 |
| Cổng tiền thành cổ Quảng Trị dưới thời nhà Nguyễn. |
QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP LÀNG
XÃ
Ở HUYỆN HẢI LĂNG,
TỈNH
QUẢNG TRỊ
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN
(1802-1885)
NGUYỄN THỊ MINH
THIỆN
Trường THPT Quang
Trung – Tây Ninh
THÁI QUANG TRUNG
Trường Đại học
Sư Phạm – Đại học Huế
Tóm tắt: Công
cuộc khẩn hoang thành lập làng xã là một trong những
vấn đề rất được nhiều nhà nghiên cứu, quản lý và
các làng xã quan tâm. Bài viết này xin đề cập đến sự
thành lập một số làng xã ở huyện Hải Lăng dưới
triều Nguyễn (1802-1885). Qua đó, rút ra một số đặc
điểm về quá trình thành lập làng xã trong thời kỳ
này.
Từ khóa: Làng
xã, Hải Lăng, Triều Nguyễn
ĐẶT VẤN ĐỀ
Làng xã
Việt Nam - một thực thể xã hội, một đối tượng khoa
học từ lâu được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài
nước quan tâm. Trong thời điểm hiện nay, khi khoa học
Lịch sử đòi hỏi phải nghiên cứu một cách toàn diện,
thì hệ thống làng xã giúp chúng ta đi từ những hiểu
biết cụ thể, từng khía cạnh của đời sống xã hội
để từ đó có thể rút ra những nhận xét về tất cả
các lĩnh vực trong quá khứ.
Lịch sử
mỗi làng xã là bộ phận lịch sử dân tộc. Làng xã là
cơ sở bền vững bảo tồn sức sống và nền văn hoá
của dân tộc. Từ thuở ban đầu dựng nước, cư dân
Bách Việt đã dần dần tạo nên những đơn vị làng đầu
tiên. Đó cũng chính là địa bàn tụ cư của các cộng
đồng cư dân nông nghiệp. Dưới chế độ phong kiến,
làng xã là đơn vị hành chính cơ sở của quốc gia, có
thể thấy làng xã chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội
Việt Nam. Do vậy, nghiên cứu làng xã không chỉ đáp ứng
được yêu cầu của khoa học lịch sử mà còn góp phần
tìm hiểu những giá trị tinh hoa văn hoá truyền thống
của làng quê để bảo tồn đồng thời xoá bỏ những
hạn chế vốn có của nó.
Hải Lăng
là huyện đồng bằng nằm ở phía Nam của tỉnh Quảng
Trị; là quê hương có nhiều di tích lịch sử văn hóa
lâu đời. Nơi đây nổi tiếng là mảnh đất giàu truyền
thống yêu nước, “vựa lúa” của Quảng Trị và là
nơi có đời sống văn hóa phong phú.
Trải qua
bao biến cố thăng trầm của lịch sử, với đức tính
cần cù, chịu khó, thông minh, sáng tạo đã hình thành
cho con người Hải Lăng một bản lĩnh không chịu khuất
phục trước khó khăn, gian khổ để vượt lên, chiến
thắng thiên tai, địch họa, khai sơn phá thạch, thau chua
rửa mặn dần dần hình thành nên những xóm làng như
ngày nay. Trong đó, có nhiều làng xã được hình thành
dưới thời nhà Nguyễn (1802-1885) cần được nghiên cứu,
lý giải về sự hình thành với các đặc điểm của nó.
Tạp chí Khoa học
và Giáo dục, Trường Đại học Sư phạm Huế ISSN
1859-1612, Số 04(40)/2016: tr. 81-90
CÁC LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG RA ĐỜI TRƯỚC
NĂM 1802
Hải Lăng
vào buổi bình minh của lịch sử dân tộc, dải đất này
là phần đất của bộ Việt Thường, một trong 15 bộ
của nước Văn Lang.
Trong thời
kì Bắc thuộc, nhà Hán cai trị, địa bàn Hải Lăng thuộc
quận Nhật Nam, nhưng đến đời Đông Hán, năm 192 một
lãnh tụ nhân dân bộ lạc Dừa ở phía Bắc đã lãnh đạo
nhân dân lật đổ ách đô hộ nhà Hán, thành lập tiểu
quốc Lâm Ấp. Đến thế kỉ IV, hai tiểu quốc Lâm Ấp
và Panduranga đã hợp nhất, hình thành vương quốc Chămpa.
Lợi dụng sự suy yếu của chính quyền phong kiến Trung
Quốc đô hộ, các thế lực của Chămpa mở rộng địa
bàn ra tận Hoành Sơn, vùng đất Hải Lăng thuộc đất
nước này đến đầu thế kỉ XIV.
Năm 1306,
cuộc hôn nhân giữa công chúa Huyền Trân và vua Chế Mân
với sính lễ là châu Ô và châu Lí (Rí). Vua Trần cho đổi
tên làm châu Thuận, châu Hóa và sáp nhập vào bản đồ
Đại Việt. Hải Lăng thuộc châu Thuận, lúc bấy giờ có
tên là An Nhơn. Một lần nữa cư dân người Việt lại
vào đây định cư, mở đầu quá trình hình thành làng xã
và thành lập đơn vị hành chính.
