Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, November 14, 2023

RỒI SẼ TÀN TRO - Chùm thơ Thùy Vy

Nhà thơ Thùy Vy



RỒI SẼ TÀN TRO

 

Rồi sẽ tàn tro

rồi sẽ là nước

hư vinh và nhục

rồi cũng lìa xa.

 

Gió và gió

mây rồi mưa

rồi núi

rồi đá

rồi là biển khơi.

 

Nào khúc mắc

nào dư thừa

nào hư ảo

nào là chưa có gì.

 

Nào mực thước

nào uy nghi

nào hùng hổ

nào gì gì.

mặc ai.

 

Chỉ là ta với hình hài

tự phù phiếm tự phôi phai nỗi buồn.

 

 

ĐỀN EM

 

Một chiều em đến

một chiều tôi

một chút bâng quơ kiệm kiệm lời

se luồn qua chiếc màu nhơ nhớ

em đã là em

trong tim tôi.

 

Tôi mãi là tôi

sẽ là em

một nét tình thôi mãi mãi tìm

vẫn hồn nhiên ấy sao e thẹn

vẫn mắt môi hiền

sao chao nghiêng.

 

Em mãi là em thuở đôi mươi

ấm lắm bàn tay siết chặt lời

ru đời dịu lướt êm trầm khúc

em.

chỉ là em

tôi yêu thôi.

 

Em đã là em của lòng tôi

thương lắm chiều thu em đến chơi

ra về dạo ấy tim còn vỡ

đền em.

em có chịu đền tôi.

 

 

LỘI NGƯỢC LÊN CHIỀU

             

Lặng nghe trời đất bảo nhau

dế giun xoắn lắm cũng quay quắt nhìn

dưới nước lũ

trên âm binh

thao thao con chữ giật mình tái sanh

đầu nguồn đất trụt mái tranh

quơ ngang chạm ngõ đành hanh cuộc đời

cua ngoi ngóc

gió ngàn khơi

lum khum lượm rá soong nồi bơi ngang

liếc nhìn chạn chén vỡ toang

nửa đời vay

đã vắt ngang lưng chiều

xắn quần lội ngược liêu xiêu

ngỡ chiêm bao trượt mé rêu giật mình

thương con cá

chạm mái đình

loay hoay vướng phải lưới tình thế gian.

 

Thùy Vy

Tiên Phước, Quảng Nam

READ MORE - RỒI SẼ TÀN TRO - Chùm thơ Thùy Vy

Monday, November 13, 2023

Ca khúc PHỐ NÚI - Nhạc: Hoàng Lương - Thơ: Lê Thiên Minh Khoa - Video: Nguyễn Khắc Phước - Hình ảnh: Internet



 Bấm vào ô vuông ở góc phía dưới, bên phải, để xem toàn màn hình. 

READ MORE - Ca khúc PHỐ NÚI - Nhạc: Hoàng Lương - Thơ: Lê Thiên Minh Khoa - Video: Nguyễn Khắc Phước - Hình ảnh: Internet

TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng



Gia đình anh Lê Cung Bắc gởi tặng tôi tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY” qua Ban Liên Lạc cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị.
 
Tôi đã nhận sách cách đây mấy ngày.
Tôi được tặng vì tình Nguyễn Hoàng - Lê Cung Bắc có học Nguyễn Hoàng từ Đệ Thất đến Đệ Tam (lớp 6 đến lớp 10 – 1959 - 1963) và tôi có dạy Nguyễn Hoàng từ 1965 đến 1970.
Tôi lấy làm tự hào và trân quý quà tặng.
Tôi đọc và viết ra mấy dòng này.

*
1- Qua tập hồi ký, trước tiên, tôi tìm hiểu ý nghĩa nghệ danh CUNG BẮC và ý nghĩa tựa đề tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY”.
 
 Lê Cung Bắc tên thật là Lê Hữu Ty. Anh mồ côi cha lúc mới 10 tháng tuổi. Lớn lên trong vòng tay của mẹ. Mẹ anh có gốc Bắc (người Nam Định); vào đời, hoạt động nổi tiếng trong kịch nghệ và điện ảnh, để tỏ lòng ngưỡng vọng đến mẹ, anh dùng từ Cung Bắc (kính cẩn đối với đất Bắc – quê Mẹ) để làm nghệ danh.
 
“BỤI CÁT CHÂN MÂY” là tập hồi ký cuối đời của Lê Cung Bắc. Anh không tự chấp bút được mà, dù không được khỏe khi đang trên giường bệnh điều trị ung thư phổi vào giai đoạn cuối, sốt sắng kể lại cho diễn viên Võ Sông Hương ghi âm bắt đầu từ 05/4/2021 – nghĩa là trước lúc anh lìa đời không lâu (anh mất ngày 13/6/2021).
 
