Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 29, 2022

CHÙM THƠ “MỘT...” CỦA LÊ VĂN TRUNG


 

 
MỘT ĐÓA TRẦN GIAN
 
Trong vườn đêm ấy trăng vừa nở
Một đóa trà mi bừng ngát hương
Trăng biếc thơm như lòng khuê phụ
Ái tình mỏng quá, mỏng như sương
 
Ủ giấc mơ mềm đêm tóc rối
Vòng tay lạnh nhớ gió vàng thu
Gối lệch nghiêng hoài bên cõi mộng
Nhớ gì quay quắt một câu thơ
 
Hình như đêm ấy trăng hàm tiếu
Hình như lòng xuân chưa mãn khai
Ai ướp vào trăng màu nguyệt thắm
Ai ươm vào trăng mật ứ đầy
 
Em về đêm mỏng tình như lụa
Em về trăng thơm mùi hương trầm
Cho tôi vẽ nốt màu thiên cổ
Một đóa trần gian còn nguyên xuân.
                               
 
MỘT ĐỜI SAO MỌC TRÊN RỪNG LẺ LOI
 
(Bài viết nhân chuyến thăm nhà thơ Nguyễn Đức Sơn tại Bảo Lộc. Tặng chị Phương, cháu Nguyễn Đức Phương Bối, và các cháu...)
 
Một đời trầy trụa với thơ
Vết thương chảy máu bây giờ còn đau
Ông nằm giỡn với chiêm bao
Trái tim u tịch nhịp sầu lặng câm
Ngọt ngào những vết dao đâm
Là lời kinh nguyện chảy bầm máu xương
Ông đùa cợt với tai ương
Ông cười trên những tang thương đời mình
Đất trời quá đổi mông mênh
Phận đời ông - SAO TRÊN RỪNG - lẻ loi
Một đời trôi giạt cùng thơ
Trăm năm đứng đợi bên bờ tử sinh.
          
 
MỘT DÒNG TRÔI
 
tình yêu như một dòng sông có nhiều nhánh rẽ
em rẽ dòng nào tôi cũng một dòng trôi
tôi nhuốm ngọn lửa cô đơn soi ấm cuộc tình người
yêu tha thiết thuở tình đang hàm tiếu
       
tôi đứng giữa nhân gian như một người bị đóng đinh chuộc tội
tội lỗi này ân huệ Thượng Đế đã riêng ban
tôi gom hết khổ đau làm hạnh phúc linh thiêng
như thuở nói yêu người mà ngọn lửa tình thiêu rụi
trái tim tôi thương tật vỡ thành thơ
 
trái tim tôi trong suốt như sương mơ
như giọt lệ trên môi người tinh tuyết
xin gom hết những mặn nồng
những đắng cay
những ngọt bùi
ướp thành rượu ngọt
mà rót vào vô tận cõi nhân gian
mà rót vào vạn nhánh rẽ dòng sông
xin thánh hiến cả linh hồn cả trái tim thương tật
 
tôi thắp lửa soi con đường sự thật
em rẽ dòng nào tôi cũng một dòng trôi
xin hãy vì thơ mà nhỏ lệ ngậm ngùi
dẫu bỏ lại
dẫu quay đi
dẫu ngàn trùng ngăn cách
dẫu trăm năm vạn chuyến tàu chia biệt
em rẽ dòng nào thơ cũng một dòng trôi.
                             
 
MỘT HÔM TÔI VỚI VÔ CÙNG
 
Một hôm tôi với dòng sông
Vừa trôi vừa chảy bềnh bồng trong thơ
Em qua tôi một chuyến đò
Để thương để nhớ đợi chờ trăm năm
 
Từ em thơm đóa nguyệt rằm
Vai quàng mây lụa tay cầm hoa mơ
Mắt huyền lạc giữa câu thơ
Tóc chiều rối cả đôi bờ sông tôi
 
Một hôm tôi với mây trời
Về ôm tình mộng bên đồi nhân gian
Nở giùm tôi đóa quỳnh lan
Tỏa vào tôi nhé trắng ngần mùi hương
 
Một hôm tôi với con đường
Lang thang lạc giữa nghìn phương ảo huyền
Hỏi người rằng nhớ hay quên
Đường xưa lối cũ còn tìm nhau không?
                                  
 
MỘT LẦN NGUYÊN XUÂN
 
Cho tôi về một lần thôi
Nhìn mây xanh
với áo người còn xanh
Trải hồn ra với VÔ BIÊN
Trải tình ra với mông mênh đất
trời
Cho tôi về
một lần thôi
Ngắm trăng vàng thắm
mắt người đầy trăng
Em từ VÔ LƯỢNG NGUYÊN XUÂN
Áo hoa quần lụa đêm trần gian tôi
Cho tôi
Về một lần thôi
Sương nghìn năm cũ nhớ người còn bay
Tìm nhau giữa hội xuân này
Qua nhau cho hết một ngày.
Rồi thôi!
 
03.01.20
 
 
MỘT MAI EM CÓ TRỞ VỀ
 
Rồi có thể một ngày kia em sẽ
Khép hoàng hôn ngồi đợi cửa bên chiều
Lòng hoài nhớ một vầng trăng thiếu nữ
Giấc khuya rằm thổn thức giọt sương gieo
Về thăm lại dòng sông xưa bến cũ
Còn thầm nghe sóng vổ gọi tên người
Chim lẻ bạn nghiêng chao niềm cố xứ
Bóng người về chìm giữa bóng mây trôi
Về ngồi lại bên thềm rêu tìm đọc
Câu thơ buồn tiếc thuở phấn hương xưa
(Phấn hương nào nhòe nhoẹt dưới sương mưa
Đã giấu vội nghìn thu trong mắt biếc)
Em về lại có nghe lòng tưởng tiếc
Nắng mùa xanh lụa thắm áo xuân thì
Đừng nhe em! Đừng ngăn dòng nước mắt
Dù muôn xuân vàng lạnh bỏ nhau đi
Người trăm năm hò hẹn có quay về
Xin nước mắt em là men rượu ngọt
Xin nước mắt em là dòng hương mật
Chảy vào đời trôi rữa sạch nguồn cơn
Tôi mở lòng tôi ngồi đợi cuối hoàng hôn.
 
 
MỘT MIỀN IM LẶNG KHÁC
(Thơ cho CÕI LẶNG IM)
 
Còn trong cõi LẶNG IM
Một miền IM LẶNG khác
Còn trong cõi kiếm tìm
Một mối tình đã mất
Em thắp chi mùa đông
Những ngọn đèn tháng chạp
Em thắp chi mùa thu
Một vì sao hiu hắt
Thuở tóc tình sương phai
Thuở mắt tình lệ xót
Em thắp chi hồn tôi
Trong từng đêm trăng úa
Trăm năm còn chờ nhau
Một vòng tay chưa mở
Trăm năm còn tìm nhau
Nhạt nhòa câu duyên nợ
Còn trong CÕI LẶNG IM
Một MIỀN IM LẶNG khác
Giữa mịt mù vô biên
Là con đường giải thoát.
 
