Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, November 10, 2022

VỀ BÀI "NGÀY BÉ ĐỌC CA DAO" CỦA TÚ ĐIẾC - Nguyễn Lạc

 

Nhà thơ Nguyên Lạc

 
HAI NHẬN XÉT
 
Tình cờ tôi đọc được bài viết "Ngày bé đọc ca dao" của Tú Điếc Trần Đức Phổ đăng trên các trang mạng, đặc biệt đoạn này làm tôi chú ý:
 
[Trích đoạn]

Có hai bài ca dao dài hơn bốn câu tôi thuộc lòng từ bé. Một là bài Trâu Ơi. Còn bài thứ hai ngày nay thấy trên mạng người ta đặt cho cái nhan đề: Lấy Chồng Sớm:
 
Lấy chồng từ thuở mười lăm,
Chồng chê tôi bé không nằm cùng tôi.
Đến khi mười tám đôi mươi,
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên giường.
Một rằng thương, hai rằng thương,
Có bốn chân giường gãy một còn ba.
Ai về nhắn với mẹ cha,
Chồng tôi nay đã giao hoà cùng tôi.
...
 
Khi đã có vợ rồi, một hôm ngồi nghĩ ngợi vẩn vơ tôi chợt nhớ đến bài ca dao trên, đọc lẩm nhẩm cho vui, tôi mới chợt phát hiện một điều quan trọng thú vị.
 
Ai về nhắn với mẹ cha,
Chồng tôi nay đã giao hoà cùng tôi.
 
A, thì ra chị này cũng đáo để thật! Mới mười lăm mười bảy tuổi đầu anh chồng không ngó ngàng gì đến đã phật lòng về nhà méc với cha mẹ rồi! Thế thì mười chín đôi mươi được chồng thương không gãy chân giường mới lạ! Tuy anh chồng có hơi vũ phu chút đỉnh nhưng giọng điệu của chị không hề trách cứ giận hờn mà còn sung sướng khoái trá khi được “giao hòa” nữa nghen. Ai dám bảo phụ nữ ngày xưa là thiếu lửa trong chuyện vợ chồng?
 
Tôi ngẫm nghĩ mãi cái chữ “nhắn” trong câu áp chót, nó mới hay làm sao!. Người đọc có thể nhận ra rằng chị này đã “ăn quen bén mùi” rồi nên chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về nhà mẹ!
 
Tôi đọc bài ca dao trên nhiều lần, mỗi lần lại chỉ hiểu tí chút. Quả thật người xưa làm ca dao rất tuyệt vời. Tôi dám chắc rằng thời xưa dân ta không hề biết thủ pháp “Show do not tell” nhưng nhiều bài ca dao đã thể hiện tài tình kỹ thuật này. Bài Lấy Chồng Sớm là một điển hình. Toàn bài không nói đến mây mưa, ân ái, nụ hôn cháy bỏng, vòng tay siết chặt… không cần từ ngữ tục tĩu gì ráo, nhưng đọc xong ai cũng hiểu được chuyện gối chăn của cặp vợ chồng này nồng nàn, lên đỉnh như thế nào! Ngày nay có một số người đi rao giảng thi pháp “Show do not tell” nhưng tôi đọc thơ họ chỉ thấy toàn “Tell and tell.” Thật ra làm thơ không quan trọng ở chỗ dùng thủ pháp nào, miễn sao nó chuyên chở được ý nghĩa và cảm xúc đến với người đọc là ok. Thuyền nan hay ca-nô đều độ được người qua sông, cốt yếu chúng không chết máy hoặc gãy chèo giữa dòng.
                                                               Tú Điếc
[Hết trích]

.............
 
Nguồn bài viết:
 https://nghiathuc.com/2022/09/09/ngay-be-doc-ca-dao-tranducpho/
 
Tại sao tôi chú ý đoạn trên?
 
Vì hình như trong bài viết này, ông Tú Điếc nói "bóng gió" đến chúng tôi, những người giới thiệu thủ pháp "Show Do not Tell" đến các thi văn sĩ Việt Nam.
Đây là hai nhận xét của ông mà tôi chú ý trong bài viết trên:
 
      1. "Tuy anh chồng có hơi vũ phu chút đỉnh nhưng giọng điệu của chị không hề trách cứ giận hờn mà còn sung sướng khoái trá khi được “giao hòa” nữa nghen...
Tôi ngẫm nghĩ mãi cái chữ “nhắn” trong câu áp chót, nó mới hay làm sao!. Người đọc có thể nhận ra rằng chị này đã “ăn quen bén mùi” rồi nên chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về nhà mẹ!"
                                                                 Tú Điếc.
      2. "Tôi dám chắc rằng thời xưa dân ta không hề biết thủ pháp 'Show do not tell' nhưng nhiều bài ca dao đã thể hiện tài tình kỹ thuật này". và "Ngày nay có một số người đi rao giảng thi pháp “Show do not tell” nhưng tôi đọc thơ họ chỉ thấy toàn “Tell and tell.” Thật ra làm thơ không quan trọng ở chỗ dùng thủ pháp nào, miễn sao nó chuyên chở được ý nghĩa và cảm xúc đến với người đọc là ok"
                                                                  Tú Điếc.
 
