Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, September 16, 2022

ĐỌC “MÂY TRẮNG ĐẦU NON”, THƠ NGUYỄN AN BÌNH - Châu Thạch


    
“Mây Trắng Đầu Non” là bài thơ mà tác giả Nguyễn An Bình sẽ dùng làm tựa đề cho cả tập thơ ông sắp xuất bản. Tôi chưa đọc được tập thơ nhưng có hân hạnh đọc được bài thơ nầy.
    
“Mây Trắng Đầu Non” là một trường thi đài 12 khổ, mỗi khổ 4 câu mang nổi niềm của người đi ngàn dặm quay về. Bài thơ mang âm hưởng của mọi thời đại, chứa đọng tâm hồn người nay, hòa nhập với tâm hồn ngàn xưa, từ đó tiếng thơ chuyển âm như nước chảy, thay đổi  như mây trôi, vang vọng  như trống trường thành và se buồn như tiếng thở thời gian, thẩm thấu vào tâm can tôi và làm xao động lòng người. 
    
Mây trắng thường nằm trên nền trời xanh thắm, tượng trưng cho một cõi bình an. Mây trắng còn tượng trưng cho chân lý được biểu lộ, từ đó thiền sư Thích Nhất Hạnh viết về cuộc đời Phật Thích Ca với tựa đề “Đường Xưa Mây Trắng”
    
“Mây Trắng Đầu Non” là hình ảnh những đám mây tựa vào đỉnh núi, cho ta liên nghĩ đến các vị chân tu, các hiền sĩ thoát tục. các tráng sĩ mõi mệt buông cương, quay về cõi tịnh, hòa nhập vào vô vi trời đất.
     
Đọc “Mây Trắng Đầu Non” ở khổ thơ đầu tiên, ta bước ngay vào đêm của một thời điển tích, nhớ ngay câu thơ của “Chinh Phụ Ngâm”, nhưng không phải câu thơ “Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh” của người xưa, mà là câu thơ của người ngày nay: “Khi về trú dưới hiên mưa”
 
1. 
Khi về trú dưới hiên mưa 
Soi đèn bạch lạp đêm vừa sang canh 
Dưới trăng nghe trống trường thành 
Dặm xa ngựa mỏi cũng đành buông cương.
     
Nếu những câu thơ “Trống trường thành lung lay bóng nguyệt/ Khói cam tuyền mờ mịt thức mây/ Chín tầng gươm báu trao tay/ Nửa đêm truyền hịch định ngày xuất chinh” trong Chinh Phụ Ngâm hay những câu thơ “Nhưng đêm kia đến một chàng kỵ mã / Nhúng đầy trăng màu áo ngọc lưu ly. / Chàng gọi đò, gọi đò như hối hả / Sợ trăng vàng rơi khuất lối chưa đi.” của Bến My Lăng làm cho tâm hồn ta phấn chấn bởi sự ra đi của người kỵ sĩ thì bốn câu thơ trên của “Mây Trắng Đầu Non” đối nghịch, đem đến cho ta một nỗi buồn se lạnh của hiên mưa, của ánh đèn bạch lạp và của tiếng trống trường thành. 
  
Người kỵ sĩ trong “Mây Trắng Đầu Non” buông cương quay về vì “Dặm xa ngựa mỏi” chớ không phải hăng hái lên đường như hai kỵ sĩ trong thơ kia. Tuy thế, mười hai câu thơ của ba tác giả mang tâm trạng khác nhau, hoàn cảnh khác nhau, nhưng tiếng thơ đồng vọng giữa thiên nhiên, soi thấu vào lòng người cảnh và tình, gây cảm xúc thăng hoa ở tầng số như nhau, đều là những câu thơ trác tuyệt!     
Rồi thì nhà thơ nghĩ đến một sự quay về bi quan hơn, một sự quay về có tử sinh ẩn hiện trong thơ và có linh hồn nương theo gió để vượt qua cửa phù trầm:
 
2. 
Khi về hồn gió muôn phương 
Kèn vang lỗi nhịp loạn phường bát âm 
Tử sinh vượt cửa phù trầm 
Đời sau còn nợ kiếp tằm sầu riêng. 
  
“Phường bát âm” là đội nhạc cổ, thường gồm có tám người, biểu diễn những nhạc khí khác nhau trong các dịp ma chay, đình đám.    
“Phù trầm” là sự chìm nổi. Khổ thơ viết về hồn bay trong gió, bay qua biến động tử sinh, vượt qua cửa phù trầm, nhìn  thấy đám tang của mình, ân hận về những món nợ đời mà kiếp nầy mình chưa trả được. 
Đọc khổ thơ nầy, ta nghe hơi rờn rợn bởi sự truân chuyên của một linh hồn khuất nẽo thế gian, ở bên kia cõi thực mà lòng vẫn chưa được bình an.
 
Bước qua khổ thơ thứ 3, khổ thơ nhắc lại sự nghiệt ngả của đời người, sự thăng trầm của công danh sự nhiệp và sự vô thường của cuộc sống trần gian: 
 
3. 
Khi về khai ấn đền thiêng 
Bánh xe lịch sử cuốn nghiền nát thân 
Đi qua gió lốc bụi trần 
Áo phơi dấu cỏ ngại ngần biển dâu. 
 