 
MỘT MÌNH
 
Một ly. Một ghế. Một bàn
Trống trơ quán vắng, đêm tàn, mình tôi
Rượu buồn như lệ của người
Mà say, dang dở cả lời trăm năm
Đàn ai rụng tiếng huyền cầm
Nhớ trăng áo mỏng chưa rằm quỳnh hương
 
Rượu không rót cạn nỗi buồn
Nhớ người nhớ cả mênh mông đất trời.
                                
 
MỘT NGÀY BÌNH YÊN
 
Nở đi em một mặt trời
Long lanh trong giọt lệ ngời yêu thương
Tỏa ngát lên mầu nhiệm hương
Nghìn thu rót mật tận nguồn tim reo
 
Thắp lên em vạn vì sao
Cho đêm tình ái chảy vào sông trăng
Cho thơ tôi tắm lệ nồng
Cho hồn tôi tắm trong hồn cỏ cây
 
Rót đi em giọt tình say
Ngửa lòng tôi uống một ngày bình yên.
                           
 
MỘT NGÀY BUỒN QUÁ ĐỖI
 
Lòng buồn quá em nở giùm tôi với
Tường vi ơi, đại đóa cúc ươm vàng
Xin nở với lòng tôi đang mùa vội
Đêm chưa tàn thao thiết nụ quỳnh hương
 
Lòng buồn quá xin chảy cùng tôi với
Dòng sông ơi và suối và khe rừng
Chảy róc rách vào lòng em mở hội
Đêm chưa tàn lá rụng giữa mùa trăng
 
Lòng buồn quá xin hót giùm tôi với
Lời nỉ non con dế nhỏ ven đường
Lời của gió thổi mềm miền sương gội
Đêm chưa tàn tóc rối mộng trầm hương
 
Lòng buồn quá xin bay cùng tôi với
Mây ngang trời chìm áo lụa vàng phai
Bay dịu dàng qua lòng tôi diệu vợi
Đêm chưa tàn chưa cạn một hồn say
 
Lòng buồn quá, ôi một ngày buồn quá
Lòng hoang vu bờ bãi tiếp hoang vu
Ôi tình em là một dòng sông lạ
Vỗ vào tôi sóng mỏi cuối chân cầu.
                          
 
MỘT TÔI GIỮA ĐẤT TRỜI
 
Mình tôi với những con đường
Quanh co trong cõi vô thường nhân gian
Buồn rơi giọt nắng khô tàn
Lá mùa quên lãng rụng vàng giấc mơ
 
Buồn trong tôi những sợi mưa
Tự nguồn thiên cổ về chưa hết sầu
Réo gì lời thiết tha đau
Đường tôi gãy những nhịp cầu trần gian
 
Nhớ gì mà sương chưa tan
Còn che kín cõi tình dang dỡ tình
Một tôi trời đất rộng thênh
Quanh co đường quạnh buồn tênh phận mình.
                          
 
MỘT TRANG TÌNH HUYỀN THOẠI
 
Trăm năm cô vẫn là cô bé
Một thuở hoang đường trong mắt tôi
(Dẫu biết đôi khi dòng biếc lệ
Vô tình rụng xuống bóng chiều rơi)
 
Môi vẫn là hoa còn ngậm hương
Tóc rối vào mây một chút buồn
(Đâu biết đôi khi bờ vai nhỏ
Thương lá vàng tôi rụng ngỡ ngàng
 
Đâu biết áo chiều xưa trắng xóa
Bay hoài trong những giấc mơ hoa
Đâu biết đôi khi dòng trăm ngả
Thơ buồn mơ mãi bến sông xa )
 
Trăm năm cô mãi là cô bé
Đâu thấy thu tôi rắc lá vàng
Đâu thấy sương tôi mềm cơn mộng
Vừa rơi vừa bay vừa lang thang.
                              
Lê Văn Trung

READ MORE - CHÙM THƠ “MỘT...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

HÃY ÔM MẸ ĐẤT – Thơ Tịnh Bình


        Nhà thơ Tịnh Bình
 
 
HÃY ÔM MẸ ĐẤT
 
Tôi sợ một ngày Người sẽ đi xa...
Khi không thể bao dung nổi loài người độc ác
Đầy cuồng tâm và tham vọng
Hát lên bài ca yêu thương vô vọng
Bằng chính sức mình nhỏ nhoi
Khi những cánh rừng không ngừng đổ xuống
Những dòng sông nhiễm độc không thể soi bóng mây trời
Nắng không ngừng thiêu đốt
Mưa không ngừng than van
Chỉ lũ Virus gian ác không ngừng sinh sôi và hung hãn
 
Tôi sợ một ngày Người sẽ vỡ tan
Những vòng xoay dần dần lệch trục
Hỡi quỹ đạo xiêu vẹo
Bước chân Người đã nhọc mệt và già nua lắm rồi
 
Hãy ôm mẹ Đất vào lòng
Và chữa trị vết thương trên thân thể Người bằng chính tâm thức yêu thương của chúng ta...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - HÃY ÔM MẸ ĐẤT – Thơ Tịnh Bình

Monday, March 28, 2022

BÊN SÔNG SÀI GÒN ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT – Thơ Châu Thạch


   


BÊN SÔNG SÀI GÒN 
   ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT

(Tặng Nguyễn An Bình)
 
Ngồi bên sông Sài Gòn
Đọc thơ về Đà Lạt
Gió Hồ Xuân Hương ngát
Trong thơ Nguyễn An Bình
 
Đèn Sài Gòn lung linh
Sông Sài Gòn lặng lẽ
Hương thông rừng thoáng nhẹ
Từ trong thơ bay ra.
 
Có tiếng gì xa xa
Như tiếng rừng rơi lá
Lá rơi buồn rất lạ
Đà Lạt sương và mơ!
 
Đà Lạt trong tập thơ
"Tình Tôi Người Lữ Khách"
Tay ta cầm tập sách
Lòng mơ Mimosa.  
 
Lòng mơ con đường hoa
Hoa đào và phượng tím
Nhớ và thương kỷ niệm
Rừng hương, hoa thơ xinh
 
Đêm nay ta một mình
Ngồi bên sông Sài Gòn
Đọc thơ Nguyễn An Bình
Men thơ và men tình
Làm ta say ngây ngất!
 
              Châu Thạch
 
READ MORE - BÊN SÔNG SÀI GÒN ĐỌC THƠ ĐÀ LẠT – Thơ Châu Thạch

Sunday, March 27, 2022

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1885) - Nguyễn Thị Minh Thiện và Thái Quang Trung

 

Cổng tiền thành cổ Quảng Trị dưới thời nhà Nguyễn.

QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ

Ở HUYỆN HẢI LĂNG, 

TỈNH QUẢNG TRỊ

DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1885)




NGUYỄN THỊ MINH THIỆN

Trường THPT Quang Trung – Tây Ninh

THÁI QUANG TRUNG

Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Huế


Tóm tắt: Công cuộc khẩn hoang thành lập làng xã là một trong những vấn đề rất được nhiều nhà nghiên cứu, quản lý và các làng xã quan tâm. Bài viết này xin đề cập đến sự thành lập một số làng xã ở huyện Hải Lăng dưới triều Nguyễn (1802-1885). Qua đó, rút ra một số đặc điểm về quá trình thành lập làng xã trong thời kỳ này.

Từ khóa: Làng xã, Hải Lăng, Triều Nguyễn


  1. ĐẶT VẤN ĐỀ

Làng xã Việt Nam - một thực thể xã hội, một đối tượng khoa học từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm. Trong thời điểm hiện nay, khi khoa học Lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện, thì hệ thống làng xã giúp chúng ta đi từ những hiểu biết cụ thể, từng khía cạnh của đời sống xã hội để từ đó có thể rút ra những nhận xét về tất cả các lĩnh vực trong quá khứ.

Lịch sử mỗi làng xã là bộ phận lịch sử dân tộc. Làng xã là cơ sở bền vững bảo tồn sức sống và nền văn hoá của dân tộc. Từ thuở ban đầu dựng nước, cư dân Bách Việt đã dần dần tạo nên những đơn vị làng đầu tiên. Đó cũng chính là địa bàn tụ cư của các cộng đồng cư dân nông nghiệp. Dưới chế độ phong kiến, làng xã là đơn vị hành chính cơ sở của quốc gia, có thể thấy làng xã chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu làng xã không chỉ đáp ứng được yêu cầu của khoa học lịch sử mà còn góp phần tìm hiểu những giá trị tinh hoa văn hoá truyền thống của làng quê để bảo tồn đồng thời xoá bỏ những hạn chế vốn có của nó.

Hải Lăng là huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng Trị; là quê hương có nhiều di tích lịch sử văn hóa lâu đời. Nơi đây nổi tiếng là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước, “vựa lúa” của Quảng Trị và là nơi có đời sống văn hóa phong phú.

Trải qua bao biến cố thăng trầm của lịch sử, với đức tính cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo đã hình thành cho con người Hải Lăng một bản lĩnh không chịu khuất phục trước khó khăn, gian khổ để vượt lên, chiến thắng thiên tai, địch họa, khai sơn phá thạch, thau chua rửa mặn dần dần hình thành nên những xóm làng như ngày nay. Trong đó, có nhiều làng xã được hình thành dưới thời nhà Nguyễn (1802-1885) cần được nghiên cứu, lý giải về sự hình thành với các đặc điểm của nó.


Tạp chí Khoa học và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN 1859-1612, Số 04(40)/2016: tr. 81-90


  1. CÁC LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG RA ĐỜI TRƯỚC NĂM 1802

Hải Lăng vào buổi bình minh của lịch sử dân tộc, dải đất này là phần đất của bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang.

Trong thời kì Bắc thuộc, nhà Hán cai trị, địa bàn Hải Lăng thuộc quận Nhật Nam, nhưng đến đời Đông Hán, năm 192 một lãnh tụ nhân dân bộ lạc Dừa ở phía Bắc đã lãnh đạo nhân dân lật đổ ách đô hộ nhà Hán, thành lập tiểu quốc Lâm Ấp. Đến thế kỉ IV, hai tiểu quốc Lâm Ấp và Panduranga đã hợp nhất, hình thành vương quốc Chămpa. Lợi dụng sự suy yếu của chính quyền phong kiến Trung Quốc đô hộ, các thế lực của Chămpa mở rộng địa bàn ra tận Hoành Sơn, vùng đất Hải Lăng thuộc đất nước này đến đầu thế kỉ XIV.

Năm 1306, cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân với sính lễ là châu Ô và châu Lí (Rí). Vua Trần cho đổi tên làm châu Thuận, châu Hóa và sáp nhập vào bản đồ Đại Việt. Hải Lăng thuộc châu Thuận, lúc bấy giờ có tên là An Nhơn. Một lần nữa cư dân người Việt lại vào đây định cư, mở đầu quá trình hình thành làng xã và thành lập đơn vị hành chính.

Từ cuối thế kỉ XIV, vương triều Trần suy yếu, quan hệ Việt – Chăm căng thẳng. Vùng Thuận Hóa trong đó có Hải Lăng trở thành bãi chiến trường của hai thế lực, làng mạc bị tàn phá và hoang vu trở lại.

Năm 1401, Hồ Quý Ly đưa quân vào đến Nam Thuận Hóa, thành lập các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Nhưng nhà Hồ (1400-1407) tồn tại không bao lâu, nước ta rơi vào ách đô hộ nhà Minh nhưng nhà Minh chưa thể đặt chính quyền cai trị lên vùng đất này. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đưa quân tiến đánh Chăm Pa, mở rộng biên giới đến phía Bắc đèo Cù Mông. Nhà vua xuống chiếu đưa dân Việt vào sinh sống, định cư ở đây.

Dưới triều Hậu Lê, việc khẩn hoang lập làng ở vùng đất Thuận Hóa nói chung, Hải Lăng nói riêng rất được chú ý. Cũng vào thời gian này, trên địa bàn Hải Lăng hàng loạt làng xã được thành lập, định hình một cách căn bản. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết: “…Xét Thiên Nam dư hạ tập của bản triều có chép rằng trong đời Hồng Đức định bản đồ… Phủ Triệu Phong 6 huyện 2 châu là: huyện Kim Trà 8 tổng 71 xã, huyện Đan Điền 8 tổng 65 xã, huyện Hải Lăng 7 tổng 75 xã...” [7, tr. 54].

Tuy nhiên, do đây là vùng đất xa xôi với triều đình trung ương, việc quản lí khó khăn, cho nên đến giữa thế kỉ XVI, khi Dương Văn An viết Ô Châu cận lục vẫn gọi vùng đất này là “Ô Châu ác địa”, cư dân còn thưa thớt. Theo tác phẩm này, vùng đất Hải Lăng thuộc phủ Triệu Phong có 49 xã: An Thơ, Vĩnh Hưng, Văn Quỹ, Câu Nhi, Hà Lộ, Lãng Uyên, Đoan Trang, Diên Sanh, Câu Hoan, Trà Trì Thượng, Trà Trì Hạ, Lam Thủy, Mai Đàn, Hương Lan, Hương Liễu, Long Đôi, Thái Nại, An Khang, Hoàng Xá, Xuân Lâm, Tích Tường, Như Lệ, Thạch Hãn, Cổ Thành, Thương Mang, Hoa Ngạn, Phù Lưu, Nha Nghi, Hữu Điều, Hoa La, An Lộng, Hà Mi, Nại Cửu, Dương Lệ, Dương Chiếu, An Toàn, Đồng Giám, Dã Độ, An Dã, Quảng Đâu, Đâu Động, Phúc Lộc, Đại Bối, Tiểu Bối, Đại Bị, Tiểu Bị, An Hưng, Hà Bá, Đâu Kênh. [2, tr. 56]


Năm 1558, Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa, công cuộc khẩn hoang xứ Thuận Quảng được đẩy mạnh. Các chúa Nguyễn đã biến vùng đất “Ô Châu ác địa” thành vùng đất trù phú, thủ phủ của họ Nguyễn ở Đàng Trong. Số làng xã tăng lên không ngừng. Theo Phủ biên tạp lục ta biết huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong có 5 tổng (67 xã 6 phường 4 thôn 2 tộc):

“Tổng Hoa La, 19 xã 2 phường 1 thôn: Hoa La, An Lộng, Đâu Kênh, Hồng Khê, Nại Diên, Tả Hữu, Thạch Hãn, An Tiêm, Cổ Thành, Cổ Bưu, Hà My, Bố Liêu, Phù Lưu, Dư Triều, Hậu Lễ, Long Hưng, Vệ Nghĩa, Tích Tường, Như Lệ, Xuân An, Vạn Long, Nà Nẫm.

