai thoại tập trung vào một nhân vật như thợ Thiềm. Thợ Thiềm được lưu truyền trong dân gian nhờ tài năng, sự thông minh nhanh nhẹn trong cuộc hò đối đáp, nhưng nhiều lúc, thợ Thiềm cũng phải chịu thua trước nữ nhi.


HÒ VÈ

Hò địch vận ở Như Lệ vốn là biến điệu của hò mái nhì nhưng vang xa như tiếng ngân vút cao mạnh mẽ phát ra từ con tim yêu nước nồng nàn. Tiếng hò Như Lệ là nét độc đáo trong  dân ca kháng chiến Quảng Trị, nó đã phát huy tác dụng trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Trong thời kỳ chống Mỹ, tiếng hò kháng chiến lại được dịp vang xa. Nhiều câu hò hai bên bờ sông Bến Hải nói lên niềm ước vọng đất nước thống nhất. Chính ở vùng này đã hình thành nên một bộ phận văn học dân gian mang những đặc điểm riêng của một vùng đất bị chia cắt.
Sông Hiền Lương bên bồi, bên lở
Cầu Hiền Lương bên nhớ bên thương
Bao giờ giặc Mỹ hết phương
Bắc Nam sum họp con đường vô ra.

Vè là một thể loại kể chuyện bằng văn vần phổ biến ở Quảng Trị, phát triển mạnh vào thế kĩ XIX. Vè Quảng Trị cũng như các nơi khác, phần lớn là những bài có dung lượng vừa phải được sáng tác theo thể lục bát, hoặc tứ tự, song thất lục bát. Một số bài nổi bật với nội dung mang tính xã hội sâu sắc. Đó là loại vè thế sự. Vè "Mẹ Hẹ" là một sáng tác độc đáo. Hình thức sáng tác gần như lối thoại kịch với lời đối đáp của hai nhân vật: cô Hẹ và quan huyện. Nội dung bài vè kể lại câu chuyện cô Hẹ vào tuổi xuân tình phơi phới đã bị quan huyện lừa phỉnh. Sau khi để lại một bầu thai cho cô Hẹ, quan huyện ấy đã tàn nhẫn đuổi cô Hẹ ra khỏi nhà. Cô Hẹ nuốt hận trở về nhà mẹ. Sau khi sinh nở, thấy cô vẫn còn xuân sắc, quan huyện lại giở trò tán tỉnh. Cô đã vạch trần thói bạc tình, bạc nghĩa của tên quan này bằng một ngôn ngữ cay chua, mang sắc thái địa phương đậm đà mà không phải bài vè nào cũng thể hiện được.
Xoay quanh thể loại này có những giai thoại mà mỗi khi quây quần bên ấm chè xanh hoặc đôi phút giải lao nơi đồng áng thường được người dân truyền tụng. Chuyện ông Bộ ở làng Gia Độ và O Thơi ở làng Xuân Thành là một trong số đó. Ông Bộ là người nho nhã, có vốn nho học. Tuy đã có gia đình nhưng lại rất say mê hò hát. Còn O Thơi là một gái chưa chồng, tài sắc vào đám nhất vùng thời ấy. Một hôm, gặp O Thơi quang gánh di chợ qua cánh đồng giáp hai làng, ông Bộ nổi hứng cất câu hò:
Buôn bán chi chi rày lời mai lỗ, vất quách thúng rỗ theo anh. Một mai công toại danh thành, ta ngồi chung kiệu hành đó đây”
Không hề chần chừ nghĩ ngợi lâu, O Thơi cất giọng hò đối lại ngay lập tức:
Chữ thánh hiền dược mấy pho mấy bộ, dám huênh hoang xuất lộ vi hành? Một mai đỗ đạt thành danh, đã có O Tam thể nó đợi anh kết nguyền”
Ông Bộ đỏ mặt vì câu hò cay độc. Ai đời đường là một đấng trượng phu ra rứa lại cho rằng chỉ có con mèo tam thể mới lấy anh!
Vẫn cái máu mê gái lại mê hò, một hôm vợ ông Bộ chuyển bụng sắp sinh, nhà lại hết dầu, vợ ông bảo ông xuống chợ mua dầu. Vừa ra đến đầu ngõ gặp cô Thơi đang đang mò cá. Hai người đối đáp đến nổi quên cả mặt trời đã xuống núi. Bỗng ông Bộ cất lên một câu hò trêu chọc rằng:
“ Cảm thương cho Em sớm thì lăn đồng cạn, chiều lại lặn đồng sâu. Con tôm con tép liệu được mấy đồng xu”.
O Thơi hò đáp lại:
“ Chứ làm ra năm trự mười đồng, trước ngon cơm anh sau lành áo mẹ để tỏ tấm lòng nàng dâu”

