Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, June 15, 2021

CON VỀ… - Thơ Đoàn Vũ

 

Nhà thơ Đoàn Vũ

                                             

 

CON VỀ…

Đoàn Vũ  

 

Con về

Mẹ

thổi cơm chiều

gió sau, trước

giật

đìu hiu tứ bề

 

hương đồng

sực nức

hồn quê

tiếng con dế gáy

ven đê

thưở nào

 

Chậm chân

rón rén

cầu ao

bỗng dưng chạm

khúc ca dao

xót lòng

 

Con thuyền Bố gối

bờ sông

trống không phận lưới

long đong phận người

Mẹ ngồi vá lại mãnh đời

nghe chừng trong Mẹ

“mệnh trời” có, không?!

 

rạ, rơm nhen lửa

trời đông

con về đối mặt - long đong

con về!...

 

Ðoàn Vũ – Hội viên hội Văn Nghệ Bình Thuận

Email: vudoan0102@gmail.com.

READ MORE - CON VỀ… - Thơ Đoàn Vũ

CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG - Lê Quang Thái

 

Lăng Trường Cơ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng
 tại xã Hương Thọ- Thị xã Hương Thủy
Ảnh: Báo Dân Trí.

Cội nguồn quê hương của Nguyễn Hoàng

Lê Quang Thái

 

Ngày sinh, nơi sinh, ngày mất, nơi mất, nơi an táng, nơi cát táng là những mốc thời gian quan trọng, đáng nhớ của đời người và con cháu vì dân gian coi đó là thể hiện hiếu đạo đối với người đã mất, với tổ tiên, ông bà: Sống nhà thác mồ.

 

Trong các giấy tờ tùy thân thì giấy khai sinh là văn bản gốc quan trọng nhất, trên giấy này ghi rõ họ và tên, ngày tháng năm sinh, quê quán... Con cháu nhiều thế hệ sau phải ghi cho rõ, cho đúng với quê quán của Tiền nhân đã khai sáng ra dòng tộc.

 

Tuổi tác, ngày sinh, nơi sinh được ghi trong gia phả có khác với giấy khai sinh, sai chậy năm tháng với giấy khai sinh của nhiều người. Nhưng tuyệt nhiên giấy khai sinh là văn bản pháp qui, pháp định. Đối với tiền nhân thì người nghiên cứu tiểu sử và sự nghiệp đều dựa vào bản gốc gia phả hoặc sắc phong, văn bằng, học vị, văn bia, khế ước giao kèo.

 

I. NƠI SINH, NƠI MẤT CỦA NGUYỄN HOÀNG

 

Nguyễn Hoàng sinh ngày 10 tháng 8 năm Ất Dậu (28/8/1525) tại Gia Miêu ngoại trang, huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, trấn Thanh Hoa.  Chúa Nguyễn Hoàng mất ngày mồng 3 tháng 6 năm Quí Sửu (20/7/1613) tại Dinh Cát thuộc làng Ái Tử, huyện Võ Xương, phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa, thọ 89 tuổi. An táng ở vùng núi Thạch Hãn gần sông Thạch Hãn thuộc địa phận làng cổ Thạch Hãn, làng này vào thời điểm lịch sử ấy thuộc huyện Hải Lăng, phủ Triệu Phong. Xin lưu ý đơn vị hành chính “phủ” Triệu Phong vào thời điểm năm 1613. Đời vua Duy Tân có phủ Triệu Phong (nhưng phủ lúc này tương đương với huyện dẫu rằng phủ lớn hơn huyện về đất đai và dân số cỡ bên 10, bên 8). Tiền thân của huyện Triệu Phong ngày nay là huyện Đăng Xương, cải đổi thành Thuận Xương vào năm Kiến Phúc nguyên niên, 1884.

 

Hiện nay, chưa xác định được năm cải táng mộ phần của Chúa Nguyễn Hoàng về thôn Hà Khê, huyện Hương Trà. Với tài năng và đức độ của con người phi thường, Chúa Nguyễn Hoàng giữ chức Trấn thủ Thuận Hóa vào tháng 10 năm Mậu Ngọ, 1558, rồi Tổng Trấn hai xứ Thuận – Quảng từ tháng giêng năm Canh Ngọ, 1570 cho đến ngày 3 tháng 6 năm Quí Sửu, 1613. Trong 56 năm cai trị, nhà Chúa đã mất hơn 15 năm bình định vùng biên viễn của nước Đại Việt từ ác địa trở thành thiện địa. Công lao khai hóa của Chúa thật lớn lao như trời biển.

 

II. GIA MIÊU NGOẠI TRANG (嘉苗外莊):

 

Gia Miêu là danh từ riêng chỉ tên “trang” tức trang trại, thôn ấp ở miền bán sơn địa của huyện Tống Sơn. Huyện này có tên là Tống Giang vào triều nhà Trần. Đến đầu đời Hậu Lê được cải đổi tên gọi là Tống Sơn. Huyện này gồm 31 xã, 2 bãi, 9 trang, 1 trại. Đất Gia Miêu đã được phân chia thành 2 trang là Gia Miêu nội trang và Gia Miêu ngoại trang theo làn ranh của chân dãy núi Thiên chạy dài từ phía Tây sang phía Đông. Năm 1803, vua Gia Long đổi tên Gia Miêu ngoại trang thành Quí Hương, huyện Tống Sơn thành Quí Huyện.

