Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, September 11, 2021

ÁO TRẮNG NGÀY XƯA ƠI! - Chùm thơ Nguyễn Trung Giang

 


 

Chùm thơ Nguyễn Trung Giang

 

ÁO TRẮNG NGÀY XƯA ƠI!

 

Áo không còn trắng nữa

Xa lắm tuổi học trò

Buâng khuâng mùa phượng nở

Xao xuyến nắng vàng thu

 

Áo trắng dậy mùi hương

Tóc đuôi gà biết đợi

Cây si vừa tập nói

Bát ngát những mùa thương

 

Nhớ nhung từng trang vở

Thương quá tuổi dại khờ

Thầy cô ơi! biền biệt

Bạn bè về nơi mô

 

Áo không còn trắng nữa

Rêu phong lớp áo đời

Giữa hoàng hôn thầm gọi

Áo trắng ngày xưa ơi!

 

 

TÂM TÌNH NGÀY HỌP MẶT

 

Thầy cô ơi! Chúng con hội tụ về đây

Với trái tim nguyên sơ ngày khai giảng

Sách vở mái trường bướm hoa phấn bảng

Áo trắng quần xanh mắt nắng thắp đời

Đẹp vô cùng tuổi mộng Hải Lăng ơi!

Tha thiết quá khung trời ăm ắp nắng

Rộn trong nhau khúc tình ca thầm lặng

Ngày tung tăng hoa nắng rộn sân trường

Từng lời Thầy từng tiếng nói yêu thương

Tình bè bạn tơ vương làn mắt biếc

Ngày xưa ơi! mãi gặm mòn nuối tiếc

Ngỡ thời gian đi biền biệt không về

Giờ trùng phùng ngay giữa đất quê

Ngày họp mặt với  muôn vàn thương mến

Nếp thời gian trắng tóc chiều neo bến

Vẫn chắt lòng xao xuyến gọi tên nhau

 

 

TIẾNG QUÊ HƯƠNG

 

Ở trong lòng đất mẹ

Ủ muôn đời nhau rốn của con

Nên tự bao giờ hai tiếng Trung Đơn

Thành tiếng gọi trong tim len vào máu thịt

Trang cội nguồn một đời không đọc hết

Chở che làng lên biếc ruộng vườn xanh

Lớp lớp người con mưa nắng gập ghềnh

Một lối ngọn ngành đi về đất mẹ

Tự ngàn xưa Trung Đơn là đã thế

Chín xóm dài trầm mặc bức tranh quê

Vàng bông lúa trải dài bao thế hệ

Vĩnh Định, Ô Giang dặm dài dâu bể

Vẫn trong ngấn sông nước vỗ tràng giang

Mái đình xưa ngôi chùa cũ hơi thở nồng nàn

Giữa đất trời trầm mặc nét thâm sâu

Làng Kim Sanh đất cát nhiệm màu

Sông nước an bình

Ngân nga hồi chuông xứ đạo

Phong thổ Phước Điền dịu dàng sắc áo

Khoác lên xóm làng nét đẹp quê hương

Những bình minh vang rộn trống trường

Sớm hạ mù sương chân trần đến lớp

Những địa danh hằn sâu trong ký ức

Người trai làng đạp nước cuối Tiền Môn

Nhớ cô gái cấy bên bờ Phú Nội

Tóc rạ rơm khô

Thương nhau rồi lễ hỏi

Lạnh tàn đông pháo cưới rộn Xóm Cồn

Nhớ lưng mẹ già cúi xuống hoàng hôn

Trời chạng vạng chưa ngừng tay cuốc

Nhớ lối đi xưa lối mòn trơn trợt

Dưới heo may bấc lạnh bước cha già

Mỗi tết về làng xóm nở hoa

Mùa xuân nở trên môi bà bỏm bẻm

Trong mắt chị mắt anh mai đào hò hẹn

Trong tiếng cười tiếng pháo rộn bờ tre

Gio thu về dìu dịu nắng Cồn De

Từng bó mạ theo ghe về Hạ chí

Cầu Ông Lô nước bao giờ cũng thế

Mãi lững lờ như thể đứng chờ ai

Bến Cồn soi cầu Ông Hạp Cồn Đìu

Trang ký ức muôn vàn tên để kể

Lũy tre xanh đã bao lần rướm lệ

Khóc những người con

Nằm lại giữa Cồn Lăng

Đêm Xóm Bia vằng vặc trăng vàng

Cát trắng tràn sông đò phiên mắc cạn

Gác mái chèo khuya thao thức chờ sáng

Đáng cờ quân bôi lọ nghẹ

Bàng bạc trăng mờ

Trong mênh mông dìu dặt tiếng ai hò

Tình câm lặng theo em về Xóm Nổ

Quê hương ơi  

Đêm bão bùng giông tố

Sóng vờn quanh gió giật bốn phương trời

Bể nguồn Hàn mây nước đổ ngàn nơi

Lúa vào chắc chơi nơi làn sóng bạc.

Nước lên cao xóm làng ngơ ngác

Gió mưa vờn lao lác ngọn đèn bay

Tóc chị rối bời cầm cập đôi tay

Tiếng chày đêm cối gạo lứt không đầy

Hương lúa chét bếp lửa ngày rơm lạnh

Gìa Nới ơi...Nước vờn lên cô quạnh

Khắp Càng Phường biển bạc vây quanh

Củi rều trôi về tận Xóm Mưng

Nhà cửa sắn khoai

Dầm mình trong bão táp

Nhưng vẫn mọc lên từ trong bùn đất

Những búp măng đầy đặn tương lai

Những chồi xanh thanh lịch trang đài

Thành nét son tô sắc màu đất mẹ

Những đứa con đi giữa mưa nguồn chớp bể

Một lối đi về

Đất mẹ Trung Đơn

 

N.T.G.

 

READ MORE - ÁO TRẮNG NGÀY XƯA ƠI! - Chùm thơ Nguyễn Trung Giang

MỘT NGÀY KHÔNG QUÊN - Nguyễn Đức Tùng




Ngày thứ ba, 11 tháng 9 năm 2001, khoảng sáu hay bảy giờ sáng, tôi đứng trong phòng cấp cứu của bệnh viện Richmond. Tay tôi cầm cái khay nhỏ có bánh xe chứa dụng cụ, từ buồng bệnh đi dọc theo hành lang đến khu vực y tá. Trên hành lang những chiếc giường do xe cấp cứu đẩy vào nằm la liệt, tôi tự nhủ, sẽ là một ngày bận rộn. Tôi dừng lại, một điều gì đang xảy ra, trên màn vô tuyến truyền hình gắn ở cuối hành lang, nhưng không phải chỉ trên màn hình, mà trong không khí lan toả, trên vẻ mặt mỗi người, y tá và bệnh nhân, nhân viên cứu thương và nhân viên bảo vệ, cảnh sát và bác sĩ, một điều gì tựa như sự nối kết vô hình, một thông điệp sợ hãi lập tức nhận ra. Tôi thấy những ngọn lửa đỏ hừng hực, những đám mây đen, những tro tàn lả tả. Người chạy ngược trên đường, tất tả, hoảng hốt, chạy ngược về phía tôi đứng.
 