Cũng cần đề cập thêm một nội dung khác cũng khá phong phú của vè Quảng Trị, đó là vè kháng chiến. Cuộc kháng chiến chống ngoại xâm kéo dài bao nhiêu năm trên đất Quảng Trị khô cằn là đề tài cho hàng trăm bài vè phản ánh những nỗi khổ cực của người dân trong cuộc chiến tranh xâm lược, nêu bật tinh thần chiến đấu ngoan cường của nhân dân ở một vùng đất có truyền thống đấu tranh.
 Bao năm tháng qua, văn học dân gian Quảng Trị đã sống cùng nhịp sống của dân tộc bằng tiếng nói hồn hậu, trung thực của mình, ngân vang bằng giọng hò thiết tha, trìu mến thân thương cho đến ngày nay. 


Đường dẫn: http://amthuyung.com/node/22


READ MORE - VẮN HỌC DÂN GIAN QUẢNG TRỊ

Hoàng Tấn Linh - NƠI MÙA XUÂN ĐẾN


Nơi  mùa xuân đến
Cánh đồng làng ngấn nước phía xa xăm
Chút se lạnh về đi trong thoáng vội
Vạt nắng xanh non từ ngày cũ
Lời hẹn ước trong veo.


Nơi mùa xuân đến
Giọt sương lúng liếng hẹn hò
Trang vở đi qua những lời yêu năm tháng
Những đam mê không có ngày bất chợt
Nỗi nhớ bao dung.


Nơi mùa xuân đến
Quà của phố lời yêu hoa từ độ
Gió trinh nguyên  khúc du ca tình tự
Trên mờ xa mây tím nhạt bao giờ
Ngày xuân như dài hơn.


Nơi mùa xuân đến
Tình yêu xanh thầm lặng phía hôn hoàng
Những vần thơ lắng nghe mình rất khẽ
Lời mùa xuân thầm thĩ...


HTL

READ MORE - Hoàng Tấn Linh - NƠI MÙA XUÂN ĐẾN

Huy Uyên - TẾT ĐỢI NGƯỜI VỀ


Tết đợi người về
Thơ Huy Uyên

Quê hương trăm ngã chiu xa x
Biết có ch ai bui quay v
Ra đi chôn cht thi tr di
Quên c ao làng ln giếng quê.

Đò đã sang sông bao dâu b
Chén rượu ly bôi nht h trườmg
C mt đi người luôn ti tr
Nên khi quay li mãi hư khong.

Ch sông , sông cn đi phiêu bt
Ch núi , núi mòn qui-c-hương
Mui mn gng cay v đng hát
Nâng ly mà khóc khúc đon trường.

Ngày đi bàn tay ai đưa vy
Cu xưa ai my nhp đi ch
Xác xơ quán tranh nghèo mây ph
Xóm ch bun xuân h đông thu.

Bên đê nghé ơi mùa v
Hay chăng bui y đi em v
Đi ch ri mi mòn mai n
Cũng xiêu liêu nh tím tình quê.

Mt chút nng xuân sang đu ng
Bao lâu ri năm tháng ch mong
Quê ơi mãi mt đi thương nh
Đám con quê đau đáu trong lòng.

Vi tay ngàn dm su ngang ph
Vết chém lưng tri chìm trôi sông
Thuyn t lênh đenh trăm bến đ
La cháy vào tim xót  xa lòng.

Đâu ri h th mà ngâm vnh
Mt mãnh đi riêng lng đng phiêu
T bui gương xưa m c-kính
Mà xót chi nay đng bóng chiu.

Đâu ri c nhân ngày chung bước
Chiu quê dìu dt sáo ly hương
Mây vn đi v trăm xuôi ngược
Mà k cho nhau vn chuyn bun.

