Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, January 27, 2022

CON HỔ THIẾU TƯ CÁCH -Truyện cổ Triều Tiên -Tác giả: William Elliot Griffis - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước



CON HỔ THIẾU TƯ CÁCH

Truyện cổ Triều Tiên

Tác giả: William Elliot Griffis

Nguyên tác bằng tiếng Anh đăng trên https://fairytalez.com/region/korean/ 

 

Lão Sơn Lâm là tên do dân làng đặt cho một con hổ vằn tuyệt đẹp sống giữa vùng cao nguyên Kang Wen, một tỉnh nằm dọc theo bờ biển. Những người thợ săn hiếm khi nhìn thấy nó, và trong số những con hổ đồng loại của mình, Sơn Lâm khoe rằng, mặc dù thường bị bắn, nó chưa bao giờ bị thương; còn đối với những cái bẫy - nó biết rành và cười nhạo những thiết bị mà con người sử dụng bắt nó để lột da, thứ mà họ rất thèm muốn. Vào mùa hè, nó kiếm mồi trên những ngọn núi cao và sống bằng thịt nai béo. Vào mùa đông, khi tuyết rơi dày đặc, gió giật mạnh và cái lạnh khủng khiếp giam giữ con người trong các cánh cửa, thì nó thường đi về các bản làng. Ở đó, nó lượn quanh các chuồng gia súc với hy vọng chụp và lôi ra một con lừa non, một con bê béo hoặc một con lợn sữa. Nó thường thành công, và là nỗi khiếp sợ của người và loài vật trong vùng.

 

Một ngày mùa thu, nó lục lọi khắp những ngọn núi thấp hơn. Dù những nơi ấy rất xa bản làng, nó vẫn luôn chú ý đến bẫy và thợ săn, nhưng dường như không có gì nguy hiểm. Nó rất đói và hy vọng kiếm đươc mồi. Nhưng khi đi tới một tảng đá lớn,  đột nhiên nó nhìn thấy trên đường có một vài dấu chân, mà nó nghĩ  là của một con hổ lớn bằng nó. Lão Sơn Lâm dừng lại, hung dữ ngoe nguẩy đuôi như thách thức, thể hiện sự sẵn sàng chiến đấu bằng cách gầm gừ và trong tư thế vồ chụp đối thủ. Nó ngạc nhiên khi thấy con hổ kia cũng làm những động tác tương tự. Lão Sơn Lâm chắc chắn rằng sẽ có một cuộc đấu  khủng khiếp, nhưng đây là những gì nó  muốn, vì tất nhiên nó sẽ giành chiến thắng.

 

Nhưng sau một cú nhảy vọt trên không trung, lão Sơn Lâm hạ cánh xuống một cái hố và một đống hùm bà lằng đổ lên mình nó. Không có một con hổ nào khác, nhưng thay vào đó là một nắp gỗ nặng đóng lại trên đầu nó sau cú va chạm và nó nằm trong bóng tối. Lão Sơn Lâm cuối cùng đã bị mắc bẩy. Đúng vậy, người thợ săn đã che cái hố bằng cây và lá, và trên những cây gỗ thẳng đứng, phủ đầy dây leo và cây bụi, có treo một tấm kính soi mặt. Lão Sơn Lâm thường nhìn thấy khuôn mặt và cơ thể của mình trong suối khi nó khom mình uống nước, nhưng lần này, nó đã bị lừa  khiến nó tưởng rằng có một con hổ thật muốn chiến đấu với mình.

 

Chẳng bao lâu, một vị tu sĩ Phật giáo đi ngang qua, được biết là người thường đối xử tốt với tất cả mọi loài chúng sinh. Nghe thấy tiếng động vật rên rỉ, ngài mở bẫy và nhấc nắp lên thì thấy Lão  Sơn Lâm ở phía dưới đang liếm cái chân bầm tím của nó.

Lão Sơn Lâm nói: Làm ơn, ông ơi, hãy cứu tôi ra. Tôi bị thương nặng.

 

Để cứu con hổ, vị tu sĩ nhấc một khúc gỗ lên và trượt nó xuống, cho đến khi một đầu chạm đáy hố. Con hổ bám cây gỗ leo lên và đi ra ngoài. Để bày tỏ lòng cảm ơn, nó nói với vị tu sĩ:

 

-Tôi vô cùng biết ơn ngài, ngài đã giúp tôi thoát khó khăn. Tuy nhiên, vì tôi đang đói lắm, tôi phải ăn thịt ngài.

