Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, June 3, 2021

CHÚT TƠ LÒNG | CHÚT MEN TÌNH | EM VỀ BÊN ẤY - Chùm thơ Nguyễn Văn Trình

            

Nhà thơ Nguyễn Văn Trình


Chút tơ lòng

         Nguyễn Văn Trình

         (Bd: Trinh Huyền)

 

Anh ngại ngùng cái nhìn đắm đuối

bởi duyên ngầm mái tóc, bờ môi

 

Em xa xôi mộng rớt đêm dài

anh thẫn thờ cõi lặng đơn côi

 

Và ao ước một lần hẹn gặp

trong tim anh mãi có em rồi

 

Hoang hoải chiều đứng ngắm mây trôi

giọt nhớ nhung đường về lẽ bóng

 

Chút tơ lòng dài thêm mộng ước

màu yêu thương thắp lửa phượng hồng

 

Anh đâu biết mỏi mòn sợi nhớ

dấu tàn phai từ phía xa xôi

 

Thôi em về sửa soạn buổi sang sông

để mộng vàng day dứt, nửa đau thương …!

 

                                  NVT

 

 

 

Chút men tình

             Nguyễn Văn Trình

             (Bd: Văn Nguyễn)

 

Chếnh choáng hơi men, chếnh choáng tình

giọt rượu nồng vơi cạn chén ta say

 

Lối về sương phủ mờ chân dốc

một bóng đơn côi điệu nhạc buồn

 

Mơ màng mắt biếc thuở uyên ương

Còn đâu hình bóng người xưa cũ

 

Chiều buồn gió cuốn lệ tàn thương

Sầu ta đơn lẽ còn vương sợi tình …!

 

                                 NVT

 

Em về bên ấy

           Nguyễn Văn Trình

            (Bd: Trinh Huyền )

 

Em về bên ấy chiều nay
một trời thương nhớ, heo may một trời
câu ca mái nặng chơi vơi
dòng sông như cũng rã rời, buồn tênh


Em về bên ấy nắng hanh
hay mưa nhòa nhạt, chân thành ngày xưa
em về buốt tím hoa mua
đường côi mấy nẻo, gió lùa hồn anh…

 

                             NVT

                   nguyenvantrinh58@gmail.com

 

 

                     

                                



READ MORE - CHÚT TƠ LÒNG | CHÚT MEN TÌNH | EM VỀ BÊN ẤY - Chùm thơ Nguyễn Văn Trình

NUỐI TIẾC TÌNH YÊU THUỞ BAN MAI - Thơ: Phạm Ngọc Thái - Lời bình: Nguyễn Thị Hoàng



image.png
             Nhà thơ Phạm Ngọc Thái

         CON ĐƯỜNG PHƯỢNG ĐỎ

Em mang màu phượng đỏ ra đi...
Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
Xác ve còn bám ở thân cây.

Con đường phượng đỏ đêm nay
Mây lãng du bay, trời xanh vô định
Những cánh hoa rung trong hoài niệm
Nghe lòng thổn thức đâu đây...

Phượng đã cháy lên một thời
Nửa tóc bạc rồi, nửa mái xanh phơ phất
Tới một ngày chúng cũng tàn úa hết
Ta sẽ thành ông bà lão, em ơi!

Con đường tình đẫm giọt sương rơi
Gió vẫn xạc xào, vi vút thổi
Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy
Thì đâu còn phượng để anh ru?

Em đã mang màu phượng ấy ra đi...

                   PHẠM NGỌC THÁI
    (Trích tập "64 bài thơ hay", Nxb Hồng Đức 2020)

