Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, April 27, 2022

TÌNH HUẾ, TRONG HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ – Đỗ Tư Nhơn


Nhà giáo - nhà thơ Trần Thương Bá
(1940- 2002)
 
I. Lời trao gởi tin yêu.
 
Nhà thơ Trần Thương Bá quê ở Huế, đã có thời gian dạy Việt văn tại trường trung học Nguyễn Hòang Quảng Trị (1964-1969). Anh đã để lại những tình cảm sâu đậm và thân quí trong lòng học trò thuở ấy. Thời gian chập chùng, cuộc đời dâu bể, kiếp người nổi trôi…
 
Sau 1975, tôi được tin anh đang ở Sài Gòn nhưng chưa có cơ duyên gặp gỡ. Bỗng một hôm vào tháng tư 2002 tôi nhận được bưu phẩm cùng dòng thư ngắn gọn nhưng đầy tin yêu của anh: “Bấy lâu nay liên lạc với Đỗ Tư Nghĩa tôi vẫn thường có tin về anh chị. Chưa quen nhưng tôi nghe tiếng anh từ lâu vẫn mong có ngày gặp nhau chuyện trò thỏa thích. Tự nhiên tôi thấy thân với  anh như đã từng thân thiết và thương mến Nghĩa. Nghe anh Bảo nói đi Quảng Trị về . Có tin anh và cả địa chỉ. Tôi xin gởi biếu anh mấy quyển sách anh chị đọc cho vui .Vài dòng vắn tắt thăm anh chị trước đã. Sau có thư dài hơn. Thân ái. Trần Thương Bá”
 
Rất đỗi xúc động trước tấm lòng và tin yêu của anh, tôi đã hồi âm cám ơn anh và ghi những cảm nhận ban đầu về thơ anh. Nhưng hỡi ơi! Lỡ hẹn cuộc tao phùng tri ngộ, anh đã sớm về cõi vĩnh hằng như lời nguyện ước cùng người vợ yêu dấu lúc chị giã từ cõi tạm mười một năm trước, anh đã viết trong bài thơ LỜI NGUYỀN:
 
“Thôi chẳng còn bao lâu, Ta với em làm một . Nâng niu bình tro cốt, Em đã bỏ ta đâu?”
 
Tinh đến nay, 2010 anh Trần Thương Bá đã đi xa đồng nghiệp và học trò đúng tám năm. Thế nhưng những bài thơ của anh, các bài viết về anh vẫn hiện diện trên HƯƠNG QUÊ NHÀ ,Trường NGUYỄN HOÀNG - Chân dung và kỷ niệm ra đều đặn mỗi mùa Xuân, mỗi mùa Thu là hai mùa gợi nhiều cảm hưng sáng tác cho nhà thơ. Thế thôi, người đi xa đã xa, cuộc hẹn không thành, nhưng tôi đón nhận lòng tin yêu chân tình cùng ba tập thơ anh gởi tặng lẽ nào không tỏ bày đôi niềm giao cảm với anh. Xin thắp nén hương tương nhớ trong ngay Xuân này. Cùng đọc lại tập thơ đầu tiên của TTB, tập thơ TÌNH HUỂ, do nhà xuất bản TRẺ ấn hành vào năm 1995.
 
II.Tình Huế trong hành trình thơ Trần Thương Bá
 
Gần nửa thế kỷ làm thơ, TTB đã để lại những tập thơ bằng tiếng Việt và tiếng Pháp:
-Tình Huế 1995. NXB Trẻ.
-La Poesie candide. 1996. NXB Trẻ
-Vô Ngôn Kinh.1996 và một số tập thơ bằng tiếng Pháp chưa xuất bản, thơ phổ nhạc, thơ đăng trên báo Le Courrier du VN, Bulletin de Liaison du CREFAP.
 
Tình Huế  là tập thơ đầu của Trần Thương Bá được sáng tác từ 1959-1993, có 46 bài mang âm hưởng trữ tình Thơ Mới. Về thể loại, anh thích dùng lục bát (20bài), thơ 7 chữ (15bài), thơ 5 chữ (10 bài), thơ 8 chữ (1bài). Cả tập Tình  Huế chia ra 2 phần: Phần một có tựa đề là: Tình Huế (59-69) gồm những bài được làm với cảm hứng về quê nhà, kỷ niệm, tình yêu trong thời gian anh dạy trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị.
 
Phần hai là: Xin cho quên lãng (90-93) là tiếng khóc và khúc kinh cầu hồn người vợ yêu dấu.
 
1) Tình Huế trước tiên là tiếng tơ lòng của nhà thơ rung lên từ cảnh vật thiên nhiên, xóm làng quê hương của miền đất Thừa thiên - Huế. Cái hồn quê bàng bạc trong từng câu thơ khi bước chân chàng phiêu lãng đó đây. Vì thế Trần Thương Bá tha thiết gọi tên từ những bến bờ cồn đập cầu cống như để vơi đi nỗi nhớ thương chất ngất:
 
- “Nhiều khi nhớ mà không người để nhắn/ Một lời thôi, qua đó bến Bao Vinh”.
 - Gió bao la, sóng vỗ ngã ba Sình/ Qua cồn Hến, ngược đò lên Đập Đá”.
                                                       (Nhà tôi).
 
Chúng ta đọc được cả dư địa chí vùng đất thần kinh từ Dương Nỗ, chợ Dinh, chợ Nọ… đến đò Thừa Phủ, cầu Bạch Hổ, hồ Tịnh Tâm. . .
 
Không gian thơ Trần Thương Bá được gợi lại qua hồi ức về chốn cũ, một bờ giếng rêu xanh, một mái nhà:
 
- “Bờ giếng rêu xanh ở cuối làng
Người về còn tiếng dậy xôn xang”
                             (Về chốn xưa)
 
- “Nhà tôi đó núp sau vùng cây lá /Đủ rêu phong cho cả một đời người.”
                                                    (Nhà tôi)
 
Một điều đáng ghi nhận nữa là tình Trần Thương Bá vừa trải rộng vừa lắng sâu ôm chặt trong từng bài thơ. Chàng thân thiết ghi lời đề tặng từng người đồng cảm tri âm sau mỗi bài thơ như muốn cùng sẻ chia hương vị cuộc sống, đánh dấu một kỷ niệm buồn vui, hay tâm trạng cô đơn.Có 20 bài trong 27 bài gởi về mỗi đối tượng yêu thương, khi thì tặng các em gái Thu Tâm, Như Mỹ, lúc thì những cô bạn nữ xinh đẹp một thời, kế đến là học trò trường Nguyễn Hoàng – Quảng Trị, các soeurs dòng Kim Đôi...
 