 

Theo tự điển Hán Việt của Thiều Chửu, chữ trang (莊) có đến 7 nghĩa; nghĩa thứ 6: lập riêng cơ sở ở ngoài thành thị cũng gọi là trang. Làng gốc thường lập thêm trang trại ở vùng núi hoặc biển. Cả hai trang nội và ngoại trước xưa được gọi tên là Bái Đáp . Ở tỉnh Ninh Bình ngày nay như xưa kia Thanh Hoa ngoại trấn có địa danh Bái Đính nổi tiếng với nhiều danh lam thắng cảnh.

 

Văn tế chiến sĩ trận vong của Tiền quân Nguyễn Văn Thành, người làng Bác Vọng, từng giữ Tống Trấn Bắc Thành dưới triều vua Gia Long có câu: “Ba nghìn họp con em đất Bái”. Đất Bái tức Bái Đáp, đầu đời vua Minh Mạng có tên Bái Trang như Ngự chế bài Minh khắc vào văn bia Triệu Tổ Nguyễn Kim ở núi Triệu Tường, trấn Thanh Hóa: “Nghĩa động quỷ thần, công tuyền vũ trụ/ Cõi trần rời bỏ/ lăng ở Bái Trang”.

 

Ở Thừa Thiên có làng Bái Đáp thuộc tổng Hạ Lang, huyện Quảng Điền. Phép dùng điển trong văn học thật thâm sâu và thâm hậu, có dụng ý xa vời vợi mà ít người tra cứu cho tận ngọn nguồn lạch sông. Thật đúng như lời cụ Huỳnh Thúc Kháng đã nói: “Học Sử nghĩa là sống với người chết, học Địa là sống với non sông”.

 

Lê Quí Đôn viết xong sách Kiến Văn Tiểu Lục vào tháng 5 năm Đinh Dậu, niên hiệu Cảnh Hưng tức năm 1777.

 

Sau 6 tháng ở Thuận Hóa giữ chức Hiệp Trấn năm 1776, Lê Quí Đôn trở về Thăng Long lãnh chức Cơ Mật sự vụ kiêm Chưởng Tài Phủ. Sách có đoạn viết:

 

“Tôi [Lê Quí Đôn] đã được coi quyển gia phả của người cháu xa đời viên Chiêu Huân Công (昭勳公) xuất trình. Trong phả có chép việc về năm Thuận Thiên năm thứ 2 (1429), cấp ruộng lộc cho viên chỉ huy khai quốc công thần là Nguyễn Công Duẩn (阮公筍) như sau:

 

“Chuẩn lấy Trang Xã ở huyện Tống Sơn là ruộng của nhà thế gia triều trước, nay tuyệt, không người thừa kế. Và ruộng đất bỏ hoang, cho Công Duẩn làm của riêng, cọng 470 mẫu”.

 

III. BÁI TRANG, BÁI ĐÁP

 

Chiêu Huân Công là gọi tắt tước hiệu Vua Lê Trang Tôn ban tặng cho Nguyễn Kim (1468-1545) sau khi mất. Đúng ra đầy đủ 4 chữ Chiêu Huân Tĩnh Công. Vua Lê Trang Tôn (1533-1548) ban chiếu tặng Nguyễn Kim làm Chiêu Huân Tĩnh Công, thụy là Trung Hiến. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư viết:

 

“[Vua Lê Trang Tôn] sai người rước Linh cữu về Bái Trang, huyện Tống Sơn làm lễ chôn rất hậu. Phong cho con trưởng là Uông làm Lãng Quận Công, con thứ là Nguyễn Hoàng làm Hạ Khê Hầu, sai coi quân đánh giặc”.

 

Vậy thì tên gọi “Bái Trang” có trước Gia Miêu ngoại trang mà phần dẫn ở bên trên chúng tôi đã tìm ra địa danh “Bái Đáp”. Chưa biết rõ ràng địa danh Bái Trang có trước hoặc sau địa danh Bái Đáp. Chúng tôi có tư kiến riêng cho tên gọi Bái Trang phải có sau Bái Đáp; và tên gọi địa danh Bái Trang có trước tên gọi địa danh Gia Miêu ngoại trang mới thuận nghĩa lý. Thiết nghĩ đó những địa danh cần được tra cứu và giải thích rạch ròi.

 

Năm 1545 tước của Nguyễn Hoàng là Hà Khê Hầu; năm Mậu Ngọ Nguyễn Hoàng lãnh tước vua ban Đoan Quốc Công, lúc này Nguyễn Hoàng tuổi đời 34 năm. Lúc Nguyễn Kim mất Nguyễn Hoàng đã 21 tuổi. Nguyễn Uông đã lãnh tước Lãng Quận Công – Trịnh Kiểm giữ chức Thái sư cho vua Lê và được ban tước Lạng Quốc Công.