Nhận xét số 2 này có thể gọi là PHIẾM không?
Tôi sẽ lần lượt trả lời 2 nhận xét trên của ông Tú Điếc: nhận xét số 2 trước, rồi kế tiếp là nhận xét số 1.
 
TRẢ LỜI CÁC NHẬN XÉT
 
1. Về nhận xét số 2: thủ pháp "Show do not tell"
Câu nhận xét số 2 trên của ông Tú là câu nhận xét đầy "ngụ ý", "bóng gió" đến người: nó không phải là PHIẾM.
 
Tôi xin ghi ra đây câu này lần nữa cho rõ, rồi trả lời ông Tú Điếc:
 
"Tôi dám chắc rằng thời xưa dân ta không hề biết thủ pháp 'Show do not tell' nhưng nhiều bài ca dao đã thể hiện tài tình kỹ thuật này". và "Ngày nay có một số người đi rao giảng thi pháp “Show do not tell” nhưng tôi đọc thơ họ chỉ thấy toàn “Tell and tell.” Thật ra làm thơ không quan trọng ở chỗ dùng thủ pháp nào, miễn sao nó chuyên chở được ý nghĩa và cảm xúc đến với người đọc là ok".
Xin chú ý 2 chữ "rao giảng".
 
Trả lời ông Tú Điếc:
 
- Lời nói đầu tiên của tôi là: Cảm nhận ca dao thì lo cảm nhận đi, "cạnh khoé" người khác làm gì? Được gì? Tiếng tăm? Người xưa có câu: "Sinh sự thì sự sinh, bớt việc thì việc bớt" ông Tú Điếc ơi!
Sao gọi là "cạnh khoé"?
Xin thưa, ngay đây, câu này: "Tôi dám chắc rằng thời xưa dân ta không hề biết thủ pháp 'Show do not tell' nhưng nhiều bài ca dao đã thể hiện tài tình kỹ thuật này". và "Ngày nay có một số người đi rao giảng thi pháp “Show do not tell” nhưng tôi đọc thơ họ chỉ thấy toàn “Tell and tell.”
Những lời trên của ông Tú Điếc đâu phải là lời phiếm, rõ ràng là lời đầy "ngụ ý", muốn "cạnh khoé" người.
 
- Tôi xin dùng trích đoạn bài viết THƠ “KHĂN ĐÓNG ÁO DÀI” VÀ SHOW, NOT TELL của nhà bình thơ Phạm Đức Nhì - người cùng tôi "rao giảng thi pháp Show do not tell” (lời của Tú Điếc) - để trả lời nhận xét có kèm theo "ngụ ý" của ông Tú Điếc.
 
Xin nói rõ thêm: Tôi và Phạm Đức Nhì đã có nhiều bài viết cổ xúy cho thủ pháp "Show Do not Tell", chắc Tú Điếc có đọc, nhưng ông đồng ý hay không thì chúng tôi không biết. Tuy nhiên, đọc trích đoạn trên của ông Tú, chúng tôi đoán rằng ông không đồng ý, nên "cạnh khóe" chúng tôí. Do đó, với sự đồng thuận của Phạm Đức Nhì, tôi xin ghi ra trích đoạn dưới đây để "thương thảo" với ông Tú Điếc:

[Trích đoạn]
 
1.
Trước 1975, tôi có lần về học thêm chuyên môn tại Đại học Chiến Tranh Chánh Trị Đà Lạt và được học nghệ thuật hùng biện với Linh mục Nguyễn Văn Vàng. Đến giờ nghỉ giải lao, một ông Trung Úy xáp lại gần Linh mục, ra vẻ ta đây, vừa cười vừa hỏi “đểu” một câu “thối như mắm tôm”:
- Thưa Linh mục, tôi thấy ngày xưa Án Tử người nước Tề có học khóa hùng biện nào đâu mà đến du thuyết ở chỗ nào cũng thành công?
Ông Linh mục Dòng Chúa Cứu Thế mặt vẫn hiền dịu, nhẹ nhàng trả lời:
- Mỗi khi có một cuộc tranh luận thành công (hay thất bại) là có người tìm hiểu, phân tích xem nhờ đâu mà thành công hoặc vì sao mà thất bại. Rồi sau đó có người tổng hợp lại thành những nguyên tắc (có tính lý thuyết) và trường Đại học Chiến Tranh Chánh Trị đã mời tôi đến để truyền dạy những nguyên tắc đó cho các anh, những người cần đến kỹ năng này. Dĩ nhiên, nắm vững lý thuyết là điều kiện cần nhưng chưa đủ để trở thành người ăn nói giỏi. Dựa vào mớ lý thuyết ấy rồi tùy năng khiếu cá nhân, cộng với kinh nghiệm thực hành trong những tình huống cụ thể, khả năng nói trước đám đông của các anh sẽ tiến bộ.
Ông Trung Úy có câu hỏi “thôi như mắm tôm” đứng đực mặt ra ngượng ngùng hổ thẹn trước các bạn cùng lớp vì không hiểu sự khác biệt giữa lý thuyết và thực hành của nghệ thuật hùng biện.
 