Trong giọng điệu lục bát du dương, anh thổi vào đó chút phiêu bồng, nức nở, nhớ nhung của tuổi xuân thì để tặng  em gái Thu Tâm, Như Mỹ, luôn hiểu cảnh ngộ và nội tâm người anh trai:
 
- “Chợt thương từ buổi chia xa/ Chợt nghe nức nỡ người ra cõi ngoài. Em về xếp áo phôi phai, Chân không giẫm đất cho chai tháng ngày. Xuân nào đậu cánh hoa mai,Tóc em để rối cho dài mùa đông.
                                           (Tóc em để rối)
 
Cảm động nhất là lúc cả nhà chịu tang người mẹ kính yêu, những em gái anh khóc than không dứt thì Trần Thương Bá lặng lẽ ra gốc khế mẹ đã trồng ở vườn sau để nước mắt lặn vào bên trong, anh nói với chiều, với cây, với hoa khế tím rụng trên mặt đất:
 
 - “Chiều ơi chiều vẫn bên sông,Cây ơi, cây vẫn cúi trông bóng mình.Vườn sau hoa khế rung rinh,Tím rơi mặt đất lung linh giọt sầu”
                                  (Cúi trông bóng mình)
 
Trong giấc mơ của anh, mẹ về cùng các con mỗi đêm đông lạnh như để ấp ủ từng đứa con côi cút.
 
- “Kể từ mẹ thoát cõi không, Bước chân êm cứ đêm đông trở về.”
                                  (Cúi trông bóng mình)
 
Bài thơ KHÔNG ĐỀ viết tặng cô Nhụ Hương và anh Lê –Đ-Hải đã ghi lại vẻ đẹp tâm hồn về những giăng mắc vấn vương thời áo trắng giữa hai bờ tương tư Đồng Khánh - Quốc Học:
 
- “Chao ơi, bến đợi sông chờ, Thu đi áo tím hững hờ giòng Hương. Chàng về khép một trời thương, Áo xanh chàng khoác ra đường đón ai”
 
Những tháng ngày thơ mộng đó làm sao quên được, bởi cõi thần tiên rất gần gũi trên từng bước chân thư sinh mang hồn tinh khôi: “Cuộc tình đã mấy hôm mai, Thiên đường mút mắt cho dài bước chân”
 
Qua thơ, chúng ta hiểu được thế giới nội tâm Trần Thương Bá vô cùng phong phú, lòng yêu đời hồn hậu, niềm khát khao pha lẫn xót xa vi biết bao nghịch lý ngăn cách.
 
- “Vẫn khung trời ấy khung trời Huế, Vẫn tấm lòng xưa, lòng khát khao.
- Một mai ta về qua vườn cũ, Cúc đã vàng hoa quanh lối đi.”
                                    (Đong đưa ngày tháng)
- “Môi khô muốn thốt lời vàng đá, Nghe xót xa long nên lại thôi.”
                                            (Xót xa lòng)
 
Trong thời gian anh dạy học ở trường Nguyễn Hoàng Quảng Trị, anh đã làm nhiều bài thơ cho những người học trò thân thiết mến yêu.Thầy Trần Thương Bá đã mượn tác phẩm Chinh phụ ngâm khúcCa dao để gởi gắm nỗi niềm sâu kín của mình .Bài thơ “Chinh phụ và tôi 1”  đựơc sáng tác vào khoảng 1964 -1965 đề ; Tặng các em: Đỗ Tư Nghĩa, Đoàn Đức, Lê Quí Phi  vừa để cảm thông với chinh phụ đồng thời như thổi cả hồn ngươi thầy lãng mạn đa cảm vào thơ...
 
“Xanh kia thăm thẳm từng trên, Vì ai gây dựng cho nên nỗi này?”
“Tường đông bắc gió heo may, Đã về đem nửa hồn này qua sông.
 
“Lần theo vó ngựa chập chùng, Trong cơn mê tưởng đến vùng Liêu Tây.
“Hoàng anh ra rả đem chầy, Đong thương đếm nhớ cho đầy lầu trai”
 
Đền bai thơ “Chinh phụ và tôi 2” viết tặng cô học trò Lê Thị Vân thì lơi thơ đã thấm thía nỗi buồn chia li của đôi lứa thời binh lửa, nhà thơ đang nói hộ cho ngươi hay tự bộc lộ mình..? Còn bài “ca dao; Trông”, đề tặng Đoàn Đức và Ng. Trinh giọng điệu nhớ thương chất ngất gieo vào tâm hồn trẻ biết bao rung cảm mộng mơ của tuổi mới lớn.
 
“Anh về mau kẻo em mong, Dang tay bức ngọn tơ hồng chia hai.
“Hàng rào em xén hôm mai, Tơ hồng em thả cho dài nhớ thương.
“Con chim sáo hót đầu vườn, Con cu mãi gáy bên tường mãi thôi.”
 
Cuối cùng thầy giáo, nhà thơ Trần Thương Bá đã tự vỗ về mình bằng lời ru dịu dàng thủ thỉ giữa bể dâu của phận người như một liệu pháp tâm lí nhằm cứu chữa căn bệnh tương tư, thất tình:
 
“Chim ơi, mỏi cánh bay về, Ta ơi, hãy ngủ bên lề bể dâu.
“Nhẹ tay hái trái tim sầu, Bước qua cõi mộng, mặc dầu nhớ thương”
                                             (Bên lề bể dâu)
 
2) Xin cho quên lãng (1990-1993)
 
Phần này gồm có 19 bài thơ, một ngôi đền với hương trầm tưởng niệm người yêu, người vợ hiền đã đi về cõi khác.
 
Bài thơ mở đầu phần 2 có nhan đề “BÀI ĐẦU CHO NGỌC”, anh viết bằng tiếng Pháp, đề tặng N. T. Ngọc và cô M. Piat nguyên giáo sư ĐH HUỀ năm 1960 -1961, sau đó anh dịch ra Việt ngữ trong thể thất ngôn tứ tuyệt giàu khả năng khơi gợi:
 
“Ngày cuối thu đi đã nửa chiều,
Mây rừng tìm lại bến đìu hiu.
Hồn hoang ta trở về yên ngủ
Trong mắt em buồn mây hắt hiu.”
 