Tổng An Thư, 5 xã 1 thôn: An Thư, Mỹ Chánh, Câu Nhi, Vĩnh Hưng, Văn Quỹ, Hội Kỳ.

Tổng An Dã, 21 xã 1 phường: An Dã, Hữu Điều, An Trung, Đại Hòa, Quảng Điền, Vũ Thuận, An Lệ Nhị Giáp, Giáo Liêm, Phụ Tài, Thanh Liêm, Quảng Lượng, Hiền Lương, Dương Lộc, An Toàn, Phan Xá, Trúc Đăng.

Tổng Cu Hoan, 6 xã 1 phường 1 thôn 2 tộc: Câu Hoan, Diên Sinh, Trường Sinh, An Phúc, Hà Lỗ, Hà Lộc, Lương Phúc, Miễn Trạch, Câu Hoan, Đỗ Phùng.

Tổng An Khang, 16 xã 2 phường 1 thôn: An Khang, Đại Nại, Trà Lộc, Lam Thủy, La Duy, Hương Vận, Trà Trì Thượng, Anh Hoa, Tam Hữu, Mai Đàn, Duân Kinh, Thi Ông, Thượng Xá, Trâm Lý, Xuân Lâm, Mai Lộc, Phú Xuân, Mai Hoa, Mai Đàn thượng thôn” [7, tr.101].

Dưới thời Lê – Trịnh chiếm đóng, rồi đến Vương triều Tây Sơn, công cuộc khẩn hoang vẫn được tiếp tục nhưng do nguồn tư liệu còn hạn chế nên số lượng làng xã tăng lên chưa khảo cứu được.

  1. SỰ THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1885)

Năm 1802, sau khi đánh bại Vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi hoàng đế, hiệu là Gia Long, chọn Phú Xuân làm kinh đô, lập nên Vương triều Nguyễn.

Nguyễn Ánh lấy hai huyện Hải Lăng và Đăng Xương của phủ Triệu Phong hợp với huyện Minh Linh của phủ Quảng Bình để lập dinh Quảng Trị. Từ đó, huyện Hải Lăng chính thức thuộc địa phận Quảng Trị. Năm Minh Mạng thứ 8 (1827) đổi dinh Quảng Trị thành trấn Quảng Trị, năm thứ 12 (1831), trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng Trị, huyện Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị. Năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cắt tổng An Nhơn và ba thôn Phương Lang, Phú Hải, Thuận Đầu (tổng An Lưu) về huyện Hải Lăng. Cắt Tổng An Dã và 2 làng Tam Hữu, Anh Hoa (Tổng An Thái) và phần lớn Tổng Hoa La (trừ Trí Lễ, Thạch Hãn, Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ) nhập về huyện Đăng Xương. Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) dời huyện lỵ Hải Lăng từ thôn An Tiêm đến thôn Trí Lễ. Năm Tự Đức thứ 4 (1851) lại dời huyện lỵ đến thôn Diên Sanh. Năm Tự Đức thứ 5 (1852) lấy ba thôn, phường của huyện Hải Lăng hợp với 29 xã, thôn của ha huyện Đăng Xương và Địa Linh lập thành tổng Cam Đường đặt thuộc huyện Thành Hóa do phủ Cam Lộ kiêm lý. Năm Tự Đức thứ 6 (1853), nhập Quảng Trị và Thừa Thiên, lập đạo Quảng Trị, giải thể phủ Triệu Phong, giảm viên tri huyện Hải Lăng và Đăng Xương, giao công việc của huyện cho đạo kiêm lý. Năm 1876 lập lại tỉnh Quảng Trị gồm hai phủ Triệu Phong, Cam Lộ và 4 huyện, trong đó huyện Hải Lăng vẫn giữ tên cũ. Đặt lại huyện Hải Lăng do phủ Triệu Phong thống hạt như trước.

Trong tác phẩm Đồng Khánh Dư địa chí (1886-1888) huyện Hải Lăng gồm 4 tổng:

Tổng An Thái (24 xã, phường): Xã An Thái, xã Thượng Xá, xã Đại Nại, xã Long Hưng, xã Chí Lễ, xã Trâm Lý, xã Hương Vận, xã Trà Lộc, xã Trà Trì, xã Duân Kênh, xã La Duy, xã Thi Ông, xã Lam Thủy, xã Cổ Bưu, xã Thạch Hãn, xã Tích Tường, xã Như Lệ, xã Mai Đàn, xã Xuân Lâm, phường Phú Xuân, phường Nà Nẫm, phường Trinh Thạch, phường Mai Lĩnh, phường Sái Xuân.

Tổng Câu Hoan (9 xã, thôn, phường): Xã Câu Hoan, xã Diên Sinh, xã Trường Sinh, xã Hà Lộc, xã Lương Điền, thôn Trường Phước, thôn Thuận Nhân (Nhơn), xã Hà Lỗ, phường Xuân Lộc.

Tổng An Thư (6 xã, thôn): Xã An Thư, xã Văn Quỹ, xã Câu Nhi, xã Hội Kỳ, xã Hưng Nhân, thôn Mỹ Chánh.