 

Cụ Tôn Thất Hân chấp bút viết PHỔ HỆ NHÀ NGUYỄN TRƯỚC GIA LONG bằng chữ Hán. Dịch ra tiếng Pháp là công của Thông ngôn Tây Âu Bùi Thanh Vân nhờ sự hỗ trợ của nhà Nho Trần Đình Nghi. Dịch ra tiếng Việt là hai dịch giả Bửu Ý và Phan Xưng. Nguồn sử liệu này rất quý giá. Cái đáng bàn là văn phong bản dịch từ không nhuần nhuyễn của bản tiếng Pháp sang tiếng Việt.

 

Theo Phổ hệ nói trên thì từ Chúa Nguyễn Hoàng trở lên thêm được 14 đời:

 

    Đời thứ 1: Nguyễn Bặc sinh ra Nguyễn Đạt

    Đời thứ 2: Nguyễn Đạt là cha Nguyễn Phụng

    Đời thứ 3: Nguyễn Phụng là cha của Nguyễn Nộn

    Đời thứ 4: Nguyễn Nộn là cha của Nguyễn Thể Tứ

    Đời thứ 5: Nguyễn Thể Tú là cha của Nguyễn Điền

    Đời thứ 6: Nguyễn Điền  là cha của Nguyễn Luật

    Đời thứ 7: Nguyễn Luật  là cha của Nguyễn Minh Du

    Đời thứ 8: Nguyễn Minh Du là cha của Nguyễn Biện

    Đời thứ 9: Nguyễn Biện  là cha của Nguyễn Lữ

    Đời thứ 10: Nguyễn Lữ là cha của Nguyễn Sự

    Đời thứ 11: Nguyễn Sự là cha của Nguyễn Công Chuẩn

    Đời thứ 12: Nguyễn Công Chuẩn là cha của Nguyễn Như Trác

    Đời thứ 13: Nguyễn Như Trác là cha của Nguyễn Văn Hưu

    Đời thứ 14: Nguyễn Văn Hưu (Hựu) là cha của Triệu Tổ tức Nguyễn Kim

 

Nhờ công trình biên khảo của cụ Tôn Thất Hân, mà phần Thủy Tổ Phả của sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ của các tác giả Vĩnh Cao, Vĩnh Dũng, Tôn Thất Hanh, Vĩnh Khánh, Tôn Thất Lôi, Vĩnh Quả, Vĩnh Thiều trở nên có giá trị hơn về mặt sử học và gia phả. Xin liệt kê các thế hệ gồm 15 đời.

 

I         Thủy tổ                    NGUYỄN BẶC    (924-979)

II        Đệ nhị tổ                 NGUYỄN ĐÊ        (? - ?)

III       Đệ tam tổ                NGUYỄN VIỄN    (? - ?)

IV      Đệ tứ tổ                 NGUYỄN PHỤNG  (? – 1150)

V       Đệ ngũ tổ              NGUYỄN NỘN      (? – 1229)

VI      Đệ lục tổ               NGUYỄN THẾ TỨ (? - ?)

VII     Đệ thất tổ              NGUYỄN NẠP HÒA        (? – 1377)

VIII    Đệ bát tổ               NGUYỄN CÔNG LUẬT    (? – 1388)

IX      Đệ cửu tổ              NGUYỄN MINH DU         (1340 – 1390)

X       Đệ thập tổ             NGUYỄN BIỆN      (? - ?)

XI      Đệ thập nhất tổ      NGUYỄN CHIẾM   (? - ?)

XII     Đệ thập nhị tổ       NGUYỄN SỪ        (? - ? )

XIII    Đệ thập tam tổ       NGUYỄN CÔNG DUẨN   (? - ? )

XIV    Đệ thập tứ tổ        NGUYỄN NHƯ TRÁC     (? - ? )

XV     Đệ thập ngũ tổ      NGUYỄN VĂN LỰU         (? - ? ) 

Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả bằng tiếng Việt đời nay là một công trình biên soạn từ nhiều năm trong hoàn cảnh đầy khó khăn về tư liệu, về nhân sự... Các soạn giả đã làm sáng rõ thêm về nguồn gốc triều đại các Chúa Nguyễn, vua Nguyễn, làm xích lại khoảng cách giữa nhân gian với dòng tộc Nguyễn Phúc vì địa bạ và gia phả các làng xã, họ tộc một thời trong quá khứ đã có những bậc tiên hiền, quan lại, danh tướng, phò mã, phủ thiếp phụng sự quốc triều Nguyễn trong việc khai hóa quốc dân, mở mang bờ cõi đất nước bằng con đường hòa bình và nhân ái. Ngoài dân gian, dù cho là người bình dân đã kết tình thông nghị với hậu duệ dòng tộc Nguyễn Phúc đúng nghĩa với quan niệm: “thông gia là bà con tiên”.

