Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 8, 2022

CHUYỆN BUỒN TRONG MÙA VU LAN - Truyện ngắn - Nguyễn Thủy

 

Nhà văn Nguyễn Thuỷ


CHUYỆN BUỒN TRONG MÙA VU LAN

 

         Vậy là lão chết thật rồi! Cái chết của lão làm cả xóm nhỏ ven đồi không khỏi ngạc nhiên, xôn xao, hụt hẫng, còn họ hàng dòng tộc cũng sốc, bàng hoàng vì chuyện xảy ra quá là đột ngột, bởi lẽ dù đã ở cái tuổi ngoại bát thập niên, tuổi xưa nay hiếm rồi, nhưng lão vẫn mạnh khoẻ, nhanh nhẹn và minh mẫn. Da chân của lão hình như dày hơn da chân mọi người nên chẳng bao giờ cần dép và cái đầu cũng không cần mũ nón dù trời có nắng bao nhiêu độ đi nữa. Đôi mắt của lão như hai con ốc nhồi to, miệng rộng, dáng  lưng tôm hơi còng, nên khi đi nhìn như thể hơi cúi về phía trước.

 

    Lão còn khoẻ, khoẻ lắm ấy vậy mà sao nói chết là chết được chứ. Mọi người nghe tin ai cũng thở dài, cuộc sống thật vô thường, mới đây thôi lão vẫn đi thả lái bát quái mà, có ốm đau gì đâu. À mà nói đến ốm đau thì hầu như cả đời lão chưa phải một lần nào đau ốm phải đi đến trạm xá chứ đừng nói bệnh viện. Có chăng chỉ cảm cúm đau răng sơ sơ vài bận.

 

     Nói về ăn uống lão cũng được lắm; chỉ đoạn gần đây thì ăn có ít đi một chút, nhưng cách đây tầm ba năm về trước thì cứ cân lòng chai rượu với non non  cân bánh mướt là lão bết sạch.

 

      Hôm nay bầu trời tuy đã vào cuối hạ nhưng vẫn nồng, mà lại âm u ảm đạm, hình như trời cũng tiếc nuối cho cuộc đời của lão thì phải. Tiếc vì hình như lão còn chưa hề được hưởng một phân ly nào của cuộc sống thời đại mới.

 

     Lão mồ côi cha từ nhỏ, mẹ thì không được tỉnh táo, bườn bã giữa cuộc đời để tồn tại và lớn lên. Đến tuổi lập gia đình lão cưới vợ làng bên.  Vợ chồng lão hạ sinh được bốn người con: ba người con trai một người con gái, các con của lão khỏe mạnh nhanh nhẹn, dù nhà cũng nhiều khó khăn nhưng các con được sự tôi luyện về kỷ năng sống và làm việc cũng ô kê lắm; Thằng Cả, thằng Hai cũng được ăn học đến lớp 12, còn cái Ba và thằng Út là do học kém không lên được nên nghỉ học sớm hơn. Mấy anh em được tập làm việc sớm, nên chợ búa buôn bán cũng nhanh nhẹn, tuy thời đó cũng chỉ là buôn vặt vạnh củi đuốc chanh chè để kiếm bát gạo thôi. Nhưng lão cũng cố gắng dành dụm xây cho các con mỗi đứa ba gian nhà ngói, nhà bếp ràn trâu đầy đủ.

 

      Rồi cũng đến lúc các con của lão lớn khôn lập gia đình, cô con gái tính hơi man man tí thì lấy chồng sau lộn về được đứa cháu gái, lão làm cho hai gian nhà nhỏ ở riêng.

 

     Lão cũng là một người cha có trách nhiệm với con cái, mà lại trách nhiệm hơi quá thì phải: bởi ngoài việc lo giúp đỡ chăn dắt bò me, trông cháu hoặc thậm chí đi cày ruộng cho chúng thì lão còn canh cả các mối quan hệ của dâu con mình:

 

Ví dụ đi thăm hỏi mừng rợ ai trong anh em chòm xóm nơi nào lão cho mới được đi, không cho mà đi là về lão sẽ chửi đuổi đánh. Nếu có người đàn ông con trai nào nói chuyện hay đứng gần con dâu lão là sẽ bị qui cho tội quan hệ bất chính với con dâu lão, sẽ bị lão cho nổi cày nay nước.Thuở còn khoẻ lão đuổi mấy mẹ dâu như cơm bữa, mỗi lần vậy là lão đuổi ra khỏi nhà vì cho rằng nhà là của lão làm ra, là “xương máu” của lão. Rồi dần già chúng đâm ra ghét lão, hận lão, tuy vậy chúng chỉ lũm bũm sau lưng chứ không dám cãi, bởi đang còn ở ngôi nhà “ xương máu” của lão mà.