Giờ đây đọc lại bài thơ trên chúng ta nhận thấy hình như anh đã có linh cảm buồn về cuộc tình ngay tự buổi đầu gặp gỡ. Chính trực giác mang tính bi kịch đã tạo ra giọng điệu lặng lẽ, ngôn từ, hình ảnh đều được lựa chọn trong cùng một trương nghĩa, điệp trùng chồng chất...  “cuối thu,  nửa chiều, đìu hiu, hồn hoang, mắt em buồn, mây hắt hiu”. Dường như anh đã dựng lên một thiên đường giữa cõi thế quạnh quẽ gợi lên sự chia lìa mất mát. Những câu thơ Trần Thương Bá tưởng chừng như bị nén chặt nên ẩn chứa nhiều ý nghĩa. Câu thơ đầu không chỉ là cách tính thời gian bình thường. Mùa thu là qua đi hai phần ba của năm. Cuối thu, ngày cuối thu đi đã nửa chiều. Câu thơ đột nhiên càng tạo nên ám ảnh sự chóng vánh sắp qua sắp mất hút vào hư vô.
 

Theo lời kể của chị Thu Tâm, em gái gần gũi và sẻ chia với anh thật sâu sắc mối tình giữa anh và chị Ngọc. Họ gặp nhau, yêu mến nơi không gian thơm tho mùi chữ nghĩa nhân văn của ĐH HUẾ. Anh chị đã kết dệt một tình yêu bền bỉ thuỷ chung đằm thắm mươi năm trời dù nhiều khi xa nhau hàng ngàn cây số. Mãi đến khi có sự gợi ý của gia đình anh mới dẫn chị về trong cuộc đời chung. Và nụ hoa hạnh phúc đã nở trong căn vườn tình của anh Bá chị Ngọc, cháu Ngọc Hợp chào đời góp tiếng cười trong trẻo làm nên giai điệu hạnh phúc thương yêu mới mẻ và tinh khôi. Ba trái tim là nhịp đập cả nhà.” Rồi một biến cố đau thương ập đến, tức tưởi, xót xa không thể nào kể xiết, chị đột ngột đi về cõi xa xăm, bỏ lại anh và cô con gái yêu. Với anh đây là lần mất Mẹ thứ hai trong đời. Những câu thơ của Trần Thương Bá từ đây như lửa đốt như uất nghẹn.
 
“Em đi, em đi vội, Mà không kịp trối trăn.
“Lạnh lùng và đêm tối, Hận này đành cắn răng” 
                                           (Từng cơn mê)
“Ba trái tim là nhịp đập cả nhà, Em mang hết vào cõi trời vô tận”
''Còn lại đây phần đời lận đận, Hai cha con ngơ ngác dắt nhau”
                                      (Hai trái tim còn lại)

Bài thơ Chiều qua nghĩa trang Bình Hoà anh viết tròn một năm chị mất vẫn chưa chút nguôi ngoai, nghe thê thiết bi ai, hai cõi âm dương như không có ngăn chia, gần lắm, như gặp lại linh hồn đang cùng run rẫy xúc động.
 
“Hồn em lên trên đó,Cứ ngỡ như hôm qua.
“Anh và con đứng ngó, Tay run rẩy cành hoa”
 
“Tim này bao tội lỗi, Thương tích cả cuộc đời.
“Giá băng và đêm tối, Xin giành hết cho tôi”
 
Niềm đau nhức, nỗi oán hận không dứt dày vò trái tim nhà thơ khi nghĩ về sự mất mát lớn lao đó. Anh chỉ còn nguyện cầu mãi mãi đi tìm người vợ yêu giữa cõi mênh mông rộng lớn.
 
“Xin cho trút hết lệ này, Xin cho nuốt hết hận này vào tim”
Xin cho theo dấu chân nàng, Tam thiên thế giới bàng hoàng mông mênh”
                                       (Nuốt hận vào tim)
 
Cũng có lúc anh đối thoại nhỏ nhẹ, khuyên lơn người quá cố hãy luôn ở gần cha con anh như đã từng vỗ về mỗi khi giận hờn.
 
“Ngoan nhé đừng đi xa, Hãy quanh quất ở nhà.
“Khói hương và lời nguyện, Mỗi ngày một thiết tha”
                                           (Lời nguyện)
 
Từ đau thương dằng dặc anh đã đi vào suy niệm về biết bao ân huệ mà cuộc đời và tình yêu đã trao tặng anh, không có gì trả được, bài thơ Ơn Em là lời giãi bày như một tổng kết như một tri ân.
 
“Ta ơn đời một nửa, Còn một nửa ơn em.
“Giờ này tim còn lửa, Mà ta đã xa em”
“Em đến làm cơn lốc, Em đi chợt mùa đông.
“Tiễn em ta không khóc, Mà nước mắt lưng tròng”
 
Tình yêu tha thiết sâu sắc có khả năng bất tử hoá hình ảnh người mình yêu, đã thăng hoa cho các bộ môn nghệ thuật, để lại cho thế giới nhưng tác phẩm bất hủ ngợi ca vẻ đẹp tuyêt trần của nhan sắc và tâm hồn phụ nữ. Nhà thơ Trần Thương Bá cũng đi về miền sáng tạo ấy khi tạc tượng vợ hiền yêu dấu giữa thiên nhiên đất trời,như thánh thần cao cả, như nàng tiên diệu vợi
 
- “Áo em mờ ảo màu hoa,
Tóc em bay giữa bao la trời chiều”
                                     (Tiễn em)
 
“Lạy em, em ngủ cho êm,
Lời kinh này tiễn em lên cõi trời”
                          (Tình thiên thu)
 
Nếu chúng ta tin vào luân hồi, chúng ta sẽ cảm thông với nhà thơ Trần Thương Bá và mai sau sẽ gặp lại những ai còn duyên nợ với nhau.
 