 

Đối chiếu hai bản của Tôn phả chép về các thế hệ trước Triệu Tổ Nguyễn Kim và Thái Tổ GIA DŨ HOÀNG ĐẾ húy Nguyễn Hoàng (1525-1613) thì dễ thấy những khuyết nghi mà đời sau đã bổ sung cho đời trước.

 

Định Quốc Công húy Nguyễn Bặc (924-979) được xem như Thủy Tổ của dòng tộc Nguyễn Phúc. Chữ lót giữa họ và tên này còn được đọc là “Phước” ở ngoài dân gian. Ngày xưa, những ai là họ Nguyễn thuộc bách tánh đã nghiêm túc kiêng tránh chữ lót này. Phụ chính Đại thần Nguyễn Văn Tường, người làng An Cư, huyện Thuận Xương (Triệu Phong ngày nay) do nhầm lẫn lấy tên họ Nguyễn Phước Tường bị buộc phải cải đổi từ Nguyễn Phước Tường thành Nguyễn Văn Tường. Có rất nhiều sĩ phu, quan lại, danh tiếng, thí sinh được các vua Nguyễn cho đổi tên, đổi chữ lót. Cụ thể là Phụ chính Đại thần Trần Tiễn Thành lúc đi thi đỗ Tiến sĩ dưới triều vua Tự Đức được nhà vua cho đổi tên cũ Trần Thời Mẫn thành họ tên mới là Trần Tiễn Thành và họ Trần ở thôn Minh Thanh, huyện Hương Trà lấy tên “họ Trần Tiễn”. Người Nam Kỳ lục tỉnh rất biết ơn sâu của các chúa Nguyễn và vua Nguyễn nên đã nghiêm cẩn trong việc gọi tên làng, tên họ, tên người.

 

Sách NGUYỄN PHÚC TỘC THẾ PHẢ đã dẫn ở bên trên đã chép và xếp NGUYỄN CÔNG DUẪN (? - ?), Đệ thập tam tổ (trước Nguyễn Kim 4 đời, trước Nguyễn Hoàng 5 đời). Ở trang 78 sách vừa nói trên có viết: Ngài [Nguyễn Công Duẫn] được thăng làm Phụng Trực Đại Phu Đô Đốc thiêm sự, Đô kiểm sự, lãnh việc quân dân ở huyện Tống Sơn và được vua ban cho gần 500 mẫu ruộng. Ngài được xếp vào làng Khai quốc Công thần bình Ngô và được ban quốc tính Lê”.

 

Nay chúng tôi tra lại sách ĐẠI VIỆT SỬ KÝ TOÀN THƯ, Tập 2, Nxb Văn Hóa Thông Tin, Hà Nội, tr.102 viết: “Năm Kỷ Dậu thứ 2 niên hiệu Thuận Thiên [tức năm 1429]: Tháng 5, ngày mồng ba ban biển ngạch công thần cho 93 viên: Huyện thượng hầu 3 người là Lê Vấn, Lê Sát, Lê Văn Xảo, Thượng hầu 1 người là Lê Ngân; Hương thượng hầu 3 người là: Lê Lý, Lê Văn Linh, Lê Quốc Hưng; Đình thượng hầu 14 người là: Lê Chích, Lê Văn An, Lê Liệt, Lê Miễn, Lê Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Lê Lỗi, Lê Nhữ Lâm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Lật; Huyện hầu là 14 người là Lê Bi, Lê Bì, Lê Bĩ, Lê Náo, Lê Thu, Lê Lôi, Lê Khả, Lê Bôi, Lê Khả Lang, Lê Xí, Lê Khuyển, Lê Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật; Á hầu 26 người là bọn Lê Bạn, Lê Trãi; Quan nội hầu 16 người là bọn Lê Cuống, Lê Dao. Thượng trí tước phục hầu 4 người là bạn Lê Khắc Phục, Lê Hài”

 

Trong Quốc sử đời Hậu Lê, không ghi đầy đủ tên họ 93 viên được phong khai quốc công thần và ban quốc tính mà chỉ ghi tên 42 viên. Chúng tôi tin rằng tên của bậc tiền bối Nguyễn Công Duẫn còn đọc là Nguyễn Công Chuẩn (viết dấu hỏi).

 

Từ điển Hán Việt của Thiều Chửu cho biết: Chữ Duẫn (viết có dấu ngã (~):   (tr.560) và chữ duẩn (viết dấu hỏi (?) 筍 (tr.563) được dùng nghĩa như chữ 筍(duẩn) có nghĩa là măng tre, cái xà ngang để treo chuông khánh. Chữ 筍 còn đọc là tấn: cái xe bằng trúc.

 

Chữ chuẩn (tr. 56, 369, 425, 585, 924) viết dấu hỏi có đến 5 chữ đều có mặt chữ không giống với chữ của Lê Quí Đôn đã viết trong sách Kiến Văn Tiểu Lục. Lần lượt ghi lại 5 nghĩa: định đúng, gọt gỗ cho ngàm vào đúng mộng, bằng phẳng, thành thực, một loài chim cắt.