Tổng An Nhân (23 xã, thôn, phường): Xã An Nhân, xã Xuân Viên, xã Đông Dương, xã Diên Khánh, xã Kim Giao, xã Kim Lung, xã Đan Quế, xã Hội An, xã Đa Nghi, xã Cỗ Lũy, xã Phương Da, xã Ba Thâu, xã Phú Hải, xã Phú Kênh (Kinh), xã Phúc Điền, xã Trung Đan, xã Thâm Khê, xã Thuận Đầu, xã Mỹ Thuỷ, xã Trung An, phường Tân An, phường Tân Hội, phường Thượng An. [8, tr.1383-1385]

Do nhiều lần thay đổi hành chính, điều chỉnh địa phận nên có nhiều xã, thôn trước kia thuộc Hải Lăng nay thuộc về huyện Triệu Phong (Đăng Xương) và ngược lại. Căn cứ vào danh sách các xã thôn huyện Hải Lăng hiện nay, đối chiếu với các xã thôn trong Phủ biên tạp lục và Đồng Khánh Dư địa chí ta thấy có 5 xã, thôn được thành lập đó là: Thuận Nhơn, Trường Phước, Xuân Lộc, Phước Điền, Trung An. Nhưng qua thực tế tìm hiểu ở địa phương thì ta thấy làng Phước Điền (Phúc Điền) đã ra đời vào khoảng thế kỉ giữa XVI, làng Trung An ra đời vào khoảng thế kỉ XVIII; một số làng như Phú Long, Như Sơn, Tân Điền, Lương Chánh không được Đồng Khánh Dư địa chí đề cập đến. Quá trình thành lập các làng xã này như sau:

* Thôn Thuận Nhơn: ra đời vào khoảng những năm 20-30 của thế kỉ XIX cùng với sự ra đời của sông đào Vĩnh Định (1825). Sông Vĩnh Định ra đời không chỉ tạo điều kiện cho nhân dân đi lại thuận lợi, cung cấp nước cho nông nghiệp mà nó còn đánh dấu sự ra đời một số đơn vị hành chính mới như làng Thuận Nhơn.

Thuận Nhơn thành lập từ việc mua đất của làng Thi Ông và Câu Hoan, đó là hai vùng đất: xứ Già Giàu và xứ Cồn Đống - Cồn Miếu.

Trước hết, nói về vùng đất xứ Già Giàu (nhà giàu): vốn được cư dân Thi Ông gọi là xứ “thượng đoạn”. Nhận thấy đây là một vùng đất tốt nên ngài Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ đã mua đất của Thi Ông nằm ở hữu ngạn sông Vĩnh Định với diện tích 30 mẫu có dư. Sau khi Thuận Nhơn an cư lạc nghiệp thì đổi tên lại là lại xứ “Già Giàu” (chỉ sự giàu có của nhiều gia đình).

Theo gia phả cụ Ngô Xưng cung cấp, trong đoàn quân thần chỉ huy đào sông ấy có hai ông Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ tham gia, sau khi sông đào xong hai ông được phép trưng canh, mua đất lập làng. Như quan niệm của người xưa “nhất cận thị, nhị cận giang” nên hai Ngài đã mua hai vùng đất của làng Thi Ông, Cu Hoan có dòng sông Vĩnh Định chảy qua nhưng trên thực tế nhờ sức ép của bà Hiền phi Ngô Thị Chánh (vợ vua Minh Mạng, là chị của hai ngài Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ) rất lớn.

Một thời gian sau, các tiền nhân lại mua thêm đất ở xứ Cồn Đống - Cồn Miếu của làng Cu Hoan. Cồn Đống - Cồn Miếu nằm ở tả ngạn sông Vĩnh Định, nơi giao nhau ngã ba sông rất thuận lợi cho đi lại, phát triển kinh tế.

Đến năm 1839, dưới triều vua Minh Mạng, Thuận Nhơn chính thức có làng hiệu. Ngài Ngô Văn Thắng (ngài anh) theo “tập ấm” được phong làm quan cai đội nên ngài đã nhường tước vị khai canh cho ngài em là Ngô Văn Thọ và con của ngài là Ngô Văn Vân làm hậu khai khẩn.

* Thôn Trường Phước: vốn là 1 trong 5 giáp của xã Trường Sanh: giáp Đông, giáp Mỵ, giáp Trung, giáp Hậu, giáp Phước. Giáp Phước nay là Trường Phước thuộc xã Hải Lâm.

Theo bản dịch và hiệu chú “Ô Châu cận lục” của Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc (NXB Thuận Hóa, Huế, 2001) thì ghi chú làng Đoan Trang đến nay không còn. Bản dịch và hiệu chú “Ô Châu cận lục” của Văn Thanh và Phan Đăng (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) thì ghi chú làng Đoan Trang là làng Mỹ Chánh (Hải Chánh) hiện nay. Nhưng có lẽ 4 tác giả đã nhầm do không tiếp cận thực địa nguồn tư liệu Hán Nôm tại làng Trường Sanh.

Trong Châu bộ của làng Trường Sanh lập vào năm Hoằng Định thứ 6 (1605) ghi rõ: “Triệu Phong phủ, Hải Lăng huyện, Đoan Trang xã. Lê Thời Danh, Võ Trạch Thủ đẳng, do tự Hồng Đức niên gian Lê vị trước chí Quang Hưng thập tứ (1591), Hoằng Định lục niên (1605), tiền tu tả kiến canh địa bộ, hậu khai báo chúc thơ tổ nghiệp, các họ khai canh bao chiếm điền thổ các sở cập lưu hoang, thượng tự sơn lâm thổ trạch, hạ cập điền thư như khê hác tích thủy kỳ như hải hoạt đẳng khai”* [6, tr.33]. Làng Trường Sanh có 12 họ, nhưng có 8 họ chính được coi là có công tạo lập nên xóm làng vào thời kỳ đầu lập nghiệp, gồm: Lê, Võ, Nguyễn, Trương, Hồ, Trần, Phan, Bùi.

Đến đời thứ 3 – 4, con cháu họ Lê (Lê Khắc Trình), Trần (Trần Thiên Tải), Nguyễn (Nguyễn Khắc Ứng) làng Trường Sanh đã lên đây khai phá đất đai, sinh cơ lập nghiệp. Tương truyền ngài Lê Khắc Trình làm quan tri huyện Hải Lăng bị một số người ghen ghét nên tìm cách giết hại khi ông trên trường đi làm về. Nơi ông bị chém, người dân lập miếu thờ nay gọi là miếu Ông Huyện. Ông được phong làm tiền khai khẩn tri huyện phụ bộ Lê Đại La. Trần Thiên Tải, Nguyễn Khắc Ứng, Phan Khắc Ngạn (người làng Diên Sanh) làm hậu khai canh.


Trải qua một thời gian dài sinh cơ lập nghiệp, cư dân ở giáp Phước muốn tách thành đơn vị hành chính độc lập nhưng không được làng Trường Sanh đồng ý. Lúc bấy giờ ở Diên Sanh có ông Phan Khắc Ngạn làm quan đến chức Trưởng Thái giám sự chính phủ, Đề đốc phụ quốc tả trị, Nhân phước hầu tại triều đình Huế. Ông Ngạn có người em ruột là Phan Khắc La (Đốn) muốn lên sinh sống tại Trường Phước. Nhân cơ hội đó ba họ Lê, Trần, Nguyễn nhờ ông Ngạn can thiệp để tách khỏi Trường Sanh. Để trả ơn ông Ngạn, làng nhượng cho ông Ngạn một vùng đất rộng là “bàu làng” và “trằm Đún” (khoảng trên 20 mẫu). [10, tr. 23]

Như vậy, ta không biết rõ thời gian cụ thể thôn Trường Phước thành lập nhưng cho đến cuối thời các chúa Nguyễn, Trường Phước vẫn thuộc về Trường Sanh, đến Triều Nguyễn mới trở thành đơn vị hành chính độc lập.