Đó là một ngày đẹp, quanh tôi trời mờ sáng, mặt trời rẽ mây đi tới, gió mát lướt qua nhấp nhô đồi vàng óng của rừng phong thu đã. Chuyến bay American Airline 11 đã rời khỏi phi đạo ở phi trường Boston, và tiên liệu sáu giờ sau sẽ đáp xuống Los Angles, thành phố thiên thần. Nhưng nó bỗng đổi hướng, về New York. Nó sẽ mang theo chín mươi ngàn lít xăng, với trọng lượng và tốc độ ghê gớm, lao vào toà tháp đôi World Trade lúc 8 giờ 45 phút. Mười lăm phút sau khi chuyến bay ấy cất cánh, từ một phi trường khác, chiếc United Airline 175 cũng lăn bánh chuẩn bị bay về New York. Trên máy bay, một người đàn bà vừa thắt lại dây lưng an toàn, có lẽ đang nhận ly nước ngọt từ tay người chiêu đãi viên, với chiếc khăn lau miệng và gói bánh kẹo ăn vặt, như thường lệ. Mặc dù đói bụng, cô không vội ăn uống, cô rút từ trong túi áo ra chiếc điện thoại di động và nhắn tin cho đứa con gái mười sáu tuổi đang từ nhà tới trường: “mẹ đã lên máy bay, mọi chuyện tốt đẹp, mẹ nhớ các con”. Con bé có một đứa em trai chín tuổi, khi ấy đang ngồi trên xe hơi của ba nó vì chúng học hai trường khác nhau, con bé muốn đi tới trường một mình, đi bộ, vì gần nhà.
Đó là tất cả những gì còn lại, trong điện thoại của đứa con gái, và trong những gì người lính cứu hỏa tìm được dưới đống gạch đá tro tàn.
 
Nhưng vào lúc ấy, những câu chuyện như thế chưa ai biết cả. Vào lúc ấy, thế giới đứng sững lại, nhân loại bàng hoàng, đồng tử mở lớn, chôn chân xuống, bất động, không tin vào điều mình nhìn thấy. Vào lúc ấy, sự sống dừng lại. Tôi cầm chặt tập bệnh án trong tay, cố không để rơi xuống. Trên chiếc xe mà tôi đang đẩy đi có khay dụng cụ để chuẩn bị truyền tĩnh mạch trung tâm cho một bệnh nhân suy kiệt nhiều ngày, không ăn được do ung thư tụy giai đoạn cuối. Đã lâu không làm thủ thuật lấy central line này, tôi nghĩ tôi cần đến sự giúp đỡ của một đồng nghiệp khác, đang chờ anh ta tới, tên này thường xuyên tới trễ. Trên đầu tôi khói bốc nghi ngút, những người chạy trên đường, đàn ông và đàn bà, người lớn và trẻ con. Nhưng chuyện đó không chỉ xảy ra ở New York. Hình như nó đang xảy ra ở nhiều nơi khác, mọi thứ tin tức lộn xộn, tin tức và tin đồn. Chuyến bay American Airline số 77, chuyến bay thứ ba, rời khỏi phi trường Dulles sớm hơn một lát vẽ đường bay qua nước Mỹ trước khi phi công và người lái phụ bị khống chế bởi bọn không tặc và đổi đường bay, lao xuống Ngũ giác đài. Lúc chín giờ sáng ngày 11 tháng 9, một người đàn ông nhắn tin cho vợ mình từ trên chuyến bay 77 ấy, “em ơi, máy bay của anh bị không tặc”. Đó là tin nhắn cuối cùng.
 
Trên tất cả bốn chuyến bay, mỗi chuyến có bốn hay năm tên không tặc Hồi giáo, trong đó có một được huấn luyện kỹ để lái máy bay phản lực. Chuyến bay United Airline 93 bay về hướng thủ đô Whashinton DC đã bị chệch hướng, do những hành khách dũng cảm đứng lên đương đầu với bọn không tặc, cướp lại phòng lái, và cuối cùng tất cả đã lao xuống một cánh đồng gần thành phố Shankville, Pensylvania lúc 10: 03 AM. Những hành khách anh hùng ấy sẽ được tưởng nhớ, không có cố gắng tuyệt vọng của họ, hàng ngàn người khác đã chết ở khu vực gần Bạch cung hoặc đồi Capitol quốc hội Mỹ, một trong hai đối tượng mà chuyến bay nhắm tới.
 
Tôi nhìn ra ngoài cửa, mặt trời đã lên cao, mây bay đầy trời, mỏng dần như những chiếc khăn lụa trắng. Tôi tưởng tượng mặt đất đầy mùi hương của mùa tường vi muộn, oải hương, thanh cẩm tú, hoàng cẩm tú. Một con ong cuối cùng bay qua. Nhưng những bệnh nhân nhỏ tuổi bị gãy xương của tôi vẫn cứ la hét, những người già lú lẫn ngồi trong xe lăn vẫn rên rỉ, xe cứu thương vẫn tới tấp đổ người vào, dây chuyền nước biển vẫn phải tí tách nhỏ giọt, các y tá chạy đi chạy lại, một Code white, một Code blue được phát trên loa đâu đó nhưng tôi không có thì giờ quan tâm đến. Tôi nhìn bảng phân công trên tường biết là chỉ có ba bác sĩ trực, hai nội trú, và một bác sĩ sản khoa hôm nay, trên tổng số giường ba mươi hai, y tá rất thiếu, nhìn quanh toàn thấy khuôn mặt lạ, những nữ y tá giỏi mà tôi trông cậy biến đâu mất.
 
Tôi nhìn thấy một trong hai tòa tháp đôi sụp đổ, trong khi cái kia vẫn còn. Sau này tôi biết đó là South Tower. Cái thứ hai, North Tower, vẫn còn, một lúc nữa. Tôi nhìn thấy rõ như vậy. Tôi biết chắc rằng tôi nhìn thấy cái thứ hai thủng một lỗ lớn, gọn ghẽ, khói đen phụt ra, khoảng nửa giờ sau bắt đầu lảo đảo ngã xuống. Tôi không nhớ đó là cảnh quay trực tiếp, live, hay quay lại, nhưng nếu quay lại thì cũng gần như ngay lập tức. Lúc đó là bảy hay tám giờ sáng, giờ các y tá đang giao ban ở phòng bên cạnh. Nếu có một cảnh tận thế nào cần được dựng lên trong phim ảnh về sự kết thúc của loài người hay trái đất, hay của vũ trụ, hay sự kết thúc của bất cứ điều gì mà bạn hằng tin, tôi không thấy một thí dụ nào hoàn hảo hơn sự sụp đổ của buổi sáng hôm ấy. Khi mọi người nhìn thấy tòa tháp thứ hai đổ xuống, không ai còn tin rằng đó là tai nạn, cũng không ai tin rằng nó là một vụ không tặc thông thường.
 
Đây là sự tiêu diệt nước Mỹ và nhân loại. Đã có 2,977 người vô tội đủ mọi chủng tộc bị giết, trong đó có 340 lính cứu hỏa và 72 cảnh sát, 25 ngàn người bị thương hay tàn tật, hàng ngàn gia đình đau khổ vì mất cha mất mẹ mất anh em. Kinh tế thế giới đình trệ, nhiều người trong các nước thứ ba mất việc lây, lâm vào cảnh bần cùng, bao nhiêu bất trắc và bất tiện cho người đi lại hàng không, cuộc sống vốn đã khó khăn càng khó khăn hơn, nhân loại trở nên nghi ngờ nhau, khởi động các âm mưu trong bóng tối, các đầu óc bệnh hoạn, các biên giới dựng lên cao ngất giữa các quốc gia và chủng tộc, giữa các tôn giáo và lòng người.
 