- “Em ơi dù có bao giờ...
Nghe cung đàn ấy, xem thơ lời này..
Ngậm ngùi trong cuộc tình này,
Xin em một chút lệ cay muộn màng...”
                                             (Mai sau)
 
- “Anh biết rồi em sẽ trở về”
Nhẹ nhàng tư thế giới bên kia.
Bước êm như lúc em đi ngủ,
Ân ái thì thầm như thuở xưa”
                             (Không đề)
 
Trong hành trình thơ của Trần Thương Bá, TÌNH HUẾ là khúc dạo đầu, đứa con so đầu mang vào thi đàn một điệu ngân một giọng trữ tình dễ xúc động lòng người... Dù mang hình thức lục bát, bảy chữ, năm chữ thơ anh vẫn gieo vào lòng bạn hữu dấu ấn khó quên. Cái hồn của cảnh vật xứ Huế, cái tình người Huế, được chưng cất nhiều ngày tháng xa quê đã kết tinh lại trong nhiều bài thơ làm lay động lòng người. Đặc biệt là những bài thơ khóc thương người vợ dấu yêu ra đi về cõi xa khuất, Trần Thương Bá không như nhà vua Ân Độ Shah Jehan đã xây ngôi đền Taj Mahal bằng đá cẩm thạch trắng để thương tặng tương tiếc hoàng hậu Mumtaz Mahal tuyệt trần nhưng bạc mệnh. Ở đây Trần Thương Bá dựng tượng đài thơ bằng trái tim rướm máu của mình. Và cuối cùng đoạn kết cuộc tình đã đến, bao lời nguyện ước chung đôi thành tựu. Xin có lời chúc linh hồn anh chị ở cõi vĩnh hằng đoàn tụ trong tam thiên đại thiên thế giới.
 
Trong bài sau, chúng ta đi tiếp Hành trình thơ Trần Thương Bá, sẽ thưởng thức nhưng vần thơ mang khuynh hướng thi ca đượm màu sắc triết lí Tây và Đông phương qua hai đỉnh cao là:
La poesie candide. 1996. Nxb Trẻ
Vô ngôn kinh. 1996
 
                                              ĐỖ TƯ NHƠN

READ MORE - TÌNH HUẾ, TRONG HÀNH TRÌNH THƠ TRẦN THƯƠNG BÁ – Đỗ Tư Nhơn

BÀI THƠ ‘ĐỢI XUÂN...’ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Trịnh Thị Nhâm






Bài thơ ĐỢI XUÂN của Đặng Xuân Xuyến là bài thơ lục bát ngắn 4 câu nhưng rất hàm súc!

ĐỢI XUÂN...

 

Đợi xuân xuân chửa chịu về

Đợi tình tình lại mải mê xứ người

Nâng lên ly rượu tự mời

Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi?!

*.

Hà Nội, 24 tháng 04.2020

ĐẶNG XUÂN XUYẾN


"Đợi xuân xuân chửa chịu về". Mùa xuân mang lại sự tươi mới ấm áp cho vạn vật bừng nở. Rực rỡ sắc mầu hoa lá, rộn rã tiếng chim ca xua đi cái ủ dột buồn sầu của lòng người. “Đợi xuân” xuân sẽ đến chứ, bởi theo vòng quay, theo chu kỳ của thời tiết, của đất trời. Nhưng ở đây "... xuân chửa chịu về". Tôi cảm câu thơ này lồng hai ý. Thứ nhất: đây đích thị là người có tuổi rồi, cái tuổi xuân đi qua không bao giờ trở lại, đồng nghĩa với sức khoẻ hao tán, buồn lo đầy lên. Thứ hai: Mong một mùa xuân trọn vẹn đầy đủ ý nghĩa với ta, với mọi người trên toàn bờ cõi Việt Nam. Nhưng "... xuân chửa chịu về". Thôi thì đợi xuân chẳng được ta nghĩ đến tình. Tình yêu tiếp cho ta sức mạnh, cho ta say yêu cuộc đời, nhưng hỡi ôi "Đợi tình tình lại mải mê xứ người". Tình yêu, mình nhớ nhung mong đợi đâu còn thuộc về mình mà chỉ còn là vọng tưởng mà thôi.

Tôi rất thích hai câu thơ này:

“Nâng lên ly rượu tự mời

Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi?!”

Chỉ hai dòng ngắn ngủi mà đúc kết nên hai điều rất quý giá của con người: mùa xuân - tuổi trẻ, tình người - tình yêu! Không còn xuân, không có xuân, không có tình yêu chỉ còn lại đơn côi - ta với ta. "Nâng lên ly rượu tự mời", ta tự mời mình: nào uống đi, "Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi", có chút gì đó tự giễu cợt, hơi chua chát, khinh bạc cho con người, cho cuộc đời đen bạc. Uống rượu một mình, độc ẩm, độc thoại với lòng mình đâu còn là của riêng người trong thơ, mà là tâm trạng đã từng xảy ra trong cuộc đời của nhiều người. Cảm ơn tác giả đã nói hộ nỗi lòng của họ.

Bài thơ lục bát ngắn chuẩn chỉnh. Tác giả dùng từ "chửa" rất dân dã giàu sức biểu cảm chạm vào tâm can người đọc. Nếu anh dùng từ khác ví như từ “chẳng” thì câu thơ "Đợi xuân xuân chửa chịu về" thành "Đợi xuân xuân chẳng chịu về" sẽ thiếu hẳn sức gợi cảm. Hay từ "nhếch môi" trong câu "Uống đi cho cạn nụ cười nhếch môi" làm nên câu kết bài thơ rất tuyệt liền mạch, liền ý, khiến bài thơ có sự khắng khít chặt chẽ!

Tôi rất thích bài thơ này!

*.

Hạ Long, 25 tháng 4-2022

TRỊNH THỊ NHÂM

Địa chỉ: Tổ 9 khu 3, số 14/04 tòa A

chung cư Trần Hưng Đạo Plaza

thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh

Email: trinhnham52@gmail.com


READ MORE - BÀI THƠ ‘ĐỢI XUÂN...’ CỦA ĐẶNG XUÂN XUYẾN - Trịnh Thị Nhâm

Tuesday, April 26, 2022

Thi ca Thi nhân: HUY UYÊN - Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

 



Tên thật là Lê Sinh

Nguyên quán Quảng Trị

học sinh trường Nguyễn Hoàng

trình độ Đại Học Văn Khoa Huế

Sau năm 1975 làm HDV/DL Freelance

có thơ đăng trên Nguyệt san Văn trước 75

và các web&blog Văn Học Hải Ngoại

*

Đọc trọn vở Kịch Thơ của Nhà Văn Hoàng Công Khanh là "Bến Nước Ngũ Bồ" trên hai trăm trang 

giấy bây giờ chỉ còn sót lại trong đầu vài câu:

8 hướng 10 phương nhớ?

không biêt nhớ em thì nhớ ai?