Từ cuối
thế kỉ XIV, vương triều Trần suy yếu, quan hệ Việt –
Chăm căng thẳng. Vùng Thuận Hóa trong đó có Hải Lăng
trở thành bãi chiến trường của hai thế lực, làng mạc
bị tàn phá và hoang vu trở lại.
Năm 1401,
Hồ Quý Ly đưa quân vào đến Nam Thuận Hóa, thành lập
các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa. Nhưng nhà Hồ (1400-1407) tồn
tại không bao lâu, nước ta rơi vào ách đô hộ nhà Minh
nhưng nhà Minh chưa thể đặt chính quyền cai trị lên
vùng đất này. Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đưa quân tiến
đánh Chăm Pa, mở rộng biên giới đến phía Bắc đèo Cù
Mông. Nhà vua xuống chiếu đưa dân Việt vào sinh sống,
định cư ở đây.
Dưới
triều Hậu Lê, việc khẩn hoang lập làng ở vùng đất
Thuận Hóa nói chung, Hải Lăng nói riêng rất được chú
ý. Cũng vào thời gian này, trên địa bàn Hải Lăng hàng
loạt làng xã được thành lập, định hình một cách căn
bản. Trong Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn viết: “…Xét
Thiên Nam dư hạ tập của bản triều có chép rằng trong
đời Hồng Đức định bản đồ… Phủ Triệu Phong 6
huyện 2 châu là: huyện Kim Trà 8 tổng 71 xã, huyện Đan
Điền 8 tổng 65 xã, huyện Hải Lăng 7 tổng 75 xã...”
[7, tr. 54].
Tuy nhiên,
do đây là vùng đất xa xôi với triều đình trung ương,
việc quản lí khó khăn, cho nên đến giữa thế kỉ XVI,
khi Dương Văn An viết Ô Châu cận lục vẫn gọi vùng đất
này là “Ô Châu ác địa”, cư dân còn thưa thớt. Theo
tác phẩm này, vùng đất Hải Lăng thuộc phủ Triệu
Phong có 49 xã: An Thơ, Vĩnh Hưng, Văn Quỹ, Câu Nhi, Hà Lộ,
Lãng Uyên, Đoan Trang, Diên Sanh, Câu Hoan, Trà Trì Thượng,
Trà Trì Hạ, Lam Thủy, Mai Đàn, Hương Lan, Hương Liễu,
Long Đôi, Thái Nại, An Khang, Hoàng Xá, Xuân Lâm, Tích
Tường, Như Lệ, Thạch Hãn, Cổ Thành, Thương Mang, Hoa
Ngạn, Phù Lưu, Nha Nghi, Hữu Điều, Hoa La, An Lộng, Hà
Mi, Nại Cửu, Dương Lệ, Dương Chiếu, An Toàn, Đồng
Giám, Dã Độ, An Dã, Quảng Đâu, Đâu Động, Phúc Lộc,
Đại Bối, Tiểu Bối, Đại Bị, Tiểu Bị, An Hưng, Hà
Bá, Đâu Kênh. [2, tr. 56]
Năm 1558,
Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa,
công cuộc khẩn hoang xứ Thuận Quảng được đẩy mạnh.
Các chúa Nguyễn đã biến vùng đất “Ô Châu ác địa”
thành vùng đất trù phú, thủ phủ của họ Nguyễn ở
Đàng Trong. Số làng xã tăng lên không ngừng. Theo Phủ
biên tạp lục ta biết huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong
có 5 tổng (67 xã 6 phường 4 thôn 2 tộc):
“Tổng
Hoa La, 19 xã 2 phường 1 thôn: Hoa La, An Lộng, Đâu Kênh,
Hồng Khê, Nại Diên, Tả Hữu, Thạch Hãn, An Tiêm, Cổ
Thành, Cổ Bưu, Hà My, Bố Liêu, Phù Lưu, Dư Triều, Hậu
Lễ, Long Hưng, Vệ Nghĩa, Tích Tường, Như Lệ, Xuân An,
Vạn Long, Nà Nẫm.
Tổng An
Thư, 5 xã 1 thôn: An Thư, Mỹ Chánh, Câu Nhi, Vĩnh Hưng, Văn
Quỹ, Hội Kỳ.
Tổng An
Dã, 21 xã 1 phường: An Dã, Hữu Điều, An Trung, Đại Hòa,
Quảng Điền, Vũ Thuận, An Lệ Nhị Giáp, Giáo Liêm, Phụ
Tài, Thanh Liêm, Quảng Lượng, Hiền Lương, Dương Lộc,
An Toàn, Phan Xá, Trúc Đăng.
Tổng Cu
Hoan, 6 xã 1 phường 1 thôn 2 tộc: Câu Hoan, Diên Sinh,
Trường Sinh, An Phúc, Hà Lỗ, Hà Lộc, Lương Phúc, Miễn
Trạch, Câu Hoan, Đỗ Phùng.