Tựa đề sách ban đầu định lấy tên là “THẾ GIAN KÝ”, tập sách ghi lại chuyện trong đời; nhưng sau anh muốn đổi lại là BỤI CÁT CHÂN MÂY. Anh lý giải: “Chân mây là cái gốc; cát bụi cũng có cái gốc của nó …”; ý nghĩa là con người sinh ra từ bụi cát, chết tan thành bụi cát; như vệt mây ở chân trời hiện rồi tan và, trong tâm trạng nôn nóng, nói với diễn viên Võ Sông Hương: “Chú chỉ mong nhìn được CÁT BỤI CHÂN MÂY trước khi rời cõi tạm. Không phải để làm gì to tát mà chú chỉ muốn đó là một kỷ niệm đẹp cuối đời của chú đối với những người chú yêu thương và thương yêu chú, kể cả những người không thương chú”

*
2- Qua tập hồi ký, tôi tìm hiểu quê quán và dòng dõi của Lê Cung Bắc.
 
Quê anh là làng Xuân Thành – một làng quê nhỏ thuộc xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Xuân Thành đã trở thành tên xưa. Từ năm 2019, thôn Xuân Thành không còn là một đơn vị hành chánh nữa. Vì là thôn nhỏ, chỉ có 60 hộ dân, chính quyền đã đem nhập với thôn Quy Hà có 229 hộ dân thành thôn mới lấy tên là thôn Xuân Quy.
Đất làng Xuân Thành là cồn nổi được bồi tụ qua thời gian do phù sa sông Thạch Hãn; thuở xưa, cồn nổi ấy do làng Giáo Liêm chiếm lĩnh.
 
Tiến sĩ Lê Phát lấy vợ là chị của quan Ngự Sử Phan Thiệu Khanh, người làng Giáo Liêm.
 
Làm quan, thương lượng với làng Giáo Liêm nhượng cồn nổi ấy rồi ngài Tiến Sĩ Lê Phát đem dân Xuân Thành đang sống trên sông nước ở bờ Bắc sông Thạch Hãn thuộc huyện Gio Linh lên lập cư và lập ra làng Xuân Thành ở bờ Nam sông Thạch Hãn thuộc huyện Triệu Phong.
 
Xuân Thành là làng bao quanh bởi nhiều dòng nước, đất phù sa màu mỡ, phong cảnh hữu tình, ươm mầm cho những tài năng, trong đó có anh Lê Cung Bắc.
 
Ngài Tiến Sĩ Lê Phát (1854 – 1898), người đã lập ra làng Xuân Thành thuộc huyện Triệu Phong, là ông nội của anh Lê Cung Bắc, đỗ Tiến Sĩ năm 1895, làm quan dưới triều nhà Nguyễn. Do bệnh, ngài cáo quan về quê nhà rồi mất 1898.
 
Thân sinh anh Lê Cung Bắc là ngài Lê Hữu Sảng (? – 1947) - con trai trưởng của ngài Tiến Sĩ Lê Phát – học trường Quốc Tử Giám, rồi ra làm quan, công tác ở một vài tỉnh miền Trung; cuối cùng, tòng sự tại bộ Hình trước khi về hưu trí tại quê với hàm Hàn Lâm Viện Thị Giảng. Năm 1947, bị một số kẻ lạ mặt bắt đem đi giết, gia đình tìm được thi hài hôm sau trên bờ ruộng.
 
Các chú của anh Lê Cung Bắc cũng là những bậc khoa bảng: Ngài Lê Hữu Tiềm (có tên khác Lê Nguyên Lượng) đỗ Phó Bảng năm 1919, ra làm quan; ngài Lê Hữu Phổ đỗ Cử Nhân, cũng ra làm quan.
 
Thân sinh của anh Lê Cung Bắc – ngài Lê Hữu Sảng – có 3 bà vợ. Lê Cung Bắc là con út trong gia đình và cũng là con út bà thứ 3 (1922 ? – 1998). Lê Cung Bắc có 3 bà chị (02 bà là con của mẹ thứ nhất + 01 bà cùng mẹ) và 09 ông anh (04 anh của bà mẹ nhất, 04 anh của bà mẹ nhì và 01 anh cùng mẹ).
 
Các ông anh có người theo Việt Minh chống Pháp, có người làm công chức cho chế độ Quốc Gia.
Ở cả 2 chế độ, họ đều giữ những chức vụ tương đối lớn. Có ông anh – con bà mẹ 2 – được truy phong Anh Hùng Lực Lượng Võ Trang và bà mẹ nhì được truy tặng danh hiệu Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng.
 
Nhờ danh tiếng của gia đình, nhờ vai vế của các ông anh, Lê Cung Bắc, dù sinh ra và lớn lên trong thời dâu bể, vẫn có may mắn, lợi thế hơn nhiều người cùng trang lứa.

*
3- Qua tập hồi ký, tôi tìm hiểu con đường học vấn của Lê Cung Bắc.
 
Lê Cung Bắc đi học khá sớm, bắt đầu từ năm 1950 – lúc mới tròn 4 tuổi. Học trong vùng Việt Minh, do tình hình chiến sự, buổi học buổi nghỉ. Hiệp định Genève ký kết; những lớp học tạm bợ này chấm dứt.
 