Chí ln sông h yên gic ngũ
Mng người cười khóc khúc nam ai
Mà nay mt đon su nghiêng nga
Khut theo bóng núi rng sông dài...



Huy Uyên
0903583673 
lesinh.lesinh@yahoo.com





READ MORE - Huy Uyên - TẾT ĐỢI NGƯỜI VỀ

Trương Nguyễn - CÁM ƠN MÙA XUÂN




Em nhặt hết lá trên cành đông muộn
Và đợi chờ vàng ánh một trời mai
Như trút bỏ bao muộn phiền vây khốn
Soi vào gương tìm lại nét trang đài

Ước mơ ấy trôi trên dòng sông cũ
Chẳng vỡ như bong bóng nước bao giờ
Tay khẽ chạm vào mây tìm vạt nắng
Để mang xuân thắm đẹp sông hồ

Người yên phận quên ngày mưa nắng
Giữa buồn tênh cùng thân xác hoang vu
i thở nhẹ tâm bình an rỗng lặng
Vụt bung hoa tô điểm mọi mong chờ

Mai hiền hòa mang về ngày xuân mới
Một màu vàng đằm thắm biết bao nhiêu
Người hân hoan đang chăm lo vun xới
Cùng vui cười hòa nhịp sống thương yêu .

Trương Nguyễn 
truongnguyen49@yahoo.com.vn
READ MORE - Trương Nguyễn - CÁM ƠN MÙA XUÂN

Trương Lan Anh - NGÀY XUÂN EM VỀ


Mời em về thăm quê anh
Bên dòng sông mát trong xanh hiền hòa,
Có vườn cam bưởi đầy hoa
Có rào dâm bụt đi qua lối này.

Vườn trầu mẹ hái chiều nay
Hàng cau đo nắng ngày ngày bóng xiên,
Tiếng chim lãnh lót lời riêng
Trên cành vắt vẻo nghiêng nghiêng mai hồng!

Gió hôn chuối chín ngọt lừng
Thị kia vàng thắm thơm từng niềm vui,
Rơi vào cổ tích xa xôi
Mẹ mong cô Tấm về phơi lúa vàng!

Quả na mở mắt mơ màng
Ngắm mùa trăng nở đêm rằm tháng Giêng,
Tặng em khúc hát chung chiêng
Trăng bên ché rượu ngả nghiêng đất trời!

Em về thăm nhé xin mời
Đò ngang qua bến nghe lời hát xuân,
Trai tài gái sắc đẹp phần
Chợ Đình ta đến mua xuân nỏn nà!

Tò he ai khéo nặn ra
Xuân vui mỗi nét sắc hoa cuộc đời,
Cùng em đến chợ dạo chơi
Bích La Làng cũ người ơi tìm về!

Mời em ghé nhé thăm quê
Tháng Giêng lộc biếc tràn trề sức xuân
Dòng sông nước chảy tần ngần
Buông câu thơ đợi ngày xuân em về!

                              12/1/2012
                         Trương Lan Anh
              lananh.truong74@gmail.com
READ MORE - Trương Lan Anh - NGÀY XUÂN EM VỀ

Wednesday, January 11, 2012

Cáp Xuân Tú - CHẠP MÃ


Chạp mã là cách gọi dân dã của người làng tôi – Làng Trà Lộc. Theo tiếng phổ thông hay văn hoa một tý gọi là tảo mộ. Hàng năm vào rằm tháng Chạp, lúc đã xong việc cấy lúa vụ đông xuân, thời gian nông nhàn thì các họ tộc, chi phái trong làng tập trung con cháu đi chạp mã. 


Đây là nghĩa vụ thiêng liêng mà con dân trong làng phải thực hiện. Đây cũng là dịp để con cháu sau một năm làm lụng vất vả quay về tụ hội. Đây cũng là dịp anh em có thể gặp nhau đông nhất chứ đến ngày Tết ai cũng bận rộn những công việc riêng, mỗi người mỗi đường.


Những người đang ở trong làng đi làm ăn nơi khác, đến dịp này phải sắp xếp công việc dành ra vài ba ngày. Kẻ ở xa quê cũng lặn lội trở về; không những người ở các địa phương xung quanh tỉnh Quảng Trị luôn nhớ ngày chạp mã mà những người tha phương tận miền Nam như Xuyên Mộc, Long Khánh, Bắc Ruộng… cũng tìm về thăm quê trong dịp này. Vì vậy mà những ngày chạp mã cả làng vui hơn cả ngày Tết. Nhà nào cũng có bà con ở xa về, anh em trong gia đình hàn huyên tâm sự, bà con lâu ngày có dịp hỏi han chuyện nhà, những người đồng trang đồng lứa mở thêm mấy bữa nhậu rôm rang khắp làng.




