Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, March 9, 2022

10 NHÂN VẬT CỦA NHÀ VĂN KIM DUNG - Thơ Trần Đức Phổ

 

Nhà văn Kim Dung



1.  Nghi Lâm


Một tiểu ni cô chốn cửa thiền
Tâm thành mà dạ chẳng hề yên
Hoa rơi hữu ý trong thầm lặng
Nước chảy vô tình giữa lãng quên
Đức hạnh sư môn chưa vẩn đục
Tấm lòng bồ tát mãi y nguyên
Hồi chuông mầu nhiệm Hằng Sơn phái
Tịnh độ cho đời bớt nghiệt duyên.

.

2.  Quách Tường


Chào đời giữa chiến loạn Tương Dương
Xinh đẹp ranh ma nết quật cường
Khí phách anh hùng nòi Quách Tĩnh
Tâm tư mẫn tiệp trí Hoàng Dung
Mộng đời hiệp lữ thành tro bụi
Ngộ cảnh sum vầy tựa khói sương
Mở phái Nga My truyền kiếm pháp
Non xanh nước biếc cũng vô thường.

.

3.  Triệu Mẫn


Quận chúa thay cha trấn cõi ngoài
Thông minh đảm lược kém chi ai
Binh hùng răm rắp chờ nghe lệnh
Tướng giỏi sẵn sàng đợi khiến sai
Lòng chứa non cao mưu vĩ nghiệp
Tâm mang biển lớn dụng anh tài
Trước sau cũng vẫn là xuân nữ
Nên thích chàng Trương vẽ nét ngài.

.

4.  Tiểu Long Nữ


Cổ mộ con tim vẫn ngọt ngào
Chàng Dương diễm phúc lạ lùng sao!
Mối tình phi lễ người ghi khắc
Trái cấm vô duyên kẻ chạm vào
Đáy cốc lãng quên niềm tủi nhục
Chân trời hành hiệp mộng tiêu dao
Tấm lòng ngọc nữ như băng tuyết
Mười sáu năm dài chịu khổ đau.

.

5.  Lý Mạc Sầu


Lối ái đường yêu khó cưỡng cầu
Xa miền Cổ Mộ biết về đâu?
Tình yêu thuở nọ nồng nàn thắm
Thù hận ngày kia chất ngất sầu
Nuốt lệ vung gươm duyên khó dứt
Nhớ người tạo nghiệt oán dài lâu
Ngậm cười lửa đỏ vùi thân ngọc
Phận bạc hồng nhan khổ ví dầu.

.

6.  Nhạc Bất Quần


Cứ tưởng thanh cao lại quá bần
Lừa trò phản bạn để vinh thân
Hoa Sơn chửa xứng danh quân tử
Ngũ nhạc uổng làm kẻ tiểu nhân
Ngậm máu phun người khôn hóa dại
Giấu tay ném đá quỷ nên thần
Vong tình thất đức phường gian xảo
Thiên hạ cười chê Nhạc Bất Quần!

.

7.  Lệnh Hồ Xung


Đã từng đệ tử phái Hoa San
Trót lỡ lầm tin Nhạc Bất Quần
Chén rượu sư đồ men nước lã
Mối tình mai trúc lớp tro than
Chín đường tuyệt kiếm siêu thần tốc
Một khúc cầm tiêu nặng nghĩa ân
Ma giáo Thánh cô không ghé mắt
Lệnh Hồ mãi mãi chịu hàm oan? 

 .

8.  Hư Trúc


Một nước cờ may phút bốc đồng
Tiểu tăng Hư Trúc đại thành công
Chân truyền tuyệt học Vô Nhai Tử
Thống lĩnh môn đồ Phiếu Mẫu phong
Tây Hạ giai nhân mơ hóa thực
Thiếu Lâm phụ mẫu có mà không
Thanh trừng phản nghịch Tiêu Dao phái
Cùng vợ vui vầy Linh Thứu cung.

.

9.  Mộ Dung Phục


Phục quốc nhiều đời vẫn ước mơ
Mộ Dung hiển hách đất Cô Tô
Thường tình nhi nữ đành xem nhẹ
Trách nhiệm anh hùng chẳng dám lơ
Mấy kẻ dời non cao thỏa chí?
Bao người khuấy nước lã nên hồ!
Gậy ông tuyệt kỹ khôn thành dại
Bá nghiệp ngàn thu chút bụi mờ.

.

10. Trương Vô Kỵ


Cuộc sống êm đềm ở đảo băng
Mồ côi cha mẹ lúc hồi hương
Quần hùng bạc vía Quang Minh Đỉnh
Tuấn kiệt bay hồn Núi Võ Đương
Phụ bạc ân tình Chu Chỉ Nhược
Phỉ nguyền ước mộng Triệu cô nương
Thà về kẻ mắt cho người đẹp,
Hơn soái tinh binh giữa chiến trường.


--
tranducpho
ducphot946@gmail.com

READ MORE - 10 NHÂN VẬT CỦA NHÀ VĂN KIM DUNG - Thơ Trần Đức Phổ

ĐI TÌM, CHÚT THÔI, NỖI CÔ ĐƠN, BỂ DÂU – Thơ Nguyên Lạc

 
 
                Nhà thơ Nguyên Lạc
 

ĐI TÌM
 
Đi tìm một thuở đã xa
Bước chân vô vọng phù hoa chợ người
Mong manh tình hạt sương rơi
Phù du nhân thế biết rồi trùng lai
Thì thôi một tiếng thở dài
Làm sao níu được mây bay lưng trời?
 
Đi tìm tôi lại thấy tôi
Ngu ngơ tình đó một đời cuồng si
Đài trang dáng mộng xuân thì
Trong em tôi có chút gì không em?
Tình rồi em chắc đã quên!
 
 
CHÚT THÔI
 
Chút thôi thoảng một chút thôi
Chút thương chút nhớ một thời chúng ta...
Chút thôi dù chỉ mù sa
Chút thôi cũng đủ cho thơ vướng sầu
 
Chút thôi một chút thật sao?
Chỉ là một chút sao đau một đời?
 
 
NỖI CÔ ĐƠN
 
1.
Quán vắng chiều mưa bay lất phất
Phố chiều nay hiu hắt rất buồn
Người sẽ đến? Làm sao biết được?
Chỉ một điều rất rõ: Cô đơn!
 