2.
Khi đọc bài Show, Not Tell Trong Thơ, có người email hỏi tôi: “Nguyễn Bính có biết Show, Not Tell là cái quái gì đâu mà thơ của ông cũng đi vào lòng người và hàng bảy, tám mươi năm nay vẫn hiện diện hiên ngang trong dòng thơ của dân tộc?” Ông này đã mắc chứng bệnh tương tự như ông Trung Úy ở trên – thích hỏi “đểu” thiên hạ trong khi mình chẳng hiểu gì về mối tương quan và sự khác biệt giữa Sáng Tác và Phê Bình. Câu hỏi – như một phát biểu đầy ấn tượng, nhưng lại lộ ra sự thiếu hiểu biết về điều mình phát biểu – tuy có hơi thiếu lịch sự nhưng theo tôi, trong tranh luận văn chương, vẫn có thể chấp nhận được. Hy vọng đọc phần giải thích ở trên ông sẽ thấy được cái sai của mình và có thái độ thích hợp.
 
Sau đây là một bình luận về bài Show, Not Tell Trong Thơ.

- Chắc ngày xưa ông Nguyễn Bính chưa học được “SHOW NOT TELL” như nhà trí thức Phạm Đức Nhì (nên) mới bị cái lỗi TO ở khổ thứ 3 (và) bị ông ấy chê. Mà nghĩ lại, không ai biết Phạm Đức Nhì là ông nào mà Nguyễn Bính thì người yêu thơ Việt Nam ai cũng biết và ngưỡng mộ. (Hai chữ trong ngoặc đơn là của PĐN)
Trả lời:
- Đây là kiểu bình luận bá đạo – không dẫn chứng xem bài bình thơ của người ta sai ở chỗ nào mà “chêm” vào một phát biểu vừa thiếu hiểu biết – mù tịt về điều căn bản nhất của phê bình – vừa coi thường thiên hạ. Ông này cũng giống ông Trung Úy ở chỗ không biết mô tê gì về công việc phê bình mà bày đặt lên mặt hỏi “đểu”. Nhưng ông còn tệ hơn một bậc là có ác tâm, ác ý – đã nêu đích danh tác giả ra mà xách mé, châm biếm một cách sai trái. Dĩ nhiên, câu bình luận nặng mùi như thế chỉ làm ô uế môi trường tranh luận văn chương.
(THƠ “KHĂN ĐÓNG ÁO DÀI” VÀ SHOW, NOT TELL 
                                                  Phạm Đức Nhì) [*]
[Hết trích]
 
Còn phần về:
-  "tôi đọc thơ họ chỉ thấy toàn “Tell and tell.”
Tú Điếc
Xin trả lời: Đâu phải lúc nào người hiệp sĩ, võ sĩ cũng dùng "tuyệt chiêu" của mình, tùy trường hợp, tùy tình huống cụ thể, tùy đối tượng và tùy mục đích, phải không?
"Thuyền nan hay ca-nô đều độ được người qua sông"
Tú Điếc
Xin trả lời: Ca-nô đưa người qua sông nhanh hơn và an toàn hơn thưa ông Tú.
 
2. Về nhận xét số 1, chữ : "vũ phu", "nhắn" và “ăn quen bén mùi”
Phần trên tôi đã trả lời ông Tú Điếc nhận xét đầy "ngụ ý" về  thủ pháp "Show do not tell", giờ  tôi tiếp tục góp ý về nhận xét số 1 của ông:
Xin ghi lại lần nữa nhận xét của ông Tú Điếc mà tôi sẽ bàn luận:

 [Trích đoạn]

Khi đã có vợ rồi, một hôm ngồi nghĩ ngợi vẩn vơ tôi chợt nhớ đến bài ca dao trên, đọc lẩm nhẩm cho vui, tôi mới chợt phát hiện một điều quan trọng thú vị.

Ai về nhắn với mẹ cha,
Chồng tôi nay đã giao hoà cùng tôi.

A, thì ra chị này cũng đáo để thật! Mới mười lăm mười bảy tuổi đầu anh chồng không ngó ngàng gì đến đã phật lòng về nhà méc với cha mẹ rồi! Thế thì mười chín đôi mươi được chồng thương không gãy chân giường mới lạ! Tuy anh chồng có hơi vũ phu chút đỉnh nhưng giọng điệu của chị không hề trách cứ giận hờn mà còn sung sướng khoái trá khi được “giao hòa” nữa nghen. Ai dám bảo phụ nữ ngày xưa là thiếu lửa trong chuyện vợ chồng?
Tôi ngẫm nghĩ mãi cái chữ “nhắn” trong câu áp chót, nó mới hay làm sao!. Người đọc có thể nhận ra rằng chị này đã “ăn quen bén mùi” rồi nên chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về nhà mẹ!
[Hết trích]
 
Lời bàn của tôi:
 
-- về chữ VŨ PHU
 
Một rằng thương, hai rằng thương,
Có bốn chân giường gãy một còn ba.
 