* Phường Xuân Lộc: hình thành vào đầu thế kỷ XIX, làng còn có một tên gọi khác là làng Bàng do vùng này có nhiều cây Bàng mọc dọc con hói chảy qua giữa làng nên có địa danh gọi là Hói Bàng. Lúc đầu, dân cư sống tập trung hai bên Hói Bàng. Mặc dù Xuân Lộc có tên hiệu vào đầu thế kỉ XIX, nhưng từ thế kỷ XVIII những cư dân làng Hà Lộc (là một làng nằm phía dưới vùng đồng bằng ven sông Ô Lâu) do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh tác, tránh lụt lội nên đã di cư dọc theo sông Thác Ma lên đây lập nghiệp. Cho đến cuối thế kỷ XVIII cư dân Hói Bàng vẫn chung đinh, chung điền và các thiết chế văn hóa với làng Hà Lộc. Đến thế kỷ XIX dân cư ngày càng đông mới thiết lập phường hiệu và ông Nguyễn Văn Tuyền là Lý trưởng đầu tiên.

Người có công đầu tiên trong việc khẩn hoang vùng đất này thuộc về dòng họ Phan (Hà Lộc) đó là ông Phan Công My thế hệ thứ 3 của họ Phan Công được tấn phong là thần Khai canh. Tiếp đến là họ Nguyễn (Nguyễn Văn Sim) gốc Thanh Hóa và các dòng họ khác.

Làng Phú Long được vua Tự Đức thứ 22 (1869) cho phép xuất phường khỏi làng Long Hưng. Quá trình hình thành làng Phú Long gắn liền với sự củng cố vương triều Nguyễn. Vào năm Gia Long thứ 3 (1804) vua cho xây dựng kinh thành Huế làm cho dân ở tả ngạn sông Hương từ Kim Long xuống Bao Vinh mất đất nhất là làng Phú Xuân (Huế). Trước tình hình đó vua cấp thẻ bài cho phép dân các làng đó đi đến đâu đều được hưởng quyền lợi về mọi mặt ngang hàng với cư dân lâu đời ở đó. Trong số những người Phú Xuân ra đi lúc đó có ông Nguyễn Bá Văn và một số người khác đến làng Đình Tổ (Quảng Bình) nhưng nhận thấy ở đây khó khăn các ông đã tìm về làng Long Hưng. Lúc đầu, họ sống chung với cư dân làng Long Hưng nhưng về sau do mâu thuẫn về vấn đề nhận ruộng đất, định kiến dân chính cư và ngụ cư nên sau khi được vua Tự Đức cho phép xuất phường những người này đã bao chiếm vùng đất phía tây làng Long Hưng gồm các vùng An Lạc, Tân Qui, Phong Tài, Hoàng Tiến để khai khẩn. Họ đã đồng cam cộng khổ cùng nhau khẩn hoang vùng gò đồi này được hơn 1000 mẫu.

Phú Long có ý nghĩa là lấy chữ Phú trong Phú Xuân và Long trong Long Hưng mà thành. Cũng ra đi từ làng Phú Xuân, ở trên vùng đất Hải Lăng, nằm bên dòng sông Vĩnh Định có một làng mang tên gốc Phú Xuân đó là làng Phú Xuân (Hải Xuân) (Đệ nhất phường Phú Xuân) nhưng thành lập sớm hơn vào khoảng những năm 60-70 thế kỷ

XVIII. Do các ngài họ Đặng, Lê, Hoàng, Nguyễn, Trương đã chọn vùng đất thuộc xã Trà Trì để định cư và đây là làng duy nhất trên đất Quảng Trị giữ nguyên tên gốc của làng Phú Xuân (Huế).

Làng Như Sơn: họ Nguyễn làng Như Sơn có gốc từ làng Kim Long (Huế). Cũng do việc xây dựng kinh thành nên họ Nguyễn (Như Sơn) ra làng Phú Liêu (Triệu Tài - Triệu Phong) sinh sống. Đến khoảng năm 1849 do điều kiện Phú Liêu chật hẹp nên vào vùng đất kề cận Lương Điền (Hải Sơn) sinh sống. Năm Tự Đức thứ 32 (1879) được vua cho phép lập làng tên là Như Sơn (núi bằng) với 29 mẫu ruộng. Khai canh lập làng là ngài Nguyễn Hoài Phúc, hai vị hậu Khai khẩn là Nguyễn Đình quý công và Nguyễn Văn quý công.

Làng Tân Điền là một làng mới của Lương Điền hình thành vào khoảng gần cuối thế kỉ XIX (Tự Đức 26 - 1873).

Làng Lương Chánh ra đời từ việc mua đất của làng Thượng An (Hải Vĩnh) với diện tích 12 mẫu 8 sào. Làng thành lập vào năm Tự Đức thứ 20 (1867). Những người sáng lập ra làng phần lớn có nguồn gốc từ làng rèn Hiền Lương (Huế). Trong đó, ngài Nguyễn Văn Hương được sắc phong là Hậu Khai canh.

  1. MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HẢI LĂNG

    1. Qua thống kê các xã thôn huyện Hải Lăng trong Đồng Khánh Dư địa chí ta thấy lúc bấy giờ Hải Lăng có 4 Tổng gồm: Tổng An Thái 2 xã, phường; Tổng Cu Hoan 9 xã, thôn, phường; Tổng An Thư 6 xã, thôn; Tổng An Nhân 23 xã, thôn, phường. Tổng cộng là 62 xã, thôn, phường. Trong đó phường Nà Nẫm, phường Trinh Thạch nay thuộc về huyện Đakrong, 4 xã Thạch Hãn, Cổ Bưu, Tích Tường, Như Lệ nay là Thị xã Quảng Trị, xã Phương Da thuộc Triệu Phong, 3 phường Mai Lĩnh, Sái Xuân, Tân Hội và xã Ba Thâu chưa xác định (tác giả) thì nay thuộc huyện Hải Lăng là 51 xã. Nếu căn cứ vào trên thì ta thấy trong Đồng Khánh Dư Địa chí không thấy ghi 2 xã Phương Lang, Ba Du và Mai Đàn Thượng thôn ra đời trước đó nhiều thế kỷ đã được ghi chép trong Phủ biên tạp lục.

    2. Lực lượng khẩn hoang lập làng trong giai đoạn này chủ yếu là từ các làng của Hải Lăng đã thành lập trước đó nay do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh tác, tránh lụt lội… nên từ thế kỷ XVII - XVIII - XIX rất nhiều làng đã tìm lên vùng gò đồi phía Tây của huyện để khẩn hoang sau này hình thành nên những làng như Tân Diên, Diên Trường, Trường Thọ, Trường Xuân, Tân Trường, Câu Nhi phường, Vực Kè, Khe Mương, Trầm Sơn vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX… Ngoài ra còn có cư dân từ Huế ra do nhu cầu sản xuất nghề nghiệp như làng rèn Hiền Lương hay do triều đình Huế mở rộng xây dựng kinh thành như làng Kim Long, Phú Xuân. Cư dân Quảng Bình, Thanh - Nghệ nhưng không nhiều.