2.
Cô miên mới thấm nỗi cô đơn
Lữ khách sầu đêm rượu nhớ quên
Điệp khúc muôn trùng âm vọng gọi
Tay ôm huyễn mộng nhớ mùi hương
 
 
BỂ DÂU
 
1.
Bể dâu tàn mộng thanh xuân
Người vào trại thảm còn xanh mái đầu
10 năm màu tóc phai mau
Rừng sâu về lại phố nào tình nhân
Phố xưa giờ của người dưng
Quán xưa hò hẹn đã từng... còn đâu!
Cố nhân mù dấu phương nào?
Dã nhân ôm ngực nhói đau màu cờ
 
2.
Cố hương về lại thăm người
Tóc huyền, áo trắng...?  Đâu rồi tuổi xuân?
Thương ai bạc nắng còng lưng
Đoạn trường dâu bể não nùng đời em!
 
Nguyên Lạc

READ MORE - ĐI TÌM, CHÚT THÔI, NỖI CÔ ĐƠN, BỂ DÂU – Thơ Nguyên Lạc

THÁI HẠO, TIẾNG NÓI MỚI, VANG RỀN - Nguyễn Đức Tùng

 


Thế giới thường xuyên thay đổi, nhưng chưa bao giờ thay đổi nhanh đến thế, như trong những năm qua. Dịch bệnh, chiến tranh, tra tấn, dân tộc chia rẽ, môi trường thiên nhiên bị tàn phá đến cùng kiệt. Con người ngày càng tham lam, ngày càng sống hời hợt và giả dối.
Và bên dưới tất cả những thứ ấy, có một điều gì sâu hơn nữa, sâu xa nhất, chi phối tất cả: sự sợ hãi.
 
Tại sao chúng ta sợ hãi?
Tôi đã tự hỏi ngàn lần
Tại sao chúng ta sợ hãi?
Loài linh trưởng trong tôi gào thét
Đại ngàn trút lá
Tôi thèm làm người
Nguyên sinh
Trăng vỡ trên đỉnh trời
Tại sao chúng ta sợ hãi?
Câu hỏi làm tôi nổi giận
Thèm một que diêm
để châm lửa vào cánh rừng
 
Sau khi đọc bài thơ trên của Thái Hạo, một người đọc không thể hoàn toàn dửng dưng như trước nữa, người ấy có những cảm xúc mới, ý nghĩ mới. Cũng vậy, truyền thống văn chương nâng đỡ một nhà thơ, và cùng lúc giam hãm nhà thơ ấy. Ngôn ngữ là lịch sử, là tiếng nói còn lại qua thời gian, va đập bởi nhiều thử thách, sống sót, thay đổi, và đi tìm hướng đi mới. Một bài thơ bao giờ cũng cần được viết từ cách nhìn ấy, là những bài thơ khác viết lại, là sự thay thế, và hiểu lầm, làm mới và làm mới lần nữa. Một bài thơ hay ở lại với chúng ta, dù với ngôn ngữ thô ráp hay thanh nhã, trữ tình hay phản kháng.
 
Trong vườn mùa thu
cỏ dại mọc đầy
lời của tháng tám
xanh rì
dáng bố ngồi như đá trăm năm
Ta đến phương Nam một ngày mùa đông
chuông giáo đường đổ liên hồi trong trời thẳm
thấm thoát
tuổi ba mươi
 
Thơ Thái Hạo chỉ ra sự khác biệt giữa các cá nhân, đi tìm sự nối kết giữa họ. Thơ ấy làm phong phú trí tưởng tượng, tăng cường suy nghĩ bằng hình ảnh. Đó là một loại thơ đòi hỏi chú ý. Khi bạn chú ý, thời gian dừng lại, không gian sâu rộng hơn, mở ra sự thật. Sự thật trong thơ là điều chúng ta đi tìm, nhưng đó là một sự thật có tính biểu tượng. Sự thật của thơ nằm trong ngôn ngữ của nó. Thơ Thái Hạo không mạnh về tính âm nhạc, hầu hết là thơ tự do, một tình hình phổ biến hôm nay. Nhịp điệu của thơ anh không du dương êm ái, nhưng khi bạn đọc kỹ, bên dưới các chữ có một dòng chảy.
 
Tôi ngồi trong tiếng kèn đêm
thổi linh hồn một thiếu niên
vừa đi qua cuộc đời
trên đất nước tôi
Tiếng kèn buốt vào đêm đông
sừng sững
tội ác
và nhục hình
đòn roi
quất vào tuổi thơ
Tôi muốn viết một bài thơ thật đẹp về con người
nhưng con người đã chết
 
Bài hát và tiếng khóc đêm tối, tiếng kêu của thiên nhiên thời tiết. Trong thơ anh, một điều gì đang mất đi, một điều gì sẽ mất. Xưa nay trong lịch sử, các nhà độc tài bao giờ cũng có quan hệ căng thẳng bất thường đối với giới nghệ thuật: hoặc thù địch hoặc lợi dụng họ. Nhưng văn học là các diễn ngôn bên lề. Văn học không tham dự vào đời sống, không yêu sách, không ra lệnh, không kêu gọi, không hướng về đám đông tuân phục. Văn học là tiếng nói của từng cá nhân, từ bên trong và đến với bên trong. Thơ trữ tình càng thế. Thơ mang lại những kinh nghiệm tươi mới, cụ thể, thay đổi theo tình cảnh con người. Chúng ta biết rằng không có những tình cảm tuyệt đối phổ quát, không có lòng yêu thương chung chung, mà những tình cảm ấy, những nhận thức ấy bao giờ cũng được đặt vào một hoàn cảnh riêng biệt, một môi trường văn hóa và chính trị cụ thể. Đọc thơ can dự vào việc tạo ra những xúc cảm căng thẳng và lành mạnh, như thế. Ngôn ngữ thơ không có tính đại cương, chúng mang lại cảm giác về cái riêng biệt, mặc dù văn chương vốn là sản phẩm của trí tưởng tượng.
 