image.png
     Nguyễn Thị Hoàng

     Lời bình:  Bài thơ rất đáng yêu. Nó gợi lại kỷ niệm mối tình của nhà thơ với một người sinh nữ đã xa xưa. Tôi hình dung thấy bước chân anh đang lang thang trên cái hè phố nhỏ: Có hàng phượng vĩ, con đường… Anh vẫn cùng người thiếu nữ năm nào dạo bước bên nhau:
                        Em mang màu phượng đỏ ra đi...
                        Anh tha thẩn dọc hè phố nhỏ
                        Nơi kỉ niệm của mối tình sinh nữ
                        Xác ve còn bám ở thân cây
      Hẳn đó là những năm tháng tươi đẹp và hạnh phúc của đời anh. Cô nữ sinh kia chắc cũng phải xinh xắn lắm? Nghe anh mô tả, những kỷ niệm êm đềm từ thưở còn con gái trong tôi, dù đã xa xôi cứ dồn về làm nghẽn trái tim. Thế mà… cái con đường có em yêu đã bao đêm đi bên anh, giờ đây chỉ còn vương lại những xác ve đã chết khô, bám trên những cành phượng cũ. Nó cũng cô đơn như chính anh.                
     Tuổi trẻ đi qua để lại bao nuối nhớ về những kỷ niệm tình. Bởi cái màu hoa phượng đỏ cháy rực trời vào những ngày hè thân thương ấy, giờ đây em đã mang đi mất rồi… chỉ để mình anh trơ trọi ở lại với những nhớ thương? Ngay bắt đầu vào bài, nhà thơ đã mô tả:
                      Em mang màu phượng đỏ ra đi...
     Sang đoạn hai - Phạm Ngọc Thái vẫn lan man cảm xúc trên con đường của kỷ niệm tình. Nhưng giờ đây:
                        Mây lãng du bay trời xanh vô định
                        Những cánh hoa rung trong hoài niệm
     Những đám mây phiêu diêu vẫn bay qua con đường. Bầu trời heo hút, vô vi… lại gắn với khoảng đời tươi đẹp, hạnh phúc nhất của nhà thơ. Hiu hắt quá! Màu hoa phượng đỏ, cũng chỉ còn là màu trong hoài niệm. Câu thơ ảo mà khoáy vào lòng người? Phải chăng như Chế Lan Viên đã viết:
                        Bên kia bờ hư ảo - bờ thơ
     Bởi cái màu ảo ấy là màu của những nhớ thương, hoài vọng, thiết tha. Mặc dù nhà thơ đang đi trên con đường rất thật để làm bài thơ này, như anh viết:
                         Con đường phượng đỏ đêm nay...
    Chúng đều là thật cả : Từ làn mây đến khoảng trời xanh… Nhưng vào trong cảm xúc của Phạm Ngọc Thái đã trở thành màu của trừu tượng, mênh mang, day dứt khôn nguôi:
                        Nghe lòng thổn thức đâu đây...
      Trái tim nhà thơ đang giằng xé trên con đường ấy - Đến đoạn thứ ba, như người bừng tỉnh trong giấc mộng. Thơ được đẩy cao lên và xa xót:
                       Phượng đã cháy lên một thời
                       Nửa tóc bạc rồi, nửa mái xanh phơ phất
                       Tới một ngày chúng cũng tàn úa hết
                       Ta sẽ thành ông bà lão, em ơi!
     Đành rằng qui luật của thời gian, không ai tránh được sẽ sự già cả, tàn úa…  nhưng ta vẫn thấy chua chát quá! Dường như tất cả đang sụp đổ xuống trái tim anh. Đôi trai gái còn thanh xuân hồi ấy, nay đã biến thành ông bà già… mất rồi - Có lẽ nhà thơ đã khóc? Đó là sự chia ly vô cùng, vô tận của kiếp người.
     Đời người, mấy ai là không phải nuối tiếc mối tình đầu? Bài thơ không chỉ làm rung động trái tim của các lứa trẻ, ngay cả những người đã bước vào tuổi hoa niên,  đọc thơ anh chắc cũng không khỏi xao lòng.
     Đoạn thơ kết:
                      Con đường tình đẫm giọt sương rơi
                      Gió vẫn xạc xào vi vút thổi...
     Để khắc sâu hơn, nhấn mạnh hơn về sự trống vắng. Dù ta chẳng biết vì lý do gì? Tại sao mối tình của nhà thơ với người con gái ấy bị tan vỡ? Lỗi do ai? Chỉ thấy anh biện hộ với lòng mình: 
                          Giá hồi ấy chúng mình lấy nhau rồi sinh năm đẻ bảy
                         Thì đâu còn phượng để anh ru?
     Khiếp, nhà thơ Phạm Ngọc Thái ơi! Sao anh tham lam thế? Người ta lấy nhau bây giờ chỉ đẻ có hai đứa, nuôi được chúng nên người cũng đã bở hơi tai rồi, đằng này anh lại đòi những "...sinh năm, đẻ bảy" cơ đấy? Nói vậy thôi, chứ thơ vẫn là thơ mà. Viết thế nên câu thơ lại thêm phần thi vị và hay hơn. Tất cả sự diễn tả ý nghĩ, hình ảnh... cũng chỉ để hoài tưởng về cái màu phượng vĩ của tình yêu năm xưa. Đến cuối cùng nhà thơ trở lại với câu thơ đầu tiên, và kết ở đó:
                         Em đã mang màu phượng ấy ra đi...
      Chính là tư tưởng của toàn bài: Bộc lộ sự nuối tiếc tình yêu trong sáng, say đắm thời thanh xuân. Thơ giàu cảm xúc, thanh tao và mộng mơ. Ngôn ngữ bình dị nhưng vẫn mang vẻ đẹp mỹ học… mà tạo thành bài thơ hay.
                                                                     
