Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 23, 2021

ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ” THƠ TUỆ SĨ - Châu Thạch

                                        
 
                       Thiền sư Tuệ Sỹ

 
KHUNG TRỜI CŨ
                         
Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ 
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang 
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ 
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn 
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở 
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan 
Cười với nắng một ngày sao chóng thế 
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng! 
 
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ 
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh 
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ 
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn 
                   
Tuệ Sỹ 
 
Trước hết người viết xin lỗi bạn đọc vì bài viết hơi dài. Ai yêu nhà thơ Tuệ Sĩ, yêu bài thơ “Khung Trời Cũ” thì xin kiên nhẫn đọc, bởi người viết muốn đem đến cho bạn đọc nhiều dữ liệu về tác giả, nhiều cảm nhận khác nhau đối với một tuyệt tác để đời của một nhà thơ trí thức thông tuệ,  được yêu mến bậc nhất trên văn đàn từ  trước và hiện nay:
 
I - COMMENT VỚI BÀI BÌNH THƠ CỦA CHÂU THẠCH VỀ BÀI THƠ "KHUNG TRỜI CŨ" CỦA TUỆ SỸ. – TRẦN THOẠI NGUYÊN
Nhà thơ Trần Thoại Nguyên

Nhớ lại. Bài thơ nầy lần đầu tiên đăng trên Tạp chí Tư Tưởng của Đại Học Vạn Hạnh, Sài Gòn, năm 1969 với nhan VÔ ĐỀ, lúc Thầy Tuệ Sỹ khoảng 26 tuổi đang là GS Triết giảng về Triết học Tánh Không của Khoa Phật học ĐH Vạn Hạnh. Năm sau, 1970 thì Nhà sư, GS Thích Nguyên Tánh Phạm Công Thiện bỏ đi Pháp giao lại Khoa Phật học và Tạp chí Tư Tưởng cho Thầy Tuệ Sỹ. 
 
Thời điểm đó tôi là SV ghi danh học Triết Viện ĐH Đà Lạt thỉnh thoảng nổi hứng lang bạt về Sài Gòn, có duyên Nhà Phật ghé thăm chơi với các nhà sư trẻ văn thơ học thuật rất mực lỗi lạc tài hoa cùng với đại ca Thi sĩ Bùi Giáng dưới trướng của Hòa thượng Thích Minh Châu Viện trưởng ĐH Vạn Hạnh tạo thành Nhóm văn nghệ học thuật trí thức nổi tiếng đình đám của Miền Nam. Tôi tá túc phòng Sư Chân Pháp Nguyễn Hữu Hiệu (em ruột Nhà thơ Viên Linh) tác giả Con Đường Sáng Tạo, có tối tôi cùng chơi bài văn nghệ với cả đại ca Bùi Giáng rất dzui dzẻ. 
 
Thầy Tuệ Sỹ người nhỏ con rất hiền lành với đôi mắt to tròn óng ánh tia sáng xanh rất thông thái mà đại ca Bùi Giáng hay cà tửng chọc ghẹo kiểu thượng thừa!
 
Sau 1975, Thầy Tuệ Sỹ tập trung vào dịch thuật & nghiên cứu kinh Phật và đã dịch Quỷ Thi của Lý Hạ thành tập bản thảo dày. Tôi không ngờ một Nhà sư nhỏ nhẹ hiền lành như Thầy Tuệ Sỹ mà có cái Dũng của Nhà Phật, Hùng Tâm đến như thế, không run sợ trước cường quyền, bị bắt giam năm 1984 rồi ghép tội tử hình năm 1988 rồi giảm án xuống tù chung thân và rồi Sư tuyệt thực không hề nhận một tội nào để được khoan hồng!
 
Cái Hùng Tâm ấy, bọn tôi loáng thoáng thấy từ bài thơ VÔ ĐỀ mà bọn tôi đã thuộc lòng:
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối chưa tan.
 
Và Thi sĩ Bùi Giáng đã khai mở rõ hơn:
 
“Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du”
 
Với cái Hùng Tâm kim cang ấy của Sư Tuệ Sỹ và cuối cùng được sự ngưỡng mộ, can thiệp của tổ chức Nhân quyền Thế giới thì Sư được ra tù hưởng quyền Tự Do của công dân của một Tu sĩ chân chính! 
Đời thật vô lường quả Vô Thường! 
 
Trong những ngày Thầy Tuệ Sỹ bị ghép án tử hình rồi giảm xuống tù chung thân, bọn tôi cùng xem bản thảo dịch thơ Quỷ Thi Lý Hạ của Thầy Tuệ Sỹ, mà cứ nghĩ Thầy như đã tiên đoán định mệnh đời mình từ thuở yên bình hồn nhiên trong sáng thơ mộng ngày đó của bài thơ VÔ ĐỀ ra đời:
 
 Giờ ngồi ngó bốn vách tường ủ rũ.
 
Nhưng không phải như vậy! Mà rồi là niềm vui khi Thầy Tuệ Sỹ đã ra tù, tự do tự tại chu du sơn thủy:
 
 Suồn xa, nước ngược xuôi ngàn
 
Và dù hiện nay Thầy Tuệ Sỹ đang ở bên nước Nhật chữa bệnh nhưng Người đang Phụng thừa Ủy thác của Cố Đức Đệ Ngũ Tăng Thống Viện Tăng Thống, Xử Lý Thường Vụ Viện Tăng Thống Lãnh đạo Giáo Hội Phât Giáo Việt Nam Thống Nhất.
 
 Bài bình thơ của Châu Thạch về bài thơ KHUNG TRỜI CŨ tức là bài thơ đăng báo lần đầu tiên nhan là VÔ ĐỀ, với cái nhìn Tuệ Nhãn của Nhà Phật thật liễu quán sâu sắc của một tầm cao đáng ngưỡng mộ ! Nhưng hương vị đời của bài thơ có nhạt nhòa đi chăng?
 