Tôi thấy mình và những linh hồn thành cơn bão
cuồng nộ
quét sạch bạo chúa
quét sạch tham tàn
quét sạch những loài quỷ man di
tôi xé tôi thành ngàn mảnh
như những mảnh gươm
băm nát những sợi xích khổng lồ cắn vào da thịt
băm nát những chiếc loa trên cột điện dối trá
Tôi làm cơn mưa rừng
rửa sạch thân thể quê hương lấm lem
rửa sạch hồn người khổ đau
rửa sạch thế kỷ bịp bợp
rửa sạch những giọt nước mắt
cho mi xanh lại
cho mắt em trong vắt một sớm mùa thu
Những linh hồn cùng tôi thổi một cuồng phong
cho da thịt lành lại
cho vỡ nát ngục tù
đập tan những ngai vàng
dành lại những lâu đài lãnh chúa
cho em bé làm trường
cho thiên chúa phục sinh
cho thần tự do cầm đuốc trong lòng Hà Nội
một Hà Nội tôi đã gặp em
trong những câu hát phố cổ
những câu hát hồ Tây
 
Đó là anh viết về tự do. Có nhiều bài thơ đặt người đọc trước những tình cảnh bi phẫn, mang họ đến chân tường. Những bài thơ như thế làm người đọc bối rối, tranh cãi, và làm thay đổi nhận thức của họ. Thơ Thái Hạo là một loại thơ hiện đại, có yếu tố hậu hiện đại, được viết dưới ánh sáng của kiến thức, lương tâm, phán xét xã hội. Thơ tự do, nhưng nhiều câu thơ ẩn chứa một nhạc điệu nhanh, mà nhẫn nại. Niềm vui của văn bản là giây phút khi ý tưởng, xúc động, thân xác hòa làm một dưới tác động của nhịp điệu. Đôi khi chúng ta muốn đi theo một con đường, nhưng nghệ thuật thay đổi hướng.
 
lời kinh lẫn trong đá
trong cỏ
trong những vì sao rụng mỗi đêm
Bố ngồi bên bờ núi
vách đá sừng sững
mưa và sương muối
 
Anh giữ cho mình trạng thái cô độc, độc lập, không lôi kéo sự chú ý của người khác, khiêm tốn và kiêu hãnh theo đuổi đến cùng xúc cảm của riêng mình. Anh đi theo những con đường ấy, một mình, vừa rời bỏ xã hội như một kẻ từng cô lập, vừa trở lại với xã hội như người làm chứng, như nạn nhân, đôi khi như kẻ đưa tin.
 
Tôi về
Trăng trong vắt dưới đáy giếng
Nơi con cá rô tôi thả năm xưa
Gầy khô
Chỉ có chiếc đầu là to vĩ đại gắn trên cái thân bé tí
 
Thơ Thái Hạo có những giây phút đẫm vị thiền, tan rã, hư vô, như tiếng chuông. Đó là một loại thơ trữ tình – viễn kiến, xuyên thấu kiến thức, làm cho tình trạng trữ tình của sự vật được chiếu lên bề mặt ý thức. Tuy vậy thơ anh không phải là một tuyên ngôn. Nhiều hơn, đó là một tình cảm được ẩn giấu như những ngọn núi sau mây. Đọc Thái Hạo, một người đọc có thể tìm cách nhìn thấy phía sau các chữ khá mới của anh, sự u sầu lãng mạn gần với cổ điển, sự hoang dại, nỗi buồn bất tận kiếp người.
 
tôi đi vào thành phố. không thấy bóng con người
những chùm hoa móng rồng đỏ
treo như những cái móc sắt nung
trong ngày đầu tháng 7
mưa xám
tôi tìm một cái gốc cây và ngồi xuống bên cạnh những ông địa
lẫn với Chúa
Phật. Bồ Tát
Và những ông thần tài
lô xô đứng
ngồi
nằm
gió thổi vào bộng cây ú ớ
những chùm móng rồng đỏ. cháy rực trong mưa
phố không bóng người
chỉ có những chiếc nón lá và những chiếc ô rách
gió thổi bay tung trên đường cái
tôi dựng dậy những pho tượng
thủa bé
đồ hàng
cho tượng cưới nhau
 
Một bài thơ có nhiều cách đọc, nhiều góc nhìn, tự nó là một văn bản mở, bao giờ cũng vậy, nhưng ở Thái Hạo văn bản ấy rất mở. Không phải chỉ có những câu thơ hiển lộ, các hình ảnh rõ ràng, mà còn đằng sau những chữ ấy sự phản ứng đầy hài hước của một người nhiều xúc cảm. Thách thức, chế nhạo, châm biếm xuất hiện ngày một nhiều. Sự kết hợp giữa giọng điệu hài hước và tính u sầu là một trong những kết hợp kỳ lạ của thơ anh.
 
Đái vọt xuống hồ sâu
Trăng vỡ
Tiếng ếch rộ lên
Nhạc trời hổn hển
Ái ân rền trên nước
Đao Lợi một cõi mênh mông
Thu về trú xứ miền hồng trần ai
 
Khác với hài hước cổ điển, hướng về người khác, hài hước đương đại hướng về chính mình. Anh giữ được thăng bằng giữa chủ quan của người nghệ sĩ và cách nhìn sự vật khách quan giàu triết học. Thơ Thái Hạo là một thứ thơ nhân chứng. Những bài thơ xuất hiện gần đây của anh đều cho thấy một bút pháp ổn định, về hướng ấy, và ít thay đổi, một cảm giác về tính đối thoại. Giọng của anh có khi sôi nổi, nhiệt tình nhưng phần lớn là tỉnh táo, gần như lãnh đạm, đó là một giọng thích hợp cho loại thơ nhiều suy tư hàm chứa các dữ kiện. Chúng ta đánh mất niềm tin. Con người đánh mất văn hóa, đất nước đánh mất tài nguyên. Chúng ta đau xót và phẫn nộ, trong khi ấy họ vẫn phải sống, vẫn phải yêu thương, vẫn phải hy vọng. Không ai biết khi nào thì ánh sáng sẽ tới. Không ai biết ánh sáng tới bằng cách nào. Nhưng chúng ta biết khi nhìn thấy nó.
 
Tôi ngồi nhớ Phật
người đàn ông khổ hạnh
đã khóc nhiều ngày trên núi
tuyết trắng lồng lộng
chàng băng qua rừng sâu
qua vách đá
băng qua những cái chết
u mê hun hút
trần gian
đá dựng
Chàng lội qua sông
bên kia là những đám lửa
 
Người làm thơ sáng tạo để sống cùng ngôn ngữ, chứ không phải để kiểm soát chúng, hay sử dụng chúng như phương tiện. Thơ nhân chứng hôm nay không phải chỉ là sự tố cáo mà còn là sự ghi chép lại, làm cân bằng một lịch sử hỗn loạn bị bôi xoá, không phải để chờ ngày phán xét cuối cùng, mà để độc giả phán xét trên từng trang giấy.
 