Khai ấn là một nghi thức đầu tiên của một cuộc tế lễ. Người quay về “khai ấn đền thiêng”. Đền thiêng ở đây là đền thiêng nào? Có thể hiểu đó chính là nơi trú ngụ mới tại chốn cũ của linh hồn người quay về. Bởi vì thân thể người quay về đã bị “Bánh xe lịch sử cuốn nghiền nát thân”, chỉ còn phần tâm linh sót lại, phải “đi qua gió lốc bụi trần” để về. Khi về, thể xác ấy chỉ còn “áo phơi dấu cỏ”, tâm linh ấy “Ngại ngần biển dâu”, không còn muốn lênh đênh phiêu bạc phương trời. Từ đó hồn phách quay về quê hương lập một nơi trú ngụ cho linh hồn mình nương náu. Ở đó, linh hồn đã khai ấn đền thiêng là am, là miếu, là cây cao bóng mát mà mình trú ngụ.
 
Khổ thơ thứ 3 phản phất sự linh hiển, âm hưởng của sự trang nghiêm và nỗi đau, và niềm thương vọng trầm trong tiếng bánh xe lịch sử đời người đi qua gió lốc, bụi trần. Khổ thơ biến đời người như một cổ xe nặng nề đi qua trủng bóng chết, như con thuyền buồm xơ xác, mệt nhọc băng qua đại dương. 
 
 Khổ thơ thứ tư người quay về như đi trong mơ, trong mơ vì cảnh xưa không phải là dấu tích của sự huy hoàng “xe ngựa hồn thu thảo/ Lâu đài bóng tịch dương” mà cảnh xưa là sự tàn phai của một quê hương mang đầy kỷ niêm thân thương:
 
4. 
Khi về trôi giấc chiêm bao 
Bướm xưa vườn cũ cỏ nhàu vết đau 
Chiều tàn bóng ngả ca dao 
Nhớ ai cởi áo qua cầu nước xuôi. 
 
Hai câu thơ “Chiều tàn bóng ngả ca dao/Nhớ ai cởi áo qua cầu nước xuôi” nhà thơ dùng hình ảnh trong ca dao Việt Nam nói về một tình yêu thắm thiết, hy sinh và thơ mộng: “Thương nhau cởi áo cho nhau/Về nhà mẹ hỏi qua cầu gió bay”.
 
Khổ thơ thứ 5 thổ lộ những nỗi đau. Nỗi đau thấy hình hài biến dạng, nỗi đau suy niệm điển tích giống mình, nỗi đau dang dỡ cuộc tình khắc cốt ghi tâm. Tất cả đã từng đẹp như câu thơ lục bát mà nhà thơ đã từng gieo trong ước vọng, nhưng lục bát đã khựng lại, bài thơ “lỡ thì” không gieo vần tiếp được, như cuộc đời  mãi bước chân trên sỏi đá:
 
5. 
Khi về biến dạng mặt người 
Soi gương chợt nhớ mấy lời cổ thi 
Gieo câu lục bát lỡ thì 
Bước chân sỏi đá khắc ghi lời nguyền.
 
Khổ thơ thứ 6 nhà thơ tưởng mình như Từ Thức về trần, cảnh vật xa lạ đến trăm năm, muốn quay về cõi tiên nhưng cửa động đào nguyên lạc dấu, xe hạc đưa mình về cũng đã rời xa đi vào tiên giới:
 
6. 
Khi về lạc dấu đào nguyên 
Đầu non cửa động lụy phiền thế gian 
Non cao suối biếc thông ngàn 
Tìm đâu dã hạc bay ngang bụi lầm. 
 
Khổ thơ nầy diễn đạt sự bơ vơ lạc lỏng và tâm trạng nuối tiếc khi về. Như vậy người về không phải là người kỵ sĩ mõi gối chồn chân, không phải là linh hồn vất vưởng quay lại, mà có thể là một con người sa cơ thất thế, mất địa vị nơi chốn vàng son, quay lại chốn của một thời thơ ấu, một thời hàn vi từng sinh sống.
 
Qua khổ thơ thứ 7 nhẹ nhàng hơn, người quay về có thể là một tu sĩ với linh hồn thoát tục, tâm trạng không ưu phiền, nhưng con mắt trần vẫn thấy những thay đổi của luật vô thương diễn ra trước mắt:
 
7. 
Khi về gieo hạt từ tâm 
Hoa vô ưu nở hương trầm quẩn quanh 
Tóc người thuở ấy còn xanh 
Sông dài biển rộng thôi đành phai hương. 
 
“Hạt từ tâm” là hạt giống yêu thương luôn có trong tâm hồn mỗi người để từ bi, tha thứ, kết nối bằng trái tim thân ái với tha nhân. Hạt từ tâm cũng có thể là hạt bụi hóa kiếp thành thân ta như Trịnh Công Sơn “Hạt bụi nào hóa kiếp thân tôi…” hay như Thích Nhất Hạnh “Hạt bụi len qua thân người, sống cuộc đời trần thế, rồi trở về cát bụi”. Vậy người quay về phải là người giác ngộ lẽ đạo cao siêu mới “Gieo hạt từ tâm” cho “Hoa vô ưu nở hương trầm quẩn quanh” được.
 