 

Tôi chọn chữ Duẫn (viết dấu ngã) như Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, không đồng tình với dịch giả Lê Mạnh Liệu bởi lẽ cụ Liệu không phải là “người trong cuộc” như hậu duệ nhà Nguyễn hôm nay đã thấm chữ nghĩa của tên húy tận máu thịt. Chỉ tiếc một điều là do hạn chế của nhà in sách năm 1995, đã viết giúp chữ Hán sai thiếu nét ngang dài. Tôi viết ra hai chữ: chữ đúng của chữ Duẫn ( ) chữ Duẫn do in sai  . Chữ vừa viết thiếu nét ngang dài 一 . Một việc nhỏ mà bỏ qua là có tội! Vua Lê đã phong cho Nguyễn Uông làm Lãng Quận Công, Nguyễn Hoàng làm Hà Khê Hầu vào năm 1545 (lúc này Nguyễn Hoàng đã hơn 20 tuổi) vào năm 1545 dưới thời vua Lê Trang Tôn mà sách Từ Điển Nhà Nguyễn của Võ Hương An xuất bản năm 2012 tại nước ngoài cụ thể là Mỹ Quốc cho rằng năm 1545 Nguyễn Uông và Nguyễn Hoàng “đang còn nhỏ”.

 

Tìm về quê hương nhà Nguyễn, trước tiên và cũng là bước đầu là tìm hiểu về tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn được xem như Thủy tổ của Gia Miêu ngoại trang nay là thôn Gia Miêu thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa. Nhưng tiểu sử của Nguyễn Công Duẫn còn nhiều khuyết nghi, ngay cả năm sinh và năm mất vẫn còn là hai dấu hỏi.

 

Lê Quí Đôn phanh phui ra cái chìa khóa là ruộng lộc của ông được nhà vua cấp 470 mẫu  là ruộng bỏ hoang do triều trước.

 

Cụ Tôn Thất Hân đã tìm ra nguồn tư liệu gốc rất tôn quý là “Biên bổn Gia Miêu Ngoại Trang công tính chính chi khai trần phổ hệ”, để khẳng định: “Vị tổ đầu tiên là Nguyễn Công Chuẩn, phong hàm Thái Bảo Hoàng Quốc Công, con trai thứ tư của Chiêu Quang Hầu. Ông được phong Công Thần Khai Quốc và họ của ông được đổi thành Lê do Lê Thái Tổ (1428-1433).”

 

Như trên đã nói trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cho biết trong 93 viên được phong Khai quốc Công thần thì chỉ ghi rõ họ và tên 42 viên, trong đó không có tên Nguyễn Công Chuẩn. Danh sách 42 vị được kê tên là Khai quốc Công thần và đổi họ gốc sang quốc tính họ Lê. Đó là một nghi án lịch sử. 51 vị còn lại trong tổng 93 viên không được nhà Lê cho đổi họ sang họ Lê không có tên ông Chuẩn. Khai quốc công thần có 2 loại: đổi họ, không đổi họ.

 

Ở sách Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả, Sđd xuất bản năm 1995 lại hé lộ cho tôi một hướng đi tìm ở cho ra cái mà mình đang bí. Ở phần chú thích ở trang 78 có chú thích (1) như sau: “Trích chiếu tuyên dương công trạng năm Thuận Thiên thứ 2”. Trình độ của tôi hạn chế, tôi lại tìm đọc Đại Việt Sử Lý Toàn Thư, đặc biệt chú ý đến niên hiệu Thuận Thiên thứ 2 tức năm Kỷ Dậu 1429, cho nên mới phát hiện ra điều này. Tôi đọc biên niên sử 3 triều vua Lê Thái Tổ, Lê Thái Tôn, Lê Nhân Tông nhưng không tìm thấy danh xưng Thái Bảo Hoàng Quốc Công Nguyễn Công Chuẩn.

 

Căn cứ vào sổ bộ của Gia Miêu Ngoại Trang thì từ Nguyễn Bặc cho đến Nguyễn Văn Lưu là cha của Triệu Tổ hay Nguyễn Kim là 14 đời. Còn theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả là 15 đời. Chúng tôi tin là có ông NGUYỄN CÔNG DUẪN (trước phiên âm là Chuẩn); đời vua Gia Long phiên âm là Chuẩn, như sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang; còn chức tước và phẩm hàm Thái Bảo Hằng Quốc Công thì tra cứu chưa ra ở sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư. Có thể phẩm hàm ấy được chép từ một nguồn sử liệu nào thì chúng tôi chưa biết. Đó là một nghi án, cần rà soát lại để dễ thuyết phục người đọc thì càng quý giá.

 

IV. QUÊ HƯƠNG VIỄN XỨ CỦA CHÚA NGUYỄN HOÀNG

 

Tìm chữ chưa ra, tạm dùng chữ “Tiền thân” của Gia Miêu ngoại trang nghĩa là trước đời Nguyễn Công Chuẩn (đời thứ 13 theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả năm 1995; đời thứ 11 theo Sổ bộ của Gia Miêu ngoại trang) thì đời Nguyễn Sự ở sơn động như các vị đời trước. Sách này lấy Thủy Tổ của dòng họ Nguyễn Phúc là Quốc Công Nguyễn Bặc (阮匐), có quê hương Đại Hoàng, Gia Viễn, Ninh Bình. Về quê hương của Nguyễn Bặc vẫn chưa khẳng định, người thì bảo là Gia Miêu ngoại trang, người thì là làng Đại Hữu, huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình. Đây lại thêm một khuyết nghi lịch sử nữa, cần được khai tỏ.