-

yêu em vì bảo rằng em đẹp

nên mộng binh đao vẩn thái bình 

[ thơ Hoàng Công Khanh ]

*

Có lẽ Huy Uyên là một nhà thơ ở vào tuổi sáu bó gập, nhưng sức sáng tác vô cùng phong phú và chưa từng bíệt mỏi, y như thơ Bùi Quang Đoài:

tôi đã từng yêu từng chán nản

chưa bao giờ thấy nguội con tim

chưa bao giờ thỏa mãn

khát khao em tôi vẫn mải công tìm.

[ thơ Bùi Quang Đoài ]

Nhà Thơ Huy Uyên sau năm 1975, vì tôt nghiệp Đại Học Văn Khoa có trình độ Anh Ngữ khá cao, khá vững nên được chọn hành nghề Hướng Dẫn Du Lịch. 

Từ những miền đất địa đầu quê hương đất nước cho đến những vùng cực nam, những vùng biển đảo, anh đều  đi qua cả, đi tới đâu anh làm thơ tới đó, y như cụ Nguyễn Du đi sứ sang Trung Quốc và tiên sinh ghi chép lại mấy trăm bài thơ trong Bắc Hành Thi Tập.

Thơ Huy Uyên làm rất nhiều và rất khỏe, toàn là những địa danh hữu tình và phong cảnh kỳ quan trên toàn quốc, và những kỷ niệm "Quán bên Đường" lất phất như những hạt mưa đầu mùa thu.

-

tháng năm chim én bay về phố

bao lâu ghềnh đá  - đĩa sương mang

Quán Cau đợi người bên đầm Ô Loan

về lại Xuân Đài mà nghe lời gió

-

sao mai sao hôm sáng phố Tuy Hòa

hoa đầu thềm nở căng lồng ngực

tháp Nhạn ngàn năm mòn cổ tích

lung linh chiều điệu múa Shiva

-

em về mà có ghé sông Ba

La Hai tháng ba ngập đồng lúa chín

Đá Bia một đời câm nín

đợi người về đẹp nắng Đông Hoa

[ Một ngày với Tuy Hòa ]

*

đêm qua đi ai lầm lũi bước

Xiên Khoang bóng người đổ vạt dài

đèn cao trên cây thao thức

đợi em về cầm giữ giêng hai

-

cuối phố và con đường buồn tênh

sương tan theo từng đời lá

nhớ đôi mắt ai hình như Huyền

đã lâu rồi em ở hoài xứ lạ

-

hỏi em qua đi thời xuân sắc

tháng năm phơi nắng tuổi về chiều

thôi xưa rồi ai quên mắt biếc

ai rưng rưng theo nụ hôn yêu

{ Giêng Hai Người Về ]

*

bao năm rồi Út qua xứ lạ

bỏ quê nghèo mái khói chiều hôm

bỏ thuyền bỏ sông tháng ngày tôm cá

chim uyên trên cành

lẻ bạn kêu buồn

sáng chiều tôi ngơ ngác đường cái -quan

đợi Út về mà xe không ngừng lại

trong quán rượu nghèo gió lùa mây giăng

biền biệt trôi đâu ghềnh cuối bãi

[ Thư Quê Chưa Gửi Ut ]

*

Đọc thơ Huy Uyên là cả một trời quê hương đất nước, từ đồng cỏ lá cây, từ dòng sông con suối, từ rừng đến rú, từ đồi tới núi, thoang thoảng nhạc Văn Cao "về đây khi gió mùa thơm ngát, ơi lũ chim giang hồ". Thơ đương đại Việt Nam, sau 1975  nhà thơ Huy Uyên là một nhà thơ có đầy đủ tầm vóc chiều ngang chiều dầy và chiều cao xứng đáng với danh hiệu thi sĩ.


Phụ lục:
Chùm thơ Huy Uyên

Một lần về Sài-Gòn

Vây quanh trái tim bão dữ

Cuộc tình chia biệt bao năm

H.xưa một thời mộng-ảo

Bơ vơ trời đất Sai-Gòn.

Tôi chong mắt nhìn quanh tôi

Đã mất em từ dạo đó

Tình em phố rộng sông dài

Trên cao ngọn đèn vàng võ. 

Nước mắt liệm-khâm quá-khứ

Hoang trôi quay lại Sài-Gòn

Mưa, mưa ầm ào thác đổ

Quên thôi ngày cũ nụ hôn.

Tôi về ngày tháng ngậm tăm

Kể từ đêm ta từ-biệt

Nhớ không thôi đã mười năm

Trời Sài-Gòn buồn da-diết.


Ở sân bay em không nói

Lúc ta lặng im cầm tay

Em Pennsyl. tôi ở lại

Xa bỏ cuộc tình hôm nay.

Em, tôi chiếc lá cuối cùng

Ngậm ngùi Sài-Gòn mưa nắng

Giữ hoài nỗi nhớ, đợi, mong

Đi trọn một đời xa vắng. 

Chiều sông Sài-Gòn chầm chậm

Trôi nghiêng lỡ hẹn ngày về ...

Huy Uyên

 Đợi mùa thu về 


Ở đó mùa thu chưa về

Chiếc lá âm thầm rơi rụng

Bỏ lại trong vườn nụ cười

Cầm giữ trong tay khoảng lặng.

Em đi mang theo con tim

Hát khúc ca buồn con phố

Gió có quay lại bên em

Mắt môi buồn chi lắm thế!

Thiếp mê một đời giấc ngủ

Xa nhau có làm em buồn

Sông xa chảy hoài nỗi nhớ

Bên đường dấu xưa bước chân

Đà-Nẵng lá thu chín vàng

Mây bay lang thang trú ngụ

H.xưa cổ-tích tháng năm

Em, tôi giấc mơ loài quỷ.

Phải mắt em buồn bên cửa

Có đợi chờ không thu về?

Cuộc vui trốn miền nhung nhớ

Bia mộ riêng tôi ngày về.