Nhớ lại, năm 1970, 1971, Thi sĩ Bụi Đời Trần Thoại Nguyên cũng có hàng loạt 5 bài thơ đăng trên Tạp chí Tư Tưởng ĐH Vạn Hạnh. Thuở ấy, Thầy Tuệ Sỹ có Phật sự lên chùa Linh Sơn Đà Lạt và đã nghe chuyện người đẹp là con gái của gia đình Phật tử đã suỵt chó cắn thi sĩ và Thầy Tuệ Sỹ đã đến gia đình Phật tử ấy (cũng chỗ thân thuộc của Sư Chơn Hạnh - Nhà thơ Trần Xuân Kiêm cùng đang là GS ĐH Vạn Hạnh ngày ấy) 
 
Chuyện vắn tắt thế nầy: Tôi lên ghi danh học Triết Viện ĐH Đà Lạt năm 1968 và đã lẽo đẻo theo nàng Xuân Hạnh lớp 11 trường Nữ Trung học Bùi Thị Xuân, hết trồng cây si ở cổng trường Nữ BTX rồi đến cổng Viện Đại Học Đà Lạt khi nàng lên học năm thứ nhất ĐH Đà Lạt! Đến Tết Tây năm đó ra Giai Phẩm Xuân Văn Khoa Viện Đại Học Đà Lạt có đăng bài thơ của TTN với 2 câu mở đầu:                      
 
“Ô hô! Xuân Hạnh chửa hoang                        
Đẻ ta nằm khóc hoang đường nửa đêm!”
 
Và thế là, sau đó trong một đêm trăng sáng thi sĩ lãng vãng ngoài đường trước cổng nhà nàng thì bị chị của nàng (cũng cùng học một năm với tôi) đã suỵt chó cắn thi sĩ! 
 
Cách nay độ gần chục năm, nghĩa là gần 40 năm sau, hôm Thầy Tuệ Sỹ mời cơm chay tại Nhà sách Hương Tích (mà cũng là căn nhà Phật tử cúng dường cho Thầy Tuệ Sỹ tịnh tu) có Sư Chơn Nguyên, có Thi sĩ và là Nhà Hán học Nguyễn Tôn Nhan (nay đã mất) và Nhà thơ Nguyễn Lương Vỵ ở Mỹ về (nay cũng đã mất), Thầy Tuệ Sỹ đã kể lại chuyện đến nhà người đẹp là con gia đình Phật tử Đà Lạt ngày xưa năm 1970 để xem coi người đẹp con gia đình Phật tử như thế nào mà đã suỵt chó cắn thi sĩ? Tôi đã thưa: “Ngày đó Thầy cho con biết, con đi theo xách dép cho Thầy!” Hihi!
 
Tôi kể chút chuyện hơi cá nhân, nhưng rất thật để ta hiểu tâm hồn nghệ sĩ gắn với chất đời thường trần gian của hồn thơ Thi sĩ Tuệ Sỹ ngày trai trẻ sáng tác bài thơ VÔ ĐỀ, để cảm nhận vẻ đẹp thơ gắn với đời sống thực trần gian chứ không cao siêu quá “cái tâm ngài đã đi vào cõi tịnh, không khóc cười cho sinh diệt của trần gian.” Hay ĐÔI MẮT ƯỚT ấy là Tuệ Nhãn Nhà Phật:“Đôi mắt thấu rõ, thông suốt, vượt ra ngoài chấp trước, không hề vương vấn, không hề lưu lại, không chìm nơi cảnh, chẳng đọng nơi tâm, phủ sạch mê mờ. Nhìn mà không đắm, thấy mà không vương không khởi, thấy đơn thuần chỉ là thấy, thấy như là không thấy, thấy một cách rõ ràng chân thật, thấy trọn vẹn tận cùng thể tánh các pháp, cái thấy đó mới là đích thực”
 
Tôi nghĩ Châu huynh đã tung bút ngợi ca theo Huệ Nhãn Nhà Phật mà xưa nay đọc Thi Phật của Vương Duy tức Duy Ma Cật đa tài Thi Nhạc Họa, am hiểu sâu xa kinh Phật thời Thịnh Đường, ta chưa từng nghe những lời bình uyên viễn cao siêu thiền tâm đến như thế của Châu huynh về 2 câu thơ mở đầu VÔ ĐỀ:
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
 
Bởi vậy, dù người yêu thơ Bùi Giáng có người gọi Bùi Giáng là vị Bồ Tát lúc sinh thời nhưng tôi vẫn thích hơn cách mở từng nếp gấp của câu chữ bật lên vẻ đẹp với hương màu thơ mộng trần gian cũng như thi ca tư tưởng của Bùi Giáng !
 
Rồi cái BỖNG THẤY MÌNH DU THỦ chẳng khác chi với Bùi Giáng “Sài Gòn Chợ Lớn đã đời du côn” của hương hoa du hí cõi trần gian, chứ không chỉ là nói về linh hồn trôi giạt trong cõi luân hồi và hoài niệm về hội tụ trong tiền kiếp xưa như lời bình của CHÂU THẠCH uyên viễn bằng Tuệ Nhãn về cõi luân hồi quá chăng? “ta có thể hình dung Tuệ Sĩ đang ngồi một mình trên đồi cao vắng vẻ, quán tưởng thấy tiền kiếp của mình, và bởi một phút nhìn thấy bất ngờ đó, nhà thơ biết được linh hồn mình lang thang qua bao thế hệ như là một tên du thủ”
 
 Tất nhiên, bài thơ hay như viên ngọc lấp lánh lung linh được người yêu thơ nhìn, cảm nhận với những vẻ đẹp sắc màu khác nhau và tiếp tục đồng sáng tạo cùng tác giả bài thơ. 
 
Bài thơ tuyệt bút sẽ còn sống mãi với thời gian, với các thế hệ muôn sau là như thế!
                                                     
Trần Thoại Nguyên
 
II - LỜI BÀN BÊN CẠNH LỜI BÌNH VỀ BÀI THƠ “KHUNG TRỜI CŨ” CỦA THẦY TUỆ SĨ – HẠ THÁI TRẦN QUỐC PHIỆT
 
Nhà thơ Hạ Thái Trần Quốc Phiệt 


Hễ mỗi khi đọc thơ Tuệ Sĩ
Ngỡ như mình đi lạc chốn hư không
Bỗng thấy hồn ta đi mây về gió
Để lại sau lưng khoảng trống mênh mông!
 
Để mà gẫm hồn thơ hong trong nắng
Những ngôn từ ấp ủ tận trong sương
Những ý thơ sâu thẳm cõi vô thường
Về tụ tại tuôn ra từ ngọn bút
 
Hồ quanh đây có hương trầm nghi ngút
Hồ như bao hồn phách lạc quay về
Cõi trần gian cởi gội những cơn mê!
"Khung Trời Cũ" trang hoàng chân dung mới!
 