Năm 1955 (?), Lê Cung Bắc được ông anh cả (con mẹ thứ nhất) là ông Lê Hữu Kỷ đang làm công chức lớn trong ngành hàng hải của chính phủ Quốc Gia Việt Nam đem vô học bậc Tiểu Học chương trình Việt – Pháp tại trường Lê Bá Cang Sài Gòn.
 
Mùa thu năm 1957 (?), trở về quê, Lê Cung Bắc được nhận vô học lớp Nhì (lớp 4 bây giờ) rồi lớp Nhất (lớp 5) trường Tiểu Học Gia Độ.
 
Xong lớp Nhất (lớp 5 bây giờ) tức là xong bậc Tiểu Học, Lê Cung Bắc trúng tuyển kỳ thi tuyển vào lớp Đệ Thất (lớp 6) năm học 1959 – 1960 (?) trường trung học Nguyễn Hoàng tại tỉnh lỵ Quảng Trị. Lê Cung Bắc học ở đây đến xong lớp Đệ Tam (lớp 10).
 
Qua trung học đệ II cấp – Đệ Tam, Đệ Nhị, Đệ Nhất (lớp 10, 11, 12 trung học phổ phông bây giờ), Lê Cung Bắc chọn ban C – ban Văn Chương Sinh Ngữ. Năm sau, Nguyễn Hoàng chưa có lớp Đệ Nhị (lớp 11) ban C, Lê Cung Bắc vào Quốc Học Huế học tiếp lớp Đệ Nhị, Đệ Nhất C cho xong Tú Tài.
 
Trong thời gian học Nguyễn Hoàng ở tỉnh lỵ Quảng Trị, Lê Cung Bắc xa quê Xuân Thành khoảng non 20 cây số, phải ở trọ, cũng không gặp khó khăn gì vì ở đó, Lê Cung Bắc có nhiều người thân.
 
Trong hai năm học Quốc Học Huế, Lê Cung Bắc cũng có nhà của ông anh Lê Hữu Khải (con bà mẹ nhất) đang giữ chức lớn trong ngành thủy lâm và nhà bà chị ruột Lê thị Hoàng Oanh đang làm thư ký tại ty Thủy Lâm.
 
Xong Tú Tài, Lê Cung Bắc định thi vào trường Không Quân, thụ huấn để trở thành phi công, nhưng mẹ không cho, lấy cớ là có 5 ông anh (4 ông là con của mẹ nhì + 1 ông cùng mẹ) đang theo chế độ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, không chừng đang chiến đấu ở miền Nam, chả lẽ anh em chém giết nhau.
 
Lê Cung Bắc lên Đà Lạt học trường Chính Trị Kinh Doanh thuộc Viện Đại Học Đà Lạt. Nơi đây, việc ăn ở có phần thuận tiện vì người em - con ông chú - tên Lê Phỉ (sinh năm 1927) đang làm hiệu trưởng trường tư thục Việt Anh ở đó. Với thêm, mộng của Lê Cung Bắc là sẽ ra ứng cử Dân Biểu, Nghị Sĩ hoặc sẽ công tác trong ngành ngoại giao, vì vậy, xong 2 năm học tổng quát, bắt đầu năm 3, Lê Cung Bắc chọn ngành Bang Giao Quốc Tế.
 
Tốt nghiệp Cử Nhân Chính Trị Kinh Doanh năm 1971, Lê Cung Bắc ghi danh học tiếp Cao Học ở Sài Gòn. Nơi đây, lúc đó, Lê Cung Bắc cũng có nhiều gia đình trong nội thân.
Con đường học vấn của Lê Cung Bắc tương đối suôn sẻ, học xa quê ở đâu cũng có nhà anh em để nương tựa.
 
Điều đặc biệt nơi Lê Cung Bắc, khi anh kể để ghi vào tập hồi ký, là lòng trân quý, tình cảm đối với những lớp, những trường mà anh đã kinh qua: từ những lớp vỡ lòng tạm bợ tại quê Xuân Thành với buổi học, buổi nghỉ vì tránh giặc càn, qua trường tiểu học Gia Độ với cơ sở đơn sơ, nhưng đầy ắp tình thầy tình bạn, trường Nguyễn Hoàng mà Cung Bắc bảo là “trong trái tim tôi”“đã giúp anh có những kiến thức cơ bản để phát triển tư duy”, trường Quốc Học là nơi Lê Cung Bắc gọi là “cái  nôi hình thành nhân sinh quan, định hướng bản thân”, đến Viện Đại Học Đà Lạt – nơi để Cung Bắc bung nở tài năng sau này.
 
Lê Cung Bắc khác nhiều người ở chỗ là không quên, không lơ những nơi mà anh đi qua khi đứng trên đỉnh vinh quang sự nghiệp dù nơi đó đơn sơ, nghèo hèn, không tiếng tăm gì.
 