 

Rất ngạc nhiên và phẫn nộ, vị tu sĩ phản đối sự vô lương thấp hèn đó. Ít nhất, đó là cách cư xử quá tồi tệ và hoàn toàn trái với quy luật của núi rừng, và ngài nhờ đến một cái cây lớn để quyết định phải trái. Qua tiếng lá xào xạc, cái cây tuyên bố rằng con người được tự do và con hổ vừa là kẻ vô ơn vừa là kẻ hỗn láo.

 

Lão Sơn Lâm vẫn chưa hài lòng, nhất là khi vị tu sĩ này béo bất thường và sẽ là một bữa tối rất ngon. Tuy nhiên, nó cho phép vị tu sĩ kháng cáo một lần nữa và lần này trọng tài là một tảng đá lớn.

 

Tảng đá nói: -Vị tu sĩ chắc chắn đúng, Lão Sơn Lâm đáng kính ạ, và ngươi hoàn toàn sai. Chủ nhân của ngươi, Chúa Núi, người cưỡi trên con bò xanh và con ngựa đầu trọc để trừng phạt kẻ thù của mình, chắc chắn sẽ quở trách ngươi nếu ngươi ăn thịt vị tu sĩ này. Ngươi sẽ không phải là sứ giả phù hợp của Chúa Núi nếu ngươi vô ơn đến mức ăn thịt người đã cứu ngươi khỏi chết đói  trong bẫy. Đó là cách cư xử tồi tệ đáng kinh ngạc dù chỉ mới là ý định.

 

Lão Sơn Lâm cảm thấy xấu hổ, nhưng mắt vẫn trừng trừng vì đói, vì vậy, để chắc chắn cứu được mạng mình, vị tu sĩ đề nghị cho cóc Đốm Lưng làm quan xét xử. Con hổ đồng ý.

 

Nhưng con cóc, với đôi mắt viền vàng, trông rất khôn ngoan, và thay vì trả lời nhanh như cây và đá, nó đã cân nhắc rất lâu. Trái tim của vị tu sĩ chùng xuống, trong khi con hổ nuốt nước bọt như thể đang hình dung bữa tiệc sắp tới của nó. Nó cảm thấy chắc chắn rằng cóc Đốm Lưng sẽ quyết định có lợi cho nó.

 

-Tôi phải đi xem cái bẫy trước khi tôi có thể quyết định, Đốm Lưng nói nghiêm nghị như một quan tòa. Ngay sau đó, cả ba đều nhảy hoặc đi bộ đến cái bẫy. Con hổ, nhờ di chuyển nhanh, đã ở đó trước, đó chính là điều mà cóc muốn, vì nó là bạn của vị tu sĩ. Trong khi Sơn Lâm đang chờ, Đốm Lưng nhanh mắt tìm kiếm một vết nứt trên một tảng đá gần đó.

 

Thế là, trong khi Đốm Lưng và Sơn Lâm đang nghiên cứu vụ việc, vị tu sĩ tự cứu mình bằng cách chạy vào bên trong cổng tu viện. Cuối cùng, Đốm Lưng quyết định chống lại  Sơn Lâm và ủng hộ người bạn tu sĩ, ngay khi nó vừa kết thúc phán quyết của mình,  nó liền lao vào khe đá. Khi đã bò xa vào bên trong, cóc gọi hổ là kẻ vũ phu và con thú vô ơn, và thách hổ muốn là gì thì làm.

 

Lão Sơn Lâm nổi điên lên vì cơn thịnh nộ và cơn đói đến nỗi tài khéo léo của nó dường như biến thành sự ngu ngốc. Nó cào vào tảng đá để kéo con cóc và xé xác nó thành từng mảnh. Nhưng Đốm Lưng đã an toàn bên trong, chỉ cười. Không làm hại được cóc, hổ nổi trận lôi đình.

 

Càng nóng nảy, hổ càng mất đi sự thông minh. Chọc mũi vào vết nứt, nó cọ xát mạnh vào tảng đá thô ráp đến nỗi mũi và lưỡi nó chảy máu đến chết. Khi người thợ săn đến, anh ta ngạc nhiên trước những gì mình thấy, nhưng anh ta vui mừng vì biết mình sắp giàu có bằng cách bán bộ lông, xương và móng vuốt của hổ; vì ở Triều Tiên thời đó, không có gì quý giá bằng những thứ từ xác hổ. Về phần cóc Đốm Lưng, nó kể cho con cháu mấy đời sau câu chuyện về việc nó nhanh trí vượt trội hơn Lão Sơn Lâm thế nào.