Một người đọc thực sự của thơ bao giờ cũng là người lắng nghe các chữ. Trong phép đọc nhanh, người đọc không lắng nghe, họ chỉ dự đoán nghĩa, như khi ta đọc một tường trình nghiên cứu, một bài báo. Đọc thơ bao giờ cũng là đọc chậm, vì người đọc lắng nghe bằng tai nhiều hơn nhìn bằng mắt. Thơ hiện nay ngày càng nghiêng về huynh hướng thứ hai, tính âm nhạc bị ruồng bỏ, và đó là điều đáng tiếc. Thái Hạo cũng không tránh được điều ấy, mặc dù trong nhiều bài, nhịp điệu của câu thơ của anh vẫn hấp dẫn tôi.
 
Ngồi lõm một vùng đêm
Ếch kêu vỡ giọng
Gọi mưa
Ve rũ xác tìm sương
Trên lá khô giòn rụm
Ta đun trà cho duỗi những búp nâu
Xanh lại lòng chén
Rạn men
Tiếng em như mưa giọt trên lá
Rửa bụi ngày
Xanh mướt bờ chiêm bao
 
Tất cả các câu đều mới, trừ câu cuối. Bài thơ có giọng tình tự, đằm thắm. Tôi cũng muốn thấy nhiều hơn trong thơ anh những câu chuyện về tuổi ấu thơ, về tình yêu, ngôi nhà, chuyện riêng tư, hoài niệm. Tôi yêu mến kích thước con người ở các nhà thơ trữ tình cũng như yêu mến kích thước xã hội ở họ, và sự kết hợp giữa hai tiếng nói là một kết hợp khó khăn, nhiều khi rất khó khăn. Tôi muốn được nhìn thấy nhiều hơn vẻ đẹp huyền bí, tính bất định, niềm vui của sự mất thăng bằng trong thơ anh.
 
Những linh hồn cùng tôi thổi một cuồng phong
cho da thịt lành lại
cho vỡ nát ngục tù
đập tan những ngai vàng
dành lại những lâu đài lãnh chúa
cho em bé làm trường
cho thiên chúa phục sinh
cho thần tự do cầm đuốc trong lòng Hà Nội
một Hà Nội tôi đã gặp em
trong những câu hát phố cổ
 
Tâm hồn hôm nay tìm thấy trong thơ ấy khuôn mặt của mình, những lo âu, thương xót. Như một người đọc, tôi cảm thấy tin vào tiếng nói ấy, muốn đi theo cùng anh trong những đổ vỡ ấy, nguyền rủa, trong những hy vọng ấy, tự tin và dịu dàng, ở Hà Nội, mặc dù không phải không có lúc cực đoan, hay, và, im lặng. Thơ hiện nay, tôi nghĩ, cần nhiều hơn nữa những tiếng nói như vậy. Yếu tố hài hước và châm biếm ở anh cũng khá uyển chuyển. Anh giữ được thăng bằng khôn ngoan giữa việc tiết kiệm chữ và phóng túng rời rạc, những mối liên kết ngắt đoạn, đặc trưng của thơ đương đại. Đây là lúc mà nhà thơ chúng ta cần nói lớn lên, ca ngợi lòng dũng cảm, ca ngợi sự cam kết, chống lại thói ích kỷ. Thơ cần trực tiếp, biểu hiện các ý tưởng về đời sống, phát hiện những nhầm lẫn của con người, tội ác của họ. Một số nhà thơ hôm nay bắt đầu dành được độc giả vì sau một giai đoạn tìm đường, thậm chí phá phách, họ tìm thấy các mối quan hệ cộng đồng, thước đo dành cho cái mới.
 
Những nổi loạn chưa trưởng thành sẽ không đóng góp nhiều cho công việc của thơ ca: đập vỡ cái cũ, các khuôn phép của giới thống trị. Nhà thơ Canada Nicole Brossard nhấn mạnh đến sự gặp gỡ của cái tôi và cái ta, như những giây phút đặc biệt, hiếm hoi, trong thơ chính trị đương thời. Trong giây phút ấy, giấc mơ trong mỗi người tìm lại được những giá trị tốt đẹp của cộng đồng. Thơ là hình thức tinh hoa bậc nhất của một ngôn ngữ, vận động trên những quy ước. Dựa trên những quy ước ấy, nhà thơ mô tả trạng thái tinh thần và tâm lý năng động nhất, tinh tế nhất của dân tộc mình. Những bài thơ hay tăng cường sự hiểu biết xã hội, văn hóa, mở rộng cánh cửa cho tâm trí. Vì thế, đối với tôi, mỗi bài thơ phải mở được một cánh cửa, chỉ ra được một thay đổi. Sự mô tả trong thơ phải cô độc, đầy năng lượng, vượt qua lối nói trừu tượng dễ dãi, xoay quanh các hình ảnh, dẫn tới gợi ý. Trong một số bài thơ, Thái Hạo đạt được, hoặc gần như đạt được, một ngôn ngữ như vậy.
 
Khi một kẻ nói yêu
ghét
đó là lẽ thường
là đạo của tự nhiên
anh ta chỉ đang làm người -
một người bình thường
nhưng ở đất nước này
bạn bè tôi không dám nói điều ấy
nỗi sợ hãi của họ là nỗi sợ làm người
một giống dân lấy sự hèn hạ làm khôn ngoan
chúng ta bị đày ra khỏi ngôi nhà của mình
và đi lang thang như những con chuột
trên nghĩa địa
trăng mờ
ta sợ sự khôn ngoan của các người
 
Xã hội ngày càng hung hãn. Càng hung hãn càng hoảng loạn, càng hoảng loạn càng tàn phá. Thực ra xã hội mấy mươi năm nay bao giờ cũng hoảng loạn. Trước tình cảnh ấy, thơ là tự do tư tưởng. Thơ đứng về phía những người bị áp bức, đứng về phía những người không có vũ khí trong tay, về phía một thiên nhiên đang bị phá hủy, một nền văn hóa bị bôi xóa, đứng về phía không có tiếng nói.
Thơ là tiếng nói ấy của họ.
Người đọc chờ nghe tiếng nói của nhà thơ, giúp cho họ nhận thức mình và người khác rõ hơn, tìm đến nhau, để một giây phút tạm bợ được soi sáng, một tồn tại cá nhân trở thành có ý nghĩa lớn hơn cá nhân ấy, để khoảnh khắc trần gian của chúng ta được thực sống mà nhớ lại.
 