Ngọt bùi nhớ lúc đắng cay,
Ra sông nhớ suối, có ngày nhớ đêm. 
                                  (Thơ Tố Hữu) 
*
4- Qua tập Hồi Ký, tôi tìm hiểu sự nghiệp của Lê Cung Bắc.
 
Dù học trường Chính Trị Kinh Doanh, tốt nghiệp ngành bang giao quốc tế, ra đời, Lê Cung Bắc không làm gì trong lãnh vực chính trị và ngoại giao.
 
Anh có dạy giờ tại trường trung học tư thục Việt Anh do ông em - con ông chú - là Lê Phỉ làm hiệu trưởng tại Đà Lạt lúc đang là sinh viên Đại Học Đà Lạt. Việc dạy học của anh chưa đáng gọi là nghề mà chỉ là phương tiện kiếm tiền phụ vào chi phí học đại học.
Lúc về Sài Gòn học Cao Học, Lê Cung Bắc có cộng tác với một số tờ báo; nhưng viết báo cũng chỉ là phương tiện để mở rộng giao lưu và kiếm thu nhập phụ vào những khoản chi tiêu chứ chưa phải là nghề.
Từ ngày 24/4/1972 đến 30/4/1975, Lê Cung Bắc thi hành lệnh tổng động viên. Sau thời gian thụ huấn tại quân trường, Lê Cung Bắc ra làm trung đội trưởng Địa Phương Quân ở quân khu 3 một thời gian ngắn; rồi nhờ quen biết, nhờ tài năng kịch nghệ đã có tiếng tăm, Lê Cung Bắc được thuyên chuyển về đơn vị không tác chiến. Như thế, dù mang cấp bậc cuối cùng là Thiếu Úy, Lê Cung Bắc làm sĩ quan chỉ là việc bất đắc dĩ, nên chưa thể gọi là nghề quân nhân.
 
Nghề thực sự của Lê Cung Bắc thuộc lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh.
Ở lãnh vực này, anh vừa là diễn viên, vừa viết kịch bản, vừa đạo diễn, tài năng được đánh giá cao với nhiều giải thưởng, và được Nhà Nước công nhận danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú. Qua kịch nghệ và điện ảnh, Lê Cung Bắc đã thành danh và nổi tiếng ở tầm mức quốc gia, thậm chí ở tầm mức quốc tế - ở trang 95 và 96 của Hồi Ký, Lê Cung Bắc kể: “Một điều thú vị là lúc tôi đang trong nhà binh mà lại được vinh dự đại diện cho ngành kịch nói Sài Gòn (dạo đó gọi là thoại kịch) sang Pháp và Canada nghiên cứu về lãnh vực này, đồng thời tham dự Liên Hoan Thanh Niên Thế Giới Các Quốc Gia Nói tiếng Pháp; tại Liên Hoan, tôi được mời làm trợ lý cho đạo diễn người Pháp khá nổi tiếng Caude Jerry để dựng vở kịch Les Nègus; sở dĩ tôi được chọn vì tôi đã khá nổi tiếng trong giới kịch nghệ và giỏi tiếng Pháp”.
*
Lê Cung Bắc giỏi kịch nghệ mà không học trường Kịch Nghệ - điều khiến tôi và có thể nhiều người thắc mắc.
Tôi lượm lặt những lời anh kể rải rác trong hồi ký để tìm giải đáp:
 
1- Lê Cung Bắc có năng khiếu bẩm sinh về kịch nghệ. Năng khiếu ấy thừa hưởng từ gia đình. Anh (con mẹ nhất) của Lê Cung Bắc là ông Lê Hữu Khải học thủy lâm, ra đời công tác trong ngành thủy lâm, nhưng lại có máu kịch nghệ. Cuối thập kỷ 1950, lập ban kịch Xây Dựng diễn tại hội Quảng Tri Huế, biên soạn và dàn dựng nhiều vở kịch. Ông Lê Hữu Khải còn nghiên cứu chuyên sâu về kịch nghệ, biên soạn công trình nghiên cứu được học giới đánh giá cao; vì vậy, từ giữa thập kỷ 1960, ông Khải được mời dạy kịch nghệ tại Đại Học Văn Khoa và Đại Học Sư Phạm Huế với tư cách học giả.
 