                                                                                                                    Nguyễn Thị Hoàng
          Nguyên GV Trường ĐH Sư phạm
READ MORE - NUỐI TIẾC TÌNH YÊU THUỞ BAN MAI - Thơ: Phạm Ngọc Thái - Lời bình: Nguyễn Thị Hoàng

SÀI GÒN TIA NẮNG ĐẦU TIÊN CỦA NGÀY GIÃN CÁCH - Chùm thơ Trần Mai Ngân



 SÀI GÒN TIA NẮNG ĐẦU TIÊN CỦA NGÀY GIÃN CÁCH


Yếu ớt và hững hờ trên cành lá xanh xao
Những bông hoa muôn màu cúi đầu lặng lẽ 

Bình minh mà sao tiếng chim kêu nhạt tẻ
Khu phố lặng thinh chìm trong ngột ngạt 
Người nhìn người đôi mắt cứ hoài nghi...


KHI MỌI THỨ BẤT AN EM TIN VÀO ANH

Sáng nay khu Gò Vấp vắng tanh
Những ngôi nhà im lìm khép cửa

Chúng ta trốn núp trong sự bình yên của chính mình
Chúng ta lo sợ nhưng không tuyệt vọng...và em cũng thế
Khi mọi thứ bất an em tin vào anh! 


ĐỌC BẢN TIN ĐÊM NAY KHÔNG NGỦ ĐƯỢC

Sài Gòn giãn cách 0 giờ ngày 31 tháng Năm
Em băn khoăn lắm...vì sao...vì sao?

Dấu chấm hỏi không thể nào giải đáp
Một thiên tai sự trừng phạt của thiên nhiên 
Nhưng chắc chắn chúng ta là người huỷ hoại....


VŨ TRỤ ƠI XIN HÃY LẮNG NGHE 

Từng nỗi khổ nỗi đau trong hổn loạn
Những cái chết lặng lẽ không lễ nghi đưa tiễn

Người một nơi, thương khóc một nơi...
Vũ trụ ơi...hãy xoay đi tình thế
Về ngày xưa như thuở mới sơ khai...


NGÀY MAI SÀI GÒN TRỞ LẠI KẸT XE

Dòng người tan tầm hối hả
Ngọn đèn xanh, đỏ, vàng lại vội vã

Nhịp sống nhanh thời đại 4.0
Bài học làm người phải học xong
Để thấy quý cuộc đời hơn thế nữa....

Trần Mai Ngân


READ MORE - SÀI GÒN TIA NẮNG ĐẦU TIÊN CỦA NGÀY GIÃN CÁCH - Chùm thơ Trần Mai Ngân

Wednesday, June 2, 2021

NGUỒN GỐC CÂU CA DAO: "GIÓ ĐƯA CÀNH TRÚC LA ĐÀ, TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ, CANH GÀ THỌ XƯƠNG" - Lê Quang Thái


Tiêu dao miền sơn thủy hữu tình là cái thú của giới tao nhân mặc khách ở chốn kinh kỳ. Dường như, các thi nhân đầu triều Nguyễn, vào thế kỷ 19 đã phóng tác theo lối của các thi sĩ thời Vãn Đường bên Trung Quốc. 