  

      Ngày tháng trôi qua, xã hội dần đổi khác, “nước nổi lo chi bèo chẳng nổi”, các con của lão cũng làm ăn khấm khá hơn, mua đất làm nhà ra ở nơi khác, to hơn, đẹp hơn, chúng không cần ở những ngôi nhà “xương máu” của lão nữa nên chúng cũng chẳng cần sợ lão mà dần xa lánh lão

 

     Lại nói đến các con của lão: Gia đình thằng Cả có con đi nước ngoài tiền nhiều lắm. Nhưng cầm quyền kinh tế là con dâu mà cô ả này thì đại keo kiệt hơn nữa vốn dĩ ả ta đã ghét lão và cũng không mấy tôn trọng con trai lão vì vậy chẳng khi nào lão được xơi miếng chi của ả. Thằng chồng mua cho cha một cái áo hoặc tí thức ăn thì ả ta sẽ giận dỗi cả tháng trời ấy chứ. Còn vợ chồng thằng Hai thì cả gia đình ở trong miền nam, mấy năm mí về một lần xoáng tí rồi đi,  Thằng út mua đất làm nhà  gần, nhưng nó cũng làm ăn ở miền nam, cô vợ thằng út xem ra là đứa biết ăn ở nhất nên là thỉnh thoảng cũng mua đồ ăn cho lão, mua cho lão cái xe đạp để lão đi. Nhưng cái tính đa nghi cổ hủ của lão cuối cùng đã cắt đứt tình nghĩa cha con khi nghi ngờ con dâu quan hệ với thằng cháu con chị gái lão khi thằng cháu về chơi. Lão ấm ức hậm hực muốn ăn tươi nuốt sống chúng nó, nhưng lần này dâu không còn ở ngôi nhà “xương máu” của lão nữa nên lão tức mà không đuổi được. Lão ấm ức lắm lắm, lão phải nói cho cả làng biết mới được, lão phải qua bên ngoại mà nói cho cả họ nhà nó biết, vậy là đứa con dâu hiếu thảo cuối cùng cũng hận lão tận xương tủy nốt. Từ đó chẳng đứa nào đoái hoài tới lão, thậm chí gặp nó chẳng chào hỏi luôn. Chỉ còn đứa con gái man man sớm tối qua lại. Nhưng lâu lâu thì thó của lão vài con gà vì nó cũng không làm chi ra tiền. Thi thoảng mấy ông con trai cũng bớt chút tiền ít ỏi cho lão nhưng không đáng kể. Tóm lại cả đời lão chưa bao giờ biết một cái lễ tết của con cái hay được con cái biếu món quà trong dịp lễ vu lan.

Thời đại đã đổi thay, cuộc sống mọi nhà đều khấm khá lên, đồ dùng vật dụng nhà cửa cũng đổi khác. Duy chỉ có lão vẫn ở mấy gian nhà “xương máu” đã xuống cấp theo thời gian, mấy cái xoong nấu ăn hàng ngày bằng lá bạch đàn đen đúa, mỗi bận ăn không tô không đĩa lão bê cả mấy cái xoong nhọ nhem đặt lên chiếc bàn gỗ cũ kỹ giữa gian bảy rồi ngồi ăn một mình.

 

      Lão vẫn thường thả lưới bát quái bắt con tép con tôm bán lấy tiền mua chút thức ăn cút rượu.

 

     Nghe bảo hôm qua lão bắt được con cá lóc, thịt nấu uống rượu. Sáng thằng cả lên trại ở cạnh nhà lão tức nhà cũ của nó, chưa thấy lão mở cổng như thường ngày nên chui  rào vào nhà không thấy, khi ra phía ao thì thấy lão ngồi ôm cây sấu và đã chết tự lúc nào.

 

    Anh em họ hàng lo khâu tổ chức tang sự cho lão, đứa dâu út tuy nó cũng chẳng có chút cảm xúc đau buồn nào, song vẫn về cùng anh em lo tang sự cho cha chồng bởi nghĩa tử là nghĩa tận. Còn ả dâu cả không đến. À có đến bên trang trại nhà nó ở cạnh, đưa cho chồng nó mấy bộ quần áo để mấy ngày lo tang cho cha thì qua đó tắm rửa và ở đó luôn khỏi về nhà. Còn nó không qua chỗ đám tang lí do vì nó mới mổ nên kiêng hơi lạnh, nó chỉ nhởn nhơ bên trang trại cạnh nhà lão bất biết đến người chết kia là lão là bố chồng nó, là người chăm sóc con cái nó ngày còn nhỏ…nó phải kiêng vì mổ u xơ lành tính chưa được 10 năm.

 

         Dân làng đến đưa tang lão cũng đông bởi khi còn sống lão cũng chăm đi đám người ta mà. Nhà có ba nàng dâu mà cuối cùng được mỗi dâu út đội lúp mặc áo xô. Mọi người đi đám tang xì xồ bàn tán đúng sai nhân quả và sướng khổ của cuộc đời lão, đa phần lên án cô con dâu cả. Cũng có người thở dài chẳng biết lỗi từ ai. Phải chăng yêu thương quan tâm không đúng cách cũng là cái tội.