Em có về không tôi chờ

Ngoài trời sắc thu vàng lá

Con đường nhớ dấu chân xưa

Đâu đây âm vang tiếng gọi.

Nhớ người !!!

Huy Uyên 



BẾN ĐÁ CHIỀU QUÊ


Em bâng khuâng trên cầu Bến Đá
Dòng sông êm chảy giữa làng xưa
Chiều mây bay từng dải lụa
Tóc cũng bay theo
người chửa thấy về .

Ký-ức tôi xóm chợ quê nhà
Nước chia sông hai bờ hoang hoải
Tháng ngày mong đợi chiếc xe qua
Cầm tình gởi nước trôi dòng chảy .

Đường cái-quan chuyến xe chở gió
Những lần em lặn ngập bên sông
Ai gởi cho ai niềm thương nhớ
Dồn mãi nỗi đau xa xót tận lòng .

Cây đa một đời soi bóng sông Ô
Những lần em đi dưới trời đầy nắng
Phía sau sân ga đợi chuyến tàu về
Lữ-khách "cầm-tư-lương" chôn bóng .


Bao năm ngọn đèn dầu le lói
Ba-lô, áo bạc tiễn người đi
Tháng tám thu quê hương đạn lửa
Những chiều xe tang chở xác ai về.

Chùm hương xưa ngát một loài hoa
Trái sầu đậu trên vai dịu ngọt
Áo em xanh màu xanh thiên-nga
Để bên người
"chiều đi không hết" .

Lộc-vừng cạnh ngã ba hàng quán
Ngày xưa tôi những buổi dừng chân
Em quanh năm sắc màu áo tím
Buổi chợ mai "phiên" em chân bước vội vàng .

Em đội trên đầu rau đắng, măng rừng
Dạo quanh làng tiếng rao ngày trước
Ngược xuôi theo mây ngủ tím hoàng-hôn
Ngày đó tối trời
tội cho em về nhà có kịp !


Bao năm rồi em còn thao thức
Có quên xưa nắng lửa quê nghèo
Con đường bên Ô-giang xuôi chảy
Dấu chi tôi
dầu dãi một tình-yêu .

Buổi em đầy nước mắt chia tay
Thuyền người chở ai ra phía biển
Quạnh quẻ tháng ngày em mãi trông theo
Đã xa chôn mối tình của lính .

Người lính cũ không quay về Bến-Đá
Dõi tấc lòng mù mịt truông mây
Khúc sông xưa bây giờ còn đó
Dài chi thêm nỗi nhớ đến bây giờ ...

     Huy Uyên (12-8-2016)

READ MORE - Thi ca Thi nhân: HUY UYÊN - Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

TÌM LẠI TUỔI THƠ TA - Thơ Phong Nguyễn

 

Nhà thơ Phong Nguyễn

TÌM LẠI TUỔI THƠ TA

Phong Nguyễn

 

Thôi xin quên hết đời rong ruổi

Ta về tìm lại tuổi thơ ta

Úp mặt mà nghe dòng sông thở

Lỡ bồi năm tháng cứ đi qua

 

Sáo diều ai thả vắt ngang ấy

Kéo nửa hoàng hôn chưa kịp tàn

Hương bưởi thoảng  bay tóc ai gội

Xõa nhẹ chiều thương nửa vai trần

 

Khói chiều cứ ngỡ như mây ấy

Cuộn góc vườn em hương nếp thơm

Tiếng võng đong đưa nghe cứ lạ

Như lời than thở giữa chiều hôm

 

Bao năm ta vẫn còn mong đợi

Một tiếng ai cười giữa nắng trưa

Mong nghe guốc mộc khua vườn vắng

Với áo hoa cà cợt gió thưa...

 

Bờ khuya gió lộng hàng cau vút

Đếm hạt mưa đông nhớ quê nhà

Giếng làng vẫn rứa trong văng vắt

Nằm đợi khách về soi bóng qua

 

Thôi xin quên hết đời rong ruổi

Ta về tìm lại tuổi thơ ta...


22 /4/2022 

P.N.

 nguyenphongbh.1957@gmail.com


READ MORE - TÌM LẠI TUỔI THƠ TA - Thơ Phong Nguyễn

Monday, April 25, 2022

MỘT CÂU CHUYỆN THÁNG TƯ ĐÁNG NHỚ - Phạm Xuân Dũng

 

Một câu chuyện tháng Tư đáng nhớ

PHẠM XUÂN DŨNG

Tạp chí Điện tử Lao dộng và Công đoàn – laodongcongdoan.vn

25/04/2022 09:04


Trong ngày hôm qua dịch giả Nguyễn Khắc Phước, một người Quảng Trị sống ở Đà Nẵng có nhờ tôi (và có lẽ một vài anh em khác nữa) ở quê nhà đăng một thông tin lên trang cá nhân tìm người của một người bạn là một cựu binh quê Quảng Nam hiện sống ở Đà Nẵng.


Ông Trần Thượng Liên (ở quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng).
Ảnh: NVCC

Người cựu binh ấy là ông Trần Thượng Liên (ở quận Liên Chiểu, TP. Đà Nẵng). Ông kể rằng năm Mậu Thân 1968, khi còn trai trẻ, là bộ đội đóng ở Triệu Phong (Quảng Trị). Khi đang ở làng Bích La Đông, trong khi giao tranh, súng anh hết đạn, một người lính đối phương nhìn thấy anh, giương súng lên nhưng rồi không bắn.

Anh nhanh chóng chạy lẫn vào đám đông và được một chú bé khoảng 10 tuổi cũng nhanh nhẹn mở cửa cho anh vào nhà ẩn nấp. Nhờ vậy, anh được cứu sống. Anh không kịp hỏi tên chú bé chỉ thoáng thấy trên da có vết nám như vừa bị bỏng. Thế thôi, một khoảng khắc trong muôn vàn khoảnh khắc của một cuộc chiến kỳ lạ...

Nhưng dù vậy, khoảnh khắc ấy lại là một vết son không thể phai mờ trong tâm cảm người lính Trần Thượng Liên. Nhớ lại sự kiện không thể nào quên của đời mình, ông đặt tên con là Bích La, để nhớ về một ngôi làng Quảng Trị trong binh lửa.

Và bây giờ, khi tuổi tác gần đất xa trời, qua thông tin trên mạng xã hội, ông muốn gặp lại chú bé ân nhân đã cứu sống mình. Nhà văn Nguyễn Khắc Phước đã từng kể lại câu chuyện này trên đặc san "Tình quê" của Hội đồng hương Quảng Trị tại Đà Nẵng.