Tú Điếc nhận xét trong bài viết của mình: " ... mười chín đôi mươi được chồng thương không gãy chân giường mới lạ! Tuy anh chồng có hơi vũ phu chút đỉnh"
Ông Tú - thường ai cũng hiểu Tú là tú tài, là người có học, người hiểu biết nhiều  - dùng 2 chữ "vũ phu" hình như không chính xác lắm trong bài nhận xét về các câu ca dao trên.
Vũ phu:
- (gốc Hán Việt, vũ: uy lực; phu: người đàn ông) Nói người đàn ông thô bạo dùng sức mạnh để đàn áp người khác (thường là phụ nữ – vợ của họ).
Ví dụ: Chị ấy đau khổ vì lấy phải một anh chồng vũ phu - Từ điển Nguyễn Lân
- Kẻ thô bỉ cục cằn. Ví dụ:  Đồ vũ phu - Từ điển Khai Trí
Trong ngữ cảnh bài ca dao, đâu có cảnh người đàn ông thô bạo dùng sức mạnh đàn áp hoặc đánh đập cô gái đâu? Chỉ "yêu" cuồng nhiệt, hơi bạo liệt chút thôi: do đó, dùng chữ "vũ phu" không chính xác lắm.
 
-- Về chữ NHẮN và ĂN QUEN BÉN MÙI
"Tôi ngẫm nghĩ mãi cái chữ “nhắn” trong câu áp chót, nó mới hay làm sao!. Người đọc có thể nhận ra rằng chị này đã “ăn quen bén mùi” rồi nên chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về nhà mẹ!"
                                                                  Tú Điếc
 
Tôi sẽ bàn sơ qua nhận xét về chữ "nhắn" của ông Tú, chữ mà ông khen "nó mới hay làm sao!" rồi từ đó đưa đến “ăn quen bén mùi”- cụm chữ này vô tình hạ thấp phẩm giá người phụ nữ đáng thương trong bài ca dao trên.
 
Tại sao hạ thấp?

- Xét một cuốn sách, bài văn, bài thơ... ta phải hiểu rõ "thời" nó xuất hiện. Trong ngữ cảnh bài ca dao, nó xảy ra vào thời phong kiến, nam trọng nữ khinh, giàu trọng nghèo khinh. Người con gái còn trẻ (15 tuổi) này con nhà nghèo, được cha mẹ gả vào nhà giàu (nằm ngủ dưới đất). Ông chồng chắc lớn tuổi hơn (Chồng chê tôi bé). Cha mẹ gả con mình có thể để trả nợ ("gả bán") hoặc mong con mình vào nhà giàu sang để cuộc sống được khấm khá hơn. Người đàn ông trưởng thành này (ông chồng) chắc đã có vợ - thời phong kiến đàn ông có quyền nhiều vợ - người con gái trẻ này được gả có thể vừa là thiếp vừa là người ở, phải phục vụ cho nhà chồng. Đó là tổng quan bài ca dao "Lấy chồng sớm".
 
Cha mẹ cô gái gả con xong vẫn lo sợ, vì nếu con mình không được nhà chồng chấp nhận, sẽ bị trả về nhà, nợ vẫn hoàn nợ hay hy vọng con mình khấm khá hơn không thực hiện được. Vẫn luôn muốn biết tin tức về sức khỏe của con hàng ngày ra sao, công việc tiến triển thế nào; nhưng vì nghèo, làm sao dám vào nhà thông gia thường xuyên được, tốt nhất là nhờ các người làm việc cho thông gia, hay các người quen sống chung quanh thông gia NHẮN tin cho mình biết khi có điều gì xảy ra đến con gái.
 
Người con gái cũng thế, phải phục vụ suốt ngày cho gia đình chồng, cho chồng, đâu có quyền ra khỏi nhà lâu mà về thăm cha mẹ, nên cũng phải nhờ những người quen kể trên NHẮN tin về giùm. Khi đã "giao hòa" với chồng rồi, người con gái vội NHẮN tin mừng này cho cha mẹ biết, để đừng lo lắng nữa. Chữ NHẮN nghĩa bình thường như vậy thôi, đâu có gì là “nó mới hay làm sao”, rồi ông Tú "hứng chí" đưa đến câu: " 'ăn quen bén mùi' nên chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về nhà mẹ" - câu nói này "sao ấy" - vô tình hạ thấp phẩm giá người con gái nghèo khổ đáng thương.
 