Thơ quá là thơ! Còn gì phải nói
Ngực dẫu banh tự vỗ chả thành âm
Đọc thơ người và tay vuốt gáy mình
Vui quá nhỉ! đời sinh nhiều thi sĩ!
         
Hạ Thái
 
III- BÌNH BÀI THƠ “KHUNG TRỜI CŨ” – CHÂU THẠCH

Nhà bình thơ Châu Thạch
 
Tuệ Sĩ là một nhà thơ được mến mộ, một thiền sư được kính trọng. Ngài còn là một tù nhân lương tâm chịu án tử hình. Cuộc đời ngài và thơ ngài đã được viết hàng ngàn trang và sẽ đi vào lịch sử, văn học sử. Bài thơ “Khung Trời Cũ” của ngài là một bài được Bùi Giáng, cũng là một nhà thơ được trọng vọng bậc nhất Việt Nam đánh giá là một bài thơ “đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.”
 
Trước hết, ta hãy thưởng thức khổ đầu của bài thơ “Khung Trời Cũ”:
 
Ðôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ 
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang 
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ 
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
    
Bình về ba chữ “đôi mắt ướt”, nhà thơ Bùi Giáng đã viết: “Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh? Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ. Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?”
 
Bùi Giáng không bình hai chữ “tuổi vàng”. Thế nhưng ta biết “tuổi vàng” cũng có nhiều nghĩa. Tuổi vàng là tuổi thời thanh xuân trẻ đẹp. Tuổi vàng cũng là tuổi về già như lá vàng ảm đạm.
 
Về cụm từ “khung trời hội cũ” Bùi Giáng viết: “Đôi mắt ướt tuổi vàng /Khung trời /Hội cũ”. Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? - Cung trời hội cũ. Một hội đạp thanh ? Một hội nao nức ? – “Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?”.
 
Về câu thơ “Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang” nhà thơ Bùi Giáng viết: “Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?” Bùi Giáng cho biết, Tuệ Sĩ vốn xưa kia có một thời ở Lào nên có thể “áo màu xanh” là áo của cô gái Lào thuở ấy.
 
Đọc khổ thơ nầy, Châu Thạch liên nghĩ đến “đôi mắt ướt” không phải là đôi mắt lệ trào mà cũng không phải là đôi mắt long lanh. Ở đây Tuệ Sĩ không nói rõ đôi mắt của ai những có thể hiểu ngầm là đôi mắt cúa chính nhà thơ. 
 
Nhà thơ là một tu sĩ đầy đạo hạnh, cho nên khó mà ngài chú ý đến một đôi mắt long lanh của giai nhân nào đó để đến nỗi thành thơ, cho nên cũng khó mà làm cho đôi mắt ngài ướt lệ bởi cái tâm ngài đã đi vào cõi tịnh, không khóc cười cho sinh diệt của trần gian. 
 
 Vậy “đôi mắt ướt” của Tuệ Sĩ là đôi mắt gì? Đó là đôi mắt huệ. “Đôi mắt thấu rõ, thông suốt, vượt ra ngoài chấp trước, không hề vương vấn, không hề lưu lại, không chìm nơi cảnh, chẳng đọng nơi tâm, phủ sạch mê mờ. Nhìn mà không đắm, thấy mà không vương không khởi, thấy đơn thuần chỉ là thấy, thấy như là không thấy, thấy một cách rõ ràng chân thật, thấy trọn vẹn tận cùng thể tánh các pháp, cái thấy đó mới là đích thực”. Cái thấy đó nằm trong “đôi mắt ướt” của thi nhân.
 
Từ quan niệm về cái thấy trong đôi mắt ướt của thi nhân, Châu Thạch nghĩ rằng hai chữ “tuổi vàng” cũng không để chỉ thời thanh xuân trai trẻ hay thời già lão của đời người. Bởi vì với cái nhìn Phật pháp như thế, thì những biến động vô thường của kiếp sống con người không gây phiền não cho thi nhân để phải có lời tán than trong thơ. 
 
Vậy thì “tuổi vàng” ở đây là tuổi của linh hồn, tức là tuổi mà linh hồn tồn tại qua bao nhiêu kiếp cho đến nay. Hiểu như thế vì chúng ta suy diễn từ cụm từ “khung trời hội cũ” của câu thơ. Ta để ý đến chữ “hội”. Hội là tề tựu lại, là tập trung lại. Vậy “khung trời hội cũ” là khung trời của bao nhiêu kiếp sống mà nhà thơ đã trải qua được hoài niệm lại, hay được thấy lại trong đôi mắt ướt là đôi mắt thông tuệ bánh xe luân hồi đã quay trong những đời quá khứ của thi nhân. 
 
 Vậy thì qua câu thơ “Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ” có thể hiểu Tuệ Sĩ đã “quán” được, nghĩa là đã thấy được quá khứ, thấy được những tiền kiếp của linh hồn mình.
 
Từ câu thơ thứ hai “Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang” ta liên nghĩ đến bốn câu trong bài thơ “Hợp Tan” của Vũ Hoàng Chương: 
 
Phải chăng từ độ ấy quan san 
Trời Đất cùng nhau nỗi hợp tan 
Nhưng chỉ mình ta phai áo lục 
Còn Khanh sau trước vẫn hồng nhan                       
(Hợp tan)
 
Đọc Vũ Hoàng Chương ta hiểu “áo lục” là áo của thi nhân hay nói chung là áo của kẻ sĩ, của người nho nhã. Do vậy ta suy diển được câu thơ “Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang” nói về sự phai màu của chiếc áo kẻ sĩ phải dãi đầu nắng mưa nơi thâm sơn cùng cốc.
 
Như thế “Áo màu xanh” chắc chắn không phải của một nàng trinh nữ nào đó trên đất Mường hay trên đất Lào xa xôi mà một tu sĩ Phật pháp cao thâm như Tuệ Sĩ có thể lưu lại trong tâm mình bởi “một lần nhìn đắm đuối”, dầu ông là một nhà thơ chăng nữa.
 
Vậy thì qua thơ, ta có thể hình dung Tuệ Sĩ đang ngồi một mình trên đồi cao vắng vẽ, quán tưởng thấy tiền kiếp của mình, và bởi một phút nhìn thấy bất ngờ đó, nhà thơ biết được linh hồn mình lang thang qua bao thế hệ như là một tên du thủ: “Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ”. Du thủ du thực hiểu nghĩa xấu là chơi bời lêu lỏng, xấu xa, hung bạo. hiểu theo nghĩa bình thường thì là người nay đây mai đó, sống lông bông không ổn định. 
 