Đọc câu chuyện này lại nhớ đến đạo diễn phim tài liệu Nguyễn Thị Xuân Phượng cũng quay lại Vĩnh Linh sau hơn nửa thế kỷ và cũng đau đáu muốn tìm lại đứa bé mà bà đỡ đẻ trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt. Bố mẹ đã lấy tên bà Xuân Phượng đặt tên cho con mình.

Giữa những ngày tháng Tư lịch sử với rất nhiều cung bậc cảm xúc và không ít ngổn ngang tâm sự, câu chuyện riêng của một người lính bình thường có lẽ rất dễ trôi đi trong dòng thời sự, nhất là ở vùng quê từng là hai bờ giới tuyến. Nhưng nhiều người lại không nghĩ thế...

Hàng chục người làng Bích La Đông đã chia sẻ thông tin rồi hàng trăm người quan tâm tương tác và kiếm tìm cậu bé năm xưa, không biết đó là ai, còn sống hay đã chết, hoặc đã lưu lạc phương nào.

Câu chuyện có lẽ chỉ có hai người biết với nhau, tưởng chừng mất hút sau hơn nửa thế kỷ với bao biến thiên lịch sử, nay lại trở về tươi rói tình người và "gõ cửa" những ai đang sống, đang quan tâm đến thế thái nhân tình.

Sẽ có người hỏi thế bao năm ông Liên sao không về Bích La Đông tìm lại ân nhân? Câu hỏi bật ra cũng là điều dễ hiểu nhưng chuyện đời có bao nhiêu điều cuốn chúng ta đi, đâu dễ thực hiện ý nguyện nào đó của mình.

Ông Lê Văn San, một người dân Bích La Đông, tâm tình: "Chúng tôi đang tìm lại cậu bé ngày xưa. Không phải để nói chuyện ơn nghĩa gì cả, mà đó là câu chuyện nhân tình".

Nếu tìm lại được và có một cuộc tái ngộ chắc chắn cảm động thì câu chuyện tháng Tư thêm một kết thúc có hậu và viên thành. Nhưng dù không được vậy thì nó minh chứng một điều: Dân tộc Việt luôn trọng tình nghĩa, làm ơn không cần báo đáp, nhưng chịu ơn thì cũng không bao giờ quên, sống có trước có sau mà chúng ta hay gọi điều đó là chung thủy.

Đạo lý thường hiện lên giản dị, chân thực, không chút màu mè và cảm động như chúng ta đã thấy, khiến cuộc đời này lại ánh lên thêm một niềm nhân nghĩa và tiếp thêm năng lượng sống tích cực cho không chỉ một đôi người.

Phải chăng đó cũng là một thông điệp nhân văn của tháng Tư đáng nhớ.

P.X.D.

READ MORE - MỘT CÂU CHUYỆN THÁNG TƯ ĐÁNG NHỚ - Phạm Xuân Dũng

DUNG THI VÂN, BÀI THƠ NGẮN KHÔNG ĐỀ VÀ NỖI ĐAU PHÙ VÂN - Châu Thạch


 
         Nhà thơ Dung Thị Vân

 
Chiều vạn dặm côn trùng còn biết khóc 
Huống chi ta tâm huyết đoạn thế nhân 
Tình nhân ơi có nghe mùi hương tóc 
Đâu ngọc ngà hay chỉ thoáng phù vân 
             
                                     Dung Thị Vân
 
 
DUNG THI VÂN, BÀI THƠ NGẮN KHÔNG ĐỀ VÀ NỖI ĐAU PHÙ VÂN
                                  Châu Thạch
      
Dung Thị Vân, một nhà thơ đã xuất bản nhiều tác phẩm được bạn đọc mến mộ và giới văn học khen ngợi đã nhiều, Viết về bốn câu thơ có lẽ tác giả ứng tác ngay cho một tấm hình đăng trên facebook của mình, tôi nghĩ dư thừa. Thế nhưng, thật tình tôi không viết vì Dung Thị Vân mà tôi viết vì tôi, để thổ lộ những cảm xúc xảy ra trong lòng tôi bởi bốn câu thơ mang vẽ đẹp của nỗi buồn trầm kha mà khó có nhà thơ nào đem vào được trong thơ mình như Dung Thị Vân.

Đọc câu thơ đầu tiên “Chiều vạn dăm côn trùng còn biết khóc” đã cho tôi thấy cả một buổi chiều ảm đạm hơn cả vạn buổi chiều ảm đạm tại khắp mọi nơi trên mặt đất.  Dung Thị Vân không gởi tâm trạng mình vào tiếng kêu của côn trùng như nhiều nhà thơ khác đã làm, mà Dung Thị Vân đã nhân cách côn trùng thành người, cho côn trùng có linh hồn nên mới biết khóc, và tiếng khóc đó ta hãy tưởng tương nó đồng vọng đầy không gian trong một buổi chiều ảm đạm thì nó buồn thảm đến dường nào! Nhà thơ cho biết con trùng vô tri còn biết khóc để mà chi? Để nhà thơ thổ lộ tâm trạng thê lương của riêng mình do tiếng khóc của côn trùng đánh động, khơi lên, truyền cảm tâm huyết vào nỗi buồn đứt đoạn thế nhân của tác giả.
    
Câu thơ thứ hai rõ ý hơn về việc nhà thơ không dùng côn trùng để gởi mình vào đó, mà ngược lại, nhà thơ dùng mình mang tâm trạng của loài côn trùng vì tiếng khóc của nó: “Huống chi ta tâm huyết đoạn thế nhân”. Côn trùng vô tri còn biết khóc huống chi ta con người có tâm huyết lại không khóc vì cuộc chia ly với thế nhân: Câu thơ bình dị và chơn chất nhưng mang cả một đạo lý làm Người viết hoa. 
   