Tổng An
Khang, 16 xã 2 phường 1 thôn: An Khang, Đại Nại, Trà Lộc,
Lam Thủy, La Duy, Hương Vận, Trà Trì Thượng, Anh Hoa, Tam
Hữu, Mai Đàn, Duân Kinh, Thi Ông, Thượng Xá, Trâm Lý,
Xuân Lâm, Mai Lộc, Phú Xuân, Mai Hoa, Mai Đàn thượng thôn”
[7, tr.101].
Dưới
thời Lê – Trịnh chiếm đóng, rồi đến Vương triều
Tây Sơn, công cuộc khẩn hoang vẫn được tiếp tục
nhưng do nguồn tư liệu còn hạn chế nên số lượng làng
xã tăng lên chưa khảo cứu được.
SỰ THÀNH LẬP LÀNG XÃ Ở HUYỆN HẢI LĂNG
DƯỚI TRIỀU NGUYỄN (1802 – 1885)
Năm 1802,
sau khi đánh bại Vương triều Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên
ngôi hoàng đế, hiệu là Gia Long, chọn Phú Xuân làm kinh
đô, lập nên Vương triều Nguyễn.
Nguyễn
Ánh lấy hai huyện Hải Lăng và Đăng Xương của phủ
Triệu Phong hợp với huyện Minh Linh của phủ Quảng Bình
để lập dinh Quảng Trị. Từ đó, huyện Hải Lăng chính
thức thuộc địa phận Quảng Trị. Năm Minh Mạng thứ 8
(1827) đổi dinh Quảng Trị thành trấn Quảng Trị, năm
thứ 12 (1831), trấn Quảng Trị đổi thành tỉnh Quảng
Trị, huyện Hải Lăng thuộc tỉnh Quảng Trị. Năm Minh
Mạng thứ 17 (1836) cắt tổng An Nhơn và ba thôn Phương
Lang, Phú Hải, Thuận Đầu (tổng An Lưu) về huyện Hải
Lăng. Cắt Tổng An Dã và 2 làng Tam Hữu, Anh Hoa (Tổng An
Thái) và phần lớn Tổng Hoa La (trừ Trí Lễ, Thạch Hãn,
Long Hưng, Tích Tường, Như Lệ) nhập về huyện Đăng
Xương. Năm Minh Mạng thứ 18 (1837) dời huyện lỵ Hải
Lăng từ thôn An Tiêm đến thôn Trí Lễ. Năm Tự Đức
thứ 4 (1851) lại dời huyện lỵ đến thôn Diên Sanh. Năm
Tự Đức thứ 5 (1852) lấy ba thôn, phường của huyện
Hải Lăng hợp với 29 xã, thôn của ha huyện Đăng Xương
và Địa Linh lập thành tổng Cam Đường đặt thuộc
huyện Thành Hóa do phủ
Cam Lộ kiêm lý. Năm Tự Đức thứ 6 (1853), nhập Quảng
Trị và Thừa Thiên, lập đạo Quảng Trị, giải thể phủ
Triệu Phong, giảm viên tri huyện Hải Lăng và Đăng Xương,
giao công việc của huyện cho đạo kiêm lý. Năm 1876 lập
lại tỉnh Quảng Trị gồm hai phủ Triệu Phong, Cam Lộ và
4 huyện, trong đó huyện Hải Lăng vẫn giữ tên cũ. Đặt
lại huyện Hải Lăng do phủ Triệu Phong thống hạt như
trước.
Trong tác
phẩm Đồng Khánh Dư địa chí (1886-1888) huyện Hải Lăng
gồm 4 tổng:
Tổng An
Thái (24 xã, phường): Xã An Thái, xã Thượng Xá, xã Đại
Nại, xã Long Hưng, xã Chí Lễ, xã Trâm Lý, xã Hương Vận,
xã Trà Lộc, xã Trà Trì, xã Duân Kênh, xã La Duy, xã Thi
Ông, xã Lam Thủy, xã Cổ Bưu, xã Thạch Hãn, xã Tích
Tường, xã Như Lệ, xã Mai Đàn, xã Xuân Lâm, phường Phú
Xuân, phường Nà Nẫm, phường Trinh Thạch, phường Mai
Lĩnh, phường Sái Xuân.
Tổng Câu
Hoan (9 xã, thôn, phường): Xã Câu Hoan, xã Diên Sinh, xã
Trường Sinh, xã Hà Lộc, xã Lương Điền, thôn Trường
Phước, thôn Thuận Nhân (Nhơn), xã Hà Lỗ, phường Xuân
Lộc.
Tổng An
Thư (6 xã, thôn): Xã An Thư, xã Văn Quỹ, xã Câu Nhi, xã
Hội Kỳ, xã Hưng Nhân, thôn Mỹ Chánh.