&&&



Tiểu sử tác giả

William Elliot Griffis

 

Sinh tại Philadelphia vào năm 1843, tác giả William Elliot Griffis là một tác giả cực kỳ thành công và đã xuất bản một số cuốn truyện cổ tích vào những năm 1900. Là một mục sư tích cực ở Hoa Kỳ vào những năm 1800, ông đã làm việc tại một số nhà thờ ở Boston và New York, trước khi nghỉ hưu từ chức vụ thánh chức vào năm 1903 để viết và thuyết trình. Thư tịch phong phú của ông bao gồm các tác phẩm về văn hóa và di sản Nhật Bản, và ông đã giúp tác giả Inazo Nitobe viết cuốn Bushido nổi tiếng: Linh hồn của Nhật Bản.

Với tư cách là tác giả và giáo sư, nhiều chuyến đi của ông đến châu Âu, và đặc biệt là Hà Lan, đã giúp hình thành sự đánh giá cao của ông về các nền văn hóa châu Âu. Trong nhiều năm, ông tiếp tục xuất bản các bộ sưu tập văn học dân gian từ khắp nơi trên thế giới, với các tựa đề như Thế giới cổ tích Nhật Bản: Ba mươi lăm câu chuyện từ nền văn hóa thần tiên của Nhật Bản, Những người tình của đom đóm và những câu chuyện cổ tích khác của Nhật Bản cổ, Truyện cổ tích Bỉ , Truyện cổ Thụy Sĩ, Truyện cổ xứ Wales, Truyện cổ tích Hàn Quốc và Truyện cổ tích Nhật Bản. Mặc dù không được biết đến nhiều như Hans Christian Anderson, nhưng Griffis thực sự đã đóng góp rất nhiều cho thế giới văn hóa dân gian. Ông mất ở Florida năm 1928.

 


READ MORE - CON HỔ THIẾU TƯ CÁCH -Truyện cổ Triều Tiên -Tác giả: William Elliot Griffis - Người dịch: Nguyễn Khắc Phước

Wednesday, January 26, 2022

TA NỢ EM MỘT ĐIỀU - Thơ Phong Nguyễn

Nhà thơ Phong Nguyễn



TA NỢ EM MỘT ĐIỀU
Phong Nguyễn

 

Ta nợ em!
nợ một điều
Nợ câu hò hẹn đã nhiều lần quên,
Nợ tà 
áo trắng lụa mềm
Nợ tóc ai xỏa nét duyên hững hờ.

Ta nợ em!
cái bâng quơ
Cái cười nhè nhẹ như vờ chưa quen,
Nợ tình 
đắm chết trong men
Nợ câu tình lỡ đã quên một thời.

Ta nợ em!
nợ lối về
Lỡ tay đùa dại tóc thề ai bay,
Nợ trăng
mãi đợi đêm dài
Nợ nghiên mực tím đầy vơi ít nhiều.

Ta nợ em!
nợ bóng chiều
Nợ cây me rụng lá yêu lá hờn,
Bài thơ
nợ giấy trắng trơn
Mãi hoài tìm chữ chưa tròn ý thơ.

Ta nợ em!
những dại khờ
Vòng tay chưa khép biết chờ ai đây!!!


P.N.

 


READ MORE - TA NỢ EM MỘT ĐIỀU - Thơ Phong Nguyễn

HOA CÚC VÀNG "CUNG CHÚC TÂN XUÂN" - Chu Vương Miện

 










READ MORE - HOA CÚC VÀNG "CUNG CHÚC TÂN XUÂN" - Chu Vương Miện

XUÂN THÌ - Thơ Nhật Quang

 




XUÂN THÌ


Xuân đến, rồi Xuân lại ra đi

Em ơi! Hãy đánh thức dậy xanh những vòm lá

Dẫu mai gió Đông còn buốt giá

Những đêm đơn côi không vai lạnh bơ vơ


Xuân chỉ thoáng qua, em ơi! chớ hững hờ

Mai Hạ về thắp phượng hồng nhung nhớ

Cuộc tình xưa cũng một lần dang dở

Hãy yêu nhau  đi đừng để sắc Xuân phai


Hong ước mơ vào màu nắng ban mai

Đời đẹp lắm, em đừng vương sầu nhé!