Du thủ hiểu theo nghĩa thơ Tuệ Sĩ là một con người cô độc đi mãi mê trong vô định, từ kiếp nầy lang thang qua kiếp khác, để bây giờ ngồi đây “Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn”
 
Khuya là hình ảnh của đêm thế gian mờ tối, trăng tàn là sự sáng của trăng sắp tắt, hay là hình ảnh của đời người đi qua muôn kiếp, chẳng khác chi những đêm trăng tàn trên trần thế. Nhà thơ kể cho ai nghe đây? Kể cho mình nghe, trước sự vô thường, phôi pha, biến động thầm lặng của đất trời:
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở 
Ðỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan 
Cười với nắng một ngày sao chóng thế 
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng!
 
Nhà thơ Bùi Giáng đã bình khổ thơ nầy như sau:
 
“Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải? Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du”
 
Nhà thơ Tuệ Sĩ đã đem đỉnh đá và hạt muối đặt ngang nhau. Ta thấy hạt muối tan mau, đỉnh đã tồn tại ngàn năm nhưng rồi cũng sẽ tan một thời kỳ nào đó, Hiện giờ cả hai chưa tan nhưng sự phù du của nó có khác gì nhau. Đối với thiên nhiên “ngàn năm như một ngày, một ngày như ngàn năm” vậy. Nhà thơ hiểu luật vô thường nên cười với một ngày nắng qua mau và tự tại khi thấy nay mùa đông mai đã mùa hạ rồi. 
 
 Khổ thơ cho ta thấy một thế giới lạnh lùng biến động, muôn vật đều đồng một thể, thay đổi trong cái thời gian lạnh lùng mà sự ngắn dài của tháng năm trở thành vô nghĩa. Khổ thơ cũng dạy nhìn đời bằng cái tâm trung tính, vắng lặng với nụ cười như nụ cười vô tư trong nắng.
 
Cuối cùng nhà thơ tự thú mình chưa già mà đã mỏi gối chồn chân:
 
Ðếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ 
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh 
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ 
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn 
 
 Ở khổ thơ trên Tuệ Sĩ nói mình đang ngồi trên “Đỉnh đá nầy” để thấy “đồi hoang”, “núi lạnh” và “biển im”. Vậy nhưng bây giờ nhà thơ “ngó lại” thì thấy “bốn vách tường ủ rũ”. Đây là bức tường của những kiếp nhân sinh, bức tường khổ đế, bức tường sinh lão bệnh tử. Đúng ra là bức tường thời gian nhốt bánh xe luân hồi trong đó để Tuệ Sĩ hay loài người cứ phải lang thang trong đó vạn ngàn năm. 
 
Bài thơ cho ta thấy một tuổi vàng, một tuổi muối, một tuổi đá đều như nhau cả, Tất cả sẽ từ tuổi nầy đi qua tuổi khác, lang thang trong thời gian vô định như bốn bức tường nhốt linh hồn ta trong trủng bóng chết đời đời mà dầu tu hành như thiền sư cũng chưa thể thoát ra! Đọc bài thơ linh hồn ta cảm nhận được hết cái thú đau thương là cái thú được nghe tiếng thơ trong sáng vô biên viết về sự trầm tư trong linh hồn cúa một thiền sư đức cao trọng vọng.                                                                                                                                                                   
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC “KHUNG TRỜI CŨ” THƠ TUỆ SĨ - Châu Thạch

Tuesday, June 22, 2021

LỜI TÌNH BUỒN – Thơ Nhật Quang

 
 
       Nhà thơ Nhật Quang

 
Lời Tình Buồn
 
Cơn mưa chiều tháng Sáu
Cứ rơi nhanh rơi nhanh
Có tan đi nỗi nhớ
Có vơi đi nỗi buồn?
 
Giọt mưa chiều vẫn tuôn
Lơi rơi cành lá úa
Còn lạnh lùng trong ta
Con tim sầu tan tác
 
Mưa chiều rơi man mác
Mênh mang lời tình buồn
Có con chim nào hót
Để ta quên xót xa?
 
Chỉ còn lại nhạt nhoà
Tiếng mưa chiều ray rứt
Lời tình buồn tình buồn
Ta ngồi khóc, nhớ ai?
 
                  Nhật Quang
  
READ MORE - LỜI TÌNH BUỒN – Thơ Nhật Quang

CHÙM THƠ “ĐỊNH MỆNH” CỦA LÊ VĂN TRUNG


 


ĐỊNH MỆNH
 
Tôi sấp ngửa đời tôi những lá bài định mệnh
Như cuộc tình tôi sấp ngửa giữa tai ương
Em như mây như sương như nỗi buồn tôi chập chùng ẩn hiện
Như mùa thu tôi vàng úa mộng hoang đường
 
Tôi sấp ngửa đời tôi em sấp ngửa nỗi buồn
Con xúc xắc tung trăm lần vẫn rơi về hệ lụy
Em sấp ngửa tình tôi đồng xu cứ xoay hoài trên mặt đời lửa cháy
Tôi xoay tròn lảo đảo cuộc trăm năm
 
Ngọn gió oan khiên thổi suốt cuộc thăng trầm
Tôi úa lá rơi buồn trên mặt đất
Cuộc người kiếm tìm ngàn năm những cái còn cái mất
Nhát dao đời trăm vết chém dọc ngang
 
Tôi sấp ngửa đời tôi như tên lãng du phung phí những đam mê giữa giông bão điêu tàn
Em sấp ngửa cuộc tình tôi cứ đổ về quên lãng
Rơi mặt nào giữa hai màu tối sáng
Rơi mặt nào cũng tay trắng về không
Rơi mặt nào cũng thiên cổ phù vân
Dấu định mệnh in hằn trên lá bài sấp ngửa.
                                