CHẠP MÃ HỌ
 

Đối với họ Cáp của tôi, đi chạp mã họ bao giờ cũng vào sáng Mười bốn tháng Chạp. Họ có 3 ngôi mộ tổ nên cả họ làm chốc lát là xong. Hơn nữa mộ tổ được xây cất thành lăng rất lớn nên việc đắp đất, làm cỏ không còn vất vả như xưa.

Ngày xưa khi tôi còn niên thiếu, được về làng theo cha đi chạp mã họ là một điều vinh hạnh vì chạp mã tổ họ chỉ dành cho những người trung niên trở lên.

Tôi phải thức dậy từ sớm, đêm trước phải đạp xe đạp về ở lại. Trời mùa Đông, không quen dậy sớm nên thấy rét và cay xè con mắt nhưng vì thích thú nên tôi tỉnh táo ngay, lục đục ra bể nước đánh răng rửa mặt. Nhà bác chưa có điện chỉ có đèn dầu tù mù cùng với ánh lửa hắt ra từ bếp đun rơm mà bác gái đang ngồi nấu cơm. Bác gái dậy từ lâu rồi, bác nấu xong cám cho heo, làm mâm bánh đúc rồi quay sang nấu cơm để chúng tôi ăn sáng.


Tôi vác cái trang. Cha và bác vác cuốc. Bác trưởng họ mới được cầm rựa để phát cây và bác cầm thêm ba thẻ hương. Đạp xe từ làng đến mộ tổ họ gần 3 cây số. Mộ tổ nằm bên bờ trằm, trong rú Giàng. Sương sớm chưa tan. Gió bắc thổi nhẹ đem theo hơi nước lạnh buốt. Bầy le le vịt nước đang ăn sớm ngoài trằm tiếng kêu ríu rít. Tôi đến nơi đã thấy các chú, các bác có mặt khá đầy đủ. Bác trưởng họ vào thắp hương rồi ra lệnh cho mọi người cùng làm. Người thì lên nấm làm cỏ rồi vớt đất ở dưới chân đắp lên nấm. Người thì làm sạch cỏ xung quanh mộ và đường đi. Mộ tổ to đường kính 8 đến 9 mét, cao gần một mét nên việc đắp cát lên hơi khó. Nhưng mỗi người một tay, làm nhanh lắm. Vừa làm, các bác vừa nói chuyện râm ram. Chuyện nhiều nhất vẫn là những chuyện của quá khứ.


Công đoạn dùng trang là công đoạn sau cùng. Lúc đó tôi dùng trang để làm bằng mặt cát trên mộ, trên đường đi. Tôi là dân cầm bút, cày đường nhựa nên làm không thể nào phẳng đuợc. Bác để cho tôi trang qua rồi bác trang lại. Mặt cát phẳng lỳ như ủi.


Dạm trưa thì tất cả đinh họ quay về nhà thờ để cúng tế. Các bác lên hương đèn, khấn vái đúng theo nghi lễ. Tiếng trống tiếng chiên gióng lên vang động cả làng. 


Ba bàn hương án đặt ở ba gian nhà. Nhà thờ họ làm theo kiểu nhà bánh ít, 3 gian 2 chái. Cột lim láng bóng. Kèo cột được khắc chạm rồng phượng, hoa văn rất tinh vi.


Một không khí trang nghiêm khó tả. Khói hương trầm nghi ngút. Các bác lạy nhiều lắm, tôi không thể đếm hết.