Hình ảnh “khói lồng nước, bóng trăng lồng cát” trong bài “Bạc Tần Hoài” của nhà thơ Đỗ Phủ còn rơi đọng để kết thành làn sương khói xóa tan miền tục lụy, theo tiếng chuông chùa ngân vọng lên không, ở bài “Dạ Bạc Nguyệt Biều” của Nhất đại thi ông Tùng Thiện Vương sáng tác nhân chuyến du xuân vào tháng giêng năm Bính Thân, 1836: 

“Dịu dàng mát mẻ khí trời. 
Kìa trăng dưới nước, gió thời trên không”. 
(Ưng Trình và Bửu Dưỡng dịch) 

 Đối cảnh với bến đò xưa Nguyệt Biều, bến nước trước nhà máy xi măng Long Thọ ở đồi cùng tên gọi, được cải đổi tên thành Thọ Xương vào đầu niên hiệu Gia Long là chùa Thiên Mụ - Huế. Thể tình, cảnh sông nước dọc hai bên bờ sông Hương ở miền Hà Khê là như thế, điều này khiến cho một số du khách phương xa lần đầu tiên viếng ngôi quốc tự cổ kính và lâu đời ở cõi Hóa Châu không khỏi băn khoăn về suối nguồn của câu ca dao vỏn vẹn chỉ có hai giòng mà ý thơ hàm súc và đa nghĩa: 

 “Năm năm tháng tháng ngày ngày 
 Lần lần lữa lữa rầy rầy mai mai 
 Có ai ta cũng thế này 
 Không ai ta cũng như ngày có ai’’ 
 (Lời Hẹn, Dương Khuê) 

 Dương Khuê là ai? Thưa rằng: Bác Dương mà Tam nguyên Yên Đổ đã làm bài văn khóc bạn rất hay bằng chữ Hán, rồi chính tự tay mình diễn Nôm, thể hiện tình bạn tri âm tri kỷ đúng nghĩa « Bá Nha - Tử Kỳ » ngày xưa. 

Ngày nay, rất nhiều người Huế thích nghe bài nhạc “Đêm Tàn Bến Ngự” của nhạc sĩ tài hoa Dương Thiệu Tước. Ít người nghĩ được rằng tác giả bài nhạc bất hủ ấy là cháu nội cụ Dương Khuê bút hiệu Vân Trì (1835 - 1898) cảm tác cảnh vật sông nước xứ Tràng An mà hình thành những cung bậc réo rắt lòng người, soi rõi đến tận miền vô thức làm cho người bận rộn phải tĩnh ngộ. Nguyễn Khuyến vinh dự được tiễn bạn, khóc người tri kỷ. Bạn thân của ông cũng là một Đệ tam giáp Tiến sĩ đồng xuất thân, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Định, về hưu được phong tặng hàm Thượng thư. Rồi 10 năm sau, Nguyễn Khuyến đi xa, đi về với bạn mình. Năm 1886 ông đã từ quan Sơn - Hưng - Tuyên Tổng đốc lui về làm nông dân ở xứ ruộng vườn Bình Lục, tỉnh Hà Nam và làm Thầy dạy học tại dinh Tổng đốc Hoàng Cao Khải tại Hà Nội. Ở tuổi ngoài vòng càn khôn, đôi bạn tri kỷ mặc sức bình Kiều, lẫy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Lúc sinh thời, cụ Nghè Vân Đình, tổng Phương Đình, huyện Ứng Hòe, tỉnh Hà Đông làm quan lớn của triều đình Huế, rồi cuối đời giữ chức Tham tá nha Kinh lược sứ tại Bắc Kỳ(1) vào thời mạt vận của vua quan nhà Nguyễn. Sở trường của thi sĩ Vân Trì là sáng tác ca trù, vì thế cụ Nghè trở thành một danh sĩ của Bắc Hà. Dương Khuê đã để lại cho hậu thế bài lục bát gồm 4 câu ca ngợi cảnh đẹp hồ Tây dưới nhan đề "Hà Nội Tức Cảnh":

 "Phất phơ ngọn trúc trăng tà 
 Tiếng chuông Trần Võ canh gà Thọ Xương 
 Mịt mù khói tỏa ngàn sương 
 Dịp chày An Thái mặt gương Tây Hồ” 

 Do không sành địa danh cho nên nhà sưu tập Trần Trung Viên đã phiên âm và ghi chép theo ngôn ngữ của phiên bản từ chữ Nôm thành chữ quốc ngữ đầu thế kỷ 20, vì vậy các từ in nghiêng đậm cần được chú giải: 

 1. Ngọn trúc: đúng nguyên tác, chớ không phải cành trúc .

 2. Trấn Võ: tên cũ là Trấn Vũ. Viết 武 đọc Vũ hoặc Võ, quán Trấn Vũ thờ Trấn Vũ tức là "Trấn Thiên Chân Vũ Đế Quân" mà trước đây người Pháp dịch là Grand Bouddha. Quán Trấn Vũ khác với quán Huyền Vũ ở phường Đồng Xuân, huyện Thọ Xương có tượng thờ bằng đồng đen nặng 6.600 cân, tương ứng 4000kg, tục gọi « Thánh đồng đen », quán Trấn Vũ ở phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận nay thuộc nội thành Thủ đô Hà Nội. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí biên soạn từ năm 1865 dưới triều Tự Đức đã ghi rõ và lại phân biệt rành mạch quán Trấn Võ và quán Huyền Vũ. 