Thế nhân đây có thể là một người, thế nhân đây có thể nhiều người, cũng có thể là tha nhân, cũng có thể là toàn nhân loại. Từ đó ta biết nhà thơ “đoạn thế nhân” có thể hiểu là chia ly với ai đó, có thể hiểu là chía ly với nhiều người, cũng có thể hiểu là tách biệt xã hội để trầm cảm, để  quay về  nội tâm của mình. Câu thơ “Huống chi ta tâm huyết đoạn thế nhân” đem nỗi sầu nhẹ hay nặng, hay như ngọn thái sơn tùy theo người đọc nó có tâm sự nhiều hay ít, có con tim vô tư hay đa sầu đa cảm. Với người viết bài này, câu thơ truyền cảm xúc để tưởng nhớ những ngày thất tình ở tuổi thanh xuân, để tưởng nhớ những năm tháng tù tội, thời gian cô đơn, lăn lộn với đắng cay, lòng luôn luôn nghĩ mình sinh nhầm thế kỷ hay thế kỷ đã sinh nhầm mình vì khi đó  mình bị “Quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh”.
  
Thế rồi qua câu thơ thứ ba Dung Thị Vân gọi đến người tình. Tiếng kêu của nhà thơ vừa âu yếm, vừa muốn hỏi một lời, vừa muốn gợi cho người yêu tưởng nhớ hương vị nồng nàn của tình. Câu thơ như một cung đàn bật lên những âm thanh du dương, truyền cảm, ve vuốt như bàn tay êm ái trên làn da cảm xúc của người yêu: “Tình nhân ơi có nghe mùi hương tóc”.  Chữ “Mùi hương tóc” ở đây đại diện cho hương vị tình yêu, cho tuổi trẻ, cho sức sống, cho tất cả vàng son của một thời mà nhà thơ chưa “đoạn thế nhân”  để khóc cùng giun cùng dế cùng côn trùng.
 
Với câu thơ thứ ba, qua tiếng kêu “Tình nhân ơi”, nhà thơ Dung Thị Vân dựng lên một khôi tình tuyệt mỹ, đầy âm thanh ngọt ngào như lời mây nước, để qua câu thơ thứ tư, Dung Thi Vân biến thứ tình ngọc ngà ấy thành tan tóc, biến đổi như áng phù vân: “Đâu ngọc ngà hay chỉ thoáng phù vân”. Phù vân là đám mây thoáng nổi lên rồi tan ngay, thường dùng để ví cái không lâu bền, có được rồi lại mất ngay. Vậy hai câu thơ “Tình nhân ơi có nghe mùi hương tóc/ Đâu ngọc ngà hay chỉ thoáng phù vân” tá khách vào nhau để nói lên hiện tượng phủ phàng của tình yêu, của thân thể con người hay của toàn kiếp sống. Hai câu thơ như đốm lửa bùng lên, rơi vửa và tắt ngấm trong bóng đêm trừ tịch. Sự thê thiết của câu thơ cuối gây sự hụt hẫng, bất ngờ, khiến nổi đau len vào con tim và nằm vĩnh viễn nơi đó.
 
Tóm lại, bốn câu thơ không đề của Dung Thị Vân là một bài thơ cô đọng, như thu cả buổi chiều vạn dăm xa ảm đạm vào bầu hồ lô nhỏ bé là con tim u hoài cho sự phù vân của trần thế. Mỗi câu thơ như một tiếng chuông ngân dài trong buổi hoàng hôn, mang đầy âm hưởng của nỗi buồn phân ly, nỗi sầu đứt đoạn, nỗi đau phù vân. Tiếng chuông ấy của thơ, đồng vọng vào hồn người, có tiếng khóc côn trùng, có gió lạnh cô đơn,  có lời tình êm ái và có những đám mây biến đổi, tan ra, mất tích  trong tâm hồn thi nhân mênh mông, vô biên và khô dòng nước mắt!
                                            
Châu Thạch

READ MORE - DUNG THI VÂN, BÀI THƠ NGẮN KHÔNG ĐỀ VÀ NỖI ĐAU PHÙ VÂN - Châu Thạch

TẤM CHĂN NHÂN DUYÊN – Tùy bút của Trần Mai Ngân



Tấm nhân duyên làm lòng người hạnh phúc nhất hay tan nát nhất đó là gì? Tình yêu ư… không phải!
Đó là gia đình - là chồng, là vợ là những đứa con thân yêu nhất!
 
Ta đã ở đó, an trú trong tình thương vô bờ bến luôn dành cho gia đình. Ta toàn tâm toàn ý đặt hết trách nhiệm, bổn phận và sống trọn vẹn duy nhất. Cũng ở đó ta hằng chờ đợi sự đáp vọng lại bằng những điều đơn giản như lời thăm hỏi, chia sẻ quan tâm…
Hạnh phúc biết bao khi ta được nghe, được tựa vào, được ôm chặt trong hiểu thương thấu cảm. Lúc ấy, bao mỏi mệt sẽ tan biến, những gánh vác như nhẹ tênh trên đôi vai để ta bước tiếp tục bên nhau đến hết đoạn đường đời.
Sẽ đau buồn, sẽ thất vọng khi người nhận vô tâm không hồi đáp và xem đó là lẽ đương nhiên…  Họ chỉ biết hưởng thụ, nhận lấy mà không cần biết sự chắt chiu ân cần của người đã mang đến cho họ…
 
Nhân duyên là vậy, là đây! Có khi là thiện duyên, có khi là ác duyên. Khuyên người nhận lấy hãy tập mỉm cười không rơi lệ. Hãy vững chãi bước qua vì duyên cũng là nghiệp!
Ta hết lòng nhưng người thì không!
Thôi vậy! Cứ an nhiên sống. Hãy ôm ấp xoa dịu nỗi thất vọng buồn đau này. Rồi nó sẽ qua đi theo bạn. Nào có hết trăm năm!
 
* Buổi sáng mùa hạ nắng oi bức ngoài cửa sổ. Có vài cánh chim bay ngang đôi cánh trĩu nặng chở mùa.
Trên tầng cao trong yên ổn tôi lắng nghe tiếng của hạnh phúc. Và tôi thấy, đôi lúc đứng riêng ngoài để ngắm nhìn thì sẽ là hạnh phúc bất biến…

** Đêm nay cũng như bao đêm - ngủ trong an lành sau những lời kinh vàng hương khói.
Ngủ an và đắp lên tấm chăn nhân duyên dù ấm lạnh. Đêm đi qua đời tôi, đi qua đời của người. Đêm đi qua đời nhau…
 
Trần Mai Ngân
 
READ MORE - TẤM CHĂN NHÂN DUYÊN – Tùy bút của Trần Mai Ngân