Nguyễn Đức Tùng
(Đọc Thơ 37)

READ MORE - THÁI HẠO, TIẾNG NÓI MỚI, VANG RỀN - Nguyễn Đức Tùng

Tuesday, March 8, 2022

TRÍCH: TÌNH KHÚC TẶNG BẠN BÈ NXB VĂN NGHỆ 2008 - Thơ Khaly Chàm


 


,mai sau ai hát
 
trời trong sao rượu đục ngầu
dăm ly cũng thấm giọt sầu tê môi
nguyệt cầm chìm giữa dòng trôi
mai sau ai hát dỗ người - ru ta ?

 
,lệ nhoà kinh xưa
 
cầm dương phím lạnh tay ngà
tơ đồng rướm máu lệ nhoà kinh xưa
hiển linh sáng giọt âm thừa
nhập vào hư ảnh cho vừa cơn say

 
,về nghe sông hát
 
bến chiều nắng rụng vàng tay
sóng âm ba động nhíu mày dòng trôi
bờ xa hao khuyết - bãi bồi
về nghe sông hát ru hời tháng năm
 
khaly chàm
 
READ MORE - TRÍCH: TÌNH KHÚC TẶNG BẠN BÈ NXB VĂN NGHỆ 2008 - Thơ Khaly Chàm

CHUYỆN THẦY TRÒ VÀ NHỮNG BẬC CHA MẸ HỌC SINH XƯA - Khê Giang

 

Tác giả Khê Giang

CHUYỆN THẦY TRÒ 

VÀ NHỮNG BẬC CHA MẸ HỌC SINH XƯA

Khê Giang

1. Do được xếp hạng chỉ sau quỷ và ma nên chúng tôi vẫn thường xuyên bị lãnh đủ những hình phạt trên suốt chiều dài của hành trình đi tìm con chữ, ngày ấy chuyện bị đòn roi đối với đám trẻ trường làng là chuyện thường ngày, tựa như cơm bữa. Có hai hình phạt mà tôi ngán nhất đó là bị gõ vào các đầu ngón tay hay phần lưng bàn tay bằng thước gỗ, hai món này mỗi lần lãnh nhận là đau thốn đến tận tim do vùng tiếp xúc có rất ít da thịt che chở. Riêng các món còn lại như véo tai, phết roi mây vào mông hay quỳ vẫn là những hình phạt được coi là dễ chịu hơn. Năm học lớp Nhất (lớp cuối cùng của chương trình tiểu học) chúng tôi bị cô giáo phạt roi theo kiểu khá lạ, nếu phát hiện hai đối tác nói chuyện trong lớp, cả hai đều được mời lên bàn nằm ăn roi mà không cần biết đứa nào khai khẩu trước. Bị phát hiện viết bậy, đổ mực lên bàn hoặc kê bàn không ngay ngắn tất cả thành viên ngồi chung bàn đều được lãnh roi như nhau, bất kể trai hay gái. Để đối phó với việc bị đòn roi rất nhiều đứa đến trường thường phải mặc hai ba lớp quần. Án phạt ở trường đôi khi chỉ là hiệp một, lúc về nhà bị bạn mách hoặc thấy những lằn roi còn đỏ hằn trên mông, chúng tôi có thể phải chịu thêm hình phạt bổ sung từ cha mẹ, vì các cụ luôn tin tưởng sự đúng đắn công minh ở thầy cô. Việc xử (sử) dụng hình phạt đối với học trò cũng như việc đánh giá kết quả học tập, tất cả đều diễn ra hết sức công bằng, cho dù đối tượng là con của chính thầy cô hay những gia đình “ danh gia vọng tộc”, không hề ưu tiên gia đình có công với… xã hội. Vì vậy mới có chuyện nhiều nhiều học sinh lây lất hai ba năm vẫn chưa trèo qua một lớp.

2. Có lẽ so với nền giáo dục văn minh và hiện đại bây giờ, việc học sinh bị những hình phạt như vậy chắc ít ai đồng tình, tuy nhiên trong suy nghĩ của chúng tôi ngày đó, thầy cô luôn là những bậc đáng kính. Mặc dù bị đánh đòn là vậy nhưng khi đi trên đường chỉ nghe tiếng xe của thầy cô là tất cả kéo nón xuống, thụt lùi vào lề đường vòng tay cúi đầu chào. Điều lạ lùng là cái động tác chào kiểu ấy không chỉ diễn ra ở đám học trò mà kể cả người lớn. Các cụ râu tóc bạc phơ khi gặp thầy cô cũng tấp vào lề, xếp dù quạ kính cẩn cúi chào - những người được chào ấy nếu so ra tuổi tác chỉ trạc tuổi bằng con cháu của các cụ. Những ngày hội làng hay giỗ họ tộc khi được mời đến tham dự, thầy nghiễm nhiên được mời ngồi ở chiếu trên ngang với các vị chức sắc trong làng. Khi có việc riêng thầy cô đột xuất ghé nhà, cho dù đang lỡ tay với công việc vườn tược, các cụ vẫn vội vã lên trang phục truyền thống để ngồi hầu chuyện với thầy một cách cung kính. Mời được thầy đến dự đám kỵ giỗ là niềm hạnh phúc lớn của gia đình, một điều thành lệ khi thầy chưa cầm đũa chắc chắn trong nhà không ai dám bưng chén... Ngày Tết dành hai mùng cho nội ngoại nhưng mùng ba các cụ lại khăn gói đến chúc Tết thầy…