 

Đến đây, chúng tôi phải tra cứu Dư Địa Chí của Nguyễn Trãi: “Phủ Trường Yên (Tràng An) có 3 huyện, xưa phủ này có tên là Đại Hoàng, có 3 huyện, 263 xã. Huyện Gia Viễn có 73 xã, 4 trang, 1 trại, 2 phường, 1 tuần. Thời nhà Lý thì Gia Viễn, Trường Yên (Tràng An) thuộc phủ THANH HOA”.

 

Năm 2008 chúng tôi gồm nhà báo Dương Phước Thu, thầy Châu Trọng Ngô, anh Trần Viết Điền đi Ninh Bình tham dự Hội thảo tại Văn Miếu, Hà Nội năm 2008 về chủ đề Phật hoàng Trần Nhân Tông đã đến thăm mộ tổ của họ Châu, họ Lê ở Ninh Bình. Chúng tôi đã khảo cứu Tràng An (tức Trường Yên) đầy đủ, đăng trên Tập san Hội nhà báo Thừa Thiên - Huế, cuối năm 2008 nhân dịp Kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Đó là cớ sự tôi đi ngược dòng lịch sử để tìm hiểu về Tây Đô, về Tràng An. Nay có duyên tôi viết tham luận này. Gia Viễn tức tên mới Đại Hoàng có từ đời nhà Lý. Đại Hoàng là tên huyện chứ không phải tên làng như một số người đã nhầm lẫn.

 

**

*

 

Tìm về quê hương viễn xứ của Chúa Tiên Nguyễn Hoàng thật là lý thú dẫu rằng rất mệt, tổn hao nhiều công sức. Nhưng lý thú là tìm ra được một cầu nối mà chúng tôi thường hay nói là “cầu không vận” giữa ÁI TỬ - TRÀ BÁT – DINH CÁT với THANH HÓA, NINH BÌNH.

 

Khởi nguồn cho việc Chúa Nguyễn Hoàng mang gươm đi mở nước và giữ nước bằng đường lối hòa bình, ÁI TỬ (Quảng Trị) trở thành bệ phóng, mà nguồn gốc phát tích là TRÀNG AN – GIA MIÊU thuộc Thanh Hoa ngoại trấn và Thanh Hoa nội trấn.

 

Thật là hưng phấn tinh thần khi tìm ra cội nguồn quê hương của Nhà Nguyễn. Xin trình một số nghi án cần được cẩn án làm sáng tỏ thêm lên về quá trình giữ nước và mở nước của nước Việt oai hùng mà giặc ngoại bang không hiểu, không nghiên cứu sâu xa cho nên đành đầu hàng, cuốn cờ mà chạy thục mạng về nước.

 

Huế, tháng 8 năm 2013 

L.Q.T

Nguồn: lieuquanhue.vn, 17/10/2013 

READ MORE - CỘI NGUỒN QUÊ HƯƠNG CỦA NGUYỄN HOÀNG - Lê Quang Thái

HƯƠNG XƯA - Thơ Đặng Xuân Xuyến

 


HƯƠNG XƯA 

- tặng Phượng yêu -


Vội về hội để cầu may

Mà neo ngơ ngẩn kẻ say nụ cười.

Có còn trẻ dại non người

Để e tấp tểnh cái thời trăng non?


Hương xưa thì cứ tươi ròn

Và mưa cứ giọt giọt mòn giữa tim...

*.

Hà Nội, 12 tháng 06-2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN


READ MORE - HƯƠNG XƯA - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CÁNH CHIM MỆT MỎI - Thơ Hoài Hương - Bản dịch tiếng Anh: Thiếu Khanh

 

Nhà thơ Hoài Hương

CÁNH CHIM MỆT MỎI

 

Cánh chim đã mệt mỏi rồi,

Làm sao bay lượn giưã trời thênh thang.

Trên cây còn mấy lá vàng?

Mai đây mốt nọ, héo tàn tả tơi

Gió rồi cuốn bốn phương trời,

Có ai nhặt lá để ngồi tiếc thương???

Ngoài kia những gió cùng sương,

Mà trong lồng cũng gió sương mịt mờ.

Chim sầu rũ cánh ngẩn ngơ.

Rồi mai mất hút bên bờ thiên thu

Hoài Hương

 

THE TIRED BIRD

 

The bird is so weary now

Can fly no more anyhow

How many yellow leaves left on the tree?

How tattered some day they would be?

The wind will rise from all directions

Who will pick up yellow leaves with emotions?

There is all wind and frost out there

Also all wind and frost my heart is to bear

The weary bird hangs down its wings in melancholy

On day it would disappear into eternity.