Người trở về trong khổ thơ thứ 8 vẫn như người trở về trong khổ thơ thứ 7, đó là người tuổi đã cao, hiểu luật vô thường, trải qua sóng gió cuộc đời và am tường triết lý vô ngôn nhà Phật:
 
8. 
Khi về tóc nhuộm tà dương 
Vàng câu kinh tự vô thường quán không 
Sóng xô gò nổi bận lòng 
Vô ngôn còn chút bụi hồng trong mơ. 
 
“Vô ngôn” là triết lý nhà Phật, bắt đầu từ hội Linh Sơn, khi đức Phật cầm cánh hoa sen đưa lên có ý khai thị, và Ngài dĩ tâm truyền tâm cho Ca Diếp. Triết lý vô ngôn tức triết lý không lời, triết lý về sự im lặng, giống như một con thuyền trống không vượt biển dưới ánh trăng huyền ảo trong bài thơ của thiền sư Huệ Sinh: “Tịch tịch Lăng Giả nguyệt/ Không không độ hải chu”, dịch là “Trăng Lăng Giả vắng lặng/Thuyền vượt biển trống không”. Trăng vắng lặng thuyền trống không nhưng chứa chấp biết bao điều cao siêu mà ai vắng lặng tâm hồn sẽ đạt đạo. 
 
Qua khổ thơ thứ 9 người trở về không phải để định cư trên quê hương. Người trở về thăm quê hương lần chót để ra đi vĩnh viễn
 
9. 
Khi về khuấy nước ngũ hồ 
Mái chèo khua động bãi bờ trường giang 
Từ đây hạc nội mây ngàn 
Ngày sau bến nước lụa vàng ai giăng. 
 
“Ngũ hồ” nầm trong thành ngữ “Năm hồ bốn biển” có ý nghĩa là khắp nơi. “Hạc nội mây ngàn” có nghĩa biệt tăm biệt tích không biết ở nơi nào.  Khổ thơ mang nỗi buồn ra đi không có ngày trở lại. Người thăm quê hương lần cuối rồi ra đi sẽ lưu lạc bốn phương trời, tung tích như bèo dạt mây trôi, không biết nữa trên dòng sông quê hương “Ngày sau bến nước lụa vàng ai giăng”?
 
Nguyên một khổ thơ thứ 10, tác giả viết, người về chỉ để thắp một nén nhang trên mộ bạn, rót rượu trên mộ bạn. Vậy chữ bạn ở đây có ý nghĩa rộng, hoặc là người tri kỷ, hoặc là người yêu năm xưa đã chết:
 
10. 
Khi về thắp một nén nhang 
Rót trên mộ bạn rượu tràn lạnh môi 
Hắt hiu vài hạt nắng rơi 
Chim bên khóm trúc lẻ loi gọi người. 
 
Qua khổ thơ thứ 11, người về đã đạt đến một trình độ uyên thâm trong giác ngộ chân lý:
 
11. 
Khi về nhìn ánh trăng soi 
Bước chân vô định buông lời vô tâm 
Áo xưa còn thoảng hương trầm 
Ngựa qua quan ải lặng thầm đêm bon. 
 
“Khi về nhìn ánh trăng soi” không chỉ là nhìn thứ ánh trăng của đêm rằm mà câu thơ còn chứa ẩn dụ một thứ ánh trăng khác nữa. Đó là thứ ành sáng hào quang dịu vợi của chân lý vô biên tỏa soi khắp bản thể, làm tan biến sự tối tăm trong tâm hồn người quay về, để từ đó người quay về có “Bước chân vô định buông lời vô tâm”.
 
“Bước chân vô định” không chỉ có nghĩa là bước chân đi không định hướng mà còn có ý nghĩa ẩn dụ trong thơ. Đó là bước chân đi giữa 8 vạn 4 ngàn pháp môn để tu thành đạo, tùy theo căn cơ  trí tuệ của chúng sinh mà lựa chọn một chánh pháp thích hợp cho mình.
 
“Buông lời vô tâm” cũng không có nghĩa là buông lời nói thờ ơ biểu hiện cảm xúc không yêu không ghét, mà đó là buông lời phù hợp với vô vi trời đất, trung dung trung tính, như một viên kim cương trong veo, hoàn mỹ, không tì không vết, chỉ tùy theo ánh sáng chiếu vào mà màu sắc hiện ra. Con người ai cung có viên ngọc vô tâm hoàn mỹ đó, khi nào quay về được với bản thể Thượng Đế tạo ra từ thuở ban đầu thì có tâm vắng lặng, và đó chính là vô tâm. 
 
 Hai câu thơ “Áo xưa còn thoảng hương trầm/ Ngựa qua quan ải lặng thầm đêm bon” nhắc ta một quá khứ có linh hồn thanh tao, thơm mùi trầm xạ của thánh hiền, nhưng đã qua quan ải, lụy vào cõi trần gian trong đêm bon tẩu vượt cõi thánh thiện, sa chân vào cõi trần gian tăm tối.
 