Tôi đã gặp một trí thức trẻ, biện hộ cho cuộc chiến đấu của Taliban, những kẻ thời ấy đứng ngay sau lưng bọn khủng bố, nếu không phải chính họ chủ trương. Kẻ nào đổi giọng trước tội ác và sức mạnh chống lại phụ nữ và trẻ em, chống lại giáo dục, tự do, nhân phẩm, không phải là bạn của chúng ta. Tiêu diệt nước Mỹ không phải chỉ là tiêu diệt nước Mỹ, mà là mở đường cho sự tiêu diệt thế giới văn minh. Không có thỏa hiệp nào giữa một bên là những kẻ khủng bố cực đoan, những người bao che cho chúng hay đầu hàng chúng khắp thế giới, và một bên là nhân loại vô tội. Một lần tôi đến New York sau sự kiện 911, khi mọi thứ còn hoang tàn đổ nát, và một lần khác nhiều năm sau, khi khu tưởng niệm đã xây xong, một khu tưởng niệm theo tôi chưa xứng đáng với sự mất mát và những tấm gương quên mình, cũng như bức tường chiến tranh Việt Nam, chưa xứng đáng, mặc dù vậy cũng tạm thu xếp xong. Cả hai lần, tôi đều có cảm giác lạ lùng khi đăm đăm ngước nhìn bầu trời, không hình dung ra điều gì.
 
Nhiều năm sau nữa, ký ức làm việc trở lại, khi tôi có dịp đi qua hành lang cũ của bệnh viện Richmond, gặp đúng chiếc màn hình mới, gắn trên vị trí ti vi cũ, nhưng lớn hơn, sáng hơn. Tôi đứng đó, buổi sáng mùa thu, nhìn ra cửa sổ, sương mờ trên cỏ bắt đầu tan, và tôi nhớ lại. Tôi đã nhìn thấy những chấm đen li ti liên tiếp rơi từ trên hai tòa nhà, mới đầu tưởng đó là những tàn lửa, về sau nghĩ đó là đám chim tan tác bay đi, nhưng bây giờ thì tôi tin rằng tôi đã nhìn thấy những cái bóng người lao xuống. Tất nhiên không có gì chứng minh tôi đúng, vì các hình ảnh quá xa, tôi chỉ biết một mình thầm tin như thế.
 
Mới đây đọc được một bài báo, không nhớ tác giả, kể chuyện một người quay phim đã bắt được cảnh tượng hai người cầm tay nhau nhảy qua cửa sổ từ trên tầng lầu cao chót vót, tôi suy nghĩ thêm.
Tôi tự hỏi: họ là ai? Không ai biết.
Họ là hai người bạn làm cùng phòng? một cặp tình nhân? một cặp vợ chồng? hay một nhân viên trong giờ làm việc đang ngồi tiếp một người khách hàng mua bảo hiểm của cô?
Dưới sức nóng của địa ngục hàng ngàn độ Celcius, họ đã nhảy qua cửa sổ. Không ai có hy vọng nào sống sót từ độ cao khủng khiếp ấy. Họ không đi tìm sự sống, họ biết rõ điều ấy. Họ quyết định đi tìm cái chết, dẫu là tan tác, trên một mặt đất yêu dấu, tráng nhựa hay cỏ mềm xanh, và vào giây phút ấy họ cầm chặt lấy tay nhau, như một phản ứng tự nhiên, dù đó là người họ đã gặp mỗi ngày nhiều năm nhiều tháng hay những người mới gặp lần đầu, không biết họ tên không quê quán. Họ quyết định mang theo số phận kẻ khác, một con người, trong bàn tay nhỏ bé của mình. Tôi thường nghĩ tới hình ảnh hai bàn tay nắm chặt lấy nhau ấy, trong một giây ngắn ngủi và dài vô hạn.
 
NGUYỄN ĐỨC TÙNG
  9.11.21

READ MORE - MỘT NGÀY KHÔNG QUÊN - Nguyễn Đức Tùng

CÕI TÌNH THU, HƯƠNG THU – Thơ Tịnh Bình

 
 
            Nhà thơ Tịnh Bình


CÕI TÌNH THU
 
Nhặt trong màu nắng cũ
Chút mơ phai thu vàng
Tìm gì trong gió chớm
Thoáng làn hương chưa tan
 
Miên man miền kỷ niệm
Chiêm bao giấc mơ rời
Nhặt bóng chiều hư ảnh
Mơ hồ tiếng thu rơi
 
Hoang vu loài mây trắng
Bay về đâu cuối trời
Nhánh mưa gầy xao xác
Cuối mùa rụng chơi vơi
 
Gió mỏng tang vạt mỏng
Phơ phất áo thu vàng
Mắt em hình hoa cúc
Cõi tình thu nồng nàn...
 
 
HƯƠNG THU
 
Rụng sen...
Gương hãy còn tươi
Ao quê trơ bóng đợi người tình chung
Vài ba cánh bướm buông lung
Hỏi thăm ả nhện giăng mùng đợi ai ?
 
Nghe gì trong gợn heo may
Hồng treo lủng lẳng gọi bầy chim xa
Ngoài vườn nứt mắt quả na
Gió lay khe khẽ
Vỡ òa hương thu...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)

READ MORE - CÕI TÌNH THU, HƯƠNG THU – Thơ Tịnh Bình

HAI TẤM HÌNH NHÂN ÁI VÀ MỘT TÂM HỒN NHƯ HOA SEN NỞ - Châu Thạch



 Cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc Việt Nam đã đi qua gần nửa thế kỷ. Những tấm hình đầy mỹ thuật của các phóng viên chiến trường, của các nhà nhiếp ảnh kỳ cựu, phản ảnh  nhiều mặt của cuộc chiến đã được công bố, đã được tôn vinh, đã được giải thưởng cũng đã chìm vào dĩ vãng. Thỉnh thoảng những tấm hình ấy được đăng lại như sờ vào vết sẹo của một thời đau thương đến nay vẫn chưa lành hẳn. 

 Thế nhưng, đâu đó trong quần chúng nhân dân, vẫn còn  những tấm ảnh của người không tay nghề, ghi lại rất ấn tượng, một vài  khoảnh khắc nào đó tại một góc nhỏ của cuộc chiến. Những tấm ảnh nầy được giữ âm thầm trong tập lưu ảnh để làm kỷ niệm mà bất kỳ ai, tình cờ nhìn thấy cũng  không thể nào không xúc động. 
 

Tôi đã hận hạnh  nhìn được hai tấm ảnh như thế trên trang facebook của một người bạn, cũng là nhân vật trong ảnh từ nửa thế kỷ trước. Hôm nay muốn dùng hai tấm ảnh nầy làm tư liệu để kể về một nhân cách đẹp như đóa hoa sen vươn lên từ bùn.
 
 Hai tấm ảnh dưới đây ghi lại hình ảnh một cô bé còn rất trẻ tuổi, hình như còn vị thành niên, đã lao vào cuộc chiến không phải để bắn giết nhau mà để hàn gắn vết thương chiến tranh trên thịt da những người dân vô tội.
 
Tấm ảnh thứ nhất cô bé đang bồng lên một đứa trẻ chỉ còn da bộc xương trên tay. Đứa trẻ bị cháy bởi xăng bột trong một trận đụng độ bắn giết mà dân lành bị mắc kẹt trong chiến trận. Tấm ảnh thứ hai cô bé đang băng bó vết thương cho một cụ già cũng chỉ thấy xương sườn trên bộ ngực xẹp lép của cụ. Cụ cũng bị thương vì bom rơi đạn lạc. Điều đáng nói là ở thời điểm nầy, cô bé không phải là y tá, nhưng đã tự nguyện lao vào làm công việc của một thiên thần áo trắng, không ngại cực nhọc, không kể máu mủ tanh hôi, với khuôn mặt hiện rõ nét thơ ngây và quê mùa còn đọng trên tấm ảnh đã phai màu, ta thấy được hoàn toàn biểu tượng của một thứ tình nhân ái, chơn chất và trong sáng đến vô cùng! 
 