Tổng An
Nhân (23 xã, thôn, phường): Xã An Nhân, xã Xuân Viên, xã
Đông Dương, xã Diên Khánh, xã Kim Giao, xã Kim Lung, xã Đan
Quế, xã Hội An, xã Đa Nghi, xã Cỗ Lũy, xã Phương Da, xã
Ba Thâu, xã Phú Hải, xã Phú Kênh (Kinh), xã Phúc Điền,
xã Trung Đan, xã Thâm Khê, xã Thuận Đầu, xã Mỹ Thuỷ,
xã Trung An, phường Tân An, phường Tân Hội, phường
Thượng An. [8, tr.1383-1385]
Do nhiều
lần thay đổi hành chính, điều chỉnh địa phận nên có
nhiều xã, thôn trước kia thuộc Hải Lăng nay thuộc về
huyện Triệu Phong (Đăng Xương) và ngược lại. Căn cứ
vào danh sách các xã thôn huyện Hải Lăng hiện nay, đối
chiếu với các xã thôn trong Phủ biên tạp lục và Đồng
Khánh Dư địa chí ta thấy có 5 xã, thôn được thành lập
đó là: Thuận Nhơn, Trường Phước, Xuân Lộc, Phước
Điền, Trung An. Nhưng qua thực tế tìm hiểu ở địa
phương thì ta thấy làng Phước Điền (Phúc Điền) đã
ra đời vào khoảng thế kỉ giữa XVI, làng Trung An ra đời
vào khoảng thế kỉ XVIII; một số làng như Phú Long, Như
Sơn, Tân Điền, Lương Chánh không được Đồng Khánh Dư
địa chí đề cập đến. Quá trình thành lập các làng
xã này như sau:
* Thôn
Thuận Nhơn: ra đời vào khoảng những năm 20-30 của thế
kỉ XIX cùng với sự ra đời của sông đào Vĩnh Định
(1825). Sông Vĩnh Định ra đời không chỉ tạo điều kiện
cho nhân dân đi lại thuận lợi, cung cấp nước cho nông
nghiệp mà nó còn đánh dấu sự ra đời một số đơn vị
hành chính mới như làng Thuận Nhơn.
Thuận
Nhơn thành lập từ việc mua đất của làng Thi Ông và
Câu Hoan, đó là hai vùng đất: xứ Già Giàu và xứ Cồn
Đống - Cồn Miếu.
Trước
hết, nói về vùng đất xứ Già Giàu (nhà giàu): vốn
được cư dân Thi Ông gọi là xứ “thượng đoạn”.
Nhận thấy đây là một vùng đất tốt nên ngài Ngô Văn
Thắng, Ngô Văn Thọ đã mua đất của Thi Ông nằm ở hữu
ngạn sông Vĩnh Định với diện tích 30 mẫu có dư. Sau
khi Thuận Nhơn an cư lạc nghiệp thì đổi tên lại là
lại xứ “Già Giàu” (chỉ sự giàu có của nhiều gia
đình).
Theo gia
phả cụ Ngô Xưng cung cấp, trong đoàn quân thần chỉ huy
đào sông ấy có hai ông Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ tham
gia, sau khi sông đào xong hai ông được phép trưng canh,
mua đất lập làng. Như quan niệm của người xưa “nhất
cận thị, nhị cận giang” nên hai Ngài đã mua hai vùng
đất của làng Thi Ông, Cu Hoan có dòng sông Vĩnh Định
chảy qua nhưng trên thực tế nhờ sức ép của bà Hiền
phi Ngô Thị Chánh (vợ vua Minh Mạng, là chị của hai ngài
Ngô Văn Thắng, Ngô Văn Thọ) rất lớn.
Một thời
gian sau, các tiền nhân lại mua thêm đất ở xứ Cồn
Đống - Cồn Miếu của làng Cu Hoan. Cồn Đống - Cồn
Miếu nằm ở tả ngạn sông Vĩnh Định, nơi giao nhau ngã
ba sông rất thuận lợi cho đi lại, phát triển kinh tế.
Đến năm
1839, dưới triều vua Minh Mạng, Thuận Nhơn chính thức có
làng hiệu. Ngài Ngô Văn Thắng (ngài anh) theo “tập ấm”
được phong làm quan cai đội nên ngài đã nhường tước
vị khai canh cho ngài em là Ngô Văn Thọ và con của ngài
là Ngô Văn Vân làm hậu khai khẩn.
* Thôn
Trường Phước: vốn là 1 trong 5 giáp của xã Trường
Sanh: giáp Đông, giáp Mỵ, giáp Trung, giáp Hậu, giáp
Phước. Giáp Phước nay là Trường Phước thuộc xã Hải
Lâm.
Theo bản
dịch và hiệu chú “Ô Châu cận lục” của Trần Đại
Vinh, Hoàng Văn Phúc (NXB Thuận Hóa, Huế, 2001) thì ghi chú
làng Đoan Trang đến nay không còn. Bản dịch và hiệu chú
“Ô Châu cận lục” của Văn Thanh và Phan Đăng (NXB
Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2009) thì ghi chú làng Đoan
Trang là làng Mỹ Chánh (Hải Chánh) hiện nay. Nhưng có lẽ
4 tác giả đã nhầm do không tiếp cận thực địa nguồn
tư liệu Hán Nôm tại làng Trường Sanh.