 

Nguyễn Thủy

thuymnmt12@gmail.com

READ MORE - CHUYỆN BUỒN TRONG MÙA VU LAN - Truyện ngắn - Nguyễn Thủy

GỬI NÀNG T.T.KH CỦA TÔI - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà thơ Trần Đức Phổ

Gửi Nàng T. T. Kh. Của Tôi

Nàng ngày xưa yêu dáng hoa tim vỡ
Tôi thuộc lòng "Hai Sắc Hoa Ti Gôn"
Nên dở dang đã vận vào mệnh số
Tôi và nàng mỗi kẻ lạc một phương

Nàng chân chất không bao giờ đòi tặng
Bông hồng xanh hoặc chiếc lá diêu bông
Hoa ti gôn hai sắc màu đỏ trăng
Tình thủy chung gìn giữ ở nơi lòng

Tôi ngày đó một chàng trai khờ khạo
Xem thơ tình chuyện hư cấu mà chơi
Đâu biết được cuộc đời nhiều giông bão
Sóng trầm luân xô dạt phải xa người

Kể từ độ trên bước đường lưu lạc
Chuyện ngày xưa giấu kín đáy tim buồn
Mười năm dư chưa bao giờ dám nhắc
Loài hoa sầu dáng tim vỡ ti gôn

Rồi một lần trở về thăm chốn cũ
Giàn hoa xưa hò hẹn đã không còn
Tôi bàng hoàng trước màu hoa giấy đỏ
Cổng nhà nàng khép kín lúc hoàng hôn

Ngày theo chồng nàng có buồn rưng rức
Thương người xưa về bến cũ ngóng đò?
Xin lặng lẽ cầu mong ai hạnh phúc
Đừng nhớ gì câu chuyện một bài thơ!

6.10.2022 

tranducpho

ducphot946@gmail.com

 


READ MORE - GỬI NÀNG T.T.KH CỦA TÔI - Thơ Trần Đức Phổ

HÀ NỘI | TRỞ VỀ HUẾ | SÀI GÒN - Chùm thơ Võ Thị Như Mai

 

Nhà thơ Võ Thị Như Mai

HÀ NỘI

Tháng mười đến tô mầu vệt môi son

Loài chim sẻ hát vang giai điệu cũ

Đồng cỏ mùa này xanh mướt lá non

Cõng chị gió qua ghềnh đồi cư trú

Đến Hà Nội mà chưa thăm Hà Nội

Gánh tường vi đẹp đến nao lòng

Chẳng biết anh đã từng ra nơi ấy

Vệt nắng hồng, hắt luyến nhớ qua song

Vệt nắng hồng gánh mùa thu trên cành

Phước lành rải trên từng miền ký ức

Bắc và Nam nối tin yêu chòng chành

Vết thương xưa nhói đau tràn lồng ngực

Hà Nội yêu kiều thấm lạnh trong tim

Có phải vì chưa làm quen đã phải

Xa mấy nghìn ngày hay là xa mãi

Khi trở về anh có còn giận hờn

Sài Gòn, Huế, Hà Nội tìm nhau

Tìm nhau trong hai tuần và nhớ

Người đi xa, quê hương thành rộng mở

Đến nơi nào cũng rưng rức mùa ngâu

Đến nơi nào cho ngày ngắn nhiệm mầu

Và anh hỡi mươi mười năm sau nữa

Nếu tình cờ gặp tường vi trên phố

Xin dừng lại gọi tên một người dưng

(Xin dừng lại, nhắm đôi mắt và đừng….)

VTNM

 

TRỞ VỀ HUẾ

Trở về Huế một chiều trong xanh

Nghe bình yên ngập tràn phố xá

Đường chân trời thêu nỗi nhớ anh

Nhấp nháy vì sao quen mà lạ

Đừng hỏi em yêu Huế ra sao

Và nghĩ về anh nhiều thế nào

Huế không anh, Huế còn tươi tỉnh

Hoa vẫn cười khi mắt em cay

Những tấm lòng tâm hồn đong đầy

Dành hết cho em đêm Gác Trịnh

Nốt nhạc ngân lên buổi sum vầy

Tạm biệt, làm sao tâm thanh tịnh

Tạm biệt, niềm thương thầm kín này

Tiếng thở dài ngậm đoá môi say

Thành bài ca quê hương luyến láy

Thành áng mây nâng đoá sen gầy

Trở về Huế mà chưa thăm Huế

Ra ngoài làng mà chưa thăm quê

Ngước lên trời kìa ánh trăng thề

Nói với anh chờ ngày hạnh ngộ

VTNM

 