3. Dịp chày: Viết đúng chính tả là "Nhịp chày". Các nhà Nho thời bấy giờ không phân biệt cặn kẽ chữ nào phải viết bằng phụ âm đầu là "d", "nh" hoặc "gi". Viết một cách tự nhiên, chẳng ai bắt lỗi ai cả. 

 4. An Thái: gọi đúng tên làng là Yên Thái. Lãng Nhân Phùng Tất Đắc trong tác phẩm "Giai Thoại Làng Nho" ghi đúng tên làng Yên Thái. Tục danh của làng này là Kẻ Bưởi tức làng Bưởi ở bên hồ Tây, nổi tiếng với nghề làm giấy, kẹo mạch nha và cất rượu. Làng Yên Thái và làng bên Trích Sài làm được giấy in và cả giấy cao cấp để bộ Lễ viết sắc phong. Tá lý Trần Trinh Cáp, chuyên viết sắc phong dưới triều vua Khải Định và Bảo Đại đã khẳng định việc nầy. 

Đó là mấy chi tiết mà bộ tuyển tập «Văn Đàn Bảo Giám», Tập 3, tr.159, do nhà xuất bản "Yiễm Yiễm Thư Quán"(2) đã thông qua nhẹ nhàng, chỉ vì tin vào nhà sưu tập Trần Trung Viên và tác gia Hư Chu nhận hiệu đính mà không sâu sát quan tâm. Vì vậy nên phát sinh ra "dị bản" của bài tứ tuyệt của Dương Khuê, đã trở thành ca dao thịnh hành và phổ biến ở đất Hà Thành. 

 Trong cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, nhà giáo lỗi lạc Nguyễn Duy Diễn, tác giả sách luận đề về Dương Khuê đã công bố một phiên bản (từ chữ Nôm sang quốc ngữ) có vài tiểu tiết khác với bản của Trần Trung Viên sưu tập: 

 « Gió đưa cành trúc la đà 
 Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương 
 Mịt mùng khói tỏa ngàn sương 
 Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ ». 

 Theo nhà giáo Nguyễn Duy Diễn cho biết ông Dương Thiệu Cương, anh ruột nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Tiến sĩ Giáo dục (Ed.d) Dương Thiệu Tống, hiệu đính nguyên tác của ông nội mình 2 chi tiết mà không ngại phạm tội "bất kính" chỉ vì thơ đã biến thành ca dao: 

 1. "Phất phơ ngọc trúc trăng tà" thành : "Gió đưa cành trúc la đà" 

 2. Mịt mù = Mịt mùng! Dân gian thấy không chuẩn nên lấy lại nguyên tác "mịt mù", chì vì khi đọc "mịt mùng" thì nghe chưa "thoáng", còn khép kín. 

 Năm 1928, cụ Lê Thanh Cảnh, Chủ biên tạp chí "Thần Kinh" tỏ ý đồng tình và cụ đã có công trình tuyển chọn, dịch thuật một số ca dao, tục ngữ của xứ Huế ra tiếng Pháp. Kế tục công việc này, về sau nhà giáo Nguyễn Xán, kết hợp với giáo sư người Pháp Délétie, Giám đốc nha Học chánh Trung kỳ đã cho ra cuốn "Tục Ngữ, Ngạn Ngữ" bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Linh mục Nguyễn Văn Thích, vượt qua được Tam trường thi Hương(3), giáo sư Hán học trường Quốc Học, Viện Hán học và Đại học Văn Khoa Huế đã cho biết rõ như thế, khi được hỏi về việc sưu tầm tư liệu để viết thành tập "300 Câu Ca Dao" mà ông đã dày công sưu lục và kế tục việc nghiên cứu văn chương bình dân của thân phụ mình là Phó bảng Nguyễn Văn Mại. 

 Có điều lý thú là bài ca dao "Hà Nội Tức Cảnh" có sức cuốn hút lạ thường ở khắp cả 3 miền Bắc -Trung - Nam. 