3. Nghe chuyện đánh đòn, án phạt nghiêm khắc đối với học sinh thời đó chắc nhiều người sẽ cho rằng tuổi thơ chúng tôi đã chịu nhiều thiệt thòi so với nền giáo dục văn minh và hiện đại như ngày nay? Xin thưa về vật chất, công cụ, phương tiện giảng dạy là có nhưng riêng tinh thần là không! Đến trường chúng tôi như tờ giấy trắng, không có một chút gợn dù nhỏ nhất về thầy cô, không bị áp lực chuyện học thêm học bớt, không sợ bị thầy cô chiếu cố trù dập, không có chuyện chạy trường, chạy điểm, không phải xa xót chuyện mua sách mới mỗi năm (những bộ sách được anh chị lớp trên cứ luân chuyển xuống lớp dưới, trải qua hơn một thập niên vẫn còn xử dụng tốt, vẫn mang nguyên giá trị về thẩm mỹ và tính hiện đại). Khi thấy chúng tôi đang đi lẻ loi trên đường trong trang phục học sinh hầu như tất cả những người điều khiển phương tiên giao thông đều rà xe lại hỏi lý do và sẵn sàng cho “quá giang” vì sợ chúng tôi trễ học hoặc không có tiền đi xe. Vào quán nước bắt gặp học sinh các chú các bác thường dành trả tiền. Khi vào bậc Trung học, từ nhà đến trường khoảng năm sáu cây số vậy mà khi lên xe đò chẳng một chủ xe nào lấy tiền học sinh trừ những lúc cả xe chỉ toàn một màu đồng phục áo trắng ( lúc đó chúng tôi tự nguyện trả tiền và nhà xe chỉ thu tiền tượng trưng). Đi tàu hỏa chỉ cần trình thẻ học sinh là được hoàn toàn miễn phí, cuối năm khi đạt thành tích tốt ngoài phần thưởng của trường chúng tôi còn nhận được quà từ chính quyền họ tộc, người thân…, khi tham dự lễ hội của Làng hay họ Tộc chúng tôi đều xếp ngồi ở vị trí trang trọng. Sự quý trọng thương yêu học sinh không chỉ gói ghém trong phạm vi nhà trường, trong cộng đồng xã hội mà còn ăn sâu vào tín ngưỡng: ngày mồng một Tết chúng tôi thường là những vị khách đầu tiên đến xông đất cho những nhà trong xóm (do đã có lời mời từ trước Tết). Cũng có đôi ba tin đồn thằng thằng A, con B bỏ học là do sợ thầy cô đánh, tuy nhiên khi trưởng thành lúc tiếp xúc, chuyện trò hay thổ lộ chúng tôi nhận ra đó chỉ là lý do phụ nằm trong muôn vàn lý do quan trọng khác.

4. Nói về thầy cô ngày đó, rời giảng đường kết thúc cuộc đời sinh viên những người đưa đò được phân bổ về khắp các vùng miền từ thành thị cho đến thôn quê, có nhiều thầy cô được điều về giảng dạy tại những nơi chốn xa xôi cách nhà cả trăm cây số, kể cả những nơi đang nằm trong vùng hỏa tuyến. Thế nhưng chẳng thấy thầy cô nào chạy trường, chạy khoảng cách. . Do không chạy chọt để lên chức nên thầy hiệu trưởng luôn được coi là người lãnh đạo anh minh, được mọi thầy cô đồng nghiệp tôn kính. Một hình ảnh rất đẹp về tình đồng nghiệp về văn hóa giao tiếp mà tôi may mắn được chứng kiến và nhớ mãi: trong giờ ra chơi khi các thầy đang ngồi trong phòng Hội đồng, nhác thấy cô giáo đồng nghiệp bước vào tất cả các thầy đều đồng loạt đứng dậy và thầy ngồi gần cửa nhẹ nhàng kéo ghế mời cô giáo ngồi. Thầy cô chỉ chú tâm vào công tác giảng dạy, không phải làm công việc bằng tay trái. Nhà trường không phải làm kinh tế, kinh doanh nên thầy cô không phải bận lòng vương víu những chuyện ngoài chữ nghĩa.. Vì vậy việc đánh đòn phạt quỳ học sinh ngày ấy tuy không phải là phương pháp giáo dục tối ưu vẫn được cộng đồng chấp nhận và những người bị xử phạt – lúc còn đang mài đũng quần trên ghế nhà trường cho đến khi sang bên kia sông vẫn hướng về người đưa đò với một niềm thương yêu kính trọng.

KHÊ GIANG




READ MORE - CHUYỆN THẦY TRÒ VÀ NHỮNG BẬC CHA MẸ HỌC SINH XƯA - Khê Giang

HOA LYLY NGÀY ĐẦU XUÂN - Chu Vương Miện

 





READ MORE - HOA LYLY NGÀY ĐẦU XUÂN - Chu Vương Miện

Saturday, March 5, 2022

THƠ TÌNH THÁNG BA ĐÂU… - Thơ Trần Mai Ngân

  
 

 
THƠ TÌNH THÁNG BA ĐÂU…
 
Người ta hỏi em bài thơ tình tháng Ba đâu
Em cúi đầu không nói… giấu giọt lệ sầu
Tháng Ba lạnh tanh buồn
Chiến tranh Ukraine và Covid…
Mọi thứ hỗn độn giúp em quên anh…
 
Tháng Ba trời xanh vẫn hương nồng hoa Sữa
Cây Gạo đầu làng vẫn thắp lửa mỗi trưa
Vậy mà ai cũng thờ ơ… chẳng thiết tha
Mọi thứ quấn tim em ngộp thở… tháng Ba
Nghẹn lời yêu…
 
Tháng Ba rơi sót lại một buổi chiều
Tiếng guitar và bài tình ca cô ấy hát
Nốt lặng trầm một dư âm rất cũ… của tháng Ba xa
Dù mọi thứ bây giờ thật sự đã qua
Tháng Ba xưa và tháng Ba!
 
Trần Mai Ngân

READ MORE - THƠ TÌNH THÁNG BA ĐÂU… - Thơ Trần Mai Ngân

GIÒNG SÔNG LIỄU HẠ QUÊ TÔI - Trần Kiêm Thiện

Tác giả Trần Kiêm Thiện và phu nhân


GIÒNG SÔNG LIỄU HẠ QUÊ TÔI

Trần Kiêm Thiện

 

Giòng sông Liễu Hạ là giòng sông quê tôi. Người ta gọi là sông Bồ, sông Phú Ốc nhưng khi khúc sông chảy qua làng Liễu Hạ* của tôi từ cống Tây Phương Cổ Lão đến cầu Khại phe Chùa dài chừng 1 ki-lô-mét thì đó là sông Liễu Hạ. Tôi đã quen gọi tên nó như tên làng tôi.

 

Hơn 80 năm cuộc đời, khi tôi mới sinh ra thì giòng sông ấy đã già hơn mấy mươi nghìn tuổi. Đối với tôi thì đó là một dòng sông đầy kỷ niệm. Cả một thời tuổi trẻ của tôi ở Làng, giòng sông Liễu Hạ đã đóng nhiều vai rất đặc biệt: Mùa Xuân lạnh lẽo thì sông im vắng. Mùa Hè nóng nực thì sông là nơi tắm mát. Mùa Thu thì sông phẳng lặng hiền hòa với gió heo may. Mùa Đông lạnh lẽo thì sông vắng luôn những chuyến đò. Trẻ con ở làng thì chỉ biết sống như câu hát: “Ăn no tắm mát lên cành nghỉ ngơi!” Nhưng sợ nhất là những mùa lụt bão. Nước bạc từ mưa nguồn trên núi Trường Sơn đổ về. Giòng sông trở thành một dòng nước lũ cuồn cuộn và làm nước lụt dâng lên lút cả làng xóm ruộng vườn.