Vâng, tôi biết cô bé nầy, cô bé tên là Bê, sinh ra tại một miền nông thôn tỉnh Bình Định, nhà rất nghèo, cha chết sớm, tuổi trẻ của cô trải qua mọi gian lao và bất hạnh bởi cái nghèo đem đến. Mười ba tuổi Bê vẫn chưa có quần để mặc, chưa đi học một ngày, nhưng tâm hồn vẫn vô tư vui chơi kéo mo cau, mút cà rem, trèo cây, lội nước bắt cá cùng một người con trai hơn cô mấy tuổi. Chàng trai yêu Bê tự nhiên và thầm lặng mà Bê không hề biết.  Đến một ngày chiến tranh lan đến quê mình, không sống nổi ở đó, Bê rời quê đi tìm việc ở một miền xa xôi đất đỏ Quảng Nam, thì chàng trai cũng chỉ buồn buồn đứng dưới hàng tre, nhìn theo và nói với theo một câu chúc tụng. Khi Bê thành thiếu nữ, hiểu biết được mối tình đầu đời sâu đậm kia. thì chàng trai đã thành tử sĩ, chết trong cuộc chiến. Nàng chỉ thăm được mộ chàng mấy chục năm sau, khi cuộc chiến đã lùi xa. 
 
Mười bốn tuổi (1968) Bê rời quê, đến miền “An Hòa đất đỏ, mưa bùn, nắng bụi mịt mù” tại huyện Dục Đức (nay là huyện Quế Sơn) tỉnh Quảng Nam như Bê viết trong hồi ký của mình. Tại dây cô bé xin vào làm tạp vụ cho bệnh viện Việt Đức, một bệnh  viện của người Đức chuyên cứu chữa cho đồng bào cơ cực  và nạn nhân chiến tranh. Với bản tính chất phác, năng nổ, ham việc, lòng thương người và sự thông minh của mình, Bê đã lao vào phụ giúp bác sĩ, y tá, sai đâu làm nấy, cô bé dần dần thành thạo công việc như một y tá học nghề. 
 
Từ đó, người Đức thương yêu Bê, họ dạy cho Bê học tiếng nước Đức, dạy cho Bê học chữ nước Đức khi cô còn chưa viết được một chữ quốc ngữ nào. Thế rồi, Bê như một cánh hoa sen từ bùn vươn lên, khoe vẻ đẹp, tỏa hương thơm cho một vùng mặt nước. Bê được đưa qua nước người tu học, trở thành một y tá, trở về nước phục vụ nghề từ mẫu bằng cái tên mới của mình: Nguyễn Thị Ngọc Diệp.
 
Cuộc đời cô y tá Diệp không dừng gian khó tại đây. Cuộc biến  động của đất nước năm 1975  cũng là cuộc biến động  của đời cô. Người  thiếu phụ Nguyễn Thị Ngọc Diệp lại tiếp tục bị vùi dập bởi biết bao bão táp trên cuộc đời mình.  Tuy thế, trong mọi hoàn cảnh, con bé Bê  hay y tá Diệp, hay người mẹ tá túc vỉa hè khổ cực để thăm chồng tù tội, nuôi con thơ dại, con người ấy vẫn  như cây tùng đứng trước bão táp, kiên trì, nhẫn nhịn, chịu đựng, cương trực, nhân ái,  mỗi ngày mỗi lớn lên giữa xã hội về đời sống và phẩm giá của mình.
 
Nguyễn Thị Ngọc Diệp viết lại từng đoạn  hồi ký đời mình, đăng trên  facebook tại  trang To Doan, đã làm cho không biết bao người rơi lệ, từ người trí thức đến người bình dân, từ người trẻ tuổi đến người già. Họ rơi lệ không phải  chỉ vì những gian khó mà một đời con Bê gánh chịu, mà còn vì cảm phục trước lòng nhân ái, trước sức mạnh tinh thần mà con Bê thắp sáng cho đời mình và cho những kẻ chung quanh. Đầu năm 2020, Nguyễn Thị Ngọc Diệp đã xuất bản tập hồi ký của mình với tựa đề là “Chuyện Đời tôi”. Sách chưa được biết đến nhiều vì tác giả chỉ dùng để tặng bạn bè mà thôi. Hy vọng một ngày rất gần “Chuyện Đời Tôi” sẽ được phổ biến khắp nơi.  
 
Trong khuôn khổ bài nầy, người viết chỉ có mục đích giới thiệu hai tấm ảnh độc đáo, ghi lại góc cạnh của chiến tranh, của tình người trong tâm hồn một cô bé nông thôn nghèo và chất phác năm xưa.
                                                   
Châu Thạch

READ MORE - HAI TẤM HÌNH NHÂN ÁI VÀ MỘT TÂM HỒN NHƯ HOA SEN NỞ - Châu Thạch

Friday, September 10, 2021

VỀ PHÚ THỌ THƯỞNG THỨC ĐẶC SẢN - Tùy bút - Nguyễn Đại Duẫn

 

Nhà văn Nguyễn Đại Duẫn

VỀ PHÚ THỌ THƯỞNG THỨC ĐẶC SẢN

Tùy bút

Nguyễn Đại Duẫn

 

         Nhận lời mời của nhóm bạn Cựu lớp Y13C Nam Định về thăm Đền Hùng nhân Giỗ tổ Hùng Vương. Loay hoay lại trễ mất xe, thế là không tham dự được ngày Lễ trọng đại mà mấy lâu ao ước. Nhưng dù sao không khí lễ hội vẫn đang còn để lại. Đó là những áp phích, biểu ngữ được treo  khiêm nhường trước cổng với những dòng chữ đón chào du khách về tham dự lễ hội;  là những lá cờ Tổ quốc, cờ Đại Việt được cắm những nơi trang trọng đang tung bay phần phật trong gió xuân… Tôi được biết, Giỗ Tổ mùng 10 tháng 3 âm lịch năm nay tuy tình hình COVID đang diễn biến khó lường, nhưng đã có hàng vạn người từ Bắc – Trung – Nam về Đền Hùng,  về với cội nguồn, dâng hương cầu bình an, sức khỏe, thành kính tri ân công đức của các Vua Hùng và các bậc tiền nhân đã có công dựng nước. Đến với đền Hùng, chúng tôi không những  được chiêm ngưỡng một công trình kiến trúc, thiết kế, nghệ thuật điêu khắc từ thời vua Đinh Tiên Hoàng mà còn cảm nhận được vẻ đẹp của công trình hoành tráng ẩn mình dưới những cây cổ thụ to lớn, xanh mát; dưới những cây mai vàng đang trải sắc hoa… Sau một thời gian đi thắp hương tri ân, thăm thú các nơi trong Đền, ai nấy đã thấm mệt. Mồ hôi vã ra, mặt bừng đỏ lên vì nắng, chúng tôi cùng nhau nghỉ lại nơi Đền Giếng, rồi sau đó kết thúc chuyến thăm viếng Đền Hùng.

Tôi gợi ý: “Đến với Phú Thọ là đến với rừng cọ đồi chè, hay ta đi thưởng ngoạn chăng?” Bạn nhìn tôi như vẻ thông cảm: “Rùng cọ đồi chè nay đã nhường chỗ cho phố thị rồi, nó chỉ còn trong văn thơ thôi”. Rồi bạn chỉ tay về phía đồi, tôi nhìn theo hướng  tay bạn, chỉ thấy lác đác vài chục cây sót lại cằn cỗi mà  trong lòng như có một nỗi niềm khó nói!