2- Lê Cung Bắc mê đọc truyện kiếm hiệp từ lúc còn học tiểu học. Truyện kiếm hiệp chứa đựng nhiều kịch tính. Mang dòng máu thích kịch nghệ, Lê Cung Bắc đã nghĩ ra và dàn dựng những vở kịch ngắn trong thời gian học tiểu học và trung học. Các vở diễn nào cũng được nhà trường khen thưởng và đồng môn đồng khóa tán dương.
Thời gian ở Đà Lạt, Lê Cung Bắc đã cùng bạn bè lập ban kịch, dàn dựng và diễn những vở kịch dài hơi của các kịch tác gia nổi tiếng (“Người viễn khách thứ mười” của Nghiêm Xuân Hồng, “Thành Cát Tư Hãn” của Vũ Khắc Khoan …). Vở diễn nào cũng được khán giả và giới sinh viên tán tụng; giáo sư Vũ Khắc Khoan, kịch tác gia, còn khen “Các anh chị diễn còn hay hơn sinh viên trường Quốc Gia Kịch Nghệ Sài Gòn”.
Dù vẫn biết rằng Lê Cung Bắc có tài diễn xuất, có tài dàn dựng Trời ban, những lời đánh giá tích cực ban đầu từ công chúng, bằng hữu và các bậc thầy vẫn là nguồn khích lệ cho sự bùng nở tài năng nơi Lê Cung Bắc.
 
3- Việc Lê Cung Bắc tiến sâu, tiến xa được trong lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh còn nhờ anh thông minh về trí tuệ, đẹp trai về nhân dạng. Đó là dựa theo lời kể của anh và theo nhận xét từ công chúng và từ bạn bè anh. Còn tôi, tiếc là chưa có may mắn gặp mặt anh lần nào.
 
4- Việc Lê Cung Bắc trở nên lỗi lạc trong lãnh vực kịch nghệ và điện ảnh cũng nhờ anh am hiểu nhiều về triết học, văn học, sử học … Với lại, ngành học chính trị kinh doanh, bang giao quốc tế cũng giúp anh kỹ năng thu phục lòng người, sử dụng người đúng vai, đúng vế, biết quản lý và sắp xếp công việc hợp tình hợp lý.

*
Tập Hồi Ký BỤI CÁT CHÂN MÂY dài đến 224 trang, in trên giấy tốt, thiết kế và trang hoàng bìa mỹ thuật, chứa đựng nhiều nội dung về cuộc đời của anh Lê Cung Bắc.
 
Trong tâm trạng vui mừng được tặng sách, tôi đọc vội vàng và sau khi đọc xong, trong tâm trí tôi lắng đọng lại những điều mà tôi đã ghi trên đây.
 
Bài viết của tôi là sự bày tỏ lòng mến mộ của tôi đối với anh – một đồng trang tài năng (anh sinh 1946, tôi 1944), là sự tự hào của tôi về anh – một đồng hương, đồng môn nổi danh (cùng quê Quảng Trị, cùng gia đình trường Nguyễn Hoàng cũ), là nén hương lòng tưởng niệm và cầu nguyện cho linh hồn anh thảnh thơi nơi Tiên cảnh, cuối cùng, là lời cảm ơn gởi đến cô Bùi thị Giang – vợ anh - cùng các cháu – con anh - đã nghĩ đến tôi, gởi sách với lời ghi tặng thân thương: “Thân quý tặng thầy Hoàng Đằng”
 
13/6/2023
Hoàng Đằng

READ MORE - TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng

Sunday, November 12, 2023

HOA PHẤN - Thơ Trương Công Hải

Nhà thơ Trương Công Hải


 HOA PHẤN

Kính tặng quý Thầy Cô giáo của tôi tại Gio Linh, Bồ Đề và Trung học Nguyễn Hoàng, Q.Trị nhân ngày 20/11.

 

Người ngồi đó,im lìm như pho tượng

Có nỗi niềm chi,trong ánh mắt đăm chiêu?

Tiếng trống trường ai vọng điểm trong chiều

Chắc Thầy  nghĩ đã tới giờ lên lớp!

Gian gác cũ, nhuốm một màu hiu quạnh

Tập sách buồn,con chữ cũng hờn theo

Cây viết đỏ nằm im không muốn nói

Chồng giáo án nghiêng nghiêng

Xô xuống phận người.

Phút gặp đầu tiên, lòng thầy tĩnh lặng

Nhưng em biết ngoài sân nắng đã vơi đầy.

Em cúi xuống, ôm bàn tay gầy guộc

Ôi bàn tay, năm ngón khẳng khiu     

Vừa đủ ấm để đôi lòng xao động

Ngọn gió mùa sang se lạnh tự lúc nào?

Bàn tay ấy, đã từng cầm viên phấn

Kẻ những đường cong lên tấm bảng đen

Để em biết, đời mình luôn đi thẳng

Để em biết, không so đo tính toán

Khi đã làm xong hai phép cọng trừ.

Rồi có khi, thầy ghi hình chữ S

Em biết làm sao yêu Tổ Quốc mình

Rồi có khi,thầy vẽ hình trái tim

Để chúng em

Lớn thành những con người nhân bản

Rồi cứ thế, trong từng bầy chim sẻ

Có đứa đã bay lên

Bằng đôi cánh phượng hoàng

Thầy vẫn đứng,tự hào trên bục giảng

Lòng vẫn vui khi giữ vững nhịp cầu

Nhịp cầu Kiều trong câu hát ca dao

Đẹp muôn đời ầu.. ơ..tiếng mẹ.