    3. Hình thức tách làng và mua đất lập làng là đặc điểm khá nổi bật trong thời kỳ này.


Hình thức mua đất lập làng: Do lúc bấy giờ sông Vĩnh Định giao thông thuận lợi, cũng là tuyến giao thương bằng đường thủy chủ yếu từ Huế ra Cửa Việt nên nhiều làng đã chọn những vùng đất dọc con sông này để sinh sống như làng Thuận Nhơn (về sau Thuận Nhơn mua thêm trằm Đỏ Tía của Câu Hoan lập nên làng Thuận Đức), Lương Chánh, Phú Xuân, Kim Sanh (Phường Xăm Cựu Vĩnh Định)…

Hình thức tách làng: Do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh tác, tránh lụt lội… nhiều làng đã tìm đến vùng đất phía Tây của huyện để khẩn hoang. Lúc đầu, các làng vẫn chung đinh, chung điền, thiết chế văn hóa với các làng gốc nhưng về sau khi dân cư ngày càng đông lên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do mâu thuẫn, cũng có thể do để dễ quản lý, thuế mà tách ra thành đơn vị hành chính độc lập. Ví dụ, làng Trường Phước, làng Ba Khê thành lập năm 1812 do Bà Trừ vào thời Gia Long đem con cháu hai họ Bùi Văn, Bùi Phước từ làng Trí Bưu đến xứ “Bà Trừ” khai khẩn. Bà được phong là Tiền Khai khẩn, dân làng yêu quý gọi bà là Trà Phu Nhân. Và có lẽ đây là trường hợp nữ duy nhất được tôn danh hiệu này trên đất Hải Lăng.

    1. Từ tên gọi các làng xã ở trên, ta thấy khi đặt tên các xã đều giữ một phần tên gốc của làng mình trước đây để nhớ về nơi chôn nhau cắt rốn, hoặc phản ánh vùng đất mới minh sinh sống như: Thuận Nhơn, Thuận Đức với ý nghĩa tìm Thuận Nghĩa mà về “…Cao tổ huý Ca dĩ tiền sinh trưởng Gia Định tỉnh, Thuận Nghĩa thôn, kỷ sự tích bản vô tường kỷ…”. Trường Phước (Trường Sanh), Xuân Lộc (Hà Lộc), Phú Long (Phú Xuân + Long Hưng), Lương Chánh (Hiền Lương), Như Sơn (núi bằng)…

  1. KẾT LUẬN

Quá trình hình thành các làng xã huyện Hải Lăng đã diễn ra lâu đời. Kể từ khi châu Ô, châu Lý sát nhập vào Đại Việt (1306) cũng là quá trình người Việt di cư vào đây khai khẩn, dựng làng. Dĩ nhiên, khi người Việt đến tụ cư, đây không phải là mảnh đất vô chủ. Trước đó, cư dân Chăm đã sinh sống, tạo lập một nền kinh tế, văn hóa, xã hội phát triển. Nhưng đối với người Việt đây vẫn là một vùng đất xa xôi, khó khăn, nguy hiểm. Người Việt đến đây phần lớn là binh lính, tù nhân, nông dân nghèo khổ. Trải qua quá trình chung lưng đấu cật, chế ngự thiên nhiên, cải tạo ruộng đồng, khai thác đất đai các làng xóm dần dần ra đời. Tuy nhiên, phải đến thời Lê, đặc biệt dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) công cuộc khai khẩn vùng đất phía Nam được đẩy mạnh trong đó có Hải Lăng. Phần lớn các xã thôn ở Hải Lăng hiện nay được định hình về cơ bản trong thời gian này. Hay nói cách khác, các làng xã được thành lập hoàn chỉnh và ổn định. Những hoạt động khẩn đất lập làng từ nửa sau thế kỉ XVI (1558) trở đi là sự khai phá mở rộng và đi vào chiều sâu. Nhìn vào danh sách các làng xã trong Ô Châu cận lục, Phủ biên tạp lục ta thấy số lượng làng xã tăng lên khá nhiều nhưng thực tế đi sâu tìm hiểu các làng xã ở trên địa bàn Hải Lăng hiện nay thì không như vậy. Đến thời Nguyễn 1802 – 1945 rất nhiều xã hiệu mới được thành lập trên cơ sở đất đai của các làng hình thành trước đó.

Qua việc tìm hiểu các làng xã được thành lập ở Hải Lăng giai đoạn 1802 – 1885 một lần nữa chứng minh quá trình khai khẩn đất đai diễn ra rất lâu dài, liên tục. Các làng xã ban đầu được hình thành chủ yếu ở vùng đồng bằng, ven biển về sau do nhu cầu mở rộng diện tích đất canh tác, tránh lụt lội, các làng tiến hành khai khác mở rộng khu vực xung quanh mình cư trú, về sau nữa chuyển lên khai thác vùng gò đồi phía Tây của huyện.

Việc mua đất lập làng như ở Thuận Nhơn, Thuận Đức, Lương Chánh. Hay như sự ra đi của cư dân các làng Phú Xuân (Huế), Kim Long (Huế) do nhu cầu xây dựng mở rộng kinh thành, được vua cấp thẻ bài cho dân các làng đó đi đến đâu đều được hưởng quyền lợi về mọi mặt ngang hàng với cư dân lâu đời ở đó. Về sau, thành lập làng Phú Xuân, Phú Long, Như Sơn là một nét mới mà các giai đoạn trước đó chưa có.

Chú thích: * Xã Đoan Trang, Huyện Hải Lăng, Phủ Triệu Phong, thời nhà Lê, có hai vị là Lê Thời Danh, Võ Trạch Thủ, trước năm Quang hưng 14 (1591). Năm Hoằng Định thứ 6 (1605), trước là tu sửa, khai khẩn đất đai, sau là khai báo công đức với tổ tiên, tổ nghiệp. Các họ (hộ) tiếp tục khai phá mở rộng đất hoang, chọn vùng cao làm nhà ở, chọn nơi thấp làm ruộng như khê hác (khe hác) thì tích nước thành hồ lớn thuận lợi cho khai hoang.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Dương Văn An (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc hiệu đính và dịch chú) (2001). Ô châu cận lục, NXB Thuận Hoá, Huế.

  2. Dương Văn An (Văn Thanh, Phan Đăng dịch và chú giải) (2009). Ô châu cận lục, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

  3. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Chánh (2014). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Chánh (1930 - 2010), Quảng Trị.

  4. Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hải Lăng (2015). Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Lăng (1930 - 1975), NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.

  5. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Sơn (2008). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Sơn (1930 - 2005), Quảng Trị.

  6. Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Trường (2012). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Trường (1930 - 2010), Quảng Trị.