 
ĐỊNH MỆNH THI SỸ (*)
(Thơ cho Cõi Lặng Im)
 
Này ngươi
Thi sỹ của mọi thời đại
Thi sỹ của những thi sỹ
Hãy nhận lấy vinh quang đời ngươi
Là nỗi khổ đau của nhân loại
Hãy nhận lấy hào quang đời ngươi
Là niềm thống hối đã Thánh hóa bằng phép rửa nhiệm mầu
Hãy nhận lấy ân huệ đời ngươi
Là những ly tan vỡ nát trong trái tim chuộc tội
Hỡi thi sỹ vĩ đại của thiên thu vĩ đại
Con đường hủy diệt đang chờ đợi ngươi
Sau bữa tiệc mừng phục sinh
Thơ ngươi sẽ ép thành rượu nho
Tưới lên những đóa hoa hồng
Trên cánh đồng Sự Sống
Mỗi nụ hoa là một nỗi khổ đau
Về một điều ước
Mỗi nụ hoa là một vì sao
Trong bầu trời Sự Thật
Này ngươi
Thi sỹ của Quê Hương Lưu Đày
Thi sỹ của Ngục Tù Nô Lệ
Của một chủng tộc đánh mất cội nguồn
Của ảo tưởng về một vỹ nhân
Của những lừa bịp nhân danh công lý
Nhân danh tự do và bánh mì
Hãy nhận lấy vòng hoa cuối cùng
Vòng hoa tang
Vòng hoa tang cho một Tổ Quốc bị bức tử
Hơn hai trăm năm
Như một Israel khác.

Lê Văn Trung
 
(*) Chữ của Kahlil Gibran

  

READ MORE - CHÙM THƠ “ĐỊNH MỆNH” CỦA LÊ VĂN TRUNG

CHỈ LÀ GIẤC MƠ – Thơ Vĩnh Thuyên

 
 
                              Nhà thơ Vĩnh Thuyên


CHỈ LÀ GIẤC MƠ
 
Những con đường đã đi qua
Không làm sao nhớ nổi
Mỗi một con đường
Nhiều quanh co khúc khuỷu
Không thể nào quên được
Là con đường trở về
 
Nhiều đêm mong mỏi dù một lần
Vì em đã dậy trưa nên không bao giờ nhìn thấy
Những giọt sương khóc với cành mềm
 
Và nếu không có ngày trở về
Làm sao biết được
Bạn bè tôi đứa còn đứa mất
Đứa ở thật xa đứa ở cũng gần
Vì cơm-áo nên xa dần tình nghĩa
 
Nếu có ngày trở về
Dù đong đầy bạc tiền và nước mắt
cũng không đổi được thời gian
Không còn lại gì…
Còn một giấc mơ!
 
VĨNH THUYÊN
 
*
 
Tên thật: Dương Văn Thạnh
Email: duongvnhthuyen@gmail.com
Long Thành, Nam Hòa Thành, Tây Ninh
 
READ MORE - CHỈ LÀ GIẤC MƠ – Thơ Vĩnh Thuyên

THÁNG SÁU... MỘT THOÁNG XA XĂM, NÀY ANH – Thơ Đan Thuỵ



 
THÁNG SÁU... MỘT THOÁNG XA XĂM
 
Chạy dọc niềm tin anh lặng lẽ tìm…
khi hè về tháng sáu
Người thiếu nữ có trái tim nhân hậu
Con phố hồn nhiên, chiều rong duổi
Lơ đãng bâng quơ, khuấy động nỗi niềm
 
Anh cúi nhặt tiếng cười em trong gió
Hoa bằng lăng tím góc phố chiều nay
Con đường nhỏ nắng trải đầy thương nhớ
Dưới chân mình xào xạc tiếng lá reo
 
Tháng sáu
bầu trời xanh hơn, cao hơn
Những tia nắng len mình qua tán lá
Ghé chạm cánh phượng hồng mềm mại
Nồng nàn như mùa hạ mênh mông
 
Tháng sáu đến rồi! qua rồi
em có về không?
Nơi riêng anh với Loa Kèn vẫn đợi
Năm tháng trôi vô tình như gió
Cố nhặt lại mình trong nốt lặng tiếng ve
 
Anh trở về tìm nỗi nhớ mông mênh
Thương se sẻ trên cành xanh đợi bạn
Nơi bối rối...
không lời yêu vội vã
Một thoáng xa xăm...
tháng sáu vô tình
 
 
NÀY ANH...
 
Nắm chặt tay nhau đi anh
cùng viết nên vần thơ sau những nụ cười
để nghe tiếng chiều rơi thầm lặng
đừng buông tay khi dòng thơ im vắng không lời
 
Những ngày xa em
anh bảo tim mình trống vắng
thiếu tiếng cười anh vô tình làm rơi nơi hò hẹn
em bối rối cố tình giữ chặt làm tin
như tình yêu thầm thì ủ kín đóa hồng gai...
 
Bàn tay em vô tình chạm vào kí ức
sợ làm đau kỉ niệm nhiệm màu
lặng lẽ gửi anh lời yêu dấu kín
trên câu thơ ngắn- dài như màu nắng trên cao
 
Có một ngày
giữa khoảng lặng mênh mang
bóng hoàng hôn như lời anh gọi thầm tên em
trong tiềm thức tự ru mình bằng nỗi nhớ
sẽ hiểu tình em giành cho anh là mãi mãi
câu thơ ngắn- dài vô tận những niềm đau
 
Có một ngày
mây trắng về giăng mắc mái tóc nhau
anh bảo ước mơ của anh đã dần đầy
cho dẫu ước mơ cũng chỉ là mơ ước
hoà quyện khát khao không có dáng hình
em vẫn nghe tim mình ấm- nóng một vòng tay...
 
Đan Thụy
 
*
Bút danh: Đan Thụy
Tên thật: Đàm Thị Hải
Công ty Tây Ninh CoSinCo
KM27, QL22B, Long Thành Nam
Hoà Thành - Tây Ninh
Email: damhaitn@gmail.com
 
READ MORE - THÁNG SÁU... MỘT THOÁNG XA XĂM, NÀY ANH – Thơ Đan Thuỵ

GIẤC CHIÊM BAO QUÊ NHÀ, CUỐI MÙA PHƯỢNG BAY... – Thơ Tịnh Bình

 
               Nhà thơ Tịnh Bình


GIẤC CHIÊM BAO QUÊ NHÀ
 
Khoảng trời xanh vời vợi
Triền đê cọng cỏ gà
Viên bi vờ lẻn trốn
Mùa gió...
          bướm cùng hoa...
 
Thả lên trời diều giấy
Chấp chới giữa bao la
Giấc hồn nhiên thơ bé
Mơ về phương trời xa...
 
Rồi một ngày ta lớn
Xa vòng tay mẹ cha
Chuyến đò chiều rời bến
Sông đỏ mắt phù sa
 
Bụi thị thành vương mắt
Xốn xang lòng quê xa
Tiếng gà trưa ảo vọng
Giấc chiêm bao quê nhà...
 
 
CUỐI MÙA PHƯỢNG BAY...
 