Qua khổ thơ cuối cùng của trường thi “Mây Trắng Đầu Non”:
 
12.
Khi về mây trắng đầu non 
Tóc xanh lấm tấm gối mòn đã xiêu 
Gót giầy gõ bóng tịch liêu 
Trăm năm thơm mãi ít nhiều cỏ hoa. 
 
Khổ thơ thứ 12, khổ thơ cuối của trường thi diễn đạt một sự quay về viên mãn, sự quay về như mây trắng một đời trôi nổi, nay dừng lại ở đầu non. Người về tóc xanh đã điểm bạc, gối mòn đã xiêu, nhưng gót giầy từ nay thiền hành dưới bóng tịch liêu và linh hồn ngày nay trăm năm thơm mùi cỏ hoa là mùi bình dị thanh cao và tinh khiết.
 
Trường thi “Mây Trắng Đầu Non” là một bài thơ dài, bài thơ như chiếu 12 cuốn phim, tả những con người quay về với những thân phận khác nhau. Mỗi khổ thơ ẩn chứa trong đó những điều suy nghiệm sâu xa, để kết luận chỉ cho người đọc một con đường quay về như mây trắng quay về tụ ở đầu non, là con đường tốt đẹp nhất, là con đường thoát khổ đế để về với chân như, hòa nhập vào vô vi đất trời hay đến với Thiên Đàng vinh hiển.
 
Mây trước tiên đi vào thi ca như một vẻ đẹp tự nhiên của đất trời ban tặng ở quanh ta. Mây tượng trưng cho sự sáng tạo vì nó có thể mang bất cứ một hình thù gì. Mây trắng còn tượng trưng cho đám mây pháp hiển lộ chân lý giữa đời. Khi Đức Phật Thích Ca sắp viên tịch, ngài trả lời sự chết của ngài như “Đám mây trắng biến đi”
 
Nhà thơ Nguyễn An Bình sáng tác trường thi “Mây Trắng Đầu Non” như dựng lên cho đời thấy một bức tranh tuyệt đẹp, dùng bài thơ làm ngón tay chỉ nơi lý tưởng mà ờ đó, con người không khi về với “Ngựa mỏi, buông cương”,  không khi về với “Vượt cõi phù trầm”, không khi về với “Cỏ nhàu vết đau”, không khi về với “Lục bát lỡ thì”, không khi về với “Lụy phiền thế gian”..., mà khi ấy, về với “Gieo hạt từ tâm”, mà khi ấy về với “Vô thường quán không”, mà khi ấy về với “Vô định, vô tâm, hương trầm còn trên áo”, để cuối cùng, khi về hóa thân thành “Mây Trắng Đầu Non”, đi đến chốn giải thoát, chôn vô ưu, chốn vĩnh hằng ở đâu đó trong mây trắng đầu non.
                                   
                                                              Châu Thạch


  

 
 MÂY TRẮNG ĐẦU NON 
 
1. 
Khi về trú dưới hiên mưa 
Soi đèn bạch lạp đêm vừa sang canh 
Dưới trăng nghe trống trường thành 
Dặm xa ngựa mỏi cũng đành buông cương. 
 
2. 
Khi về hồn gió muôn phương 
Kèn vang lỗi nhịp loạn phường bát âm 
Tử sinh vượt cửa phù trầm 
Đời sau còn nợ kiếp tằm sầu riêng. 
 
3. 
Khi về khai ấn đền thiêng 
Bánh xe lịch sử cuốn nghiền nát thân 
Đi qua gió lốc bụi trần 
Áo phơi dấu cỏ ngại ngần biển dâu. 
 
4. 
Khi về trôi giấc chiêm bao 
Bướm xưa vườn cũ cỏ nhàu vết đau 
Chiều tàn bóng ngả ca dao 
Nhớ ai cởi áo qua cầu nước xuôi. 
 
5. 
Khi về biến dạng mặt người 
Soi gương chợt nhớ mấy lời cổ thi 
Gieo câu lục bát lỡ thì 
Bước chân sỏi đá khắc ghi lời nguyền. 
 
6. 
Khi về lạc dấu đào nguyên 
Đầu non cửa động lụy phiền thế gian 
Non cao suối biếc thông ngàn 
Tìm đâu dã hạc bay ngang bụi lầm. 
 
7. 
Khi về gieo hạt từ tâm 
Hoa vô ưu nở hương trầm quẩn quanh 
Tóc người thuở ấy còn xanh 
Sông dài biển rộng thôi đành phai hương. 
 
8. 
Khi về tóc nhuộm tà dương 
Vàng câu kinh tự vô thường quán không 
Sóng xô gò nổi bận lòng 
Vô ngôn còn chút bụi hồng trong mơ. 
 
9. 
Khi về khuấy nước ngũ hồ 
Mái chèo khua động bãi bờ trường giang 
Từ đây hạc nội mây ngàn 
Ngày sau bến nước lụa vàng ai giăng. 
 
10. 
Khi về thắp một nén nhang 
Rót trên mộ bạn rượu tràn lạnh môi 
Hắt hiu vài hạt nắng rơi 
Chim bên khóm trúc lẻ loi gọi người. 
 