Trong Châu
bộ của làng Trường Sanh lập vào năm Hoằng Định thứ
6 (1605) ghi rõ: “Triệu Phong phủ, Hải Lăng huyện, Đoan
Trang xã. Lê Thời Danh, Võ Trạch Thủ đẳng, do tự Hồng
Đức niên gian Lê vị trước chí Quang Hưng thập tứ
(1591), Hoằng Định lục niên (1605), tiền tu tả kiến
canh địa bộ, hậu khai báo chúc thơ tổ nghiệp, các họ
khai canh bao chiếm điền thổ các sở cập lưu hoang,
thượng tự sơn lâm thổ trạch, hạ cập điền thư như
khê hác tích thủy kỳ như hải hoạt đẳng khai”* [6,
tr.33]. Làng Trường Sanh có 12 họ, nhưng có 8 họ chính
được coi là có công tạo lập nên xóm làng vào thời kỳ
đầu lập nghiệp, gồm: Lê, Võ, Nguyễn, Trương, Hồ,
Trần, Phan, Bùi.
Đến đời
thứ 3 – 4, con cháu họ Lê (Lê Khắc Trình), Trần (Trần
Thiên Tải), Nguyễn (Nguyễn Khắc Ứng) làng Trường Sanh
đã lên đây khai phá đất đai, sinh cơ lập nghiệp. Tương
truyền ngài Lê Khắc Trình làm quan tri huyện Hải Lăng bị
một số người ghen ghét nên tìm cách giết hại khi ông
trên trường đi làm về. Nơi ông bị chém, người dân
lập miếu thờ nay gọi là miếu Ông Huyện. Ông được
phong làm tiền khai khẩn tri huyện phụ bộ Lê Đại La.
Trần Thiên Tải, Nguyễn Khắc Ứng, Phan Khắc Ngạn (người
làng Diên Sanh) làm hậu khai canh.
Trải qua
một thời gian dài sinh cơ lập nghiệp, cư dân ở giáp
Phước muốn tách thành đơn vị hành chính độc lập
nhưng không được làng Trường Sanh đồng ý. Lúc bấy
giờ ở Diên Sanh có ông Phan Khắc Ngạn làm quan đến
chức Trưởng Thái giám sự chính phủ, Đề đốc phụ
quốc tả trị, Nhân phước hầu tại triều đình Huế.
Ông Ngạn có người em ruột là Phan Khắc La (Đốn) muốn
lên sinh sống tại Trường Phước. Nhân cơ hội đó ba họ
Lê, Trần, Nguyễn nhờ ông Ngạn can thiệp để tách khỏi
Trường Sanh. Để trả ơn ông Ngạn, làng nhượng cho ông
Ngạn một vùng đất rộng là “bàu làng” và “trằm
Đún” (khoảng trên 20 mẫu). [10, tr. 23]
Như vậy,
ta không biết rõ thời gian cụ thể thôn Trường Phước
thành lập nhưng cho đến cuối thời các chúa Nguyễn,
Trường Phước vẫn thuộc về Trường Sanh, đến Triều
Nguyễn mới trở thành đơn vị hành chính độc lập.
* Phường
Xuân Lộc: hình thành vào đầu thế kỷ XIX, làng còn có
một tên gọi khác là làng Bàng do vùng này có nhiều cây
Bàng mọc dọc con hói chảy qua giữa làng nên có địa
danh gọi là Hói Bàng. Lúc đầu, dân cư sống tập trung
hai bên Hói Bàng. Mặc dù Xuân Lộc có tên hiệu vào đầu
thế kỉ XIX, nhưng từ thế kỷ XVIII những cư dân làng
Hà Lộc (là một làng nằm phía dưới vùng đồng bằng
ven sông Ô Lâu) do nhu cầu phát triển về đất ở, đất
canh tác, tránh lụt lội nên đã di cư dọc theo sông Thác
Ma lên đây lập nghiệp. Cho đến cuối thế kỷ XVIII cư
dân Hói Bàng vẫn chung đinh, chung điền và các thiết chế
văn hóa với làng Hà Lộc. Đến thế kỷ XIX dân cư ngày
càng đông mới thiết lập phường hiệu và ông Nguyễn
Văn Tuyền là Lý trưởng đầu tiên.
Người có
công đầu tiên trong việc khẩn hoang vùng đất này thuộc
về dòng họ Phan (Hà Lộc) đó là ông Phan Công My thế hệ
thứ 3 của họ Phan Công được tấn phong là thần Khai
canh. Tiếp đến là họ Nguyễn (Nguyễn Văn Sim) gốc Thanh
Hóa và các dòng họ khác.