 

Bởi giòng sông chảy qua phía Đông làng tôi nên mặt trời buổi sáng dọi những tia nắng xuống giòng sông làm cho nước sông xanh lóng lánh đẹp như mặt nước có dát bạc dát vàng. Những buổi chiều mùa Hè, nước sông trong mát chúng tôi chơi đùa, chạy nhảy đất bụi dính đầy người rồi kéo nhau “ra rào tắm”. Ra rào tắm là ra sông tắm. Lũ con trai chúng tôi có đứa nhỏ, đứa lớn nhưng đều thoải mái tuột hết áo quần nhảy tùm xuống nước. Mấy đứa lớn bơi giỏi thì bơi qua rào; nghĩa là bơi qua bên tê sông. Phía bờ bên tê làng Phe Kiền Bến tắm thích nhất là bến "Dấu Hàn Đưới".

 

Từ Cổ Lão xuống Phe Chùa bờ sông làng tôi có 3 kè đá do các đời trước đã chất cao và đổ dài từ đất làng ra tới gần giữa sông để tránh đất Làng bị sạt lỡ gọi là “Dấu Hàn”. Ba kè đá đó được gọi tên là Dấu Hàn Côi, Dấu Hàn Bến Đình và Dấu Hàn Đưới hay “Bến Chú Trác”.

 

Tôi sống xa Làng đã hơn 60 năm, nhưng giòng sông quê hương vẫn mãi là hình ảnh đẹp trong lòng tôi. Có những kỷ niệm bị mạ đập rát da rát thịt nhưng tôi vẫn nhớ và thương còn hơn những chuyện đẹp nhất đời mình. Tôi xin kể một chuyện khó quên của đời tôi với giòng sông quê hương Liễu Hạ: Ở Làng, tôi có nhiều bạn nhưng chơi rất thân với người bạn chân đất là Cao Đức Dạng. Tuy Dạng ở vai cháu và thua tôi 3 tuổi nhưng là bạn thân và cũng là bạn học ở trường trung học Phan Sào Nam. Dạng nay đã thành người quá cố nhưng tôi biết xưng là chi chừ. Là ông, là anh, là chú? Đều không ổn. Thôi thì chỉ xin được xưng bằng tên thôi. Nhớ một buổi xế chiều ngày Rằm tháng Bảy vào năm 1961, tôi và Dạng tắm ở bến Dấu Hàn và rủ nhau bơi qua sông. Qua đến bờ sông Phe Kiền, thuận chân chúng tôi nhảy lên bờ và tời gần cái Miếu thờ đang cúng chuối, chúng tôi hè nhau vào miếu xách nãi chuối đang cúng và chạy ùa ra sông để bơi về lại phía làng. Không may ông từ giữ miếu bắt được và hô hoán lên: “Bớ làng xóm! Quân ăn cướp...Quân trộm chuối. Bắt lại, bắt lại!” Nhưng hai chúng tôi đã xách chuối chạy ùa ra sông và bơi trở lại về phía Làng. Vụ nầy đã làm mọi người trong làng nhốn nháo cả lên. Phía Phe Kiền tức giận yêu cầu trị tội. Phía làng Liễu Cốc Hạ, nhất là các bậc trưởng thượng đèu lên tiếng khiển trách và yêu cầu gia đình trị tội. Ở Làng ai cũng biết tôi là con nhà vườn, đồ trái cây như chuối, mít, ổi, vải… trái đầy vườn nhưng tại nghịch ngợm mà “chôm” nải chuối chứ chẳng phải thiếu thốn hay thèm khát chi. Dạng đã bị ông già đập một trận nên thân và tôi cũng bị mạ tôi quất roi lằn ngang lằn dọc. Chừ nhớ lại mà vừa muốn khóc, vừa muốn cười khi nhắc đến giòng sông quê hương.

 

Tôi nhớ bờ sông “vạt Dứt” thời chưa bị sạt lở đất rộng ra tới nửa sông bây giờ. Bờ có bốn cây cừa và những “trộ dòm” ven bờ sông. Trộ dòm là cái chòi lá nhỏ từ trên bờ dài xuống tới nước, thường làm bằng lá đùng đình. Mục đích là để làm nơi rình cá. Người chủ trộ dòm ngồi núp trong chòi với cái đọt chĩa ba hay chĩa năm sắc lẻm. Khi thấy cá bơi vào tầm nhìn từ trộ dòm nhìn xuống thì người rình nhanh tay đâm chết cá và vớt cá lên. Người nổi tiếng “sát ngư” thường xuyên đâm được cả xâu cá là chú thợ Mực, đó là người thợ rèn nổi tiếng trong Làng. Giòng sông Liễu Hạ quê hương tôi đẹp cả bốn mùa. Sông đẹp mùa Xuân với cây xanh hai bên bờ trổ lá trổ bông. Mỗi lần Tết đến dân Làng tôi đem ghe qua bờ Phe Kiền hụp xuống sông lặn xúc cát, rồi đổ lên ghe đem về Làng đổ cát lên các con đường làng, đường xóm ngập bùn cho khô ráo mà đi lại thăm nhau trong ba ngày Tết. Sông đẹp với mùa Hè khi nắng sớm, nắng trưa, nắng chiều vàng óng chiếu dọi trên sông xanh. Sông đẹp trong mùa Thu với những bụi tre lá ngà cao vút soi bóng nước và có những ổ chim “tổ rột” bện cỏ vàng hươm treo lủng lẳng trên ngọn tre. Sông cũng đẹp trong mùa Đông trong trận lụt đầu mùa với từng đụn củi rều từ núi trôi theo nước nguồn, chúng tôi ra vớt phơi khô làm củi chụm bếp cả năm, lại thêm cá nguồn đủ loại về đồng đẻ trứng, chúng tôi đơm chẹp, cất rớ bắt ăn tươi, làm mắm, ướp thính, phơi khô để dành có năm đủ để dành ăn suốt cả mùa Đông.