SÀI GÒN

Sài Gòn trở mình nghiêng thở

Thèm lắm những chiếc lá xanh

Vì nàng đi bộ loanh quanh

Hoà vào dòng người vội vã

Sài Gòn chẳng thể thong thả

Linh hồn, công việc nhỏ to

Con đường oằn mình và đo

Nhọc nhằn ngược xuôi nhân thế

Sài Gòn chưa kịp ngái ngủ

Đã phải thức giấc thật rồi

Nàng đánh rơi tiếng thở dài

Nỗi buồn ngân lên xa ngái

Nỗi buồn pha lê đọng lại

Bài thơ chợt đến thật hiền

Giữa những tiếng ồn vô biên

Nàng băng qua đường tĩnh thức

Sài Gòn qua lăng kính mới

Sáng góc phố bắt đầu quen

Bất chợt cơn mưa kéo tới

Làm mờ đi những ánh đèn

Chen lẫn vào chiều phố xá

Từng khuôn mặt lạ mỉm cười

Riêng nàng trốn vào phiến lá

Vu vơ điệu gì thật tươi


Võ Thị Như Mai

vonhumai@yahoo.com,

maimaylands@gmail.com



READ MORE - HÀ NỘI | TRỞ VỀ HUẾ | SÀI GÒN - Chùm thơ Võ Thị Như Mai

Friday, October 7, 2022

"NĂM CỤ KHI KHÔNG RỚT CÁI ÌNH..." – La Thụy sưu tầm và biên tập


 
Một người bạn hỏi tôi có thuộc toàn bài thơ có 2 câu này không, sưu tầm tên 5 vị thượng thư đó và những sự việc liên quan đến họ, giúp bạn với:
 
“Năm cụ khi không rớt cái ình,
Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh.”
 
Xin ghi lại những điều tôi đã hồi đáp cho bạn ấy.
 
Năm 1933, vua Bảo Đại muốn cải cách triều đình bèn ban cho về hưu một lúc 5 Thượng thư các Bộ: Lại, Hình, Binh, Lễ, Công vốn chỉ thông nho học, nhường chỗ cho những người thông thạo học vấn phương Tây. 5 vị thượng thư đó gồm:
 
1/ Nguyễn Hữu Bài - Thượng thư Bộ Lại
2/ Tôn Thất Đàn - Thượng thư Bộ Hình
3/ Phạm Liệu - Thượng thư Bộ Binh
4/ Võ Liêm - Thượng thư Bộ Lễ
5/Vương Tứ Đại - Thượng thư Bộ Công
 
Sự kiện này được ghi lại bằng bài thơ Đường luật, có chơi chữ tên 5 vị quan các bộ bị bãi chức ở từng câu tương ứng do nhà thơ Hoài Nam Nguyễn Trọng Cẩn (1900-1946) sáng tác:  
 
Năm cụ khi không rớt cái ình,
Đất bằng sấm dậy giữa thần kinh.
Bài không đeo nữa xin dâng lại,
Đàn chẳng ai nghe khéo dở hình.
Liệu thế không xong binh chẳng được,
Liêm đành chịu đói lễ đừng rinh.
Công danh như thế là hưu hỉ,
Đại sự xin nhường lớp hậu sinh.
 
Xin điểm qua danh sách 5 vị thượng thư triều Nguyễn bị vua Bảo Đại cho nghỉ hưu:
 
1/ Thượng thư Bộ Lại Nguyễn Hữu Bài


Bộ Lại hay Lại bộ (chữ Hán:吏部) là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, tương đương với cấp bộ ngày nay.
Ở các nước Á Đông thời phong kiến, Bộ Lại hoặc Lại bộ là bộ giữ việc quan tước, phong tước, ân ban thuyên chuyển, lựa chọn, xét công, bãi truất và thăng thưởng, bổ sung quan lại, cung cấp người cho các nha môn; tương đương với Bộ Nội vụ ngày nay. Đứng đầu Bộ Lại là Thượng thư Bộ Lại (Lại bộ Thượng thư).

*
Nguyễn Hữu Bài (chữ Hán: 阮有排; 28 tháng 9 năm 1863 - 28 tháng 7 năm 1935), Phước Môn Quận công, là một đại thần nhà Nguyễn và là một nhà cách mạng ôn hòa trong lịch sử cận đại Việt Nam.
 
Năm 1908 ông Nguyễn Hữu Bài lãnh chức Thượng thư Bộ LạiÔng từng giữ các chức vụ: Thái phó, Võ hiển điện Đại học sĩ, Cơ Mật Viện trưởng đại thần. Năm 1932, ông được vua Bảo Đại phong tước Phước Môn Quận công.
 
Ông Nguyễn Hữu Bài nổi tiếng không phải vì chức trọng quyền cao, mà nổi tiếng vì trong lúc đương thời khi vận nước suy đồi vì ách đô hộ ngoại quốc, lắm kẻ trong giới quan lại chỉ biết xu nịnh chính quyền Bảo hộ, riêng một mình Quận Công Nguyễn Hữu Bài, đã tỏ ra vững vàng với tinh thần quốc gia, dám đương đầu với người Pháp và giữ vững được những đức tính liêm sỉ phong nhã của một vị quan chức thấm nhuần Nho học.
 
Trong buổi họp Hội Đồng Thượng Thơ cuối năm 1912, Khâm Sứ Mahé cho biết ý định đào lăng vua Tự Đức lấy vàng bạc châu báu, viện lý do có thêm phương tiện tài chánh cho ngân sách Nam triều. Cả triều đình nín lặng, không ai nói năng gì. Duy chỉ có ông Nguyễn Hữu Bài dõng dạc đứng lên phản đối, viện lẽ theo truyền thống phong tục Việt Nam, kính trọng người chết là một nghĩa vụ và bổn phận của người sống. Đào mả tức là xâm phạm đến vong linh người chết sẽ gây náo động nhân tâm, thương tổn đến lễ nghi và thể thống triều đình. Cử chỉ hào hùng, lời lẽ khiêm tốn nhưng vững vàng cương trực của Thượng Thơ Nguyễn Hữu Bài đã làm Khâm Sứ Mahé bực mình. Tuy kết cục vẫn không ngăn cản được hành động tham tàn của đối phương, nhưng tư cách, thái độ ấy đã để lại tiếng thơm muôn đời.
 