Tại sao hạ thấp phẩm giá người con gái ?
Xin thưa:

- Để nói về sự bất nghĩa của người con trai đối với cha mẹ, tục ngữ có câu : "Cha mẹ xa, cái l.  gần", hay ca dao: "Nóc nhà xa hơn cửa chợ/ L. vợ gần hơn mả cha".
Ở đây ông Tú Điếc "phán":  "chị này đã “ăn quen bén mùi” rồi nên chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về nhà mẹ", thì cũng giống như tục ngữ và ca dao trên, chỉ cần thay thế "cái l." bằng "con buồi" thôi, phải không? Mê "buồi" chẳng đành lòng xa anh chồng vài hôm để về thăm cha mẹ không phải là hạ thấp phẩm giá của người con gái sao? Than ôi, sao nỡ đành dùng đầu óc "phồn thực" (tôi không dám dùng 2 chữ "tục tĩu" như ông Tú Điếc dùng trong bài) mà suy luận như vậy, làm hỏng bài ca dao hay. Đã là Tú tài rồi - có nghĩa là người hiểu biết - dù cho có cợt đùa, như trong phiếm luận, cũng phải biết ngăn ngừa trước sau, đừng "quá lố".
 
LỜI KẾT
 
Qua trên, đó là những gì tôi trả lời ông Tú Điếc về các nhận xét của ông trong bài "Ngày bé đọc ca dao", hy vọng ông "nghe" được để đừng viết thêm những bài nhận xét về thơ, ca dao mà có kèm theo "ngụ ý", "cạnh khóe" người khác.
 
Tặng ông Tú lời minh triết này trước khi tôi chấm dứt bài:
 
"Bạn đừng bao giờ nói xấu ai cả. Những lời nói xấu, không sớm thì muộn, luôn luôn sẽ rớt vào đầu những kẻ thốt ra, và có thể làm hại cho sự thành công của ta trên đường đời. Nói xấu người khác là một cách bất lương để tự khoe mình. Nếu không nói được những lời nhân từ, khuyến khích thì thôi, đừng nói gì cả. Chẳng làm gì đôi khi là khôn, nhưng chẳng nói gì cả thì lúc nào cũng là khôn"
                                                         (Will Durant)
Trân trọng
 
                                                          Nguyên Lạc
 
..........
 
[*] THƠ “KHĂN ĐÓNG ÁO DÀI” VÀ SHOW, NOT TELL - Phạm Đức Nhì
 
https://nghiathuc.com/2017/08/10/tho-khan-dong-ao-dai-va-show-not-tell-nhi-pham/

READ MORE - VỀ BÀI "NGÀY BÉ ĐỌC CA DAO" CỦA TÚ ĐIẾC - Nguyễn Lạc

Tuesday, November 8, 2022

GIÀ – Thơ Lê Phước Sinh


 
GIÀ
 
Già mà chưa nên Nết,
cứ "sắc sắc không không"
cà phê tào lao sáng
né thời sự tây - đông.
 
Già làm chi không biết
Tri thức đã đóng băng...
 
Núi mòn Sông thì cạn
Giặc chiếm tận đến bờ
Bạn, khéo than Già tuổi
giả làm điên - dại - khờ.
 
Bạn - lúc thời trai trẻ
"Trùm chăn" khắm giấu mùi...
 
                     Lê Phước Sinh

READ MORE - GIÀ – Thơ Lê Phước Sinh

Monday, November 7, 2022

EM ĐỪNG XINH ÁC | MUA CÀ PHÊ MỘT SÁNG MÙA THU - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Em Đừng Xinh Ác

Em đừng xinh ác làm ta sợ
Đốt cuộc đời mình như thiêu thân
Xui dại ta bỏ cơm thèm phở
Đời thêm một gã phụ tình lang

Em đừng xinh ác làm ta khổ
Mộng vẩn vơ, ao ước hoang đường
Trở về xã hội ngàn năm cũ
Cưới làm ái thiếp để yêu thương

Em đừng xinh ác làm ta trách
Ta kẻ phàm phu lại bất tài
Chẳng giàu như gã Elon Musk
Sẵn tiền mua cả cõi Thiên thai

Em đừng xinh ác làm ta giận
Ta chẳng uy quyền như họ Kim
Xây tòa điện ngọc trong cung cấm
Để chẳng trai nào được ngắm em!

Mua Cà Phê Một Sáng Mùa Thu

Chí thu đất khách trời se lạnh
Sáng sớm sương giăng khắp bốn bề
Như người hành khất trên phố vắng
Ghé vào quán nhỏ gọi cà phê

Chủ nhật người đứng ngồi đông đúc
Kiên nhẫn khách mua đợi, xếp hàng
Dẫu rằng chửa hết mùa vi-rút
Chẳng ai thèm đeo chiếc khẩu trang

Cô em má thắm, ôi, xinh quá!
Ướm hỏi, thưa ông, muốn thức gì
Nụ cười tươi trẻ duyên kỳ lạ
Ta ngẩn ngơ quên nói coffee!

Bưng ly cà phê nàng mới rót
Dường như còn hơi ấm bàn tay
Và thêm phảng phất mùi thơm phức
Vị đắng mà lòng ngọt ngất ngây!