  7. Lê Quý Đôn (Viện Sử học dịch) (2007). Phủ biên tạp lục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.

  8. Đồng Khánh dư địa chí (Ngô Đức Thọ, Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin dịch), bản CD-Rom.

  9. Lê Văn Duẫn (1985). Làng xã ở Hải Phú (Từ thành lập đến trước Cách mạng tháng Tám 1945), Khoá luận tốt nghiệp, Trường ĐHKH Huế, Huế.

  10. Lê Thanh Hà (1985). Quá trình hình thành và phát phiển các làng xã ở xã Hải Lâm Triệu Hải – Bình Trị Thiên dưới thời Phong kiến, Khoá luận tốt nghiệp, Trường ĐHKH Huế.

Title: THE ESTABLISHMENT OF THE VILLAGE UNDER THE NGUYEN DYNASTY (1802-1885) IN HAI LANG DISTRICT QUANG TRI PROVINCE

Abstract: The work of reclaiming the establishment of the village is a large problem, many researchers, managers and interested villages. This article would like to mention the establishment of a number of villages in Hai Lang district under the Nguyen Dynasty (1802- 1885). Thereby, show some features about the process of establishment the villages during this period.

Keywords: village, Hai Lang, Nguyen Dynasty


NGUYỄN THỊ MINH THIỆN

Trường THPT Quang Trung – Tây Ninh


TS. THÁI QUANG TRUNG

Trường Đại học Sư Phạm – Đại học Huế


(Ngày nhận bài: 19/5/2016; Hoàn thành phản biện: 17/6/2016; Ngày nhận đăng: 17/7/2016)

Nguồn: http://tckhgd.huce.vn/DOC_BAIBAO/34_532_NguyenThiMinhThien,ThaiQuangTrung_13_thai%20quang%20trung%20lan%202.pdf

READ MORE - QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG, TỈNH QUẢNG TRỊ DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802-1885) - Nguyễn Thị Minh Thiện và Thái Quang Trung

Saturday, March 26, 2022

ĐÊM LÀ HƯ VÔ – Thơ Trần Mai Ngân




 
ĐÊM LÀ HƯ VÔ
 
Đêm nay mặn đắng vị buồn
Ghì đêm ôm xiết rồi buông hững hờ
Vắt tim nhỏ giọt lệ thơ
Tại sao xa lạ lạnh bờ môi yêu
 
Đêm nay sâu lắng hắt hiu
Muôn trùng gõ nhịp tiêu điều gian nan
Hoá điên ở giữa trần gian
Đôi tay bám riết hoang mang ơi... Mình!
 
Đêm nay đêm của lặng thinh
Cuồng si thuở ấy bóng hình nơi đâu
Dấu tay vết bấu còn sầu
Ngát trên da thịt một mầu hư vô!
                                             
Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐÊM LÀ HƯ VÔ – Thơ Trần Mai Ngân

NGỤ NGÔN Ê-DỐP (97-100) - Ngọc Châu phỏng dịch sang thơ song thất lục bát

 


97. The Bull and the Calf

A Bull was striving with all his might to squeeze himself through a narrow passage which led to his stall. A young Calf came up, and offered to go before and show him the way by which he could manage to pass. "Save yourself the trouble," said the Bull; "I knew that way long before you were born."

Bò đực và Bê non


Bác Bò đực loay hoay xoay xở

Lách qua dải hẹp mở vào chuồng

Bê non luồn lên chen đường:
“Cháu đi trước, bác theo gương đây này”


“Nhãi ạ, cuốn gói ngay cho khỏe…

- Bò bực mình hảy nhẹ chú Bê -

Kiểu mày tao biết từ khi

Mẹ mày cũng mới tập đi như mày…”



98. The Camel

When man first saw the Camel, he was so frightened at his vast size that he ran away. After a time, perceiving the meekness and gentleness of the beast's temper, he summoned courage enough to approach him. Soon afterwards, observing that he was an animal altogether deficient in spirit, he assumed such boldness as to put a bridle in his mouth, and to let a child drive him.

Use serves to overcome dread.


Con Lạc đà


Người đàn ông lần đầu nhìn thấy

Lạc đà, thì run rẩy hoảng kinh

Thú gì to như voi, kình…

Khiến ông khiếp hãi rùng mình, chạy xa.


Thời gian sau dần dà thấy được

Tuy to nhưng nhu nhược, phục tùng

Hiền hòa, không biết nổi khùng

Ông ta mới đến gần cùng đi quanh


Nói chung nó hiền lành hết lẽ
Nên yên cương có thể đóng vào

Trẻ con cho cưỡi lưng cao

Đúng là được việc, ai nào sợ to.



99. The Hares and the Foxes

The Hares waged war with the Eagles, and called upon the Foxes to help them. They replied, "We would willingly have helped you, if we had not known who you were, and with whom you were fighting."

Count the cost before you commit yourselves.



Thỏ và Cáo


Thỏ vận động Cáo cùng tham chiến

Nện cho tàn gia quyến chim Ưng

Cáo kia không chút ngập ngừng

Trả lời rằng “Rất vui mừng nếu như

Tớ không biết Ưng kia với Thỏ

Thì tay nào giỏi võ nghệ hơn…”

Rất cần tính giá thiệt hơn

Trước khi cam kết làm tròn việc chi.


100. The Wolves and the Sheepdogs

The Wolves thus addressed the Sheepdogs: "Why should you, who are like us in so many things, not be entirely of one mind with us, and live with us as brothers should? We differ from you in one point only. We live in freedom, but you bow down to and slave for men, who in return for your services flog you with whips and put collars on your necks. They make you also guard their sheep, and while they eat the mutton throw only the bones to you. If you will be persuaded by us, you will give us the sheep, and we will enjoy them in common, till we all are surfeited." The Dogs listened favorably to these proposals, and, entering the den of the Wolves, they were set upon and torn to pieces.


Chó sói và chó chăn cừu


Chó chăn cừu nghe bày Sói dụ :

“Trông mày hệt như lũ chúng tao

Thật lạ lùng là tại sao

Lại không cùng sống bên nhau một đàn?

Khác mỗi điểm mày an tâm chịu

Tuân theo mọi dự liệu chủ nhân

Chúng tao tự do toàn phần

Mày thì roi vọt, cổ hằn đai da

Họ còn bắt mày ra đồng bãi

Canh cừu khi họ mải say sưa

Thịt cừu họ nhậu sớm trưa

Cho mày mấy khúc xương thừa quăng ra

Nếu mày thấy bọn ta nói phải

Thì cừu kia mày đãi anh em

Thịt thà đầy rẫy khỏi thèm

Chén rồi, thích lại ăn thêm nếu cần..”

Chó chăn cừu tần ngần suy nghĩ

Cuối cùng thì đồng ý về hang

Nhưng chưa kịp nhận họ hàng

Sói đàn xúm lại xé tan Chó rồi.

READ MORE - NGỤ NGÔN Ê-DỐP (97-100) - Ngọc Châu phỏng dịch sang thơ song thất lục bát