Dân chúng vốn sẵn cảm tình với cụ “Thượng Bài”, từ đó càng thêm ngưỡng mộ kính mến. Càng lâu họ càng thấy rõ vị trung thần lương đống ấy, lên đến tột đỉnh danh vọng không phải vì a dua nịnh bợ tầm thường như một số quan lại đương thời mà chính vì tài đức, năng lực tinh thần thật sự.
 
Dân chúng đương thời đặt ra câu tục ngạn:
 
"Đày vua không Khả, đào mả không Bài"
 
Ghi chú về câu tục ngạn trên:
 
* Đày vua không Khả:
 
Nói đến quan Thị vệ đại thần Ngô Đình Khả đã phản kháng Pháp, không chịu ký giấy phế vua Thành Thái.
Năm 1907, lúc ông Ngô Đình Khả đương kim phụ chánh tại triều, vua Thành Thái có hành vi chống Pháp nên bị chính quyền Bảo hộ dưới sự vận động của khâm sứ Ferdinand Lévecque đòi truất vua Thành Thái và đày vua Thành Thái sang châu Phi, lấy cớ nhà vua bị bệnh tâm thần. Lúc đó tại triều hầu hết các đại thần đều ký vào thỉnh nguyện đó. Chỉ riêng có quan phụ đạo đại thần Ngô Đình Khả nhất quyết không chịu ký tên.
 
Ngày 2-9-1907 khi vua Thành Thái bắt buộc phải thoái vị!
Cả triều đình im lặng tuân theo quyết định của Toàn Quyền Paul Beau và Khâm Sứ Ferdinand Lévecque. Duy nhất và độc nhất một người, với sĩ khí nho phong hiếm hoi của thời đại còn lại, Thị Vệ đại thần Ngô Đình Khả đứng lên phản đối.  Kết thúc sau cùng là nhận lãnh hậu quả phải xảy đến: cụ Ngô Đình Khả bị người Pháp quy tội đủ điều, kể cả tội “không xứng đáng với chức vụ”. Vị triều thần trọng nghĩa khí, coi thường công danh là Ngô Đình Khả bị giáng cấp xuống hàng Án Sát, cho về hưu trí tại nguyên quán Quảng Bình mà không được cấp hưu bổng.
Ông Ngô Đình Khả là thân sinh các ông Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn...
 
* Đào mả không Bài:

Khi Khâm sứ Pháp Mahé đề nghị đào vàng bạc chôn ở lăng vua Tự Đức, thượng thư bộ lại Nguyễn Hữu Bài nhất quyết phản đối.
 
2/ Thượng thư Bộ Hình Tôn Thất Đàn
 

Bộ Hình hay Hình bộ (chữ Hán:刑部) là tên gọi của một cơ quan hành chính nhà nước thời phong kiến tại một số quốc gia Đông Á, như Trung Quốc, Việt Nam v.v. Bộ Hình có thể coi là tương đương với Bộ Tư pháp và Tòa án Tối cao ngày nay. Quan đứng đầu bộ Hình là Hình bộ thượng thư (thượng thư bộ Hình), tương đương với Bộ trưởng Bộ Tư pháp hoặc Chánh án Tối cao ngày nay.
*
Tôn Thất Đàn (1871 - 1936) (Hán Nôm: 尊室檀), tự Hinh Nhi (馨兒), hiệu Lạc Viên Thị (樂園氏), là danh thần triều Nguyễn Việt Nam, Hình bộ Thượng thư thời Bảo Đại.
 
Ông Tôn Thất Đàn được bổ nhiệm làm Thượng thư Hình bộ, sung Cơ mật viện Đại thần năm 1927 (Bảo Đại thứ 2). Tháng 1 năm 1925, kiêm nhiếp Tôn nhân phủ vụ đại thần. Năm 1929, thăng làm Hiệp Tá Đại học sĩ, lĩnh Thượng thư Hình bộ, sung Cơ mật viện Đại thần, miễn kiêm chức kiêm nhiếp Tôn nhân phủ vụ đại thần. Năm 1930, phong Hiệp tá Đại học sĩ. Năm 1933, ông làm đại biểu Thuận Hóa, xuất sứ sang Pháp.
 