--
tranducpho
ducphot946@gmail.com
READ MORE - EM ĐỪNG XINH ÁC | MUA CÀ PHÊ MỘT SÁNG MÙA THU - Thơ Trần Đức Phổ

SÀI GÒN QUA KHUNG CỬA SỔ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC - Thơ Vũ Hùng



SÀI GÒN QUA KHUNG CỬA SỔ 

BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC


Năm ngày nằm viện Sài Gòn

Nghe thân thế đã hao mòn mấy phân

Nhìn qua khung cửa sổ gần

Trăm tòa cao ốc tầng tầng mọc lên

Trời cao lồng lộng mông mênh

Một màn sương đục bồng bềnh cố trôi

Sài Gòn cũng bệnh như tôi?

Ngày mai xuất viện về rồi chốn quê 

Sau lưng  thành phố mệt mề

Với làn sương mỏng nặng nề triền miên!


Sài Gòn ngày 08.11.2022.

Vũ Hùng

hutazox@gmail.com

 

READ MORE - SÀI GÒN QUA KHUNG CỬA SỔ BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y DƯỢC - Thơ Vũ Hùng

Sunday, November 6, 2022

ĐỢI CHIỀU - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Đợi chiều

 

Mùa thi rồi – gió bấc

Đan mắt lá xanh xao

Thả rơi ngày tất bật

Quạnh không gió, thì thào

              *

Mưa bay chiều thứ bảy

Lóng ngóng trước hiên thưa

Đang đợi điều gì vậy?

Lao xao lá, phỉnh lừa

              *

Đắn đo, trong chiều muộn

Vờn quanh mắt mi tròn

Khói sương giăng mờ xuống

Ngập ngừng, giấu môi son

              *

Hồn nhiên màu con gái

Mùa thi qua hết rồi

Gió đưa cây, vướng lại

Trong suốt, chiều xa xôi

               *

Ơi ngày mong tháng đợi

Gương, lược rối trông chờ

Kìa tin người nhắn gởi

Bồi hồi gió, ngẩn ngơ ...

 

 

Người thương binh già bên giò phong lan

 

Bên hiên nhà, dưới mái ngói rêu phong

Chùm Long Tu Bào đong đưa trước gió

Người thương binh già ngước nhìn ra ngõ

Chợ hoa phong lan, mua bán lòng vòng

 

Nhớ một thời qua lũng thấp đèo cao

Dưới tán rừng nguyên sinh không bóng nắng

Đường hành quân, mượt trong chiều phẳng lặng

Hoa nở ngang rừng, lính trẻ xôn xao

 

Quên cái đói, những bước chân gấp vội

Liếc mắt nhìn, những gương mặt giãn ra

Như bừng sáng cả góc rừng mờ tối

Hương rừng khua, trong gió lộng mượt mà

 

Đã xa rồi những tháng năm trận mạc

Cánh rừng xưa giờ cũng đã đổi màu

Con đường xe xuyên rừng nhòe bụi cát

Biết những cánh hoa trôi dạt về đâu?

 

Rê chiếc nạng, người thương binh, từng bước

Chăm những giò lan quanh quẩn góc sân

Khao khát niềm tin, đại ngàn xanh mượt

Yên ả mùa vui, di dưỡng tinh thần…

 

 

Không biết từ khi nào, ta thôi nghĩ về nhau

 

Khi trong giọng nói đẩy đưa cái nhìn lơ đễnh

Những rạn nứt âm thầm theo những lời giã từ chợt đến

 

Trên cung môi ngày nào ăm ắp yêu thương

Thôi, dù hẫng hụt, anh cầu chúc cho em tròn đầy hạnh phúc

Trước ngã rẽ cuộc đời, mà tim ta không cùng nhịp trên đường

 

 

Trong thời buổi bây giờ

 

Mỗi người giữ cho mình thật là nhiều loại số

Số Ả Rập, La Mã, số nhị phân, thật là khốn khổ

 

Không biết con số nào sẽ giúp ta chinh phục ước mơ

Sao số phận cứ miệt mài bươn trãi

Mà ngoảnh lại nhìn, trống hoắc trống huơ

 

          Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

READ MORE - ĐỢI CHIỀU - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

TÌNH NHƯ SƯƠNG KHÓI - Nhạc: Lê Hữu Nghĩa - Lời: Sông Thu - Ca sĩ: Tâm Thư

READ MORE - TÌNH NHƯ SƯƠNG KHÓI - Nhạc: Lê Hữu Nghĩa - Lời: Sông Thu - Ca sĩ: Tâm Thư

Saturday, November 5, 2022

SÁNG “MỜI XƯA” – Thơ Lê Phước Sinh


 
              Nhà thơ Lê Phước Sinh


SÁNG “MỜI XƯA”
(Nói theo giọng Huế)
 
Ra Ngõ
gặp Em
nụ Cười tươi
Nốt Ruồi
- khuyến mãi,
càng thêm bùi.
 