Phút tạm biệt

Cầm tay không nói

Trời đã tàn thu  còn những lá rơi

Ngọn lá vàng phai

Hay lá của ngậm ngùi

Sao Thầy cứ dấu hoài nơi đôi mắt?

Tóc Thầy bạc từ những hồn bụi phấn

Đã kết tinh thành một loài hoa

HOA PHẤN trắng như đời Thầy thanh bạch

Để chúng em lớn nổi thành người.

                        TRƯƠNG CÔNG HẢI.

                                  4/2023

READ MORE - HOA PHẤN - Thơ Trương Công Hải

TẠP LỤC THI 10, 11, 12 – Thơ Chu Vương Miện


 
TẠP LỤC THI 10
 
mới sanh ra thì đà khóc chóe
chết nhăn răng thì lại cười khì
thôi cuộc đời thác mắc để mà chi?
mà biết đặng thì thời quá trễ
chỉ rõ được 1 điều
đời là biển khổ
 
nhân chi sơ
tính bổn thiện
muốn ca 6 câu hay
muốn làm thơ hay
thì phải nghiện
thước phiện
tức nàng tiên nâu?
hay ả phù dung
hút vào một cặp
sướng tựa lên đồng
hồn xác phiêu diêu
tựa cõi non bồng
toàn là mây bay gió cuốn
toàn là tiên
ông?
 
 
TẠP LỤC THI 11
 
mưa ban ngày
mưa ban đêm
mưa trên mái ngói
mưa trên mái lá
mưa trên mái tranh
mưa trên tóc
mưa trên lưng
 
thân thế có ra gì?
lúc lính lúc thư ký lúc culi
lúc tù lúc tội lúc đói nghèo
sinh ra lớn lên rồi vậy vậy
toàn thác rồi ghềnh lắm gieo neo
xưa cụ Tú Xương sống hơn thế?
ngẫm lại mà coi quá chán phèo
 
 
TẠP LỤC THI 12
 
mưa trong trăng
trăng trong mưa
mưa trên trời
mưa trên đọt dừa
mưa trên sông
mưa trong lòng
mưa trên thuyền
mưa đầu đông
 
con cò
bay lả bay la
bay từ lục sở bay qua sông Hồng
sông thì nửa đục nửa trong
nửa là dòng nước nửa đồng ngô khoai
mấy năm hạn hán dài dài
sông chia bao ngả bạn chài ngược xuôi
một bên là bãi tân bồi
cả xe ba bánh dòng người lại qua
loanh quanh một giải Nhĩ Hà
Cà Lồ dẫn tới Cổ Loa đất lành
Một dòng qua Phú Lương quanh
đổ về An Lão Thái Bình quê xưa
 
Chu Vương Miện

READ MORE - TẠP LỤC THI 10, 11, 12 – Thơ Chu Vương Miện

“CÔ VỤ” HAY “CÔ LỘ”, TỪ NGỮ NÀO ĐƯỢC VƯƠNG BỘT DÙNG? – La Thụy


Vương Bột (王勃) (647–675):
 
Trong một lần trà dư tửu hậu của anh em văn nghệ chúng tôi, khi đề cập đến “Đằng Vương Các Tự” của Vương Bột thấy nhiều trang mạng ghi:

“Lạc hà dữ CÔ LỘ tề phi
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”
                                     (Vương Bột)

Nhiều người gật gù khen, nhưng một số anh em khác không đồng ý, họ cho rằng gọi CÔ LỘ là không đúng từ dùng của nhà thơ Vương Bột mà phải là CÔ VỤ mới đúng.

“Lạc hà dữ CÔ VỤ tề phi
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”
                                     (Vương Bột)
 
Thế là là có cuộc tranh cãi vui nhộn. Mọi người đều cùng truy cập internet, kết quả tìm được thì CÔ VỤ và CÔ LỘ đều có cả, mà CÔ LỘ được tìm thấy nhiều hơn mới chết chứ!

Tôi nghiêng về ý kiến CÔ VỤ mới đúng là từ của Vương Bột dùng. Ngoài những trang mạng có độ tin cậy cao vì có nguyên bản chữ Hán, dịch ra nghĩa đen và dẫn thơ dịch của các nhà thơ Việt Nam nổi tiếng như thivien.net, Thơ Đường – Thời kỳ Sơ Đường (618-712), Trang thơ Vương Bột... tôi còn tìm đọc thêm sách viết về Vương Bột in trước 1975.

Hai câu thơ đó được chép đồng nhất như sau:
 
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色。
 
Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.