Làng Phú
Long được vua Tự Đức thứ 22 (1869) cho phép xuất phường
khỏi làng Long Hưng. Quá trình hình thành làng Phú Long gắn
liền với sự củng cố vương triều Nguyễn. Vào năm Gia
Long thứ 3 (1804) vua cho xây dựng kinh thành Huế làm cho
dân ở tả ngạn sông Hương từ Kim Long xuống Bao Vinh mất
đất nhất là làng Phú Xuân (Huế). Trước tình hình đó
vua cấp thẻ bài cho phép dân các làng đó đi đến đâu
đều được hưởng quyền lợi về mọi mặt ngang hàng
với cư dân lâu đời ở đó. Trong số những người Phú
Xuân ra đi lúc đó có ông Nguyễn Bá Văn và một số
người khác đến làng Đình Tổ (Quảng Bình) nhưng nhận
thấy ở đây khó khăn các ông đã tìm về làng Long Hưng.
Lúc đầu, họ sống chung với cư dân làng Long Hưng nhưng
về sau do mâu thuẫn về vấn đề nhận ruộng đất, định
kiến dân chính cư và ngụ cư nên sau khi được vua Tự
Đức cho phép xuất phường những người này đã bao
chiếm vùng đất phía tây làng Long Hưng gồm các vùng An
Lạc, Tân Qui, Phong Tài, Hoàng Tiến để khai khẩn. Họ đã
đồng cam cộng khổ cùng nhau khẩn hoang vùng gò đồi này
được hơn 1000 mẫu.
Phú Long
có ý nghĩa là lấy chữ Phú trong Phú Xuân và Long trong
Long Hưng mà thành. Cũng ra đi từ làng Phú Xuân, ở trên
vùng đất Hải Lăng, nằm bên dòng sông Vĩnh Định có
một làng mang tên gốc Phú Xuân đó là làng Phú Xuân (Hải
Xuân) (Đệ nhất phường
Phú Xuân) nhưng thành lập sớm hơn vào khoảng những năm
60-70 thế kỷ
XVIII. Do
các ngài họ Đặng, Lê, Hoàng, Nguyễn, Trương đã chọn
vùng đất thuộc xã Trà Trì để định cư và đây là
làng duy nhất trên đất Quảng Trị giữ nguyên tên gốc
của làng Phú Xuân (Huế).
Làng Như
Sơn: họ Nguyễn làng Như Sơn có gốc từ làng Kim Long
(Huế). Cũng do việc xây dựng kinh thành nên họ Nguyễn
(Như Sơn) ra làng Phú Liêu (Triệu Tài - Triệu Phong) sinh
sống. Đến khoảng năm 1849 do điều kiện Phú Liêu chật
hẹp nên vào vùng đất kề cận Lương Điền (Hải Sơn)
sinh sống. Năm Tự Đức thứ 32 (1879) được vua cho phép
lập làng tên là Như Sơn (núi bằng) với 29 mẫu ruộng.
Khai canh lập làng là ngài Nguyễn Hoài Phúc, hai vị hậu
Khai khẩn là Nguyễn Đình quý công và Nguyễn Văn quý
công.
Làng Tân
Điền là một làng mới của Lương Điền hình thành vào
khoảng gần cuối thế kỉ XIX (Tự Đức 26 - 1873).
Làng Lương
Chánh ra đời từ việc mua đất của làng Thượng An (Hải
Vĩnh) với diện tích 12 mẫu 8 sào. Làng thành lập vào
năm Tự Đức thứ 20 (1867). Những người sáng lập ra
làng phần lớn có nguồn gốc từ làng rèn Hiền Lương
(Huế). Trong đó, ngài Nguyễn Văn Hương được sắc phong
là Hậu Khai canh.
MỘT SỐ NHẬN XÉT VỀ QUÁ TRÌNH THÀNH LẬP
LÀNG XÃ Ở HẢI LĂNG
Qua thống kê các xã thôn huyện Hải Lăng
trong Đồng Khánh Dư địa chí ta thấy lúc bấy giờ Hải
Lăng có 4 Tổng gồm: Tổng An Thái 2 xã, phường; Tổng
Cu Hoan 9 xã, thôn, phường; Tổng An Thư 6 xã, thôn; Tổng
An Nhân 23 xã, thôn, phường. Tổng cộng là 62 xã, thôn,
phường. Trong đó phường Nà Nẫm, phường Trinh Thạch
nay thuộc về huyện Đakrong, 4 xã Thạch Hãn, Cổ Bưu,
Tích Tường, Như Lệ nay là Thị xã Quảng Trị, xã
Phương Da thuộc Triệu Phong, 3 phường Mai Lĩnh, Sái
Xuân, Tân Hội và xã Ba Thâu chưa xác định (tác giả)
thì nay thuộc huyện Hải Lăng là 51 xã. Nếu căn cứ
vào trên thì ta thấy trong Đồng Khánh Dư Địa chí
không thấy ghi 2 xã Phương Lang, Ba Du và Mai Đàn Thượng
thôn ra đời trước đó nhiều thế kỷ đã được ghi
chép trong Phủ biên tạp lục.