                 Translated by Thiếu Khanh

READ MORE - CÁNH CHIM MỆT MỎI - Thơ Hoài Hương - Bản dịch tiếng Anh: Thiếu Khanh

TÂM TÌNH BIẾT ƠN - Cảm nhận của Lê Liên - Thơ Phong Tâm

Nhà thơ Phong Tâm

TÂM TÌNH BIẾT ƠN

Cảm nhận của Lê Liên

Thơ Phong Tâm


MƯA QUÊN MÙA

Tháng hạ nhiều khói mây

Mưa trút ngược về trời

Không buồn rơi xuống đất

Mà xô nghiêng lòng người

Mỏi đợi mắt mòn trông

Lưỡi lá vàng khô khát

Ơi tình nước tình sông

Có nghe mùa nắng rát

Đất hằn khe rãnh nứt

Biển mặn ngấm vào tim

Bờ cây chờ chết đứng

Không về một cánh chim

Đêm nằm mơ không ngủ

Tìm vui như bóng mờ

Chợt thấy vầng trăng khuyết

Nắng đốt tan màu thơ

Mùa mưa còn nhấp nhứ

Như cô gái ngượng ngùng

Sau cánh màn buông rũ

Trêu giọt đời nhớ nhung

Phong Tâm

25.05.2020


Tác giả Lê Liên


Một trong những Nhân phẩm quý nhất của Con Người đó là LÒNG BIẾT ƠN.

Từ Lòng Biết Ơn mà Người ta biết SỐNG TỬ TẾ VỚI NHAU HƠN.

Thế nhưng,

Vì lợi ích cá nhân mà một số người đã lộng hành,  xâm hại đến quyền lợi chung của nhân loại.

Họ thật Vô Ơn với Mẹ Thiên Nhiên. Rồi còn quay lại oán thán Thiên Tai, mà lãng tránh đi trách nhiệm thuộc về nhân họa.

Vâng, tôi đã trăn trở khi đọc bài thơ: MƯA QUÊN MÙA của nhà thơ Phong Tâm mà lòng bỗng xốn xang.

Bài thơ với thi phong trong trẻo đến tinh khôi. Nhẹ tênh đến không ngờ, nhưng nó lại ẩn chứa bao nỗi niềm trắc ẩn

“Tháng hạ nhiều khói mây

Mưa trút ngược về trời

Không buồn rơi xuống đất

Mà xô nghiêng lòng người”

                    ( Thơ Phong Tâm)

Đất nước mình ở vùng nhiệt đới, quanh năm có 2 mùa Mưa, Nắng rất rõ rệt. Thế nhưng, với sự phát triển công nghiệp và nông nghiệp (đáng mừng) , dẫn đến ô nhiễm môi trường ( đáng buồn) khiến bầu Trời qua đôi mắt hiền hòa của nhà thơ, đã tạo thành những -vầng-mây- bụi lãng đãng trên thinh không!

 Nhưng sao lại  có :

"Mưa trút ngược về trời

Không buồn rơi xuống đất

Mà xô nghiêng lòng người”

Ở đây , Chúng ta không xét về ý nghĩa sắc son chung thủy của bài thơ "Thề Non Nước" của Thi Lão Tản Đà, mà hãy nghĩ  về câu :

“Nước đi ra bể lại mưa về nguồn”

Như một quy luật tuần hoàn trong tự nhiên thì quả thật ai cũng đau lòng khi nước đi với lưu lượng bất thường...

Bởi vì,

Rừng bị tàn phá đến trơ trụi, mưa tới đâu nó thành một chuổi liên hoàn: không có cây để cản sự xâm thực của nước từ trên cao rơi xuống đất, Không có cây và rễ cây để giữ đất, thì không có đất để thấm nước, nước mưa trở thành lũ quét, tàn phá tới tận cuối nguồn.

Thử hỏi, Ta lấy đâu ra trữ lượng nước (?) để rồi có mưa thuận gió hòa?

 “Mưa trút ngược về Trời” Câu thơ như đòn chí mạng , khiến ta ngậm ngùi…

Hãy nghĩ: Cứ như nước mắt chực chảy ngược vào trong, đau thắt lòng, gây áp lực cho trái tim (mà xô nghiêng lòng người) vậy!

Nếu Đất, Nước là hai trong bốn nguyên lý hình thành nên thế giới vật chất từ nhỏ bé đến cực đại. Thế mà giờ đây nguồn tài nguyên chung, rất quý của nhân loại, gần như bị con người vô tâm hủy diệt. Thế thì Mẹ Thiên nhiên sẽ trả lại cho tội vô ơn đó những điều gì ?

“Mỏi đợi mắt mòn trông (thị giác)

Lưỡi lá vàng khô khát     (vị giác)

Ơi tình nước tình sông    (cảm giác )

Có nghe mùa nắng rát”  (thính giác)

                 (Thơ Phong Tâm)

Ta được gì khi vận hành cả 4 giác quan đó, mà Thiên nhiên vẫn không động lòng ? Hay chúng ta vẫn vô tâm, vô cảm không hề vận dụng đến các giác quan đó trong cuộc sống này?