Hãy khơi dậy niềm tin, Xuân mang đầy sức trẻ

Đoá mai vàng nở khát vọng chờ mong


Xuân đến, Xuân đi ta vẫn mơ mộng …

Em đừng buông lơi mùa xanh tình ái

Dẫu mộng trăm năm không như thực tại

Nhưng hạnh phúc sẽ đến khi ta biết yêu


Xuân có thì, em đừng để Xuân cô liêu

Hương tình ủ ấp…gói vào nồng nàn thắm mãi

Hạnh phúc sẽ đâm chồi khi màu nắng trải

Lá sẽ xanh vươn tới níu tình Xuân.


                                        Nhật Quang

                                       


READ MORE - XUÂN THÌ - Thơ Nhật Quang

Tuesday, January 25, 2022

KHÔNG VỀ QUÊ, EM ĐI LÀM TỪ THIỆN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Không về quê, 

em đi làm từ thiện


Đêm trống vắng, ngõ phố sâu hun hút

Em phát cơm từ thiện ở đầu đường

Lòng thắc thỏm, quê nhà mùa lũ lụt

Trong những ngày dịch bệnh tai ương

 

Không về quê, chọn việc làm thiện nguyện                                  

Thành phố ơi! Đời lao nhọc mưu sinh

Dù không phải chuyện đội trời dời biển

Sức nhỏ nhoi, em trả nợ ân tình

 

Ngõ nhỏ thân quen, phận người lam lũ

Trong khó khăn vẫn đùm bọc cưu mang

Người trăm xứ, đã về đây quần tụ

Bao số phận long đong, cảnh lỡ làng

 

Lặng lẽ người nhận cơm theo giãn cách

Thô ráp bàn tay, ngượng nghịu cám ơn

Trong hoàn cảnh, mỗi phận người, mỗi phách

Cuộc sống đời xô, trôi nỗi dập dờn

 

Chợt một tiếng ru con, giọng ngoài nớ

Tiếng quê nghe sao khắc khoải chưa tề

Em quay mặt, mà lòng như vun vỡ

Lóng ngóng trao quà, đau đáu tình quê…

 

Ngang đời phiêu lãng


Bao năm tháng

Rớt dọc đường bè bạn

Biết bao nhiêu nghề

Hằn dấu trên tay

Lòng phố chật

Anh bước đi lơ đãng

Một nỗi buồn

Nghe chao chác, đắng cay…

Điều chưa biết

Và những điều nhàm chán

Cứ bồng bềnh

Trong nắng úa chiều nay

Bỗng tà áo trắng

Ngưng đời phiêu lãng

Em đạp xe qua

Chở nắng

Theo ngày…

                             8/91


Cơn mưa giông bất chợt


Xé toang chiều trong tiếng sấm xa xa

Em lúng liếng xòe tay che bớt

 

Giọt mưa rơi, tan trên áo váy nuột nà

Lệch một vòng cong theo chiều gợn sóng

Em quay ngang, lồ lộ chiết yêu…

 

 

Không biết những thứ gì 

tạo nên sự tử tế


Sao có người lại quên cội rễ

Chất chứa hận thù, dù đất mẹ vẫn bao dung

 

Ở đâu, lúc nào chúng ta cũng đều có số phận chung

Cội nguồn hạnh phúc, khổ đau sẽ được chuyển giao thế hệ

Dìu dắt nhau đi qua sự khốn cùng


            Lê Thanh Hùng

     Bắc Bình, Bình Thuận

                                   

 

READ MORE - KHÔNG VỀ QUÊ, EM ĐI LÀM TỪ THIỆN - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

ĐÓN NĂM DẦN BÀN VỀ “ĐÓN NĂM MÙI”, BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA LA THỤY - Châu Thạch



La Thuỵ, một nhà thơ được mến mộ, còn là chủ nhân nhiều trang blogspot uy tín tại VN. “Đón Năm Mùi” là một bài thơ Đường luật ông sáng tác vào năm Mùi nào đó trước đây. Nhân mùa xuân năm Nhâm Dần sắp đến.  Châu Thạch xin có một vài cảm nhận về bài thơ nầy, để đọc nó, ta thưởng thức những điều lạ trong mùa xuân xa xôi của lịch sử. Bài thơ như sau:
          
ĐÓN NĂM MÙI
 
Tân niên rộn rã bước Dương ông 
Chào đón xuân tươi, vẫy nắng hồng 
Tô Vũ lưu danh bền dạ thép * 
Bá Hề nức tiếng vững gan đồng ** 
Dán sừng lệ tết ca vang xóm 
Chuốc chén tình xuân tỏa ấm phòng 
Sáng giá “đầu dê” hàng chính hiệu
Năm Mùi sung mãn đẹp lòng không?