Lễ cúng xong là con cháu hưởng lộc. Chiếu hoa trải thành ba hàng. Mọi người ngồi mâm theo thứ bậc. Chính giữa gian thờ là các bậc cao niên và cao chức. Có lần tôi cũng được ngồi với các bác ở đó. Mâm cỗ lúc nào cũng đơn giản là đồ xôi và thịt heo. Mấy o (cô) khéo xáo xôi thật. Xôi khô mà dẻo và thơm lại ăn kèm với thịt heo chắm nước mắm biển mặn mặm cay cay của ớt nữa, thật tuyệt vời. Cái cảm giác ấy làm tôi luôn nhớ mãi, mong được về vào ngày chạp mã họ để được thưởng thức món dân dã ấy. Thêm vài tép rượu gạo, câu chuyện các bác, các chú, các anh cứ xoay quanh. Từ chuyện làm ăn, học hành, đến chuyện góp tiền xây dựng nhà thờ hoặc xây lăng… 




CHẠP MÃ PHÁI


...Đó là chuyện chạp mã họ. Còn chạp mã phái có nhiều chuyện để nói nữa. 


Những năm trước đây, các gia đình trong làng chủ yếu làm nông, trồng lúa nên thanh niên trai tráng nhiều, đã định từ xưa chạp mã phái là ngày Mười Ba tháng Chạp – tức là trước chạp mã họ một ngày. Nhưng bây giờ, con cháu đi làm công chức, cán bộ Nhà nước, đi ra khỏi làng làm ăn khá nhiều nên các bác phải chọn ngày Chủ nhật gần ngày Rằm nhất để chạp mã. Như vậy mới có nhiều con cháu trở về.


Mồ mã trong phái thì nhiều lắm, nằm rải khắp rú làng. Nhưng tất cả cũng quy lại bám xung quanh bờ trằm, kéo từ bên phía Đông cho đến bên phía Tây. Ngày xưa, các cụ tổ lo giữ đất làng nên mộ của ông tổ phái hoặc cao tằng cố tổ đều nằm biên giới với các làng xã khác như chôn lên tận động Cát Tiên, sát xã Hải Vĩnh. Đi xe máy phải gửi lại ở xóm Phường – sát với truông cát, sau đó đi bộ vào tận sâu phía trong. Từ đó lên đến đám mộ xa nhất cũng gần 4 cây số, đi theo đường mòn chỉ có cát và cây bụi lúp xúp. Mùa này mà trời nắng thì còn dễ đi chứ trời mưa như mấy hôm nay thì khá vất vả. Đi chen qua bụi cây nước mưa đọng trên là rơi cả vào người ướt hết.


Những năm sau này kinh tế khá giả nên các nóc nhà con cháu về xây lăng hoặc cuốn nấm mộ nên công việc đở vất vả hơn. Mộ chôn truông cát, về mùa nắng gió Lào thổi cho cát bay cát chạy hết làm nấm mộ lệch về phía dưới gió. Nên trước khi đắp lại nấm mộ thì phải đo lại tâm. Theo thói quen, làng tôi ngoài việc chôn bia ở đầu, người ta còn trồng thêm một cây chổi hay cây gió ở phía dưới chân. Đây chính là 2 mốc chuẩn của nấm mộ.


Trời mưa không mang áo mưa thì ướt, mà mang vào thì lại nóng. Khi đi trời lạnh mang nhiều áo, cuốc vài nhát cả người nóng lên. Mồ hôi đổ ra không thoát được cứ thấm chặt vào trong các lớp áo quần. Rồi cát lại bán lên cuốc, lên quần, lên áo. Thực ra, không có ai phàn nàn điều này.


Các bác lớn tuổi cầm con rựa, cầm thêm mấy bó hương và con cúi rơm để giữ lửa thắp hương thắp thuốc lá. Lũ trẻ con mang vác trang. Còn lại mang cuốc. Rú truông dạo này kiểm lâm huyện không cho chặt tỉa nên càng năm càng um tùm. Một năm về được một lần nên không cẩn thận thì lạc ngay.


Xen kẻ giữa công việc là những câu chuyện, những lời thăm hỏi. Đặc biệt là những câu chuyện về người đã khuất. Chuyện tốt cũng có, chuyện xấu cũng có. Các bác luôn nhắc nhở cẩn thận từng ngôi mộ, mộ này của ai, con cháu họ thế nào… có lẽ như vậy con cháu mới nhớ hết từng ngôi mộ của dòng họ mình. Các bác luôn nhắc đến những ngôi mộ nằm tách biệt, riêng lẻ, bởi vì dễ quên và con cháu cũng ít về.