 « Gió đưa cành trúc là đà, 
 Tiếng chuông Hải Đức, canh gà bên sông ».
 (Non Nước Khánh Hòa - Nguyễn Đình Tư) 

 Năm Mậu Ngọ, 1918 Phạm Quỳnh, danh sĩ đất Hải Dương đã nổi tiếng không riêng gì ở Hà Thành mà khắp cùng đất nước như lời câu nói lối thời danh «Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn»(4). Nhân chuyến Phạm Quỳnh vào thăm Huế cùng năm ấy, đã viết ký sự "Mười Ngày Ở Huế" và ông là người đã chuyển giòng thứ 2 của bài ca dao "Hà Nội Tức Cảnh" thành: 

"Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương". 

 Học giả Phan Văn Dật không hẳn đồng tình với việc ông Phạm Quỳnh đã làm việc "tréo cẳng ngỗng" này chỉ vì vin cớ tiếng chuông Thiên Mụ sao mà lại đi cùng với tiếng gà gáy sáng ở tận ngoài Hà Nội. Thiết nghĩ, nhà văn Phạm Quỳnh nhân « cao hứng » đã thay 2 từ « Trấn Võ » bằng « Thiên Mụ » một cách hợp tình hợp cảnh mà âm sắc của lời ca vẫn trọn tình với nước non. Nếu có cách nhìn nhận thông thoáng, ngôn ngữ văn chương chuyển hóa và đa nghĩa, miễn sao không gượng gạo mà lại bắt nhịp có cơ sở là khả dĩ chấp nhận được.

 Huế cũng có địa danh Thọ Xương cải đổi từ gò Long Thọ (Long Thọ Cương), tên chữ là «Thọ Khương Thượng Khố ». Nguyên dưới các chúa Nguyễn tại gò này là nơi đặt kho thóc, rồi đến đời các vua Nguyễn là kho đồ gốm và là nơi làm gạch ngói. Quốc sử triều Nguyễn đã xếp gò Long Thọ là thắng tích ở chốn Kinh Sư. Ngày nay, trong lúc sửa chữa chùa Dương Biều (5) nguyên là Long Thọ Tự, được Hội An Nam Phật Học cho phép trùng tu dưới thời Chấn Hưng Phật Giáo, Phật tử tại địa phương đã đào đất tìm thấy nhiều mãnh đồ gốm gạch vồ xưa đủ loại, ngói thanh lưu ly, hoàng lưu ly... 

 Thiết nghĩ đó là cơ sở để cho câu mở bài đầu câu ca dao được chuyển đổi từ nguyên tác "Phất phơ ngọn trúc trăng tà" thành « Gió đưa cành trúc la đà » cho phù hợp với cảnh quang của khúc giòng Hương chảy từ Văn Thánh về tận ranh giới giữa làng Xuân Hòa với phủ cũ Kim Long, mà người dân bản địa quen gọi là sông Thiên Mụ có mặt nước phẳng lặng và trải rộng khác nào mặt nước hồ Tây được ví von như mặt gương vậy. 

Từ đó câu ca dao mới ra đời, chứ từ trước năm 1918 lời hát ru: «Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương » ở Huế không ai hát bao giờ. Lời ca đã gói gọn biết bao nhiêu thứ tình: tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước, tình yêu văn học, văn chương mà tác giả sách Tùng Thiện Vương (1819 - 1870), hậu duệ của Nhất đại thi ông là Ưng Trình và Bửu Dưỡng(6) đã viết về ý nghĩa sâu lắng và linh diệu của tiếng chuông Thiên Mụ đi vào sử sách, thi ca và âm nhạc nước nhà tạo thành quốc hồn, quốc túy, tinh hoa của giòng văn hóa Việt: 

 "Chỉ có thiên nhiên và nhân tâm có thể tồn tại sau bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Còn những thứ nhân tạo phụ thuộc vẫn phải hao mòn hư hỏng, trừ khi biết uốn mình theo mưa gió dưới sức mạnh của thiên nhiên". Và điều này lại khớp đúng với một tình tiết ở bài Tổng luận về phong tục của phủ Triệu Phong mà Tiến sĩ Dương Văn An đã viết trong sách Ô Châu Cận Lục, sau khi nhận lời hiệu đính sách quý này do hai nho sinh phủ Tân Bình (Quảng Bình xưa) mong cầu: « Ánh Nguyệt Biều tỏa rạng, núi sông trong sáng vô ngần » (7). 