Rồi chúng tôi rủ nhau đi thưởng thức ẩm thực. Xe đưa chúng tôi đến một nhà hàng chuyên chế biến thịt vịt. Nhìn qua, nhà hàng không rộng lắm, nhưng đủ chỗ cho hơn năm chục người. Chúng tôi thong thả bước vào, nhà hàng cũng đã đông khách. Tiếng ồn ào làm cho không khí trong phòng rộn lên. Chưa được ăn nhưng mùi thơm từ căn bếp bốc lên làm cho cái mũi của tôi cứ phập phồng, cái bụng cứ sôi réo.

Cô nhân viên nhà hàng trẻ trung, có ánh mắt lá răm xinh đẹp, gọn gàng trong bộ đồ đồng phục màu cà rốt, đeo chiếc tạp dề trắng bưng đĩa thịt vịt luộc và các món ăn kèm ra  rồi  giới thiệu món ăn với chúng tôi. Bạn tôi bảo: “Cứ nhấm nháp từng  món một để cảm nhận cái thú vị của nó”. Tôi nghĩ thầm không dám nói ra với bạn. Thịt vịt nơi nào chả có mà sao xem ra quan trọng vậy. Ở quê tôi, nơi đồng quê chiêm trũng, ruộng lúa thẳng cánh cò bay, người ta nuôi vịt nhiều lắm. Có nơi nuôi cả vịt trời.  Nhớ lại khi còn trẻ trâu, nhà tôi cũng chăn nuôi vịt, nhiều khi ăn ngửi mùi lông thấy khó chịu, có thấy ngon lắm  đâu. Thế mà ở đây bạn nói  là món đặc sản. Sao không đãi chúng tôi những món đặc sản lạ của Phú Thọ  như thịt chua, rêu đá, trám om kho cá… Cắt ngang dòng suy nghĩ của tôi, bát nước mắm chấm thịt luộc cũng được bưng ra. Mùi thơm nước mắm cùng với mùi thịt luộc xem ra cũng hấp dẫn khứu giác, nhưng không biết vị giác sẽ ra sao? Các lát thịt được sắp lên đĩa rất đẹp mắt. Những lát cắt phải là người khéo tay lắm mới mát ngọt như thế.  Gắp một lát thịt lên, tôi đặt vào miệng nhưng vẫn muốn  hít hà một tý để thưởng thức mùi thơm của thịt, của nước chấm. Cô nhân viên nhà hàng thấy thế cứ tưởng tôi ái ngại với món ăn nên đến bên nhẹ nhàng: Anh yên tâm đi! Vịt ở đây chúng em làm đạt chuẩn. Giống vịt Xiêm đấy. Nói rồi cô giảng giải cách làm thịt vịt cho chúng tôi nghe. Đó là, khi rửa sạch vịt bằng cách dùng dấm và muối hay thêm vài lát gừng xát vào mình vịt và rửa lại nhiều lần với nước sạch để khử mùi hôi, dùng dao cắt bỏ phần phao câu của vịt,  dùng khăn sạch thấm khô nước trên mình vịt. Luộc vịt không đơn thuần là cho vịt vào nước rồi nấu chín. Để có món vịt luộc ngon, thời gian luộc vừa đủ để vịt chín nhưng không quá mềm. Luộc là phương pháp chế biến đơn giản nhưng giữ được hương vị đặc trưng của món ăn, đồng thời đem lại sự nhẹ nhàng, thanh đạm cho vị giác. Vịt luộc là món ăn ngon được nhiều người yêu thích, thịt có độ dai ngọt tự nhiên, thanh mát và không gây ngán như thịt gà. Trong số các món ăn từ thịt vịt, vịt luộc tưởng chừng là món đơn giản nhất nhưng không phải thế. Thịt vịt ngon phụ thuộc phần lớn vào nguyên liệu và cách luộc vịt. Ta bắc một nồi nước lên bếp nấu sôi, lượng nước đủ để ngập hết con vịt, cho vào đó 1 củ gừng đập dập, hoặc 1 củ hành khô nướng, hoặc 1 củ gừng nướng. Các nguyên liệu này sẽ giúp món vịt luộc có mùi hương thơm lừng và vô cùng hấp dẫn. Vớt  ra, để nguội bớt rồi chặt nhỏ ăn ngay.

Nước mắm gừng là linh hồn của món ăn. Mắm gừng pha chua ngọt gồm tỏi, ớt bằm, chanh, đường cát, bột ngọt, ít nước lọc và nước mắm. Nước mắm chấm vịt đậm đà nên lượng nước lọc không pha nhiều như nước mắm ăn bún hay ăn gỏi cuốn. Gừng được bằm nhuyễn, vắt bỏ nước cho bớt đắng, sau đó cho vào tô nước mắm trộn đều.

Vị giác tôi đang cảm nhận  miếng thịt vịt mềm thơm, da béo ngậy, nóng hổi hòa cùng vị cay nồng của nước mắm gừng làm cho tôi  thấy thú vịChúng tôi vừa ăn vừa nghe cô nhân viên trò chuyện. Khi câu chuyện kết thúc thì dĩa thịt cũng đã hết veo.

Bưng món thịt nướng chao lên là một nam thanh niên. Anh ta có vẻ rụt rè, chỉ cười trừ khi chúng tôi hỏi cách làm món ngon này. Hay sợ tiết lộ bí quyết nhà nghề?  Không phải! Là vì em không biết cách trình bày thôi. Tôi nhìn em và thông cảm, chắc mới vào nghề đây. Cố lên em!.  Bạn tôi thay lời anh nhân viên: Để khi nào cậu mua vịt về tớ bày cách làm cho. Để món ăn ngon hơn, bạn nên lựa chọn loại vịt cỏ thả vườn sẽ chắc thịt và ít mỡ hơn vịt bầu hay vịt xiêm. Bạn có thể nướng thêm đậu bắp để ăn kèm hoặc thưởng thức cùng dưa leo, rau sống để món ăn thêm hấp dẫn và trọn vị. Chỉ cần một chút khéo léo là bạn đã có thể có ngay món vịt nướng chao.  Xem ra đã kích thích vị giác tôi rồi đấy. Nghe bạn nói vậy tôi thấy háo hức lắm. Khi nào cậu bày mình làm với, món này quê mình chắc chưa có. Càng ăn càng thấy món vịt nướng chao với vị thơm đặc trưng của chao, quyện lẫn với thịt vịt ngọt, vừa lạ miệng mà ăn lại ngon. Rồi chúng tôi tiếp tục vừa ăn vừa trò chuyện hành trình tham quan Đền Hùng.

Hai món vịt cuối cùng cũng được nhà hàng bưng lên. Tôi định nói: Trời! Bụng đâu nữa mà ăn đây, nhưng cũng đành lẳng lặng để thưởng thức thêm món vịt rang muối và món cháo lòng vịt. Tuy đã thấy ngang bụng nhưng ngửi mùi vị tỏa ra, cái miệng vẫn còn muốn lắm. Món nào cũng thấy ngon, đậm đà. Nếu đã ăn một lần thì nhớ mãi rồi muốn có lần nữa.

Trời tối dần, đèn đường bật sáng. Thành phố về đêm rực rỡ ánh điện như sao sa. Dòng người trật tự xuôi ngược. Người kéo về nhà hàng ngày một đông. Rồi chúng tôi chia tay nhau. Cám ơn các bạn đã cho tôi  một ngày đầy cảm hứng. Chào Phú Thọ, nơi đã cho chúng tôi đến với cội nguồn, nơi chúng tôi có  được một bữa ẩm thực tuyệt vời. “Miếng ngon nhớ đời”, hẹn một ngày không xa chúng tôi sẽ lại đến.


 Phú Thọ, ngày 11 tháng 3 (Âm lịch) năm 2021. 