Số mộ nhiều nên thường phải làm hết một ngày. Xong phần làm mộ con cháu quay về nhà thờ phái để làm lễ và tất nhiên là ăn cổ. So với mâm cổ nhà thờ họ, thì mâm cổ phái sung túc hơn, rôm rả hơn. Kinh phí mỗi trai phái phải nộp. Anh em chúng tôi ở xa về bao giờ cũng có thêm tiền cúng phái ngoài khoản tiền nghĩa vụ phải nộp. Cũng vì thường là muốn cho câu chuyện rộn rả, lâu một chút thì phải có chất xúc tác. Ngày xưa kham khổ uống rượu gạo do bà con trong làng nấu, bây giờ thì dùng toàn bia Huda thôi. Mâm ngày xưa rau củ nhiều bây giờ thì thịt tràn mâm. Có một món truyền thống không hề vắng là cá lóc kho khô bắt cong. Cá lóc được kho với nước mắm biển và gia vị qua ít nhất 10 lần lửa, một ngày được đem ra kho một lần. Thịt cá khô xơ thành sợi ăn riêng với cơm trắng thì ngon tuyệt.


Anh em cùng phái mới xa mấy đời nên thân nhau lắm. Thấy cảnh con cháu sum vầy, vui vẻ các bác vui mừng ra mặt. Các bác luôn động viên con cháu học hành, làm ăn và không quên bày tỏ ước nguyện của mình muốn làm cái gì đó cho ông bà tiên tổ như xây lại nhà thờ, quy tập mộ… Tất nhiên kết thúc lúc nào cũng bằng một cuộc họp toàn trai phái để hoạch định cho các ông việc sắp tới.
Riêng tôi cứ mỗi mùa chạp mã tôi càng thấy yêu lắm quê mình dù nơi ấy tôi không sinh ra và không lớn lên, vì nơi ấy là quê cha đất tổ, nơi tổ ấm tràn đầy tình thương bà con cô bác họ hàng. Ôi quê tôi…


09.01.2012
Cáp Xuân Tú
capxuantu@gmail.com


READ MORE - Cáp Xuân Tú - CHẠP MÃ

Huy Uyên - QUẢNG TRỊ VỀ THÔI


HUY UYÊN
Qung tr v thôi


V
thôi sao bun như mun khóc
em m
t phương và anh mt phương
bên đó có đò ch
đi nước
còn bên anh c
mt tri bun.

H
n hò chi em gi vương vn
quỳnh v
ri thoáng hơi th đêm
em đi bi
ết bao gi quay li
đ
riêng anh tìm mãi bóng mình.

Giá đ
i hai ta bun hơn núi
khi chia tay đ
mt cây rng
em m
t bước anh đau mt bước
đ
tim người bao xiết rưng rưng.

Khi b
đi mà sao không nói
h
n hò ri cũng lãng quên thôi
anh đau th
ương đưa tay vy gi
gi
a thinh không mt đam mây tri.

V
thôi em v thôi da diết
áo ai bay kín gió ngang tr
i
v
ết thương xưa chy hoài tưởng tiếc
day d
t chi ni ngm ngùi trôi.

Bi
ết em ri chiu nay v thôi
nh
ư lá bay đi như là mây
anh, anh mãi đau đòi thú
em xao xuy
ến ơi bóng mt người...
 
Huy Uyên
 
0903583673 

Lesinh.lesinh@yahoo.com


READ MORE - Huy Uyên - QUẢNG TRỊ VỀ THÔI

Hữu Bằng Sơn giới thiệu tập thơ LỬA ĐÊM của Trương Nguyễn


Lửa Đêm

(Tập thơ của Trương Nguyễn, Hội viên hội Văn Nghệ Bà Rịa Vũng Tàu, NXB Văn Nghệ TP.Hồ Chí Minh – 2006)

      Cách nay khoảng vài năm, có lần Trương Nguyễn tâm sự: Mình tên thật là Nguyễn Trương. Đặt bút làm thơ từ những năm đầu thập kỷ bảy mươi của thế kỷ trước. Nhưng xem cái bút danh Nguyễn Trương không mấy sáng sủa, viết thì nhiều mà được in thì ít nên mình thử đảo Nguyễn Trương thành Trương Nguyễn xem sao? Không ngờ những bài thơ ký tên Trương Nguyễn lại được đăng đều đều, thế là mình lấy họ thành tên và tên thành họ!