                                           La Thuỵ
   
Bàn về hai câu Mở (đề) của bài thơ, ta thấy tác giả đã nhân cách hoá mùa xuân con Dê khi gọi bước chân xuân là bước của Dương ông. Bước chân đó đã được mặt trời “Vẫy nắng hồng” để chào đón. Hai câu mở đề ấy đã giữ đúng vai trò giới thiệu bài thơ của một bài thơ Đường luật, cho ta thấy được bước chân rộn ràng, linh động, thắm tươi của mùa xuân đến giữa nhân gian.
 
Qua hai câu Trạng (thực) có vẻ khó hiểu làm ta động não hơi nhiều nhưng khi suy ra được thì cái hay tiềm ẩn trong hai câu thơ làm cho ta thích thú:
         
Tô Vũ lưu danh bền dạ thép*      
Bá hề nức tiếng vững gan đồng**
  
Hai câu thơ nầy tác giả giải thích điển tích như sau:
 
*Vâng mệnh vua Hán Vũ Đế, Tô Vũ đi sứ sang Hung Nô. Ông bị vua Hung Nô đày đến đất Bắc giá lạnh hoang vu, không có người ở, để chăn dê rất cực khổ. Sau 19 năm, nhờ sự can thiệp của Hán Vũ Đế, ông mới được thả trở về Hán.     
** Bá Lý Hề bị nước Sở bắt làm nô lệ. Tần Mục Công biết Hề là người có tài, đem năm tấm da dê xin chuộc. Tần Mục Công chuộc được Bá Lý Hề đem về, phong ngay làm Tướng Quốc và ông Tướng Quốc này đã làm cho nước Tân thành giầu mạnh một thời và được mệnh danh là “Ngũ Cổ Đại Phu”, nghĩa là ông Tướng Quốc năm bộ da dê.
   
Vậy với câu “Tô Vũ lưu danh bền dạ thép” ta có thể hiểu ý của tác giả muốn nói mùa xuân tràn đến cả nhưng nơi xa xôi hẻo lánh, hoang vu như chổ ông Tô Vũ ngày xưa chăn dê.
  
Câu “Bá Hề nức tiếng vững gan đồng” ta có thể hiểu ý tác giả muốn nói mùa xuân chan chứa trên miền đất thanh bình an cư lạc nghiệp như nơi ông Bá Hề ngày xưa làm Tướng Quốc. 
   
Hai câu nầy còn có ý nghĩa năm Mùi là năm của những con người chí khí kiên cường, có tài cao đức rộng.
   
Sở dĩ tác giả dùng hai điển tích nầy là vì nó có liên quan đến dê nên dùng nó để nói về năm mùi là hay và hợp lý. Người làm thơ có thể dùng một chữ nào đó có trong điển tích để gởi ý thơ của mình vào, thì ở đây La Thuỵ dùng nguyên hai sự kiện trong lịch sử để hàm ý những gì mình muốn nói là một cách mới và thâm thuý trong xử dụng tích xưa. Hai câu thơ nầy theo tôi nó đã làm tròn bổn phận của vế Trạng (Thực) trong bài Đường thi vì nó đã triển khai rộng và sâu chủ đề “Đón Năm Mùi”.
   
Tiếp theo hai câu Luận như sau:
 
Dán sừng lệ tết ca vang xóm
Chuốc chén tình xuân toả ấm phòng
  
“Dán sừng” thì tôi chưa biết, có thể đoán là người ta dán ảnh tượng thần giữ cửa để bảo vệ gia đình trong một năm mới. Qua thơ cũng có thể hiểu đây là một phong tục có ý nghĩa trong ngày xuân. Có lẽ sau khi “dán sừng” rồi thì người dân mới vui chơi nên “ca vang xóm”.
    
Hai câu luận nầy ngoài sự đối chữ chuẩn xác thì sự đối ý cũng rất hay. “Dán sừng lệ tết ca vang xóm” là cảnh vui xuân của cộng đồng dân cư, còn “Chuốc chén tình xuân toả ấm phòng” là cảnh hưởng xuân riêng tư với nhau. 
  