                  Nguyễn Đại Duẫn

                     (Quảng Bình)

 

READ MORE - VỀ PHÚ THỌ THƯỞNG THỨC ĐẶC SẢN - Tùy bút - Nguyễn Đại Duẫn

ĐẸP LÀM SAO ÁO DÀI VÀ PHỤ NỮ VIỆT NAM - Đinh Hoa Lư

 


ĐẸP LÀM SAO ÁO DÀI 

VÀ PHỤ NỮ VIỆT NAM 


Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát

Bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

Anh vẫn yêu màu áo ấy vô cùng

( Áo Lụa Hà Đông)

 

Thưa bạn đọc,

Cho đến hôm nay, xin thưa với quý bạn rằng riêng tôi luôn cho rằng cái áo dài phụ nữ Việt Nam là ĐẸP NHẤT khi so với các áo truyền thống phụ nữ khác trên thế giới.

 

Có thể tôi sẽ bị cho là thiên vị , và do tinh thần dân tộc cao quá mà 'cường điệu" lên chăng? Lướt qua trang us.eva.vn qua các trang phục truyền thống phụ nữ thế giới từ Dirdl của phụ nữ Đức , Sari của Ấn HỒi , Kimono của Nhật, Xườn xám của Trung Hoa, tôi vẫn mê áo dài phụ nữ chúng ta thôi.

 

Từ thời xưa, nguồn gốc của chiếc áo dài VN phải biến thiên qua nhiều giai đoạn từ Tứ Thân, Ngũ Thân , cho đến sau này văn minh hơn áo Cát Tường / Le Mur vào thời Pháp.

 

Cho đến thời VNCH, những tay áo raglan, áo dài cổ thuyền, bà Ngô đình Nhu hay mặc. Càng lúc cái áo dài phụ nữ VN càng đẹp. Cho đến hôm nay thì không ai chê vào đâu được.

 


TẠI SAO ÁO DÀI PHỤ NỮ VN ĐẸP ?

 

*Khêu gợi: cái áo dài VN là phương tiện phô trương những đường nét tuyệt mỹ của người đàn bà VN . Dĩ nhiên là cho những nàng có thân hình: ĐẸP. Mặc cái áo dài VN vào nó lại "kín" mà lại "hở "! Những đường cong tuyệt mỹ vẫn có dịp phô bày cho người ta ngắm. Rõ ràng mà không "lồ lộ", thế mới hay? Với bàn tay các nhà thiết kế trẻ tuổi tài năng hiện nay, thì những "đường cong" "sẵn có tư trời" đó càng khêu gợi hơn thêm. Những nét hấp dẫn càng thôi thúc mãnh liệt. Sự thu hút khám phá càng tăng cao cho những con mắt "ưa cái đẹp khác phái"?

 


ĐẸP MẠNH MẼ

 

Vâng, đúng thế - Những đường cong của ngực tuy được che chở của phần trước áo nhưng không dấu được nét mạnh mẽ ưỡn về trước như nửa muốn che nửa muốn phô trương một sức hấp dẫn của dục tình?

 

Bao rung động mãnh liệt, những trầm trồ chắt lưỡi thật lòng khó che dấu từ những đấng mày râu? Trong làn điệu yêu đương trong đôi tiếng tỏ tình đầu tiên làm sao không có công đến từ sự góp sức cuốn hút của dáng em "quá đẹp" trong chiếc áo dài khéo may và màu sắc chọn lựa tinh tế đến thế kia?

 


LỊCH SỰ, KÍN ĐÁO

 

người con gái đẹp khi mặc cái áo dài VN thì không thể nào bị cho là "nhà nghèo thiếu vải" được. Những phần da thịt đáng che đã được che chở đàng hoàng.

 


Ngoại trừ câu chuyện vui, ông Mỹ nào gừi cho vợ yêu ở Hoa kỳ cái áo dài VN, lại quên gửi kèm quần dài nên được bà vợ Mỹ cùng bạn bè hàng xóm khen là "sexy nhất thế giới"?!

 


 Chúng ta nhận thấy, các phần ngực lưng đều kín đáo. Ngoại trừ các biên chế sau này nhất là trên sân khấu; nhưng những chuyện như thế chúng ta cứ xem là 'biệt lệ' do không phải là thời trang chính thức hay phổ thông trong xã hội.

 


Như vậy cái áo dài VN "Kín mà lại hở"- "Đoan trang mà lại lả lơi" là cớ làm sao?  Những ngọn sóng ham muốn tình yêu, say ngắm cái đẹp, ngay cả "bốc lửa " qua cái áo dài phụ nữ VN hiện đại qua tài năng của nhiều bàn tay khéo léo của các NHÀ THIẾT KẾ THỜI TRANG có trường lớp quy mô.  Những tài nhân này sẵn sàng cống hiến thỏa đáng cho người thưởng thức.

 


Khéo khen thay cho người may áo! Thật là một lực hấp dẫn độc đáo. Hôm nay, cô Đào cô Mận nào đó trong xóm , quê mùa cục mịch không có chàng trai nào để ý. Giá như ai đem hai cô đó "re touche " lại hết, diện vô hai cái áo dài nữa , bảo đảm với quý vị khác ngay thôi. Mấy anh chàng thanh niên trong xóm nếu không ai nói trước sẽ bị lầm mà xì xào với nhau "ủa hai em nào vậy ta"?

 


ÁO dài phụ nữ VN quả quyến rũ, một sự quyến rũ sâu sắc và bền bỉ. Theo thiển ý của người viết, những tà áo dài thướt tha kia khi chở che cho vóc dáng phụ nữ Việt Nam càng tôn vinh "vẻ đẹp thiên thần" thật khó lòng mà diễn tả cho hết ý.

 


Những năm trước, Festival Áo Dài Thế Giới tại Huế 2004 cho chúng ta biết sức đột phá từ cái đẹp áo dài VN. Với những người mẫu VN thiên kiều bá mỵ, dáng đi ẻo lả, thuớt tha trong hàng trăm mẫu áo dài đẹp muôn hình muôn vẻ, sẽ cho thiên hạ ngây ngất!

 


Nói sao hết những ý tưởng ca tụng vẻ đẹp ngất ngây của tà áo dài trong vóc dáng người con gái Việt Nam! Ôi bao trái tim sắt đá của đấng mày râu nào đó chắc hẳn phải mềm lòng trước những vẻ đẹp thiên kiều bá mị của người khác phái! Ắt hẳn sắc đẹp đang tôn xưng nhờ vào sự che chở khéo léo làm sao của đường cong của vải mà lại là nét khêu gợi sát liền bên trong?

 

Làm sao nêu bật hết những ẩn dụ này khi ca ngợi nét đẹp của những NÀNG CON GÁI, người đẹp Việt Nam.

 

VIVA ÁO DÀI PHỤ NỮ VIỆT!

 

ĐINH HOA LƯ


Bài đã đăng trên 
THEO BÓNG THỜI GIAN
 Trang Blogspot của tác giả ĐINH HOA LƯ
READ MORE - ĐẸP LÀM SAO ÁO DÀI VÀ PHỤ NỮ VIỆT NAM - Đinh Hoa Lư

TÔI SẼ VỀ THĂM LẠI HUẾ XƯA - Nhạc & Lời: Mai Hoài Thu - Ca sĩ: Vân Khánh

READ MORE - TÔI SẼ VỀ THĂM LẠI HUẾ XƯA - Nhạc & Lời: Mai Hoài Thu - Ca sĩ: Vân Khánh

HOA THANH LONG TRẮNG - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA THANH LONG TRẮNG - Chu Vương Miện

Thursday, September 9, 2021

THƯ GỞI CON TRAI NHÂN NGÀY TỰU TRƯỜNG - Nguyễn Đức Tùng giới thiệu thơ của Wallace Stevens




Căn nhà im lặng và thế giới thì an bình.