Ngày 2 tháng 5 năm 1933, Bảo Đại cải tổ nội các, ông nghỉ hưu mang chức Hiệp tá Đại học sĩ. Ngày 1 tháng 8 năm 1933, ông được phong tước Phò Nhơn nam (扶仁男).
Ông qua đời vào năm 1936 qua đời, thọ 66 tuổi, được truy tặng tước vị Đông Các Đại học sĩ.
Ông viết tác phẩm Lạc Viên tiểu sử (樂園小史), quyển tiểu sử về ông
 
3/ Thượng thư Bộ Binh Phạm Liệu
 
Bộ Binh hay Binh bộ (chữ Hán:兵部) là một cơ quan hành chính thời phong kiến tại một số quốc gia Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam v.v, một trong sáu bộ của lục bộ, tương đương với bộ Quốc phòng ngày nay. Quan đứng đầu Binh bộ là Binh bộ thượng thư (thượng thư bộ Binh), tương đương với bộ trưởng Bộ Quốc phòng ngày nay.
*
Phạm Liệu (1873-1937), tự là Sư Giám, hiệu là Tang Phố, là một danh sĩ Việt Nam. Ông được xem là người đứng đầu nhóm Ngũ Phụng Tề Phi, từng làm quan trải đến chức Thượng thư Bộ binh dưới các triều vua Thành Thái, Duy Tân, Khải Định và Bảo Đại.
 
Sau khi hồi hưu, ông về an dưỡng tại quê nhà và mất ngày 21 tháng 11 năm 1937 (có tài liệu ghi năm 1936), hưởng thọ 66 tuổi. Triều đình truy phong tước Trừng Giang Nam, giao việc tế lễ và mai táng cho quan chức đầu tỉnh Quảng Nam tổ chức.
 
Khi ông qua đời, danh sĩ đồng hương Huỳnh Thúc Kháng đã phúng điếu một câu đối, mà nay còn được lưu truyền:
 
Văn tự quả hữu túc duyên đa, ấu nhi tĩnh tường nghệ chiến, lão nhi kinh đệ minh đàm, trừ trung gian quốc sự dịch kỳ trần lộ sâm thương dư nẫm tái.
 
Hà sơn do thụy giai khí giả, cựu tắc Hán học thành tinh, tân tắc Âu khoa nhược trí, thứng vãn tấn châu bình nguyệt đán khẩu bi danh tánh mỗi song đề.
 
Diễn ý:
 
Văn chương chữ nghĩa có đầy duyên tứ trước vậy. Lúc nhỏ học trường tỉnh, ganh đua nghiệp văn. Khi già ở nhà khách tại kinh đô đàm luận. Ngoài việc biến đổi quốc sự, thì đường trần ai (tôi và ông) xa cách nhau hơn 20 năm.
 
Sông núi do tú khí tạo nên, Hán học tinh thông, Tây học còn non yếu. Mỗi tháng cùng bạn văn chương bình thời sự. Danh tánh đều được bia đá bia miệng lưu truyền.
 
Phần mộ của ông ở xã Điện Trung về sau được gia đình cho xây lại năm 1997, cạnh một nghĩa địa nhỏ. Bia mộ ghi rất sơ sài: Phạm Liệu, tự Sư Giám, hiệu Tang Phố, Tiến sĩ khoa Mậu Tuất (1898). Điều đặc biệt có hai chữ “ngũ phụng” ở phía dưới, nhưng không rõ vì sao bị bỏ mất hai chữ “tề phi”?
 
4/ Thượng thư Bộ Lễ Võ Liêm
 

Bộ Lễ hay Lễ bộ (chữ Hán:禮部) là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á như Trung Quốc, Việt Nam, tương đương với bộ thông tin - truyền thông, bộ văn hoá - thể thao - du lịch, bộ giáo dục - đào tạo và bộ ngoại giao ngày nay. Quan đứng đầu bộ Lễ là Lễ bộ thượng thư (hay thượng thư bộ Lễ), tương đương với bộ trưởng các bộ trên ngày nay.
Công việc của bộ Lễ là kiểm tra cát lễ, gia lễ, quân lễ, tân lễ, hung lễ (ngũ lễ), kiêm cai quản học giáo, khoa cử, khảo thí cùng các công việc tiếp tân khách khứa ngoại quốc.
 
*
Võ Liêm (1873-1936), cựu thượng thư bộ Lễ, hàm Đông các điện Đại học sĩ, tước Xuân Hòa tử, con trai của Võ Khoa (Tổng đốc, sung chức Tuần vũ tỉnh Hà Tĩnh). Quê quán ở làng Thần Phù, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
 
Năm 1923 lại được triệu về kinh sung làm Thượng thư bộ Công, năm 1928 làm Thự thượng thư bộ Binh, năm 1930 làm Thượng thư bộ Lễ.
 
Đông các điện Đại học sĩ, Xuân Hòa tử, Võ Liêm từng được tặng nhiều huân chương như Huân chương Giáo dục Cộng hòa, Long bội tinh An Nam, Bắc đẩu bội tinh.
 
Một người con gái của ông là Tứ giai Du tần Võ Thị Dung, là một trong 12 người vợ của vua Khải Định.
Con trai của ông là Võ Chuẩn (1895-1956), cựu Tổng đốc tỉnh Quảng Nam.
Hai con gái ông Võ Chuẩn là Linh Bảo và Minh Đức Hoài Trinh (cháu nội ông Võ Liêm) đều là nhà văn.
 