Xem 2 câu thơ viết bằng chữ Hán ở trên, ta thấy CÔ VỤ được ghi là: 孤鶩
 
Xin dẫn vài đường links:

 - Trang thơ Vương Bột:
https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-B%E1%BB%99t/author-_ZqxSvkbsUwNbnMEINI85Q
 
- Vương Bột, Đằng Vương các tự:
https://www.thivien.net/V%C6%B0%C6%A1ng-B%E1%BB%99t/%C4%90%E1%BA%B1ng-V%C6%B0%C6%A1ng-c%C3%A1c-t%E1%BB%B1/poem-FT3LNnXR5KVN9HD70_hBOw
 
- Thơ Đường – Thời kỳ Sơ Đường:
https://tamdiepblog.wordpress.com/2022/03/21/tho-duong-thoi-ky-so-duong-618-712/#_Toc100157393
 
* Một số bài thơ chữ Hán khác có sử dụng từ CÔ VỤ:

• Đăng Đằng Vương các 登滕王閣 (Lê Trinh)

Ngạn chỉ đinh lan thanh nhiễm nhiễm,
Lạc hà cô vụ ảnh phiên phiên.
 
• Trấn Quốc lâu vọng Tây Hồ  鎮國樓望西湖 (Ngô Thì Sĩ)

Lạc hà cô vụ hồ thiên khoảnh,
Xích luyện tùng hoa lộ sổ điều.

Từ những đường links cho ra từ CÔ LỘ, tôi tìm không thấy những câu chữ Hán minh họa cho 2 câu đã nêu hoặc cho cả bài "Đằng Vương các tự".

Nhưng vì sao, từ nguyên tác CÔ VỤ lại bị biến đổi thành CÔ LỘ ? Mà “cô lộ” lại phổ biến hơn?
 
Vì trong từ Hán Việt, LỘ  là con cò, còn VỤ 鶩 lại là con vịt trời (dã áp  ).
 
Khổ một nỗi, các dịch giả Việt Nam đã chuyển ngữ “cô vụ” là “Chiếc cò, cánh cò cô lẻ” nên gây nhầm lẫn trong trí nhớ của một số người, khi họ đọc câu thơ Hán Việt theo hồi ức, bỗng dưng biến thành “Lạc hà dữ cô LỘ tề phi”.
 
Thơ Nguyễn Công Trứ viết về Con cò (Lộ): 
 
Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất   
     
(Cò cũng là một trong những loài có lông vũ)
 
*
“Lạc hà dữ CÔ VỤ tề phi
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”
                                     (Vương Bột)

Hai câu thơ trên được các dịch giả Việt Nam chuyển ngữ như sau:
  

- Trần Trọng San dịch:
Ráng chiều rơi xuống, cùng CÁI CÒ đơn chiếc đều bay; 
làn nước sông thu với bầu trời kéo dài một sắc.
 
- Mai Lăng dịch:
Ráng chiều CÒ LẺ cùng bay,
Nước thu trời rộng là đây, một màu.
 
- Đinh Vũ Ngọc dịch:
Ráng chiều CÒ LẺ cùng bay
Nước thu xanh biếc chung màu trời xanh
 
- Tạ Trung Hậu dịch:
Ráng chiều và NHẠN LẺ cùng bay
Nước biếc với trời dài một sắc
 
- Tản Đà dịch:
 Chiếc CÒ cùng với ráng sa
 Sông thu cùng với trời xa một màu
 
- Hoài Thanh bình thơ:
“Từ cánh CÒ của Vương Bột lặng lẽ bay với ráng chiều đến con cò của Xuân Diệu không bay mà cánh phân vân, có sự cách biệt hơn một ngàn năm và hai thế giới” (Thi nhân Việt Nam)
*
落霞與孤鶩齊飛,
秋水共長天一色。

Lạc hà dữ cô vụ tề phi,
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc.
 
Lạc hà là ráng chiều buông xuống, cô vụ tề phi là con vịt trời cô đơn đang cùng bay. Thu thuỷ là sông nước mùa thu, trường thiên nhất sắc là trời rộng mênh mông, chỉ có một màu.
Con vịt trời cô đơn này không lẽ cũng là chú Uyên Ương gãy cánh của Kahlil Gibran đang trải mối sầu lẻ bóng vào ráng chiều?
 
Từ việc tìm hiểu CÔ VỤ và CÔ LỘ, tôi miên man đọc đến Đằng Vương Các Tự của Vương Bột. Ôi chao, cái ông thi sĩ thời Sơ Đường này, ông đã lưu dấu ấn lại trong truyện Kiều của Nguyễn Du qua một câu thơ điển tích thật hay:
“Duyên Đằng thuận nẻo gió đưa”
                                           (Kiều)
Và trong một câu thơ điển tích khác cũng thật hay của Tô Đông Pha:
“Thời lai phong tống Đằng Vương Các”