Thực ra Mẹ Đất có vô tình không nhỉ? Hay vẫn nhẫn nhịn theo Hạnh-của- Đất, nghĩa là mặc nhiên chấp nhận tất cả những gì con người giày xéo, xả hóa chất.... phá hủy sự mầu mỡ vốn có của Đất? dẫn đến hậu quả:

"Đất hằn khe rãnh nứt

Biển mặn ngấm vào tim

Bờ cây chờ chết đứng

Không về một cánh chim.

             ( Thơ Phong Tâm)

Đất không lành thì chim nào có đậu! Đó là quy luật sinh tồn từ bao đời nay !

Đến một lúc nào đó, con người bị những cơn ác mộng ám ảnh đến độ không thể yên giấc . Rồi tự huyễn hoặc mình :

“Đêm nằm mơ không ngủ

Tìm vui như bóng mờ”

Đâu rồi những đêm, trăng thanh đùa vui với thủy triều, mang phù sa về, bồi đắp nhựa sống cho đất, nuôi mùa màng, cây cỏ tạo bóng râm nên thơ cho đời?

“Chợt thấy vầng trăng khuyết

Nắng đốt tan màu thơ”

Theo biến thiên tuần hoàn, thì mùa mưa đang miễn cưỡng hẹn hò…cùng đất!

“Mùa mưa còn nhấp nhứ

Như cô gái ngượng ngùng

Sau cánh màn buông rũ

Trêu giọt đời nhớ nhung”

              ( Thơ Phong Tâm)

Vạn vật sẽ thụ hưởng những gì sau những cơn mưa nặng hạt chóng vánh?

Mưa ( bất khả) mang theo nỗi ê chề…

Và ,

Mưa (chẳng đặng đừng) để lại …. Sự bẻ bàng cho ta!

ÔI!

Mỗi tứ thơ như một khúc bi ca , nhưng sao không hề mang âm hưởng lạnh lùng trách cứ ...?!

Thi phong thật thanh tao,  bởi  bao nỗi muộn phiền đã được tản mác, lan tỏa, khéo làm giảm nhẹ tỷ trọng ở trong mỗi câu thơ rồi.

Ngôn ngữ không thể diễn đạt được hết cảm xúc. Nhưng kỳ diệu thay nỗi buồn chừng như đan kết trong tâm tưởng bạn thơ .

Ước gì không có :

"Sau cánh màn buông rũ

Trêu giọt đời nhớ nhung”

Thưa , Cánh màn không gian hay cánh màn thời gian đều được diễn tả bằng từ tượng hình “ buông rủ”  sao như sầu lắng nỗi buồn bất lực, cam chịu sự giễu cợt của Mưa qua Đất Trời này. (Trêu Giọt Đời nhớ nhung )

Để rồi MƯA KHÔNG QUÊN MÙA nữa. Phải không?

Thoạt tiên, ta cảm nhận được nét tinh khôi trong đôi mắt của nhà thơ khi chiêm ngắm vũ trụ này, nhưng liền sau đó là sự tan chảy của trái tim mình, khi chợt nhận ra ta thật vô tình, bởi tác giả đã gởi trong thơ một Thông điệp đau thương về TY Thiên nhiên.

Làm sao ta có thể thờ ơ khi mà Thượng Đế đã Tạo Dựng và Ban Tặng cho Con Người Giang Sơn Cẩm Tú  đến như thế, nhỉ?

Và,

Ngay lập tức Sứ - Mạng –Thiêng – Liêng – về - Lòng –Biết-Ơn  đã hình thành trong mỗi cung lòng.

Ước gì

Mỗi chúng ta HÃY TẠ ƠN MẸ THIÊN NHIÊN bằng nhiều phương thức có thể của mình, khi làm tình nguyện viên Bảo Vệ  “Quả Bóng Xanh Bay Giữa Trời Xanh”… ( NS Trương Quang Lục) vậy.

Bảo vệ Trái Đất, chính là bảo vệ sự sống còn của nhân loại.

Tôi YÊU bài Thơ MƯA QUÊN MÙA không những vì Nhạc Thơ nhẹ tênh, trong sáng của tác giả Phong Tâm, mà còn là sự tinh tế ẩn dụ trong Ý Thơ, của một tâm hồn thơ lớn.

Phong thái bao dung và khắc khoải của nhà thơ đã chắp bút thành áng thơ hay. Sâu lắng vô cùng.

Cảm ơn Thi Sỹ Phong Tâm đã chạm đến cõi lòng bạn thơ của mình.

Trăn trở của ông trước Thiên Nhiên không còn tươi đẹp, đang cần sự bảo vệ của con người !

Ơi,

Xin được gởi đến quý bạn thơ: Với cả tâm tình Biết Ơn Mẹ Thiên Nhiên,  mà tôi đã cảm nhận được từ bài thơ này,

Lê Liên

SG. 13.06.2020.


READ MORE - TÂM TÌNH BIẾT ƠN - Cảm nhận của Lê Liên - Thơ Phong Tâm