5/Thượng thư Bộ Công Vương Tứ Đại 

Bộ Công hay Công bộ (chữ Hán: 工部) là tên gọi của một cơ quan hành chính thời phong kiến tại các nước Đông Á, như Trung Quốc, Việt Nam, tương đương với cấp Bộ ngày nay. Đứng đầu Công bộ là Thượng thư (尚書, tương đương Bộ trưởng ngày nay); giúp việc có Tả Thị lang 左侍郎, Hữu Thị lang 右侍郎 (thời Lý - Trần - Lê) hoặc Tham tri (thời Nguyễn) (tương đương cấp Thứ trưởng ngày nay); Lang trung, Viên ngoại lang, Tư vụ... (tương đương Tổng cục trưởng, Cục trưởng, Vụ trưởng, Giám đốc các sở hoặc Chánh Văn phòng ngày nay).
 
Ngày nay, Công bộ có thể coi là tương đương với Bộ Xây dựng và Bộ Giao thông Vận tải. Quan đứng đầu bộ Công là Công bộ Thượng thư (Thượng thư bộ Công). Do xếp thứ sáu trong Lục bộ nên Thượng thư Bộ này có thể bị bãi, giáng hoặc thăng tiếp sang Thượng thư Bộ khác.
*
Chúng tôi không tìm được tư liệu nào viết về ông Vương Tứ Đại - Thượng thư Bộ Công về hưu dưới triều Bảo Đại, quý bạn nào biết xin cung cấp giùm để bổ sung. Cám ơn nhiều.
 
**
Trong lục bộ có Thượng thư Bộ Hộ, Đại thần Thái Văn Toản là vị quan duy nhất được Hoàng đế Bảo Đại giữ lại chức vị để tham gia vào Tân Chính phủ cải tổ đã được công bố theo Chỉ của Triều đình ngày 10 tháng 9 năm 1932 và được thừa nhận theo Dụ ngày 2 tháng 5 năm 1932.
 
Năm 1932, vua Bảo Đại sau khi du học ở Pháp về đã trực tiếp tham chính và thay nội các mới. Võ Liêm, Thượng thư bộ Lễ cùng với 4 vị Thượng thư khác là Nguyễn Hữu Bài (bộ Lại), Tôn Thất Đàn (bộ Hình), Phạm Liệu (bộ Binh) và Vương Tứ Đại (bộ Công) bị cho nghỉ hưu, nhường chỗ cho những nhân vật trẻ Tây học như Thái Văn Toản, Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.
 
5 vị Thượng thư từ trái qua phải Hồ Đắc Khải, Phạm Quỳnh, 
Thái Văn Toản, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn.

Trong đó Ngô Đình Diệm thay thế Nguyễn Hữu Bài làm Thượng thư Bộ Lại, Bùi Bằng Đoàn thay thế Tôn Thất Đàn làm Thượng thư Bộ Hình, Thái Văn Toản thay thế Vương Tứ Đại làm Thượng thư Bộ Công, Hồ Đắc Khải bổ làm Thượng thư Bộ Hộ, Phạm Quỳnh làm Thượng thư Bộ Giáo dục kiêm Tổng lý Ngự tiền văn phòng.
 
Cùng với việc thay đổi về nhân sự, bộ máy hành chính cũng được cải tổ rõ rệt. Năm 1932 vua Bảo Đại cho xây dựng mới một tòa nhà theo kiến trúc kiểu Pháp hiện đại với 2 tầng đổ mái bằng nằm ở phía Bắc Tử Cấm thành làm trụ sở mới cho bộ máy văn phòng giúp việc của nhà vua. Đồng thời năm 1933 đổi tên Nội các, cơ quan do vua Minh Mệnh thành lập từ năm 1829 thành Ngự tiền văn phòng. Mặc dù đổi tên nhưng chức năng của Ngự tiền văn phòng gần như không thay đổi so với Nội các trước đây, vẫn là cơ quan giúp việc trực tiếp của nhà vua, luân chuyển, tàng trữ các văn thư quan trọng của triều đình, người đứng đầu đặt cho chức danh mới là Tổng lý Ngự tiền văn phòng.
   
Năm 1935 để phù hợp với xu thế mới, vua Bảo Đại cho đổi tên và thành lập mới một loạt các bộ trong hệ thống chính quyền An Nam như:
     + Bộ Học đổi tên thành Bộ Quốc gia Giáo dục (năm 1943 lại đổi thành Bộ Quốc dân Giáo dục, năm 1945 là Bộ Giáo dục Mỹ thuật);
     + Bộ Hộ bị xóa bỏ để thành lập mới các Bộ Kinh tế (năm 1943 đổi tên thành Bộ Kinh tế – Nông nghiệp) và Bộ Tài chính;
     + Bộ Công được đổi tên thành Bộ Công chánh giao thông;
     + Bộ Lễ bị xóa bỏ để thành lập mới Bộ Lễ – Công (năm 1943 đổi thành Bộ Lễ nghi Công tác);
     + Bộ Hình đổi tên thành Bộ Tư pháp;
     + Bộ Lại đổi tên thành Bộ Nội vụ.
 