Lấy gì đong tiếng ve trưa
Màu hoa thầm nhắc mùa xưa dại khờ
Học trò áo trắng ngây thơ
Mùa xa hư ảo đã mờ khói sương
 
Chia tay lưu bút vấn vương
Đành thôi giã biệt mái trường phong rêu
Tùng tùng trống đổ mà yêu
Nồng nàn khúc hạ ve kêu cháy lòng
 
Bướm hồng cánh phượng hoài mong
Tình thư một thuở trắng trong buổi đầu
Xếp vần thơ vụng đôi câu
Nằm im trong cặp úa màu thời gian
 
Lấy gì đong tiếng ve ran
Người tìm dư ảnh cũ càng hạ xưa
Con đường nắng
Con đường mưa
Rắc trời tiếc nhớ cuối mùa phượng bay...
 
TỊNH BÌNH
(Tây Ninh)
 
READ MORE - GIẤC CHIÊM BAO QUÊ NHÀ, CUỐI MÙA PHƯỢNG BAY... – Thơ Tịnh Bình

TỰ TRÀO – Thơ Nguyên Lạc


                     Nhà thơ Nguyên Lạc
 

Nhân ngày Father's Day - chủ nhật 20 tháng 6, tôi post lại bài "Tự Trào" cho vui cửa vui nhà và... buồn mình.
Ở đời, điều khả thi nhất, không sợ "vỡ đầu xức trán" là tự châm biếm, tự chế giễu, tự nói xấu mình. Tôi cũng "tự trào" chắc không ai phiền, phải hôn?
 
I.
TỰ TRÀO CỦA NGƯỜI XƯA
 
Tự trào là tự châm biếm, chế giễu bản thân.
Này nhé:
 
1.
Thiên hạ sinh ra chán vạn nghề
Làm thầy làm thợ lại làm thuê
Có ai làm được như ông nhỉ?
Sáng vác ô đi, tối vác về.
(Tự trào của Trần Tế Xương)
 
2.
Nghĩ mình mà gớm cho mình nhỉ
Thế cũng bia xanh cũng bảng vàng.
(Tự trào của Nguyễn Khuyến)
 
Rõ ràng cả hai ông thi bá này đều buồn về bản thân mình nên  đành châm chọc lấy mình cho đỡ buồn.
Bắt chước tiền nhân, tôi cũng tự chế giễu, tự nói xấu mình xem sao:
 
II.
TỰ TRÀO BẢN THÂN
 
TỰ TRÀO
 
Lão rồi chỉ thích nghĩ vu vơ
Tóc đã tuyết sương mặt thẫn thờ
Vương tửu bốn thang sao cũng hỏng? *
Vai-rờ hai vỉ vẫn im rơ **
Đào tơ cũng chịu làm sao mó?
Gái đẹp đành thua hổng dám sờ
Ấm ức? Tức đi đời thế đó
Ngưng thôi! Đừng tiếc thuở "ba giờ"!
 
Nguyên Lạc
............
 
* Vương tửu/ Minh Mạng tửu: "Nhất dạ lục giao sinh ngũ tử"
** Vai-rà / Vai- rờ: phát âm của Dược vương Viagra

READ MORE - TỰ TRÀO – Thơ Nguyên Lạc

ĐỌC “DẠ CA” THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch

 

 
                      
DẠ CA
 
Ngựa mỏi vó nằm bên chuồng gợi nhớ 
chốn bụi hồng hun hút tận non xa 
và tráng sĩ còn mài gươm đêm lạnh
lời nguyền xưa về thức suốt canh tà 
                                 
Ngã Du Tử
 



ĐỌC “DẠ CA” THƠ NGÃ DU TỬ
                                        Châu Thạch
 
Đọc bài thơ “Dạ Ca” của Ngã Du Tử, nếu ai còn nhớ bài thơ “Thuật Hoài” của Đặng Dung thì sẽ có một sự liên tưởng thú vị.
 
“Thuật Hoài” là bài thơ tự sự của Đặng Dung khi ông đem quân giúp vua Trùng Quang Đế của nhà Hậu Trần, nhưng do lòng người ly tán, quân binh ít ỏi, lương thực thiếu thốn nên cuối cùng đã thất bại. Bài thơ thể hiện ý chí sắt đá của một người anh hùng nhưng không may là không gặp thời thế, công việc chưa xong thì tuổi đã già.
 
 THUẬT HOÀI
 
Thế sự du du nại lão hà,
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca.
Thời lai đồ điếu thành công dị,
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa.
Trí chủ hữu hoài phù địa trục,
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà.
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch,
Kỉ độ long tuyền đới nguyệt ma
 
ĐẶNG DUNG

 
Bản dịch của Phan Kế Bính 
 
Việc đời bối rối tuổi già vay,
Trời đất vô cùng một cuộc say.
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay.
Vai khiêng trái đất mong phò chúa,
Giáp gột sông trời khó vạch mây.
Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.
 
Từ xa xưa có những tráng sĩ, những danh tướng chỉ để lại cho đời một vài bài thơ mà được người đời sau ca tụng. Những bài thơ của Lý Thường Kiệt, Trần Quang Khải, Trần Khánh Dư nằm trong trường hợp này. Lý Thường Kiệt với bài thơ “Nam Quốc Sơn Hà” có câu “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, Trần Quang Khải có “Đoạt sáo Chương Dương độ”, Trần Khánh Dư có bài Bán Than. Đó là những danh tướng lẩy lừng có hùng thi để lại cho đời.
 
Đặng Dung ngược lại, không phải là một danh tướng có chiến công lẫy lừng. Đặng Dung chỉ là một vị tướng trong sử sách, ông để lại cho đời chỉ có một bài thơ duy nhất, đó là bài Thuật Hoài (hay Cảm Hoài). Với “Thuật Hoài” tên Đặng Dung đã vào văn học sử, và người đời sau khi đọc bài thơ, không ai không thấy cảm hoài...
 
Đọc “Thuật Hoài” lòng ta sẽ cảm động thấy tác giả là một nhà ái quốc, một dũng tướng, một tráng sĩ, mang nỗi sầu triền miên bất đắc chí. Hai câu thơ cuối đem đến cho ta nỗi xót xa, gợi cho ta thấy hình ảnh đẹp tuyệt vời của người tráng sĩ mài gươm dưới nguyệt.
  