 

Tôi thương giòng sông ấy một đời nhưng cũng có mấy lần sợ thất sắc. Đó là khi tàu chiến của Tây về. Tàu thủy Tây chạy ngược sông Bồ về đổ quân vào Bợt Lở. Lính Tây đen, Tây trắng, Tây rạch mặt đổ bộ đi lùng khắp làng khắp xóm. Lính Tây có quyền như thần thánh và dữ tợn như ma quỷ. Tây muốn lấy đồ đạc chi hay bắt ai, đánh đập ai, hãm hiếp ai cũng phải chịu. Có một lần Tây đốt nhà cháy rụi cả làng. Đó là những năm chiến tranh đầy bom đạn mà giòng sông quê tôi cũng phải nhiều lần đau xót.

 

Giòng sông quê tôi có đủ những kỷ niệm vui buồn đã thành dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lòng tôi. Dấu ấn đó đã ghi vào ký ức của tôi quá sâu đậm từ thuở tuổi còn thơ nên không có chi xóa nhòa nổi.

 

Những năm gần đây về thăm Làng, giòng sông quê hương Liễu Hạ trong xanh tươi mát của tôi như đã thành quá khứ vì sông bây giờ đục ngầu bởi nước các đập thủy điện ở thượng nguồn xả ra và hai bên bờ chỉ thấy những vựa nuôi cá đan bằng tre mây nằm san sát. Những lũy tre làng và những hàng tre lá ngà soi bóng nước ven sông cũng không còn nữa. Nhìn những bờ sông và bến sông xưa trơ trụi nhưng sao tôi vẫn cảm thấy yêu lắm giòng sông quê hương. Giòng sông đó có thể không còn như xưa nhưng bù lại thì giòng sông Liễu Hạ quê hương vẫn còn nằm nguyên vẹn trong lòng tôi mãi mãi.

 

Trần Kiêm Thiện

 

*Làng Liễu Hạ thuộc huyện Hương Trà, Thừa Thiên -Huế.

READ MORE - GIÒNG SÔNG LIỄU HẠ QUÊ TÔI - Trần Kiêm Thiện

Friday, March 4, 2022

ĐÊM ĐỘC ẨM, RƯỢU CUỐI NĂM, TUYẾT RƠI – Thơ Nguyên Lạc

 
 

 
ĐÊM ĐỘC ẨM
 
Đêm đất khách tìm đâu tri kỷ
Say cùng ta thất chí hồ trường
Bao năm cuộc đó tang thương
Trăng chìm đáy chén tha hương uống sầu!
Cố nhân sương khói về đâu?
Nghiêng sầu chếnh choáng trăng màu phôi phai
 
Rượu sầu ta uống với ai?
Nhạt nhòa sương lệ ánh trăng phai
Thiên hạ ai người lòng lớn rộng?
Nâng chén sơn hà cùng ta say
 
Mình ta say, mình ta say
Mình ta cùng với nỗi tình hoài
Sầu tràn ta uống sầu không cạn
Rượu uống mình ên chẳng chịu say!
 
Chẳng chiụ say, chẳng chịu say!
“Em ơi lửa tắt bình khô rượu
Đời vắng em rồi say với ai?” *
 
Say với ai, say với ai?
Thất chí hoa niên vội bạc đầu!
 
Bạc đầu thật, bạc đầu sao?
Thanh xuân khát vọng còn đâu!
Cuối đời nát mộng còn sầu lưu vong!
 
……….
 
* Câu thơ Vũ Hoàng Chương
 
 
RƯỢU CUỐI NĂM
 
Cuối năm độc ẩm sầu thất chí
Khóc tuổi thanh xuân mộng chẳng thành
Cay đắng sá gì đời phi lý
Xuân về chi vội bạc đầu nhanh?
 
Đã rồi tan vỡ mộng thanh xuân
Đất nước loạn cuồng thuở nhiễu nhương
Cuộc lữ đành thôi tình chia biệt
Quê hương từ đó cách trùng dương!
 
Ai người tri kỷ cùng say khướt?
Hay chỉ mình ta cuộc độc hành
Hay chỉ mình ta đường đếm bước
Lầm lũi cả đời chỉ loanh quanh!
 
Lưu vong thất chí nát công danh
Nhớ lại tiền nhân thẹn trong lòng
"Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông" [*]
 
Còn gì mà nói núi với sông?
Sau cuộc bể dâu nát tang bồng
Câu thơ ngày cũ đành quên lãng
Cơm áo tháng năm mộng phải đành!
 
Bao năm rồi hở mà bạc tóc?
Giấc mộng hồi hương vẫn trong hồn
Bao năm rồi hở lòng muốn khóc
Cuối năm độc ẩm chén Hồ Trường
 
Hồ Trường! Cay đắng Hồ Trường [**]
Có người thất chí rượu cuồng thống ngâm
Còn đâu tri kỷ tri âm
Sầu dài bạc tóc hết mong lời thề!
 
............
 
[*] Lời thơ Đi Thi Tự Vịnh- Nguyễn Công Trứ
[**] Hồ Trường- Nguyễn Bá Trác
 
 
TUYẾT RƠI
 
Mùa lại đến
tháng năm cùng mơ ước
vỡ tan theo bông tuyết trắng rơi đầy
Đời thi ca
một mình ta đếm bước
Tinh đôi ta trôi tuột rỗng tay này!
Tuyết đang rơi
tuyết hãy cứ rơi!
Ngày tháng qua mau
tất cả phai phôi
Tuyết đang rơi
Tuyết hãy cứ rơi!
Có sao đâu?
Tóc thêm chút trắng màu
Có sao đâu lạnh chút có sao đâu?
Đời đã lạnh từ ngày tang thương đó!
 
Phố lạ sáng nay băng tuyết đổ
Trắng muôn trùng trắng kiếp tha hương
Người lữ khách động một trời thống hận
Vết thương xưa nhức nhối trong lòng!
 
Sáng nay rơi muôn trùng bông tuyết trắng
Lệ tuyết não nùng người biết hay không?
Vời phương đó chắc xuân hồng nắng ấm?
Nơi phương này buốt giá lắm người ơi!
 
Cuộc dâu bể tàn rồi thanh xuân mộng
Chia biệt đời còn gì nữa mà mong
Đời băng tuyết tìm đâu ra chút nắng
Đủ ấm lòng cho kẻ sống lưu vong!
 
Nguyên Lạc 

READ MORE - ĐÊM ĐỘC ẨM, RƯỢU CUỐI NĂM, TUYẾT RƠI – Thơ Nguyên Lạc