Chú thích: 
 1. Nha Kinh lược sử Bắc Kỳ: Thực dân Pháp bải bỏ nha nầy năm 1897. Tham tá là ngạch và chức quan mới dưới thời Pháp đặt nền bảo hộ nước ta. 
2. Yiễm Yiễm Thư Quán: Tên riêng của quán sách do thi sĩ Đông Hồ trông coi ở Sài Gòn vào đầu thập kỷ 30 thể kỷ 20. Viết chữ « Yiễm » gồm các nguyên âm Y, i, ê và phụ âm m rồi đánh dấu ngã (~). 
 3. Tam trường thi Hương : Từ thời vua Thành Thái đến khoa thi Mậu Ngọ 1918, thi Hương để lấy Tú tài và Cử nhân phải qua đệ tứ kỳ mới xếp loại. Linh mục Nguyễn Văn Thích dự thi trường tư nhưng không trúng để Chánh khảo cho ra bảng ai đỗ, ai hỏng. Về tân học, ông thi đỗ Cao đẳng Tiểu học. 
 4. Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn : 4 danh sĩ Bắc Kỳ gồm Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố và Phạm Duy Tốn. 
 5. Chùa Dương Biều : nguyên Niệm Phật đường Dương Biều của hai làng cổ Dương Xuân và Nguyệt Biều. 
 6. Cụ Ưng Trình gọi Tùng Thiện Vương là ông nội - Bữu Dưỡng là con trai cụ Ưng Trình được truy tặng Hiệp tá Đại học sĩ. 
 7. Nguyệt Biều sắc xứ, hiệu khiết sơn xuyên (月瓢色處皎潔山川)

Lê Quang Thái
Nguồn: lieuquanhue.vn và khamphahue.com

READ MORE - NGUỒN GỐC CÂU CA DAO: "GIÓ ĐƯA CÀNH TRÚC LA ĐÀ, TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ, CANH GÀ THỌ XƯƠNG" - Lê Quang Thái

Tuesday, June 1, 2021

TRUYỀN THUYẾT MỚI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Truyền thuyết mới


Chuyện xưa kể rằng

Khi bà Eva cắn miếng táo và nhận ra sự xấu hổ

Thì ý thức sở hữu đầu tiên hiển lộ

Sở hữu chính bản thân mình, trong suốt cõi vĩnh hằng

                               *

Từ đó con người cứ đánh mất, rồi lại loay hoay kiếm tìm

Vì “Phía sau sự thật bao giờ cũng có một sự thật khác”

Con đường chưa có ai đi, thì tại sao gọi là lầm lạc

Rơi trong góc khuất cuộc đời không một tiếng vọng, lặng im

                                 *

Hình như ta đang né tránh điều gì

Mà “Khoa học là đặt sự vật vào đúng chỗ

và gọi đúng tên của nó” (*)

Thì biết làm sao mà lược bỏ

Dù con đường đã chọn chúng ta đi

                                 *

Nhưng không sao, rồi lịch sử sẽ đặt đúng chỗ của mình

Cho mọi việc sẽ tự thân lóng la lóng lánh

Một ánh hồi quang chập chờn kiêu hãnh

Làm dấu chỉ trên đường đời lao nhọc nghiệm sinh

                                  *

Không chỉ là khái niệm, thực tế khó khăn lớn hơn nhiều

Mà lại cứ loay hoay những nỗi niềm riêng tư bé nhỏ

Khắc khoải chìm trôi, nhưng vẫn còn đâu đó

Trên con đường mới thênh thang,

sao lại còn chờ chực đảo chiều ...

 

 

Trên đường về qua Hòa Thuận


Chiều xa tan, tiếng chuông chùa đổ

Hàng tre nghiêng nắng đậu bến sông

Mây in bóng trên dòng kênh mới

Mê mãi bầy trâu gặm cỏ đồng


Đôi sáo líu lo, chiều lộng gió

Nhảy nhịp đôi vui vẻ chưa kìa

Vô tư sống, tương lai để ngỏ

Một nỗi niềm đâu đó sẻ chia


Chìm trong giấc mơ, chừng như đã

Gói ngày xưa, mộng tưởng bên đời

Xa hun hút đồng chiều cuốn rạ

Gió phập phồng vạt áo buông lơi


Bánh xe đạp vòng quay số phận

Óng ả soi chiều nắng ngượng ngùng

Năm tháng đã so đo rối lẫn

Trong tiếng cười nguyên cớ bao dung


Đâu lối rẽ, quãng đời xuôi chảy

Đây góc đường tiễn bạn đăm đăm

Mười năm qua nao lòng chỉ vậy

Ơi nhũng gì thương nhớ mười năm

                                          10/86


 