Mở đầu chương trình môn văn năm nay, cô giáo của con yêu cầu mỗi học sinh tự chọn lấy một bài thơ mà mình thích, học thuộc lòng, rồi đứng đọc trước cả lớp. Điều kiện là bài thơ ấy đã in trong sách, bất cứ sách nào, nhưng không phải trên báo chí hoặc các truyền thông xã hội. Vào lứa tuổi của con, có lẽ điều ấy để đảm bảo tiêu chí giáo dục. Con đã hỏi ý kiến của ta về chuyện này. Ta lấy làm vui sướng, không, ta cảm thấy may mắn. Chúng ta thường làm việc với nhau về toán, đôi khi căng thẳng, nhưng những môn học khác, chúng ta không có dịp. Ta giới thiệu với con bài thơ “The house was quiet and the world was calm” của Wallace Stevens, một trong những nhà thơ lừng lẫy của Hoa kỳ.
 
CĂN NHÀ IM LẶNG VÀ THẾ GIỚI THÌ AN BÌNH
 
Căn nhà im lặng và thế giới thì an bình
Người đọc trở thành cuốn sách; và đêm hè
Giống như hiện hữu có ý thức của cuốn sách
Căn nhà thì im lặng và thế giới an bình
 
Những chữ được đọc lên như không phải từ cuốn sách
Ngoại trừ cách người đọc nghiêng người xuống trang giấy
Nghiêng xuống nữa, nghiêng mãi miết, cho đến khi
Trở thành một học giả về cuốn sách ấy, cho đến khi
 
Đêm mùa hè tựa như sự toàn hảo của ý tưởng
Căn nhà thì yên tĩnh bởi vì nó phải thế
Sự im lặng làm thành một phần của ý nghĩa một phần của tâm trí
Lối đi của sự toàn hảo vào trang sách
 
Và thế giới thì an bình. Sự thật trong một thế giới bình an
Ở đó không còn một ý nghĩa nào khác, tự nó
Và sự bình an, tự nó là mùa hè về đêm, tự nó
Là người đọc nghiêng người xuống khi đã khuya nghiêng xuống đọc ở căn nhà kia

 
THE HOUSE WAS QUIET AND THE WORLD WAS CALM
 
The house was quiet and the world was calm.
The reader became the book; and summer night
Was like the conscious being of the book.
The house was quiet and the world was calm.
 
The words were spoken as if there was no book,
Except that the reader leaned above the page,
Wanted to lean, wanted much most to be
The scholar to whom his book is true, to whom
 
The summer night is like a perfection of thought.
The house was quiet because it had to be.
The quiet was part of the meaning, part of the mind:
The access of perfection to the page.
 
And the world was calm. The truth in a calm world,
In which there is no other meaning, itself
Is calm, itself is summer and night, itself
Is the reader leaning late and reading there.
 
Năm nay mùa tựu trường đến trong đại dịch, gây ra những tổn thương mất mát lớn cho nhân loại, trong đó có nhiều gia đình ở Canada, Hoa Kỳ, Việt Nam. Thành phố nơi chúng ta ở may mắn đang ra khỏi một phần cơn dịch, nhưng không có gì chắc chắn chúng không trở lại. Trong không khí ấy ta nghĩ đến bài thơ này và cho rằng nó thích hợp với tâm trạng bây giờ. Cũng không phải hoàn toàn như thế, từ lâu ta vẫn thường trở đi trở lại với bài thơ, mỗi lần đọc nó ta hình dung thời cắp sách đi học, thời mới vào đời làm quen với chữ nghĩa. Ta nhớ căn nhà xưa, buổi tối lên đèn trẻ con ngồi học bài, ở một góc, cha ngồi đọc sách, thỉnh thoảng quay lại trò chuyện với mẹ ta, bà nội của con. Đó không phải chỉ là một hoài niệm, đó còn là giấc mơ của loài người.
 
Wallace Stevens nổi tiếng về cách viết, với một vốn từ vựng giàu có, cách dùng chữ chính xác, nghiêm mật, thơ có tính âm nhạc rất cao. Trong thơ ông man mác một thứ triết học về con người và về thơ ca. Đó không phải là dễ đọc, thậm chí rất khó đối với nhiều người. Ta đọc bài thơ này lần đầu trong một mùa hè chuẩn bị vào nội trú ở Canada, nhưng ta biết rằng vào lúc mười bốn tuổi như con bây giờ, nếu đọc và hiểu nó được bằng tiếng Anh ta cũng sẽ yêu thích. Stevens nổi tiếng về cách nghĩ trừu tượng; một người có tư duy tách biệt, mới lạ, độc đáo. Không hiểu sao mỗi lần đọc đến câu thơ:
 
The house was quiet and the world was calm
Căn nhà im lặng và thế giới thì an bình
 
Trong ta dậy lên một lòng thương nhớ. Thương nhớ về một làng quê đã mất trong chiến tranh, một tuổi thơ không còn nữa, nỗi thanh bình đã tiêu vong, lòng ta buồn mênh mông lạ lùng. Nhưng cùng lúc, có một niềm vui kỳ lạ khởi lên như thể ta nhận ra rằng đây chính là cuộc đời, là ước mơ của mỗi con người trên mặt đất. Không một người nào không muốn một mùa hè như thế có một căn nhà một ngọn đèn như thế, một thiên nhiên êm ả như thế. Không một người nào không muốn mình trở thành độc giả trong bài thơ, hay một người thân của độc giả ấy: mẹ hay cha, vợ hay chồng, người yêu hay tri kỷ, người giúp việc hay người chủ nhà, độc giả là một người già và chúng ta là những người thơ bé, độc giả là chú bé hay cô bé và chúng ta người lớn tuổi đứng ngoài cửa sổ nhìn vào. Bài thơ tạo ra tương tác giữa thế giới bên trong của căn nhà và thế giới bên ngoài của căn nhà ấy, lớn rộng, thế giới bên ngoài của một người và thế giới bên trong của người đọc ấy.
 
The reader became the book; and summer night
Was like the conscious being of the book
 
Người đọc trở thành cuốn sách; và đêm hè
Giống như hiện hữu có ý thức của cuốn sách
 
Thế giới, cuốn sách, người đọc là ba đỉnh tương tác với nhau, hòa vào nhau, làm thành một. Ngay cả những chữ mà được người ấy đọc, đọc thầm hay đọc lớn lên, cũng không hẳn là từ cuốn sách, anh hay chị ấy đã thuộc nó, hay chúng đã trở thành là một với tư tưởng của người đọc ấy. Nhà thơ có thể là người đọc, có thể là người đứng bên ngoài nhìn vào và không thể nào biết được những chữ mà anh lắng nghe vang lên từ trang sách hay từ tâm trí người ấy. Nhưng ngay cả tâm trí người đọc cũng trở thành sự toàn hảo các tư tưởng và đến lượt nó, sự toàn hảo ấy trở thành một với đêm mùa hạ im lặng lẫy lừng. Người đọc một lúc không còn là người đọc mà trở thành biểu tượng. Công việc đọc một bài thơ biến anh ta thành trung tâm giao hòa của vạn vật. Nhưng anh ấy không biến mất đi, và vẫn còn ở đó.
 