Tại sao không dùng chữ “nhà” để đối với chữ “xóm” mà dùng chữ “phòng”? Vì chữ “nhà” thì cũng là một cộng đồng gồm có ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cái, bà con và bạn bè ở chung. Nếu đem chữ “nhà” đối với chữ “xóm” hình ảnh không đối nhau. Tác giả dùng chữ “phòng” đối với chữ “xóm” là một suy nghĩ tinh tế vì hai hình ảnh nầy tương phản nhau, một bên thì đông đúc một bên thì lẻ loi, đối chọi nhau mà đều có chung một niềm vui đón xuân tuyệt vời.
   
Trong luật thơ Đường hai câu luận nầy là để cho tác giả luận bàn hay giải thích chủ đề bài thơ. Ở đây tác giả La Thuỵ đã dùng vế luận để nhấn mạnh thêm một cách cụ thể nguồn vui ngày xuân giữa cộng đồng và của cá nhân con người trong cộng đồng đó. Tôi nghĩ không còn sự “luận bàn” sự “giải thích” nào hợp lý hơn.
      
Tiếp theo hai câu kết như sau:
 
Sáng giá “đầu dê” hàng chính hiệu
Năm Mùi sung mãn đẹp lòng không?
    
Sở dĩ chữ “đầu dê” tác giả đóng trong ngoặc kép là vì ông trích chữ “đầu dê” trong câu “Treo đầu dê bán thịt chó” của nhân gian. Ở đây “sáng giá “đầu dê” hàng chính hiệu” có nghĩa là treo đầu dê thì bán đầu dê chính hiệu chứ không bán thịt chó. Câu thơ nầy báo trước một năm Mùi đầy niềm vui trong cộng đồng, con người sống với nhau chân thật, không có sự phỉnh lừa dối trá như trước nữa. Ý thơ nầy được bổ nghĩa thêm trong câu “Năm Mùi sung mãn đẹp lòng không?” Đây là một vế kết ý nghĩa và trọn vẹn vì nó tiên đoán cho một năm Mùi tốt đẹp sau những gì tác giả trình bày ở những vế thơ trên. 
  
Có thể những lý giải của tôi không đúng với ý tác giả và đối chọi với lập luận của một số bạn đọc. Tuy thế ta nên hiểu là người đọc cũng là người làm thơ, nhưng làm thơ không thành câu. Vì khi ta đọc một bài thơ thì tùy theo trình độ, hoàn cảnh, thẩm mỹ, tâm tư tình cảm của ta mà ta có cách hiểu và rung động nhiều hay ít với bài thơ, nghĩa là ta nương theo bài thơ của tác giả mà ta làm thơ lại trong chính lòng ta. 
  
Vậy thì mỗi người hiểu khác nhau đâu có gì đáng trách. Hơn nữa ở Thơ Đường Luật có rất nhiều nhà thơ tầm cỡ, thuộc hạng thương thừa, sư thơ, huynh thơ mà sáng tác của họ độc đáo, thâm thuý có khi quá sức thưởng thức của ta, trong đó La Thụỵ là một tên tuổi được nhiều bạn đọc và thi hữu mến phục. Mỗi khi gặp những bài thơ như thế thì theo tôi cứ từ từ mà suy tư, khảo cứu, chất vấn để biết, chớ đừng nên vội vác búa đập ngay vào bài thơ của họ, có khi búa ấy dội ngược về mình. 
     
Mấy lời thô sơ về cảm nghĩ của mình, xin cúi đầu trước để nhận lãnh sự đồng cảm cũng như nhận lảnh búa rìu nếu có.                                                                
 
Châu Thạch  
 
READ MORE - ĐÓN NĂM DẦN BÀN VỀ “ĐÓN NĂM MÙI”, BÀI THƠ ĐƯỜNG LUẬT CỦA LA THỤY - Châu Thạch

BẾP QUÊ MÙI TẾT, NHỚ TẾT XƯA – Thơ Tịnh Bình

 
 
              Nhà thơ Tịnh Bình


BẾP QUÊ MÙI TẾT
 
Buốt lòng Chạp bước đông xa mãi
Xuân thật gần hương tết bâng khuâng
Gác mái chèo sương ban mai cỏ biếc
Vạt nắng tơ non bẽn lẽn trong ngần
 
Lao xao phiên chợ ngày giáp tết
Kiệu hành mặc cả với bánh chưng
Khoe sắc đua hương cùng ong bướm
Cúc thắm mai vàng phô sắc xuân
 
Rẽ lối thiên thanh bầy chim én
Nàng xuân yếm thắm vội về theo
Rưng rưng mùi tết trong khói ấm
Bếp quê tí tách lửa hồng reo...
 