LÊ PHƯỚC SINH
 
READ MORE - SÁNG “MỜI XƯA” – Thơ Lê Phước Sinh

MÙA CƠM MỚI, KHÓI CHIỀU ĐÔNG – Thơ Tịnh Bình

 
 
         Nhà thơ Tịnh Bình

 
MÙA CƠM MỚI
 
Chiều ngước mặt theo đám mây trời rong ruổi
Trông xa vệt khói mùa màng
Mùa cơm mới hân hoan đất mẹ
Hạt lúa quê hương nên vóc nên hình
 
Chợt thấy mình như đứa trẻ không đành rời quê xứ
Nước mắt mặn môi ngày gió lên rồi
Đóa lục bình vẫn cứ bập bênh trôi
Phù sa ơi có dòng sông nào chảy ngược
 
Thương đến thắt lòng mái nhà xưa đếm tuổi
Vạt bông sao nháy trổ hiên nhà
Tiếng mẹ càm ràm thân thương biết mấy
Lớn già đầu rồi sao cứ khóc ngon ơ
 
"Quê hương là gì hở mẹ?"
Hạnh phúc màu gì con chẳng biết đâu
Chỉ thấy bình yên là có thật
Nơi góc bếp nhà mình
Mùi cơm mới đang sôi...
 
 
KHÓI CHIỀU ĐÔNG
 
Chạnh nghe xao xác gió
Se sắt cọng lau vờn
Con đường xưa im ắng
Lạc đâu rồi dấu quen?
 
Đông về bên hiên vắng
Lá khô nằm nhớ mong
Khoảng trời xanh mây trắng
Cánh bướm hiền thong dong
 
Ngôi nhà xưa ta đó
Mái rêu nhuộm nắng vàng
Mưa cuối mùa phiêu lãng
Nhòa vào lòng miên man
 
Mẹ ngồi nhen lửa ấm
Chiều đông rụng bấc về
Quẩn quanh bên chái bếp
Khói cất lời ngây ngô...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - MÙA CƠM MỚI, KHÓI CHIỀU ĐÔNG – Thơ Tịnh Bình

THÔI ANH… - Thơ Trần Mai Ngân




 
THÔI ANH…
 
Anh đừng nhìn em nữa
Cũng đừng nói yêu em
Ngày mai đâu nghĩa gì
Khi sẵn sàng ly tan
 
Anh đường mật đầy tràn
Lời dấu yêu duy nhất
Mãi mãi không đổi thay
Đời lắm nhiều rủi may…
 
Mỗi ngày, mỗi sớm mai
Lao xao anh gói tặng
Em nhận lấy bồi hồi
Lo toan mình phản bội…
 
Tình yêu là thế đó
Kẻ nhận người đem trao
Bao hương vị ngọt ngào
Trên đầu môi nóng hổi
 
Em thấy mình tội lỗi
Lén ươm mầm biệt ly
Nét buồn trên đôi mi
Giấu anh… em rời đi
 
Thôi anh… đừng nói nữa
Cũng đừng mãi nhìn em
Đốt tình yêu cháy xém
Trái tim mình đau thêm!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - THÔI ANH… - Thơ Trần Mai Ngân

Thursday, November 3, 2022

THƠ, HOA & NGƯỜI (2) – Thơ Nguyên Lạc




HOA
 
- Khi vui hay khi buồn, hoa luôn luôn là bạn trung thành của ta. Ta ăn uống, ta ca vũ, ta ve vãn đùa cợt với hoa. Ta kết hôn, làm lễ rửa tội với hoa. Ta không dám chết mà không có hoa. Ta thờ phượng với Bách hợp, ta mặc tưởng với Sen, ta bày trận với Hồng với Cúc. Ta lại còn muốn nói bằng ngôn ngữ của hoa. Không có hoa, làm sao ta có thể sống được?  (Trà Đạo / Chado - Okakura Kakuzo)
 
HOA TRONG U MỘNG ẢNH CỦA TRƯƠNG TRÀO
 
Trương Trào tự Sơn Lai, hiệu Tâm Trai và Trọng Tử, người tỉnh An Huy, sinh năm 1650 (năm Thuận Trị thứ tám, đời Thanh), không rõ năm mất. Ông sáng tác không nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là “U Mộng Ảnh” (bóng mờ trong cõi mộng). U Mộng Ảnh chỉ là một tập sách nhỏ gồm 222 mục gồm những cách ngôn đầy thi vị trong văn phong bay bướm của Trương Trào, phác họa ra một thế giới thơ mộng được nhìn qua đôi mắt tài hoa của một nghệ sĩ lớn, và nó đã làm say mê nhiều thế hệ văn nhân thi nhân Trung Quốc.



Trương Trào viết về hoa:
 
"Trong thiên hạ có được một người tri kỷ, thì có thể không còn ân hận gì nữa. Đâu phải chỉ có con người mới thế, mà cả vật cũng vậy. Như cúc lấy Uyên Minh 1 làm tri kỷ, mai lấy Hòa Tĩnh 2 làm tri kỷ..."(Thiên hạ hữu nhất nhân tri kỷ, khả dĩ bất hận. Bất độc nhân dã, vật diệc hữu chi. Như cúc dĩ Uyên Minh vi tri kỷ; mai dĩ Hòa Tĩnh vi tri kỷ...)
                                   (U Mộng Ảnh - Trương Trào)
.............