Con sóng vỗ về

từ nơi xa xôi


Nước lớn, loang dần lên chỗ em ngồi

Gió mơn man lưng trần tươi mát

 

Nắng lấp lửng rơi ngày hoan lạc

Vẫn xanh trong bát ngát một màu

Bãi biển này, ta đã có nhau …




Khi tuổi trẻ không biết gì

về thế hệ đi trước


Một vết đứt gãy sẽ hình thành

Bước tới ngày mai bằng bước trơn, bước trượt


Một sắc màu đổ vỡ mong manh

Tóc xanh rồi, lem ướt

Treo tương lai trên những sợi chỉ mành…


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận


READ MORE - TRUYỀN THUYẾT MỚI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

HỒNG NHAN BẠC TRIỆU - Thơ Chu Vương Miện

 


HỒNG NHAN BẠC TRIỆU

Thơ Chu Vương Miện

-

Khi tan rựơu lúc tàn canh

Dựt mình mình lại thương mình đẹp thêm

Tiền vào duyên lại thêm duyên

Thường ngày Tống Ngọc vương tôn cận kề

Trường Khanh thường cứ lơ mơ

Phần say vì sắc phần mê vì đàn “bà“

Sân trang treo sẵn hồ cầm

Nắm giây so phím đưa chàng lên mây

Còn tình đủ thứ còn đây

Nguyệt cầm 1 khúc làm ngây ngất lòng

Ngày đêm rượu ngọt thịt nồng

Đêm ngày toàn giấc vu sơn đã đời

Đồng thau trộn với vàng 10

Ôi thôi ngậm miệng mà cừơi cho cam

Thương mình thương cái hồng nhan

*

Gươm đàn nửa gánh giang sơn 1 chèo

Từ khuya “mơ chuột mến mèo“

Nghe danh kỳ nữ Thuý Kiều lầu xanh

Hoa khôi nức tiếng kinh thành

Đại gia công tử dập dình ngày đêm

Thế là phát lệnh ra quân

Phèng la nghi trượng gươm trần tuốt ra

Dẫn đầu cờ quạt lâu la

Nối đuôi đầu lĩnh cả bà lẫn con

Kiệu vàng trét phấn tô son

Vàng mân bạc thỏi rước nàng dìa dinh

Ngày đêm “xập quán xiêu đình“

Ôi thôi đầu bạc đầu xanh xìu xìu

Rừng hoang khỉ cũng ngang tiều

Vượn đen lẫn trắng mĩ miều nhởn nhơ

tam quân rợp bóng dưới cờ

1 Hồi trống dục 2 bờ giáo gươm

Từ quân phát lệnh lên đường

Ngựa hồng đi trứớc ngựa vàng theo sau

Thế là lẫm liệt mày râu

Thế là le lói công hầu tán xanh

Trên trời vân cẩu bu quanh

Dưới đây toàn bụi tơ hồng đầu xuân

Anh hùng tao ngộ mỹ nhân

Ôi thôi mão chụp thay quần chả sao

Bên trên bắc đẩu nam tào

Bên dứơi Từ Hải Hoàng Sào 1 đôi

Gươm đàn lúc bắn lúc chơi

Thế gian lúc khóc lúc cừơi bên nhau

giang sơn tiếp đến giang đầu

làm thân thảo khấu dặm cầu ngổn ngang

đàn hồ dăm tiếng tình tang



Chu Vương Miện


READ MORE - HỒNG NHAN BẠC TRIỆU - Thơ Chu Vương Miện

Monday, May 31, 2021

TÌNH – Thơ Tịnh Bình

 
 
          Nhà thơ Tịnh Bình


TÌNH
 
Bận chi lời gió gieo neo
Thương nhau chín núi mười đèo cũng qua
Sầu chi vời vợi trăng xa
Còn trong nhung nhớ riêng ta với mình...
 
                                         TỊNH BÌNH
                                           (Tây Ninh)

READ MORE - TÌNH – Thơ Tịnh Bình