NHỚ TẾT XƯA
 
Hong chút nắng nỗi niềm năm cũ
Đã xuân rồi... chưa Tết,Tết ơi!
Thì nao nức búp non chồi nụ
Tàn phai nào rồi cũng rụng rơi
 
Tìm ánh mắt trong vườn xuân chín
Nhớ vu vơ khẽ tiếng ai cười
Hoa năm ngoái... Năm nay đâu khác
Ngoảnh lại mình đâu thuở đôi mươi
 
Xao xác gió tìm dư hương cũ
Chạnh lòng ta nhớ Tết năm mười
Vương tóc mẹ sợi xuân còn trẻ
Chú chim xanh hót chẳng cạn lời
 
Đêm Ba Mươi chơi trò cút bắt
Vầng trăng thơ lẻn trốn đâu rồi
Bập bùng lửa giao thừa Tết ấm
Sớm mai về chào đón tinh khôi...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)
READ MORE - BẾP QUÊ MÙI TẾT, NHỚ TẾT XƯA – Thơ Tịnh Bình

HẠNH PHÚC KHI TA NHẬN THỨC – Thơ Khaly Chàm



 

hạnh phúc khi ta nhận thức
 
cảm ơn ánh sáng xóa tan ảo mộng
khi ta biết mình vẫn còn hiện hữu để nhìn thấy ban mai
hiện thực, bắt đầu nhận thức những gì còn lại và mất đi
mặt trời dần lên cao mặc nhiên tỏa hồng màu lửa
 
cảm ơn góc hẹp vỉa hè   
chỗ ngồi quen dành cho ta tựa lưng vào cột đèn đường
hẳn thế, nó đã thu nhỏ cái đầu cúi mặt an phận
thinh lặng một hiện thể khiêm nhường
thả xuống hơi thở nhẹ hẫng tan vào ly cà phê đen nóng
 
có thể, loài người đang định thần cố tìm lại giấc ngủ
với ta, vùng đỉnh tam tinh sao cứ trồi lên những vạch đỏ
mọc ra đôi cánh chờn vờn bay nhói sáng mật ngữ vọng niệm
chầm chậm hóa thành tro bụi lẩn vào những ô dù lá xanh mùa đông
 
hôm nay, con chữ tai ương nằm co trên giấy
ta nhìn ta trong màn hình ma trận tưởng chừng đã trong suốt
tin rằng chẳng khác biệt với tín điều bình an hy vọng
kiên nhẫn ngồi chờ mệnh đề niềm tin phủ mờ võng mạc kiếp người
 
xin cảm ơn màu nắng tô điểm khuôn mặt em*
nụ cười khả ái có phải là một phép mầu giả tưởng
cảm ơn nhục thể thơm hương hoa nồng nàn khứu giác 
chợt biết, ta chỉ là hình nhân khát vọng tồn sinh
cùng song hành với bóng loài linh trưởng bước đi đếm nhịp thời gian
 
khaly chàm
txbencat 1/2022

* chủ quán café vỉa hè txbencat
 
READ MORE - HẠNH PHÚC KHI TA NHẬN THỨC – Thơ Khaly Chàm

Monday, January 24, 2022

VẼ XUÂN, HAIKU XUÂN 2022 – Thơ Trần Mai Ngân


 

 
VẼ XUÂN
 
Ai vẽ mùa Xuân trong mắt em
Để hương thêm ngát, ngày thêm ngoan
Để tôi quay gót đường lữ thứ
Về lại quê nhà Xuân ấm êm
 
Ai vẽ Xuân hồng trên môi xinh
Nụ cười hoa nắng tỏa lung linh
Để tôi mê mãi lòng bất tận
Yêu đến mây trời như ngưng trôi...
 
Tôi vẽ mùa Xuân còn xa xôi
Cho gần thêm chặt gắn đôi môi
Ngậm lấy cả Xuân và mật ngọt
Xuân gần... ở mãi lại bên tôi...