11. 
Khi về nhìn ánh trăng soi 
Bước chân vô định buông lời vô tâm 
Áo xưa còn thoảng hương trầm 
Ngựa qua quan ải lặng thầm đêm bon. 
 
12. 
Khi về mây trắng đầu non 
Tóc xanh lấm tấm gối mòn đã xiêu 
Gót giầy gõ bóng tịch liêu 
Trăm năm thơm mãi ít nhiều cỏ hoa. 
 
                             Nguyễn An Bình
                                  28/9/2020 

READ MORE - ĐỌC “MÂY TRẮNG ĐẦU NON”, THƠ NGUYỄN AN BÌNH - Châu Thạch

Thursday, September 15, 2022

TRÊN GIƯỜNG BỆNH NHỚ NGÀY TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỖ TƯ NGHĨA (16/9/2022) TẠI ĐÀ LẠT - Đoàn Đức.

 
Vợ chồng Đức-Nhàn ghé thăm Đỗ Tư Nghĩa 
(ngày 10/3/2021 tại Đà Lạt)
 

Thân gởi Mylly con gái yêu của Nghĩa!
 
Rồi 10/3/2021 Chú Thím hẹn Bs Seiko đến thăm ba cháu.
Khi ba cháu muốn tựa đầu vào ngực chú. Chú nhớ đến các bạn đồng song với ba cháu, nên viết vài dòng kèm ảnh gởi cho họ.
 
Nghĩa ơi! Còn đâu màu cỏ úa. Con đường xưa chúng ta đi. Ngày hai buổi đến trường. Bảy năm ròng cùng lớp. Trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị thuở thơ ngây.
 
Rồi ngày hạ hết cấp. Khi đậu xong Tú Tài toàn phần. Minh, Thắng, Nghĩa ba đứa cùng vào Đà Nẵng, ghé bãi biển Nam Ô. Bên bờ đá sóng vỗ. Chụp lại tuổi thanh xuân. Khuôn mặt ngời rạng rỡ. Một thời trai hoài bảo.
 
Rồi đến tình Văn Khoa Đại Học. Những giờ nghe giảng triết. Nghĩa, Hạnh, Minh cùng Tuấn. Bên bóng hồng Như Ngân. Nghĩ cuộc đời thơ mộng. Hiện sinh cùng hiện tại giữa cõi đời này. Đó là phút huy hoàng vô hạn. Bốn năm rồi cũng hết. Chia tay dù không nói. Lẳng lặng chỉ nhìn nhau. Trời mai đầy ước hẹn. Sá gì chút bận lòng.
 
Cánh chim bay tung cánh bạt ngàn.
Ai ngờ con chim nhỏ về đậu. Bảo Lộc khuất sương mù.
Cầm phấn vẽ cuộc đời.
Vòng đầu hay vòng cuối.
Tận cùng hay khởi điểm?
Hữu thể và hư vô.
Hãy hỏi Heidegger mà Nghĩa học.
 
Nay lên thăm bạn. Trên chiếc giường hiu quạnh. Bạn đang tìm hình bóng cũ. Bóng người hay bóng ta. Trong trí nhớ mịt mù. Tìm đâu tìm làm chi?
 
Nay nghe đời réo gọi. Tìm giấc ngủ thần tiên. Ai rồi cũng một lần ra đi một mình. Ra đi là hết rồi. Nghĩa ơi biết còn nhớ hay quên! Nghĩa ơi trên giường bệnh, đầu muốn tựa vai Đức. Như níu kéo thuở ngày xưa. Thắng, Minh, Hạnh ơi! Nghiêng vai cho Nghĩa tựa một lần, lần đầu cũng là lần cuối.
 
Đức viết hộ cho cả 5 đứa:
 
Dù cho lửa tắt hương nồng,
Đài hoa héo nụ đừng buồn bạn ơi.
Xa nhau đưa tiên một lời,
Quan san nẻo ý như ngồi bên nhau,
Rời đi không nắm được tay,
Không lời giã biệt, chỉ hàng lệ mau.
Sá gì một cuộc thiên thu,
Ngàn sau tái ngộ biết còn hay không.
                                                                                 
Đoàn Đức                                                                
Thứ Tư, 14/9/2022


READ MORE - TRÊN GIƯỜNG BỆNH NHỚ NGÀY TIỂU TƯỜNG CỦA ĐỖ TƯ NGHĨA (16/9/2022) TẠI ĐÀ LẠT - Đoàn Đức.