Except that the reader leaned above the page
 
Ngoại trừ cách người đọc nghiêng mình xuống trang giấy
 
Như vậy sự sáng tạo và sự suy tưởng một mặt trừu tượng hóa thế giới một mặt vẫn giữ chặt thế giới vật thể, thân xác vào hiện hữu. Chính vì đêm mùa hè là một mùa tuyệt đẹp, nóng rẫy, trong suốt, nồng nàn, trên đó chính là giấc mơ của chúng ta và sự làm đầy giấc mơ ấy. Chính vì sự nồng nàn ấy mà:
 
Wanted to lean, wanted much most to be
 
Người đọc trong bài thơ là kẻ đi tìm ý nghĩa. Con người tồn tại là nhờ ý nghĩa. Đi tìm ý nghĩa là cuộc đi tìm vẻ đẹp trong suốt của thế giới. Wallace Stevens cũng có xu hướng tâm linh mặc dù ông không phải nhà thơ tôn giáo. Những suy tưởng đẩy đến tận cùng của ông thường chạm tới mép rìa của ngôn ngữ trữ tình.
 
The summer night is like a perfection of thought.
 
Đêm mùa hè tựa như sự toàn hảo của ý tưởng.
 
Đó là một ẩn dụ tuyệt đẹp.
Con có bao giờ tự hỏi cuốn sách trong bài thơ là cuốn sách nào không?
Tác giả không nói và ta cũng không thể biết, tất nhiên. Nếu được chọn, ta sẽ chọn một cuốn. Ta muốn rằng con cũng thế: con cần có một cuốn sách mà mình yêu thích. Hoặc nhiều hơn một cuốn.
 
Khi con đọc bài thơ này, ta hy vọng rằng con sẽ có thói quen đọc kỹ, đọc chậm. Vì yêu cầu của cô giáo đọc thuộc lòng nên con sẽ đọc nhiều lần, nhớ lại từng chữ. Nhưng học thuộc lòng là một nghệ thuật bị bỏ quên từ lâu. Thời nhỏ ta học thuộc lòng nhiều bài văn bài thơ và trích đoạn tiểu thuyết, tuy công việc ấy vất vả, học sinh nào cũng sợ, nhưng những đoạn thuộc lòng ấy hình thành trong vô thức những phương cách diễn tả và phương cách suy luận. Những đoạn thuộc lòng năm ta học lớp sáu, lớp bảy, lớp tám, đến bây giờ ta vẫn còn thuộc lõm bõm, vẫn không bị hoàn toàn chôn lấp bởi tiếng Anh chứng tỏ sức sống kỳ lạ của tiếng Việt, mạch suy tưởng của nó, tính âm nhạc của nó. So với tiếng Việt, tiếng Anh ít có tính âm nhạc hơn, có lẽ ít du dương hơn, tuy nhiên bài thơ này của Wallace Stevens phô bày một thứ âm nhạc cao thượng, gọn ghẽ, chính xác, sang trọng lạ thường.
 
Để hiểu bài thơ, để cảm nhận nó, để yêu thích, con cần mở rộng cái nhìn, mở rộng tâm hồn. Sự tiếp nhận của người đọc là một trong những đòi hỏi lớn nhất trong nghệ thuật đọc đối với thơ ca.
Những bài thơ được dạy ở nhà trường thường được sáng tác trong những thời kỳ xa xưa, trong khi thơ bây giờ đã khác nhiều. Sau này khi ra đời con sẽ không có dịp đọc thơ nữa, và những bài thơ con nhớ được thời trung học đôi khi là vốn liếng duy nhất. Cần nhớ rằng thơ dở bao giờ cũng nhiều gấp trăm lần thơ hay, nhưng khi con gặp một bài thơ hay, chúng sẽ làm con thay đổi. Bài thơ làm chúng ta nhìn thế giới khác đi. Giờ đây giữa những ngày bận rộn, con sẽ quên thơ ca, rồi bỗng một hôm, con tìm thấy một bài thơ đâu đó, trong một cuốn sách cũ, trên một tờ nhật trình, và chỉ vài dòng thôi cũng đủ làm con ngẩn người, kinh ngạc, đau đớn, hay hạnh phúc. Giới trẻ bây giờ có những loại thơ mới như thơ trình diễn, thơ kiểu nhạc rap, thơ slam, rất quyến rũ. Nhưng có một loại thơ khác, có mặt hàng ngàn năm nay bằng thứ chữ mà con đọc mỗi ngày, có những bài thơ đứng lại mãi với thời gian và vượt qua biên giới của các ngôn ngữ. Con cần tập luyện một khả năng đặc biệt, khả năng ấy là sự nhìn thấy, sự nghe được, sự tiếp nhận. Không một nghệ thuật lớn lao nào tồn tại một mình, chúng chỉ tồn tại trong quan hệ với người thưởng thức. Bài thơ tỏa sáng ở nơi mà nó bắt gặp người đọc của mình, nơi gặp gỡ giữa nhà thơ và người đọc. Trong cuộc gặp gỡ ấy, giữa hai người, một cánh cửa sau lưng họ bật mở. Ngôi nhà đang chờ con ở đó. Thế giới chờ con ở đó.
 
Khi con đọc bài thơ của Wallace Stevens¸ đọc lại nhiều lần, sẽ đến một lúc con cảm thấy chính con là nhân vật trong bài ấy, người đọc hôm nay của bài thơ là người đọc cuốn sách trong bài thơ ấy, trong căn nhà ấy, trong một mùa hè trên một xứ sở. Vào giây phút khi con nhận ra điều này, con đã chạm tay vào cánh cửa của căn nhà. Sẽ không có ai ra mở cửa trong một đêm hè yên tĩnh, chính con sẽ đẩy cửa để đi vào sự toàn hảo của thế giới, một sự toàn hảo mà có người đã chứng kiến trong đời sống, có người chỉ nhìn thấy trong giấc mơ và ngày nay hình như không còn nữa, nhưng nó sẽ trở lại.
 
Ta tin rằng nó sẽ trở lại.
 
Nguyễn Đức Tùng
 
READ MORE - THƯ GỞI CON TRAI NHÂN NGÀY TỰU TRƯỜNG - Nguyễn Đức Tùng giới thiệu thơ của Wallace Stevens

CHỈ CÒN LẠI THƠ - Lê Văn Trung

 
 

 
CHỈ CÒN LẠI THƠ
 
Hồn cổ thạch cũng rêu bầm năm tháng
Còn đau gì chuyện bãi bể nương dâu
Có đi tới cuối chân trời vô hạn
Lòng vẫn đau từng giọt máu ban đầu
 
Nếu phải vác một nghìn cây thập giá
Nếu phải ngàn lần lên đồi Golgotha
Ôi thi sỹ ! Ngươi chỉ là rơm rạ
Ngươi chỉ là giọt lệ nở thành hoa
 
Nếu phải sống trong vòng tay quỹ dữ
Nếu phải chìm trong giấc mộng yêu ma
Ôi thi sỹ ! Ngươi chỉ là cây cỏ
Hãy xanh vì hạnh phúc quá bao la
 
Chúa chẳng thể. Ta cũng đành không thể
Ngăn dòng sông mà không vỡ đôi bờ
Chúa không thể. Dù ơn Người! Tận thế!
Chỉ còn thơ. Vĩnh cửu một hồn thơ
 
Vườn đá tảng (*) ôi thơ ! Vườn đá tảng
Một ngày kia thơ hóa thạch trong mồ
Em dẫu đến, dẫu đi, dù quên lãng
Một ngàn năm THƠ mãi sáng như THƠ
 
Lê Văn Trung
(Trích thi phẩm Thu Hoang Đường)
 
.......
 
(*) Vườn Đá Tảng tên một tác phẩm văn học nước ngoài (Le Jardin Des Rochers của Nikos Kaxantzaki )

READ MORE - CHỈ CÒN LẠI THƠ - Lê Văn Trung