Lực lượng khẩn hoang lập làng trong giai
đoạn này chủ yếu là từ các làng của Hải Lăng đã
thành lập trước đó nay do nhu cầu phát triển về đất
ở, đất canh tác, tránh lụt lội… nên từ thế kỷ
XVII - XVIII - XIX rất nhiều làng đã tìm lên vùng gò đồi
phía Tây của huyện để khẩn hoang sau này hình thành
nên những làng như Tân Diên, Diên Trường, Trường Thọ,
Trường Xuân, Tân Trường, Câu Nhi phường, Vực Kè, Khe
Mương, Trầm Sơn vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế
kỷ XX… Ngoài ra còn có cư dân từ Huế ra do nhu cầu
sản xuất nghề nghiệp như làng rèn Hiền Lương hay do
triều đình Huế mở rộng xây dựng kinh thành như làng
Kim Long, Phú Xuân. Cư dân Quảng Bình, Thanh - Nghệ nhưng
không nhiều.
Hình thức tách làng và mua đất lập làng là
đặc điểm khá nổi bật trong thời kỳ này.
Hình thức
mua đất lập làng: Do lúc bấy giờ sông Vĩnh Định giao
thông thuận lợi, cũng là tuyến giao thương bằng đường
thủy chủ yếu từ Huế ra Cửa Việt nên nhiều làng đã
chọn những vùng đất dọc con sông này để sinh sống
như làng Thuận Nhơn (về sau Thuận Nhơn mua thêm trằm Đỏ
Tía của Câu Hoan lập nên làng Thuận Đức), Lương Chánh,
Phú Xuân, Kim Sanh (Phường Xăm Cựu Vĩnh Định)…
Hình thức
tách làng: Do nhu cầu phát triển về đất ở, đất canh
tác, tránh lụt lội… nhiều làng đã tìm đến vùng đất
phía Tây của huyện để khẩn hoang. Lúc đầu, các làng
vẫn chung đinh, chung điền, thiết chế văn hóa với các
làng gốc nhưng về sau khi dân cư ngày càng đông lên, vì
nhiều nguyên nhân khác nhau, có thể do mâu thuẫn, cũng có
thể do để dễ quản lý, thuế mà tách ra thành đơn vị
hành chính độc lập. Ví dụ, làng Trường Phước, làng
Ba Khê thành lập năm 1812 do Bà Trừ vào thời Gia Long đem
con cháu hai họ Bùi Văn, Bùi Phước từ làng Trí Bưu đến
xứ “Bà Trừ” khai khẩn. Bà được phong là Tiền Khai
khẩn, dân làng yêu quý gọi bà là Trà Phu Nhân. Và có lẽ
đây là trường hợp nữ duy nhất được tôn danh hiệu
này trên đất Hải Lăng.
Từ tên gọi các làng xã ở trên, ta thấy
khi đặt tên các xã đều giữ một phần tên gốc của
làng mình trước đây để nhớ về nơi chôn nhau cắt
rốn, hoặc phản ánh vùng đất mới minh sinh sống như:
Thuận Nhơn, Thuận Đức với ý nghĩa tìm Thuận Nghĩa
mà về “…Cao tổ huý Ca dĩ tiền sinh trưởng Gia Định
tỉnh, Thuận Nghĩa thôn, kỷ sự tích bản vô tường
kỷ…”. Trường Phước (Trường Sanh), Xuân Lộc (Hà
Lộc), Phú Long (Phú Xuân + Long Hưng), Lương Chánh (Hiền
Lương), Như Sơn (núi bằng)…
KẾT LUẬN
Quá trình
hình thành các làng xã huyện Hải Lăng đã diễn ra lâu
đời. Kể từ khi châu Ô, châu Lý sát nhập vào Đại
Việt (1306) cũng là quá trình người Việt di cư vào đây
khai khẩn, dựng làng. Dĩ nhiên, khi người Việt đến tụ
cư, đây không phải là mảnh đất vô chủ. Trước đó,
cư dân Chăm đã sinh sống, tạo lập một nền kinh tế,
văn hóa, xã hội phát triển. Nhưng đối với người Việt
đây vẫn là một vùng đất xa xôi, khó khăn, nguy hiểm.
Người Việt đến đây phần lớn là binh lính, tù nhân,
nông dân nghèo khổ. Trải qua quá trình chung lưng đấu
cật, chế ngự thiên nhiên, cải tạo ruộng đồng, khai
thác đất đai các làng xóm dần dần ra đời. Tuy nhiên,
phải đến thời Lê, đặc biệt dưới thời Lê Thánh
Tông (1460 - 1497) công cuộc khai khẩn vùng đất phía Nam
được đẩy mạnh trong đó có Hải Lăng. Phần lớn các
xã thôn ở Hải Lăng hiện nay được định hình về cơ
bản trong thời gian này. Hay nói cách khác, các làng xã
được thành lập hoàn chỉnh và ổn định. Những hoạt
động khẩn đất lập làng từ nửa sau thế kỉ XVI
(1558) trở đi là sự khai phá mở rộng và đi vào chiều
sâu. Nhìn vào danh sách các làng xã trong Ô Châu cận lục,
Phủ biên tạp lục ta thấy số lượng làng xã tăng lên
khá nhiều nhưng thực tế đi sâu tìm hiểu các làng xã ở
trên địa bàn Hải Lăng hiện nay thì không như vậy. Đến
thời Nguyễn 1802 – 1945 rất nhiều xã hiệu mới được
thành lập trên cơ sở đất đai của các làng hình thành
trước đó.