MÙA THU CỦA MẸ - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

 

Nhà thơ Nguyễn Đại Duẫn



MÙA THU CỦA MẸ


Mẹ đi tìm mùa thu

Hoàng hôn đậu trên vai

Mẹ nhặt từng hạt nắng cuối ngày

Gom vào gùi ngô, đãy lúa

Bóng mẹ xa dần

Những bước chân đi qua bóng đêm


Mẹ đi tìm mùa thu

Ánh mắt mẹ bừng lên trong sớm mai

Mẹ cõng nụ cười về cho cha

Bộ quân phục cha tìm về ký ức người lính


Mẹ đi tìm mùa thu

Phảng phất hương trầm cay cay lòng mẹ

Nơi anh ngã xuống giữa đại ngàn Trường Sơn

Sau cuộc chiến

Mẹ mòn mỏi đợi chờ


Mùa thu của mẹ

Là chiếc bóng hao gầy năm tháng

Thổn thức bên cha

Vết thương chiến tranh đang còn nhức nhối

Là dòng nước mắt nhạt nhòa

Bên nấm mồ thương anh lỡ hẹn


Một sớm mai

Mẹ nhìn vào khoảng trời xanh

Mùa thu

Mùa thu của mẹ

Tình yêu đằng đẵng tháng năm…



Nguyễn Đại Duẫn 

Hội viên Hội VHNT Quảng Bình






READ MORE - MÙA THU CỦA MẸ - Thơ Nguyễn Đại Duẫn

PHƠI RƠM | LÁ THUỘC BÀI | GIẬT MÌNH - Chùm thơ Vũ Hùng

 

 Nhà thơ Vũ Hùng


PHƠI RƠM


Mưa rơi ròng rã mấy ngày

Đống rơm ẩm ướt khói bay la đà

Sáng nay nắng ghé sân nhà

Bung rơm phơi kín đường ra, lối vào.

Luôn tay rơm trở bồ cào

Nắng tinh nghịch lắm lộn nhào cùng rơm

Vườn nhà rau quả ngon thơm

Chút phân rơm rạ sớm hôm gieo trồng.

Rơm khô cào lại từng vồng

Bâng khuâng cái thuở tuổi hồng ngày xa.

Phơi rơm gặp phải mưa sa

Giậu bên Nẫu vội chui qua giúp liền

Phơi rơm thơm mãi chút duyên

Phơi rơm còn đó lời nguyền khó phai!

Bình Định,14.8.2022

Vũ Hùng

 

LÁ THUỘC BÀI*


Nồm lên vườn tược lao xao

Loay hoay cắt nốt  bờ rào, nắng phai

Um tùm dây quấn rối nài

Mỏng manh chùm lá thuộc bài đẹp ghê

Nhớ thời lười học u mê

Lằn roi ngang dọc chẳng hề đổi thay!

Bên rào em xức dầu cay

Mà lòng em rát mặt mày buồn xo

Thuộc bài mấy lá em cho

Ép vào trang vở thơm tho tháng ngày

Từ khi ép lá thiệt hay

Cửu chương, thường thức thuộc ngay ở trường

Nắng phai chiều xuống sân vườn

Cộm lên bao nỗi nhớ thương nghẹn ngào

Vào thăm  bệnh viện xanh xao

Cũng là lần cuối em vào thiên thu.

Gò xa lạnh lẽo mây mù

Khói hương nấm mộ thâm u lạ thường

Trường quê lủi thủi bên đường

Không ai ôm vở trèo tường hái me

Không ai mang áo tơi che

Những chiều mưa lạnh sắt se tứ bề...

Tay cầm chiếc lá vân vê

Mà nghe trong dạ tái tê nỗi niềm!

Bình Định, 26.7.2022

Vũ Hùng

* Lá xương xỉ.

 

GIẬT MÌNH 


Nhọc nhằn với chiếc Vision

Cà tang cà giật chập chờn hổm nay

Muốn đi đâu đó lo thay

Ngả năm, vòng xuyến...rủi may khó lường 

Dắt xe lên hãng dọc đường 

Đưa tay sờ túi tiền lương cạn rồi.

Chờ xe sửa chữa tạm ngồi

Một ly trà mát hãng mời thiệt ngon

Tiếng xe bất chợt nổ giòn 

Mồ hôi lấm tấm hóa đơn giật mình!

Bình Định,16.06.2022

Vũ Hùng

 


READ MORE - PHƠI RƠM | LÁ THUỘC BÀI | GIẬT MÌNH - Chùm thơ Vũ Hùng

Wednesday, September 14, 2022

ĐẾN KHI NÀO MỞ MẮT - Thơ Khaly Chàm




 
đến khi nào mở mắt
 
những điều ta cần suy tưởng khi im lặng
chưa hẳn những gì linh hoạt đã hiện trong não trạng 
hồi ức chỉ là màu xám tro nhưng luôn kì vĩ
bản ngã sinh thành sự thăng hoa trắng trong mắt thong manh
 
cuộc tình hôn phối nào không rực rỡ những đôi cánh
hãy tự nhiên thở là tất yếu cho dù ta đang hổn hển
ấu trùng lung linh giấc mơ người trôi tuột dần khỏi đường biên khoái cảm
cái chết thật nhẹ nhàng chẳng cần đánh thức một ngụ ý nào cả
 
ánh sáng không ngừng tạo dụ ngôn dành cho thời gian
hãy suy niệm thập tự thân mình niềm đau nhói sáng
đừng hoang tưởng rằng ta đang ngụ cư nơi miền linh ẩn
cũng chỉ là cát bụi ngủ yên dưới chân cỏ dại bạt ngàn
ngã mạn được sao đến khi nào mở mắt
 
Khaly Chàm
tptayninh 9/2022

READ MORE - ĐẾN KHI NÀO MỞ MẮT - Thơ Khaly Chàm

Monday, September 12, 2022

“TUYỂN THƠ TÌNH NGƯỜI” RA ĐỜI, MỘT SỰ KIỆN VĂN HỌC - Châu Thạch



 Tháng 9-2022, “Tuyển Thơ Tình Người” do nhà thơ Lê Quý Long chủ biên ra đời có thể xem như là một sự kiện văn học. 
 