      “Lửa đêm” là tập thơ thứ ba của Trương Nguyễn. Tập thơ dày dặn, được in trên giấy trắng, tốt – có in một số phụ bản tranh nghệ thuật, một số ca khúc phổ thơ của Trương Nguyễn. Vậy là hội đủ thơ – văn – nhạc – họa!

      Giáo đầu tập Lửa Đêm, Trương Nguyễn viết: “Khi cảm xúc bị dồn nén đến tận cùng thì chính lúc ấy bao nhiêu đường nét âm thanh, ngôn ngữ bỗng rùng mình thoát xác...”

      Niệm Khúc – bài thơ đầu tập gồm sáu khúc nỗi niềm và một khúc ước: “Ước gì tôi mãi được úp mặt vào chiếc lưng trần khép nắng của cha và bầu sữa ngọt thơm của mẹ. Ước gì” Chỉ có vậy thôi mà bao người cứ phải mơ phải ước! Cõi người cắc cớ đến thế sao?

      “Trong đêm tối mênh mông/ Tôi xin làm ngọn lửa? Thắp lên điều tan vỡ? Những khát khao yêu thương”.

      Xưa nay người ta ước là ngọn gió, vạt nắng, đám mây, thậm chí là lưỡi gươm, mũi giáo...Ngọn lửa Trương Nguyễn ước không phải để sưởi ấm, không để xua đi bóng đêm mà để thắp lên điều tan vỡ!

      Chưa dừng lại đó Trương Nguyễn còn “Ước được làm nén nhang/ Đốt trong đêm trầm mặc/  Cháy thiêu bao điều ác/ Mỗi tấm lòng hanh thông”.

      “Ta ngắm chưa tròn trăng đã khuyết/ Dầu hao – Đĩa cạn tối dày thêm/ Một lần em đến như sương tuyết/ Nắng đã lên đâu bóng cuối thềm?” (Huyễn).

      Đọc lướt, bài thơ 4 câu này nghe có vẽ thi sĩ. Nhưng thử đọc thêm một lần nữa người đọc dễ nhận ra người viết cũng tính toán được – mất với cuộc đời. Ngắm trăng – gặp độ trăng khuyết! Ngắm nắng – gặp lúc bóng cuối thềm! Cái ý, cái tứ này phảng phất đâu đó trong hò, vè miền Nghệ Tĩnh “...Anh đến tìm hoa thì hoa kia đã nở! Anh đến bến đò thì đò đã sang sông! Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng...” Chả nhẽ bể dâu cuộc đời lại dồn trong Trương Nguyễn nhiều oái ăm đến thế! Và TrươngNguyễn gọi đó làm cảm xúc, làm cảm hứng thi ca? Trương tìm đến nàng thơ mỗi khi “cảm xúc bị dồn nén đến tận cùng”

      Cám cảnh thay cái phận nghèo, xưa nay cái nghèo làm cho con người ta hèn! Trương Nguyễn cũng tỏ ra biết thân biết phận: “Thôi đành thôi cứ vậy/ Năm sau xuân có đến/ Ta đi mua sắm nhiều”!

      “ Bóng chiều nhẹ/ Chầm chậm xuống mỗi ngày/ Giọng nói cười thật khẽ/ Không gian bây giờ vẫn thế/ Lá rũ buồn quanh sân/...Chiếc lá vàng rơi/ Trơcành.../ Khô nhánh.../ Hỏi ai còn tha thiết với mùa xuân?" – (Cây mai lẻ bạn)...

      Phần nhiều trong “Lửa đêm” là chuỗi buồn được Trương Nguyễn kết nối thành thơ! Ừ thì cứ cho là thế, nhưng không biết sao khi đã “thẩm thấu” hết lượt “Lửa Đêm” người đọc cứ ngờ ngợ về khả năng trong cách thể hiện của Trương! Hay những nỗi buồn kia chưa đến độ bị “dồn nén" đến tận cùng” ! Nên...Bóng đã cuối thềm mà nắng vẫn chưa lên!

      Hy vọng thơ Trương Nguyễn sẽ có những khởi sắc hơn trong chặng tiếp.
                                                                                  

                                                                HỮU BẰNG SƠN
READ MORE - Hữu Bằng Sơn giới thiệu tập thơ LỬA ĐÊM của Trương Nguyễn