Hai câu thơ điển tích của hai nhà thơ lớn ấy bắt nguồn từ giai thoại:
“Con của vua Cao Tông nhà Đường bấy giờ làm Thái Sử ở Hàng Châu, được phong là Đằng Vương, có dựng một cái gác bên sông Tầm Dương gọi là Đằng Vương Các. Lúc Diêm Bá Dư ra giữ chức Đô Đốc Hàng Châu, đặt tiệc tại gác Đằng Vương để thết tân khách. Muốn khoe tài chàng rể, bảo làm trước một bài tự, rồi mời tất cả các nhà quyền quý, các mặc khách tao nhân xa gần đến dự; và yêu cầu mỗi người làm một bài tự ngay bữa tiệc.
Vương Bột lúc bấy giờ, tuổi vừa 15, 16. Hay tin ấy, nhưng vì đường xá xa xôi có mấy trăm dặm, không đến họp được, lấy làm tiếc. Một ông già khuyên chàng cứ sửa soạn thuyền buồm, tự nhiên sẽ có gió thổi. Quả nhiên đêm đó có gió lớn. Vương cho thuyền khởi hành, và hôm sau tới Đằng Vương các vừa kịp lúc vào tiệc. Và một cuộc thi tài văn học xảy ra, bài Đằng Vương Các Tự đã xuất sắc đoạt giải”
*
Bài “Đằng Vương Các tự” viết theo thể biền ngẫu, dùng nhiều chữ cầu kỳ, nhiều điển khó hiểu nhưng lời thì khá đẹp mà rất khó dịch. Trong bài, Vương Bột nhắc qua địa lý và nhân vật ở quận, nơi xây gác Đằng Vương, rồi tả chủ khách trong tiệc, phong cảnh chung quanh khi ngồi trong gác trông ra, sau cùng kể cảm tưởng của chính mình.
 
Trong văn nghiệp sáng rực của một cuộc đời ngắn ngủi, tác phẩm làm cho tên tuổi Vương Bột trở nên bất tử lại chỉ là hai câu thơ tả cảnh tuyệt bút, cùng một đoạn thơ tám câu ở cuối bài Đằng Vương Các Tự. Hai câu thơ tả cảnh tuyệt tác đó là:
 
“Lạc hà dữ cô vụ tề phi
Thu thuỷ cộng trường thiên nhất sắc”
 
Hai câu thơ tuyệt bút ấy lại bị người đời sau cho là thừa chữ “dữ”, “cộng” (“dữ, cộng” cùng nghĩa “với”, “cùng”). Nếu bỏ hai chữ này thì càng tuyệt hơn, vừa gọn vừa thanh thoát, lại nhất khí.
 

Đằng Vương các tự 滕王閣序  là bài tự về gác Đằng Vương.

Vì TỰ  có nghĩa:
1. thứ tự.
2. bài tựa, bài mở đầu. 

Cho nên ta có thể nói “Đằng Vương Các Tự” là bài giới thiệu về gác Đằng Vương.

“Đằng Vương Các Tự” thường được gọi tắt là “Đằng Vương Các”. Gọi tắt như vậy để phân biệt với “bài thơ Đằng Vương Các”. Cái gọi là “bài thơ” Đằng Vương Các, thật ra chỉ là đoạn thơ cuối cùng trong bài Đằng Vương Các Tự. Tuy chỉ là một đoạn thơ, một bộ phận trong bài Đằng Vương Các Tự, nhưng 8 câu thơ cuối thật hay, nhất là 4 câu cuối. Nếu tách riêng ra thì 8 câu thơ này là một bài thơ hoàn chỉnh. Vì vậy, nó được nhiều văn nhân thi sĩ tán dương và ngâm ngợi. Tám câu thơ cuối bài còn được đưa vào giảng dạy trong nhà trường và trở nên “bài thơ Đằng Vương Các” và cụm từ “vật hoán tinh di” (vật đổi sao dời) được sử sụng như thành ngữ. Mời thưởng thức!

 
ĐẰNG VƯƠNG CÁC
 
Đằng Vương cao các lâm giang chử
Bội ngọc minh loan bãi ca vũ
Họa đống triêu phi Nam phố vân
Châu liêm mộ quyển Tây Sơn vũ.
 
Nhàn vân đàm ảnh nhật du du,
Vật hoán tinh di kỷ độ thu
Các trung đế tử kim hà tại?
Hạm ngoại Trường giang không tự lưu.
 
DỊCH:
 
Gác Đằng cao ngất bãi sông thu,
Ngọc múa vàng gieo nay thấy đâu?
Nam Phố mây mai quanh nóc vẽ,
Tây Sơn mưa tối, cuốn rèm châu
 
Đầm nước mây vờn ngày tháng trôi,
Mấy phen vật đổi với sao dời.
Con vua thuở trước giờ đâu tá ?
Sông lớn hoài hiên luống chảy hoài.
                          (Tương Như dịch)
 
Sau khi trao đổi, phân tích, so sánh... các bạn văn nghệ chúng tôi cuối cùng nhất trí CÔ VỤ mới là từ ngữ đúng trong bài Đằng Vương Các Tự của Vương Bột. Còn CÔ LỘ là từ ngữ bị hiểu chệch đi cần được đính chính.
                                                                                             
La Thụy

READ MORE - “CÔ VỤ” HAY “CÔ LỘ”, TỪ NGỮ NÀO ĐƯỢC VƯƠNG BỘT DÙNG? – La Thụy