“Tuyển Thơ Tình Người” được xẹm như một sự kiện văn học bởi vì nó tập trung 107 tác giả trong và ngoài nước, trong đó có những tác giả nổi danh trên thi đàn đã lâu và những tác giả mới xuất hiện. Họ đứng chung với nhau trong một tuyển tập thơ như một sự hòa hợp tuyệt vời trong ngôi nhà văn học. Sách được ra mắt tại Sài Gòn, Đà Nẵng và Hà Nội với số lượng lớn, chỉ tặng không bán.
 
Lê Quý Long là một nhà thơ được mến mộ, có thể nói một nhà đạo đức hay một triết gia khi ông xuất bản quyển sách “Con Đường Tình Người” để cổ súy cho đạo tình người. Đạo tình người không phải là một tôn giáo có hệ thống giáo lý , tín điều. Đạo tình người không điều răn và không ràng buộc ai bất cứ điều gì. Đạo tình người chỉ là sự tôn vinh tình người phổ quát theo “định hướng tốt đẹp”, với “giải pháp hiệp nhất” hầu đưa đến “kiến tạo hòa bình và hạnh phúc” mà thôi.
 
Nhà thơ Lê Quý Long quan niệm “Cổ vũ tình người là việc làm từ thiện” nên cụm từ nầy được đăng ngay ở phía sau trang bìa của tuyển tập. Có lẽ vì quạn niệm như thế nên nhà thơ đã quy tụ 107 tác giả với  mục địch cổ động “những ý nghĩ những lời nói…thắp sáng tinh thần tình người, những bài thơ, những câu văn…chuyển tải tinh thần tình người, là một loại thần dược, chữa trị bệnh hận thù, tẩy sạch được giao tranh, cần phát huy nhiều hơn nữa, mở rộng khắp nơi, để mọi người sớm ý thức, chung tay xây dựng một xã hội lành mạnh. ấm no…trong bầu không khí thanh bình” như ông đã viết trong phần kết luận của bài “Lời Thưa” đăng trên trang đầu của tuyển tập.
 
Tình người trong Thiên Chúa dạy là tình yêu tha nhân. Thiên Chúa chính là tình yêu nên Ngài dạy con người phải yêu con người như Thiên Chúa đã yêu họ. Bởi vậy tình người chính là luật pháp của nước Trời được Thiên Chúa khải thị vào tâm hồn con người để biết và làm theo.
 
Trong đạo Phật, tình người chính là từ bi hỹ xã. Từ là lòng lành giúp ích cho người, bi là lòng thương xót, hỷ là vui cho mình và cho người, xả là bỏ đi không ghi giữ trong lòng. Bốn đức tính nầy được gọi là “Tứ vô lượng tâm” là tâm luôn sẵn sàng mang lợi ích cho tất cả mọi người.
 
Biết như thế, dầu chưa đọc “Tuyển Thơ Tình Người” ta cũng đoán định được thơ trong tuyển tập nầy hướng đến một lý tưởng tốt đẹp, trường tồn như bài thơ của người biên tập Lê Quý Long đăng ở trang cuối:
 
Tình Người, đại sự, mãi dài lâu
Đâu phải dấy lên, chỉ buổi đầu
Mong bậc cầm quyền thương kẻ khổ
Ước hàng chức sắc thấu người đau
Không vì quyền lực, chia ly bạn
Chẳng tại lợi danh, xa cách nhau      
Nhân loại mãi tìm đường hạnh phúc?      
Tình người, đường ấy, khỏi tìm đâu.
       (Tình Người Mãi Trường Tồn)
 
 Bài thơ vạch cho chúng ta một con dường duy nhất và vĩnh hằng để đi đến hạnh phúc là TÌNH NGƯỜI. Con đường ấy  Trời Phật đã chỉ cho nhân loại ngàn năm rồi nhưng nhân loại còn “mãi đi tìm hạnh phúc” trên con đường lạc lối. Bây giờ “Tuyển Thơ Tình Người” ra đời, nhà thơ Lê Quý Long và 107 tác giả lấy bút làm thơ, như một nghĩa cử cổ vũ cho Tình Người, hầu thực hiện được phần nào lý tưởng đem hạnh phúc an vui cho chính mình và cho xã hội mà mình đang sống. 
 