HAIKU XUÂN 2022
 
** Mùa Xuân đến rồi ư
Ngồi dưới tán hoa tím
Trôi qua ngày buồn vui…
 
** Nơi đây chốn phồn hoa
Sao vắng bóng một người
Rất buồn vì không buồn!
 
** Quận 7
Băng qua bên kia đường
Giày cao gót, áo hoa…
 
** Đã là tết đến
Một lý do để già
Giải thích điều lạ xa!
 
** Chim mẹ cắn cọng rơm
Bện mùa Xuân trên tổ
Tiếng con mình líu lo!
 
Trần Mai Ngân
 
READ MORE - VẼ XUÂN, HAIKU XUÂN 2022 – Thơ Trần Mai Ngân

ALBUM 2: THƠ TÌNH PHẠM BÁ NHƠN - Diễn ngâm Hoàng Đức Tâm

READ MORE - ALBUM 2: THƠ TÌNH PHẠM BÁ NHƠN - Diễn ngâm Hoàng Đức Tâm

Sunday, January 23, 2022

TẾT & TRẦN “CÚNG" TẾ XƯƠNG - Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

Chân dung Trần Tế Xương
Hình từ thivien.net


TẾT & TRẦN “CÚNG" TẾ XƯƠNG


Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

-


“Môt phường rách rưới con như bố

Ba chữ nghêu ngao vợ chán chồng" (*)

Xuân Tết đã lù lù trước ngõ

Cả đôi tay nhẵn thín hơi đồng


“Môt chuyện văn chương thôi cũng nhảm 

Trăm năm thân thế có ra gì?" (**)

Chẳng lẽ ngày ngày xơi bèo cám

Ở mãi chuồng nuôi kiếp lợn xề?


Thi Hương hỏng bao lần tú mền, kép, đụp

Khả năng thua cả phường bát âm

Thi tài nhường xa lão thầy cúng

“Thò tí ghe cắc cắc tùng"


Cả nghìn năm trước thường là vậy?

Mà nghìn năm sau chỉ vậy thôi?

Đồng bạc thường đánh toặc tờ giấy

Chả lẽ dơ cu ra làm phận cu mồi


Kế đổi thành cao cao thành thấp

Cuối mùa Nho học rụng từng chùm

Thiên thời địa đất đành xếp xó

Hết đạc tới đồ đọi tùm lum


Thầy giáo tháo giầy đi chân đất

Chuyển từ giáo học tới giáo hòn 

Quay mãi tròn vo như cục kẹo

Sân trường gạch bát tràng giáo viên


Thi mãi bao năm toàn vỏ chuối

Giữa cảnh giao thời ta và tây

Thịt chó cũng chả ra thịt chó

Hoá ra ngoài chợ bán giả cầy?


Tết đến cận kề nơi đầu ngõ

Mà cụ tú này? dở tỉnh say ?


(*) & (**): Thơ Tú Xương 


Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử





READ MORE - TẾT & TRẦN “CÚNG" TẾ XƯƠNG - Thơ Chu Vương Miện & M.Loan Hoa Sử

XUÂN LẠI VỀ - Thơ Nguyên Lạc




XUÂN LẠI VỀ
 
1.
Năm cũ rồi giã biệt
"Thời gian như vó câu"
Lột bỏ tờ lịch cuối
Bỏ luôn cái ruột sầu
Treo lên trang lịch mới
Cố quên chuyện bể dâu
Xuân đã về rồi đó
Muôn hoa đang khoe màu
Chim líu lo ca hát
Người hân hoan chúc nhau
 
2.
Một cành mai nở sớm
Xuân về rồi biết không?
Ngày mới hương xuân đượm
Da diết chi trong lòng?
 
"Chớ bảo rằng vô vọng
Ðêm qua sân… cành mai" *
Ngâm câu thơ Mãn Giác
Sao lòng vẫn ưu hoài!
 
Hình như tiếng thở dài
Đời chỉ là huyễn vọng
Tìm đâu trời phương mộng?
Tình nào không phôi phai?
 
Xuân mới rực vàng mai
Mang tin vui vạn lòng
Xuân tràn đầy ước vọng
Mọi điều rồi sẽ qua!
 
Quá khứ cuộc chia xa
Vết thương rồi sẽ lành?
Một khối tình rất cũ
Sao hoài mới trong tâm?!
 
Nguyên Lạc
.........
 
* Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai
             (Thiền sư Mãn Giác)
 
READ MORE - XUÂN LẠI VỀ - Thơ Nguyên Lạc