Ngoài ra sau đó vua Bảo Đại còn thành lập thêm một số bộ mới như Bộ Thanh niên, Bộ Y tế cứu tế… trên cơ sở tách ra từ những bộ đã thành lập. Người đứng đầu các bộ theo cách gọi Nam triều là Thượng thư nhưng trong các văn bản tiếng Việt và tiếng Pháp được gọi là Bộ trưởng hoặc Ministre.
                                                            
La Thụy sưu tầm và biên tập

READ MORE - "NĂM CỤ KHI KHÔNG RỚT CÁI ÌNH..." – La Thụy sưu tầm và biên tập

Thursday, October 6, 2022

ÁO TÍM – Thơ Lê Kim Thượng


 
                   Nhà thơ Lê Kim Thượng


ÁO TÍM 1 - 2  
 
1.
Cái thời son trẻ… “Ngày Xưa”
Nhớ sao như thể…Như vừa mới đây?
Ngập ngừng tay nắm bàn tay
Vuốt ve áo tím, guộc gầy lưng ong
Cái nhìn tha thiết nhớ mong
Trải lòng trong mắt… Mắt trong thắm đằm
Đắm say đôi mắt Lá Răm
Yêu nhau từ tuổi trăng rằm liêu trai
Nguýt lườm tia mắt đưa dài
Nõn tơ màu má… Tóc cài hoa xinh
Nắng qua kẽ lá lung linh
Buộc hình với bóng, buộc mình với ta
Nón nghiêng che bóng nắng tà
Tinh khôi áo lụa, thiết tha dịu dàng
Gót son nhẹ bước khẽ khàng
Cỏ thơm theo dấu chân nàng vân vê
Phải chăng em thả bùa mê
Pha trong giọng nói chân quê tự tình
Ước gì như bóng với hình
Mai sau còn mãi cuộc tình trẻ thơ…
 
2.
Bỏ tình vàng úa câu thơ
Bỏ trăng mờ bóng… Bỏ tơ rối lòng
Trải tình ra đếm, ra đong
Tìm câu chung thủy mà không thấy gì?
Rượu hồng, pháo đỏ Vu quy
Để tôi một bóng tình si bẽ bàng
Quán xưa giờ vắng tay đan
Cà phê giọt đắng chậm tan nỗi buồn
Mưa chiều rả rích giọt tuôn
Mưa chiều kỷ niệm… Mưa nguồn về đâu
Cõi thương - Cõi nhớ - Cõi sầu
Buồn dài - Buồn chậm - Buồn sâu - Buồn đầy
Trời buồn, trời tím màu mây
Bàn tay còn nhớ bàn tay ấm đầy
Cuộc tình… đã lỡ mượn vay
Đắng cay trả đến ngàn ngày chưa xong
Vườn yêu còn ánh trăng trong
Chắc giờ hai đứa nặng lòng nhớ nhau?
Thuyền tình trôi giạt về đâu
Để sông uốn khúc… Để cầu còng lưng…
       
Nha Trang, tháng 10. 2022             
LÊ KIM THƯỢNG
 
READ MORE - ÁO TÍM – Thơ Lê Kim Thượng

RU KHÚC TÌNH MƠ - Nhạc, lời và hoà âm: Giang Thiên Tường - Tiếng hát: Anh Tuấn

READ MORE - RU KHÚC TÌNH MƠ - Nhạc, lời và hoà âm: Giang Thiên Tường - Tiếng hát: Anh Tuấn

CÒN NHỚ SÀI GÒN - Thơ Hồng Thúy, nhạc Liên Bình Định, ca sĩ Diệu Hiền trình bày.


       

 Thơ: Hồng Thúy.
        Nhạc: Liên Bình Định.
        Ca sĩ: Diệu Hiền.
        Hòa âm: Duy studio.
        PPS: Hùng Đặng.

 
CÒN NHỚ SÀI GÒN
 
Sài Gòn hỡi! vẫn trong tim bồi hồi 
Xôn xao mùa mưa nắng gió thênh thang
Từng hàng cây Tao Đàn xanh biếc lá
Lối tan trường mây trắng áo Gia Long
 
Sài Gòn đón những chuyến xe ngược xuôi
Phố rộn ràng nhịp gõ bước chân mau
Qua Chương Dương, Bạch Đằng còn vang sóng
Bến Vân Đồn ai biết nỗi bể dâu
 
Chợ Bến Thành người đông phồn hoa ấy
Thoáng hương xưa xuân Nguyễn Huệ bùng binh
Làn khói chiều Tháp Rùa soi bóng nước
Tiếng chuông vọng Vương Cung Thánh bình yên
 
Đường Tự Do ngày nào mưa lất phất
Rex, Eden… thương xá, hàng cà phê
Brodard buồn hẹn nhau mà không đến
Tiếc nuối hồn lạnh vắng cả cơn mê
 
Sài Gòn nhớ!… quê hương cách ngàn trùng
Cứ chạnh lòng Đa Kao quá … xa xôi
Đò Thủ Thiêm, Thị Nghè, sông Bến Nghé
Ngọn đèn vàng cư xá mờ sương rơi
Sài Gòn ơi! Tình yêu mãi bên trời…
 
                                   Hồng Thúy

READ MORE - CÒN NHỚ SÀI GÒN - Thơ Hồng Thúy, nhạc Liên Bình Định, ca sĩ Diệu Hiền trình bày.