Tuyển thơ có 264 trang với rất nhiều bài thơ được tuyển chọn. Người viết nghĩ không cần trích thơ của tác giả nào ra đây, bởi vì một vài khổ thơ không thể nói hết sự lung linh của một nguồn trong trẻo vô biên mà Lê Quý Long đem dâng hiến cho đời. Ước mong rằng nhiều người sẽ có hạnh phúc bước chân vào khu rừng có tên “Tuyển Thơ Tình Người”, chiêm ngưỡng được nhiều cây đại thụ và nhũng loài hoa lá ngát hương để cảm nhận được sự thanh cao êm dịu của thơ lan tỏa trong hồn.
                                                                                                               
Châu Thạch

READ MORE - “TUYỂN THƠ TÌNH NGƯỜI” RA ĐỜI, MỘT SỰ KIỆN VĂN HỌC - Châu Thạch

Sunday, September 11, 2022

NẾU KHÔNG CÓ TÌNH YÊU - Thơ Quách như Nguyệt - Nhạc Nguyễn Dũng - Ca sĩ Ngọc Mỹ



Nếu không có tình yêu

Nếu không có tình yêu, em thà thành tượng đá
Tim xi măng hứng mưa gió sương mù
Đứng giữa trời chẳng cần che dù lộng
Giương mắt nhìn đời bận đuổi bắt mộng mơ

Không có anh, em muốn thành hoa dại
Mọc ven đường chờ ánh nắng bình minh
Lũ ong bướm em chẳng màng chẳng ngại
Dễ sống còn, kiêu hãnh một mình em

Nếu không có tình yêu, thà thành loài cọp trắng
Sống độc đơn, săn mồi dưới ánh trăng

Chúa sơn lâm em một mình một cõi
Chẳng cần ai vẫn sống ở trên đời

Nếu không có tình yêu, chẳng thà thành tượng đá
Nếu không có tình yêu, 
chẳng thà thành hoa dại
Nếu không có tình yêu, 
chẳng thà thành cọp trắng
Nếu không có tình yêu, em chẳng muốn làm người

Nếu không có tình yêu đời sẽ buồn biết mấy
Thiếu nụ cười, thiếu ánh mắt, thiếu môi hôn


Quách như Nguyệt

 

READ MORE - NẾU KHÔNG CÓ TÌNH YÊU - Thơ Quách như Nguyệt - Nhạc Nguyễn Dũng - Ca sĩ Ngọc Mỹ

TIẾNG CHIM BÊN ĐƯỜNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Tiếng chim bên đường


Chim cút kêu nhịp đôi bên kia đồi

Nghe sâu lắng, xa xôi trong chiều xuống

Vạt mây xám cuối chân trời xoáy cuộn

Con suối nhỏ, hồn nhiên mãi miết trôi

                       *

Trời se lạnh, hoàng hôn nắng lưa thưa

Đường lên rẫy ngược dòng suối cạn

Buông thả mái tóc dài chểnh mảng

Đâu mất rồi, một dáng vẽ ngày xưa

                       *

Chập chờn rơi, rối lẫn nét thu không

Chiều mắc cạn bên nhánh đời sáng tối

Buổi tàn ngày, sao em không bước vội 

Mà nhẩn nha, trong gờn gợn sóng lòng

                      *

Ngọn bấc cầu tài, vụng về mơn man

Hàng lau lô xô, dập dờn đánh võng

Bao năm tháng, nét xuân thì khê đọng

Bạc phếch thời gian, đổ xuống phủ phàng

                        *

 Rối bước chân, em chầm chậm lối về

Tiếng chim cút bên đồi, kêu khắc khoải

Như nhắn gửi một điều gì muốn nói

Vạt nắng hanh vàng, xao động đam mê …



Bạn cũ


Bạn mới quen 

Không 

Bạn cũ rồi

Quen 

Từ thuở 

Đôi mươi mười tám

Ngày xưa muốn ngỏ 

Mà 

Không dám

Để bây giờ 

Nhìn 

Trẻ con cười

Không thôi

                                                9/86


Đợi mưa


Suối sâu, khô hạn, khát dòng

Nhấp nhô phơi đáy, đá lồng bóng cây

Liêu xiêu dáng mẹ hao gầy

Dang tay che nắng, đợi ngày mưa rơi ...

Nhặt thưa mắt võng xuống đời

Sống trong lặng lẽ, kệ người đua tranh

Trời đành hanh, nắng đành hanh

Nắng khô cong cả một vành nón tơi

Biết là thấu tận lẽ đời

Mới hay trời cũng lệch thời nắng mưa

Ong ong nắng đổ sẩm trưa

Lúa khô, đang đợi cơn mưa tháng mười



Đường em qua, thấp thỏm một lối về

 

Con đường cũ, cỏ vẫn non tơ vụng dại

Như còn nguyên đó, một vùng hương mùa con gái


Rối rít chiều buông, khỏa lấp những đam mê

Tuổi xuân chín và cuộc người đằm trãi

Chợt vấp phải hoàng hôn, rơi ký ức bộn bề…




Sau tất cả, ngày mai sẽ là ngày mới


Sao em còn ngồi định giá giấc mơ

Tìm “lấy cái rêu phong làm đồ trang sức”

 

Năm tháng chìm trôi ký ức mập mờ

Bao hy vọng còn lẫn trong ngờ vực

May mắn cuộc đời này là “trong nguy luôn có cơ”…


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận

thanhhungmtbb@yahoo.com.vn


READ MORE - TIẾNG CHIM BÊN ĐƯỜNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

BÔNG BỤP CUỐI MÙA - Chùm ảnh Chu Vương Miện

 










READ MORE - BÔNG BỤP CUỐI MÙA - Chùm ảnh Chu Vương Miện