Giải thích:
 
1. Cúc lấy Uyên Minh làm tri kỷ:

Đào Tiềm, hiệu Uyên Minh, nhà thơ lớn đời Đông Tấn, trả áo từ quan về vui cảnh điền viên. Có bài "Quy khứ lai từ" rất nổi tiếng: "Ta há có thể vì năm đấu gạo mà phải chịu khom lưng, vái chào bọn con nít quê mùa ấy sao! (Ngã khởi năng vị ngũ đấu mễ chiết yêu, hướng hương lý tiểu nhi!)”
Ông sống thanh cao, và rất yêu hoa cúc, làm nhiều bài thơ về hoa cúc. Trong bài thơ Ẩm tửu có các câu:
 
Thu cúc hữu giai sắc,
Ấp lộ xuyết kỳ anh,
Phiếm thử vong ưu vật,
Viễn ngã di thế tình.
 
(Cúc mùa thu sắc đẹp,
Ủ sương, điểm nét tươi,
Nhẹ trôi trong chén rượu,
Khiến ta quên sầu đời.)
 
Mùa thu, uống chén rượu ngâm hoa cúc, nhìn hoa cúc nhẹ trôi trong chén rượu, đủ để lâng lâng quên hết sầu đời. Gọi rượu là cúc vong ưu vật (vật khiến ta quên lo buồn) cũng đủ để cực tả cái tình đối với hoa cúc.
 
2. Mai lấy Hòa Tĩnh làm tri kỷ:

Lâm Hòa Tĩnh tức Lâm Bô, nhà thơ đời Bắc Tống, được gọi là “Tây Hồ ẩn sĩ”. Ông sống một mình ở Tây Hồ, nuôi hạc trồng mai, và thường bảo lấy mai làm vợ, lấy hạc làm con. Bài thơ “Sơn viên tiểu mai”, với hai câu được xem là thần cú, đã gắn liền hình ảnh nhà thơ ẩn dật với cành mai.
 
Sơ ảnh hoành tà thủy thanh thiển,
Ám hương phù động nguyệt hoàng hôn.
(Nước soi nghiêng bóng mai gầy,
Dưới trăng, hương nhẹ thoảng bay trong chiều.)
 

HOA PHONG LỮ
 
Hoa Phong lữ
 
Hoa Phong lữ - hay có người còn gọi là hoa Phong lữ thảo, Thiên trúc quỳ - tên khoa học là Geranium: xuất xứ từ chữ Hy Lạp “geranos” nghĩa là con sếu, vì trái của loại cây này trông tương tự như mỏ con chim sếu.
 
Hoa Phong lữ thường nở hoa đầu mùa xuân và kéo dài cho đến mùa hè.
Hoa Phong lữ có nhiều màu sắc rực rỡ khác nhau, mỗi màu ẩn chứa một ý nghĩa đặc sắc:
- Hoa màu trắng tượng trưng cho sự tinh khôi, trong sáng, thuần khiết của người con gái
- Hoa màu tím của hoa tượng trưng cho sự u uất, nỗi buồn khó nói của người con gái khi tình yêu tan vỡ, hoặc khi yêu đơn phương một ai đó
- Hoa màu sẫm: Biểu tượng cho sự u sầu
- Hoa màu hồng: mang ý nghĩa tượng trưng cho tình yêu đẹp đẽ, lãng mạn, ngọt ngào của các cặp đôi khi yêu nhau.
- Hoa màu đỏ tươi: Biểu tượng của sự an ủi, vỗ về v.v...
 
Phong lữ cũng có thể là phong ba lữ thứ trong thơ
 
 
THƠ VỀ HOA

 
Phong Lữ
 
Chiều xuân muộn
Phong lữ hoa nở chậm
Hồng môi người tha thiết hương hoa
Gió nhẹ thôi!
kẻo... rung cánh vỡ
Sương nhẹ thôi!
đủ cánh hồng òa
 
Đời lữ thứ
buồn
nghe ngực nhói
Khu vườn xưa vẫn biếc nụ tầm xuân?
Ngày hè cạn thu về cùng lá khẽ
Chiều lam dương
Vời ngất ngất thu không!
 
Nhung nhớ sáo diều bên trời lượn
Thương mành tơ
nối mộng đôi bờ
Cô lữ chiều thu sầu phong lữ
Môi đắng hoài mơ ước mộng đầu!
 
Tha hương phong lữ hồn Phong lữ
Biết đến khi nào gặp lại nhau?
 
                                         Nguyên Lạc
 
......
 
Nguồn: U Mộng Ảnh - Trương Trào, Huỳnh Ngọc Chiến dịch và chú thích trên Talawas

READ MORE - THƠ, HOA & NGƯỜI (2) – Thơ Nguyên Lạc