Sở dĩ người viết bài nầy nhắc nhiều đến “Thuật Hoài” của Đặng Dung vì “Dạ Ca” của Ngã Du Tử mang đầy đủ hình ảnh của một tráng sĩ mài gươm dưới nguyệt như Thuật Hoài của Đặng Dung mà còn hơn thế nữa, Ngã Du Tử phát họa vào bức tranh “Dạ Ca” toàn cảnh quê hương híu hắt, đến cả nỗi sầu cũng thể hiện trong dáng nằm của con tuấn mã.
  
Hãy đọc câu thơ đầu tiên để nhìn con tuấn mã của Dạ Ca: “Ngựa mỏi vó nằm bên chuồng gợi nhớ”.
    
Bây giờ hãy mời nghe ca từ trong bài hát “Dấu Chân Địa Đàng” của Trịnh Công Sơn để ta đồng cảm với nhà thơ Ngã Du Từ khi nhìn hình ảnh con ngựa “buông vó chùng chân” “nằm bên chuồng gợi nhớ”:
 
“Ngựa buông vó người đi chùng chân đã bao lần
Nửa đêm đó lời ca dạ lan như ngại ngùng
Vùng u tối loài sâu hát lên khúc ca cuối cùng
Một đời bỏ ngõ đêm hồng
Ngoài trời còn dâng nước lên mắt em
...........................

Ngàn mây xám chiều nay về đây treo lững lờ
Và tiếng hát về ru mình trong giấc ngủ vùi
Rồi từ đó loài sâu nửa đêm quên đi ưu phiền
để người về hát đêm hồng
địa đàng còn in dấu chân bước quên.”
 
Con ngựa của Ngã Du Tử mỏi vó nằm bên chuồng để nghe tiếng dạ ca là tiếng ca của đêm. Con ngựa của Trịnh Công Sơn buông vó nằm nghe “lời ca dạ lan” và nghe cả lời “loài sâu hát lên” lúc nửa đêm. Con ngựa của Ngã Du Tử nằm bên chuồng “gợi nhớ”. Con ngựa của Trịnh Công Sơn nằm nghe hát để “ru mình trong giấc ngủ vùi”, để quên bước chân mình còn in dấu trên địa đàng. Cả hai con ngựa đều có linh hồn, đều biết thương nhớ và đều mang tâm sự của chủ nó. Khác chăng là con ngựa của Ngã Du Tử không nhớ những điều viễn vông, chỉ nhớ “Chốn bụi hồng hun hút tận non xa” là nhớ những tháng ngày oanh liệt theo chủ mình, một kỵ sĩ đi làm việc lớn chăng?
 
 Với câu thơ thữ hai “chốn bụi hồng hun hút tận non xa” Ngã Du Tử dời hình ảnh con ngựa đang yếm thế, đang mỏi vó về một qúa khứ hào hùng, lồng bức tranh bụi hồng, non xa trong bức tranh yên nghĩ, đã nâng giá trị con ngựa, đã làm sống động hình ảnh, tạo thêm  ý nghĩa cho thơ, và đưa thơ vào một hình ảnh khác mạnh hơn, đẹp hơn, ý nghĩa cao vời hơn nứa. Đó là hình ảnh của “Cảm Hoài”, hình ảnh người tráng sĩ mài gươm dưới nguyệt:
   
và tráng sĩ còn mài gươm đêm lạnh       
lời nguyền xưa về thức suốt canh tà 
 
Dạ Ca của Ngã Du Tử khác với “Thuật Hoài” của Đặng Dung, Đặng Dung luận về chuyện đời ở những câu thơ trên, rồi hai câu thơ cuối đột nhiên đưa hình ảnh nổi bậc, thấm dậm nỗi đau nhức nhối của người anh hùng thất thế. Ngã Dũ Tử trong Dạ Ca không thổ lộ tâm tư, không bình luận việc phải trái của đời, nhà thơ chỉ vẽ một bức  tranh “Ngựa Và Người” trong bốn câu thơ đủ nói lên tất cả. 
 
Ngã Du Tử dùng hai câu thơ đầu, nói về ngựa để bộc lộ những hoài niệm, những nhớ thương chất chưa trong lòng tráng sĩ. Ngã Du Tử dùng hai câu thơ sau, nói về người để bộc lộ tư thế hiên ngang, bộc lộ chí khí của người tráng sĩ cùng vận mạng non nước mà người chí sĩ canh cánh bên lòng. Dạ Ca của Ngã Du Tử là một bài thơ Thuật Hoài kiểu mới, đưa tâm sự vào tranh, đưa nỗi lòng vào trong ẩn dụ của thơ, không than van không kể lể dông dài.
 
Ngã Du Tử đặt tựa đề bài thơ là “Dạ Ca” rất hay. Dạ ca là tiếng ca của đêm, đêm ở đây không phải chỉ là đêm để con ngựa “nằm bên chuồng gợi nhớ”, không chỉ là đêm “tráng sĩ mài gươm”, mà còn là đêm rất dài của thời cuộc, của bóng tối trùm lên non nước. Đêm ở đây có thể là “Một ngàn năm nô lệ giặc Tàu/Một trăm năm đô hộ giặc Tây”, nghĩa là đêm của Dạ Ca không chỉ là đêm vật lý mà còn là đêm tâm lý của mỗi con người có tấm lòng khi dất nước chìm trong nghịch cảnh.
 
Đọc Dạ Ca của Ngã Du Tử, ta nghe tiếng ca đó vọng từ ngàn năm, qua bao thế hệ. Khi tổ quốc bình an, đất nước yên vui, không có ai phải mài gươm dưới nguyệt thì tiếng ca đó vẫn tiềm ẩn trong đêm, bởi vì “Lời nguyện xưa” của cha ông chúng ta, của tổ tiên chúng ta vẫn còn “về thức suốt canh tà” để nhắc nhở mỗi chúng ta không bao giờ quên giữ nước. 
                                 