Qua việc
tìm hiểu các làng xã được thành lập ở Hải Lăng giai
đoạn 1802 – 1885 một lần nữa chứng minh quá trình khai
khẩn đất đai diễn ra rất lâu dài, liên tục. Các làng
xã ban đầu được hình thành chủ yếu ở vùng đồng
bằng, ven biển về sau do nhu cầu mở rộng diện tích đất
canh tác, tránh lụt lội, các làng tiến hành khai khác mở
rộng khu vực xung quanh mình cư trú, về sau nữa chuyển
lên khai thác vùng gò đồi phía Tây của huyện.
Việc mua
đất lập làng như ở Thuận Nhơn, Thuận Đức, Lương
Chánh. Hay như sự ra đi của cư dân các làng Phú Xuân
(Huế), Kim Long (Huế) do nhu cầu xây dựng mở rộng kinh
thành, được vua cấp thẻ bài cho dân các làng đó đi
đến đâu đều được hưởng quyền lợi về mọi mặt
ngang hàng với cư dân lâu đời ở đó. Về sau, thành lập
làng Phú Xuân, Phú Long, Như Sơn là một nét mới mà các
giai đoạn trước đó chưa có.
Chú thích:
* Xã Đoan Trang, Huyện Hải Lăng, Phủ Triệu Phong, thời
nhà Lê, có hai vị là Lê Thời Danh, Võ Trạch Thủ, trước
năm Quang hưng 14 (1591). Năm Hoằng Định thứ 6 (1605),
trước là tu sửa, khai khẩn đất đai, sau là khai báo
công đức với tổ tiên, tổ nghiệp. Các họ (hộ) tiếp
tục khai phá mở rộng đất hoang, chọn vùng cao làm nhà
ở, chọn nơi thấp làm ruộng như khê hác (khe hác) thì
tích nước thành hồ lớn thuận lợi cho khai hoang.
TÀI LIỆU THAM
KHẢO
Dương Văn An (Trần Đại Vinh, Hoàng Văn Phúc
hiệu đính và dịch chú) (2001). Ô châu cận lục, NXB
Thuận Hoá, Huế.
Dương Văn An (Văn Thanh, Phan Đăng dịch và chú
giải) (2009). Ô châu cận lục, NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội.
Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Chánh (2014).
Lịch sử Đảng bộ xã Hải Chánh (1930 - 2010), Quảng
Trị.
Ban chấp hành Đảng bộ huyện Hải Lăng
(2015). Lịch sử Đảng bộ huyện Hải Lăng (1930 - 1975),
NXB Chính trị Quốc gia – Sự thật.
Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Sơn (2008).
Lịch sử Đảng bộ xã Hải Sơn (1930 - 2005), Quảng Trị.
Ban chấp hành Đảng bộ xã Hải Trường
(2012). Lịch sử Đảng bộ xã Hải Trường (1930 - 2010),
Quảng Trị.
Lê Quý Đôn (Viện Sử học dịch) (2007). Phủ
biên tạp lục, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội.
Đồng Khánh dư địa chí (Ngô Đức Thọ,
Nguyễn Văn Nguyên, Philippe Papin dịch), bản CD-Rom.
Lê Văn Duẫn (1985). Làng xã ở Hải Phú (Từ
thành lập đến trước Cách mạng tháng Tám 1945), Khoá
luận tốt nghiệp, Trường ĐHKH Huế, Huế.
Lê Thanh Hà (1985). Quá trình hình thành và phát
phiển các làng xã ở xã Hải Lâm Triệu Hải – Bình
Trị Thiên dưới thời Phong kiến, Khoá luận tốt nghiệp,
Trường ĐHKH Huế.
Title: THE
ESTABLISHMENT OF THE VILLAGE UNDER THE NGUYEN DYNASTY (1802-1885) IN
HAI LANG DISTRICT QUANG TRI PROVINCE
Abstract: The work
of reclaiming the establishment of the village is a large problem,
many researchers, managers and interested villages. This article
would like to mention the establishment of a number of villages in
Hai Lang district under the Nguyen Dynasty (1802- 1885). Thereby,
show some features about the process of establishment the villages
during this period.
Keywords: village,
Hai Lang, Nguyen Dynasty
NGUYỄN THỊ MINH
THIỆN
Trường THPT Quang
Trung – Tây Ninh
TS. THÁI QUANG
TRUNG
Trường Đại học
Sư Phạm – Đại học Huế
(Ngày nhận bài:
19/5/2016; Hoàn thành phản biện: 17/6/2016; Ngày nhận đăng:
17/7/2016)
Nguồn: http://tckhgd.huce.vn/DOC_BAIBAO/34_532_NguyenThiMinhThien,ThaiQuangTrung_13_thai%20quang%20trung%20lan%202.pdf