Châu Thạch
 
READ MORE - ĐỌC “DẠ CA” THƠ NGÃ DU TỬ - Châu Thạch

Monday, June 21, 2021

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI, ĐOẢN KHÚC 56 - 60 (TRONG 100 ĐOẢN KHÚC) – Thơ Khaly Chàm


 
                      Nhà thơ Khaly Chàm

 
trích đoản khúc: dọc đường gió bụi
 
56.
ngày tàn bóng chạy đi tìm
nhấp nhô ba động hình im bặt nhìn
địa tầng nghiêng cháy tâm kinh
vía câu níu bóng thần linh cau mày
 
57.
mùa nào chiếc lá vàng bay
trắng lòa nắng quái khôi hài thời gian
rơi nghiêng che ngọn khói hoang
nửa che mắt lửa ẩn tàng vô căn
 
58.
hồn nhiên với đất khô cằn
vực đêm hú gọi… nhập nhằng chiêm bao
vòng quay phủ dụ niềm đau
cũng đành úp mặt tan vào ngày xanh
 
59.
phì phèo sợi khói mong manh
đỉnh hồn treo ám trên cành thiên thu
dập đầu chiêm bái ngục tù
chùm khuôn mặt lạ hát ru thánh thần
 
60.
vai chùng thập ác ngàn cân
điều răn cát bụi bàn chân khóc thầm
hiên đời che trú bao năm
đất đai hoang hoải chỗ nằm nào yên
 
khaly chàm
 
READ MORE - DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI, ĐOẢN KHÚC 56 - 60 (TRONG 100 ĐOẢN KHÚC) – Thơ Khaly Chàm

HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA THƯỢC DƯỢC - Chu Vương Miện

Sunday, June 20, 2021

CHA TÔI - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Mộc Thiêng - Ca sĩ Ngọc Quy






Ca khúc:  Cha tôi
Thơ:  phamphanlang
Nhạc:  Mộc Thiêng
Hoà âm:  Quang Đạt
Hình ảnh:  Giethoorn, "Venice of the Netherlands" - phamphanlang
 
Cha tôi Thương cha tóc đổi màu Lưng cha gầy cong mau Con nhìn cha lệ ứa Đời cha lắm bể dâu Nước mắt cha mờ hoen Năm tháng vẫn chưa quên Những chuỗi ngày lưu lạc Xa xóm làng tổ tiên Giờ đây chân cha mỏi Cõng đời lắm oan khiên Đôi vai cha trĩu nặng Chất chứa bao muộn phiền Thương con vó ngựa hồng Sa trường nợ núi sông Một ngày mây giăng phủ Con thôi hết tang bồng Cha thẫn thờ bắt nắng Như đuổi bắt phù vân Trên dòng đời xuôi ngược Cha bỗng lạc đường trần Tim cha không còn nóng Như một thuở kình ngư Một hôm cha nằm xuống Vĩnh biệt đời ngàn thu.... phamphanlang

Những hình ảnh trong clip Cha Tôi là của ngôi làng Giethoorn, một ngôi làng cổ kính, yên bình, được mệnh danh là "Venice of Hòa Lan", cách Amsterdam khoảng 120 km về phía Tây Bắc.

Ngôi làng được thành lập từ năm 1230 bởi những người tị nạn đến từ miền Nam Hòa Lan.  Những người này  đã tìm thấy những mỏ than bùn ở đây.  Họ đào hố khai thác trong nhiều năm.  Sau đó những hố than này đã trở thành những hồ nước. 

Trong làng không có đường cho xe chạy, phương tiện giao thông chỉ có thuyền và xe đạp. Do đó ở đây 700 năm không phải sửa đường vì không có xe hơi chạy.  Thay vào đó là 176 cây cầu nhỏ bắc qua những con kênh đào xinh xắn được phủ rợp bởi những hàng cây xanh râm mát.

Nhà ở Giethoorn rất độc đáo, mái nhà được lợp bằng cỏ lau, rất bền vững và chắc chắn, mát mẻ về mùa hè, ấm áp vào mùa đông, chịu được nắng gió ít nhất 40 năm.

PL đến thăm làng Giethoorn vào đầu mùa Xuân khi cây cỏ và hoa lá chưa xanh thắm và nở rộ sắc màu. Dù vậy, được chèo thuyền trên những con sông uốn khúc, sóng vỗ lăn tăn và dừng chân ở đầu cầu nghe tiếng chim hót trong không gian yên tỉnh, thanh bình, PL tưởng như mình đang ở trong bức tranh huyền thoại.

Xin mời nghe ca khúc Cha Tôi và xem hình ảnh ngôi làng Giethoorn thơ mộng, cổ kính.

Happy Father's Day!
Thân quý
PLang

READ MORE - CHA TÔI - Thơ PhamPhanLang - Nhạc Mộc Thiêng - Ca sĩ Ngọc Quy

ĐÊM QUỲNH HƯƠNG - Thơ Trần Mai Ngân

 


ĐÊM QUỲNH HƯƠNG 

 

Đêm bung thùa mở toang những chiếc khuy

Nửa ánh sáng của vầng trăng soi tròn phập phồng nhịp thở

Gió cứ thế vội vàng lỡ dở

Chợt ngưng, chợt dừng… quỳnh hoa đang thổn thức

 

Đêm đã chìm… chìm sâu tận đáy sầu

Vỗ về con tim ngoan ngoan ngủ đi

Hơi thở vội trên rèm mi - xin lỗi!

Đoá quỳnh hương vừa nở hết xuân thì

 

Vẫn là đêm thức trắng mà sao đầy mộng mị

Vách lặng câm bàn tay buông một bàn tay

Rời đi, thì thôi vậy!

Ngoài cửa sổ cánh quỳnh hương xếp lại. Đêm đã qua đời!

 

Trần Mai Ngân


READ MORE - ĐÊM QUỲNH HƯƠNG - Thơ Trần Mai Ngân

CÒN THƯƠNG RUỘNG LÚA, BỜ TRE - Thơ Trần Đức Phổ

 



Còn Thương Ruộng Lúa, Bờ Tre



Quê hương là khoảng trời xanh
Là đồng lúa chín, là tranh lợn gà
Từ ngày rời bỏ quê cha
Hằng mong trở lại mái nhà tuổi thơ

Nhớ cây đa, nhớ con đò
Nhớ rừng dương biếc, nhớ bờ tre xanh
Nhớ dòng sông nhỏ hiền lành
Nhớ làn khói quyện mái tranh xóm nghèo

Chao ôi! Nhớ biết bao nhiêu
Tiếng con chim gáy gù kêu bạn tình
Nhớ đêm trăng sáng sân đình
Gái trai nô nức, rập rình nhạc thơ

Xứ người phố rộng, nhà to
Nhưng lòng thấp thỏm, âu lo, muộn phiền...
Quê hương ai nỡ đành quên
Ví như cái họ cái tên của mình.

tranducpho
READ MORE - CÒN THƯƠNG RUỘNG LÚA, BỜ TRE - Thơ Trần Đức Phổ