Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, June 2, 2021

NGUỒN GỐC CÂU CA DAO: "GIÓ ĐƯA CÀNH TRÚC LA ĐÀ, TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ, CANH GÀ THỌ XƯƠNG" - Lê Quang Thái


Tiêu dao miền sơn thủy hữu tình là cái thú của giới tao nhân mặc khách ở chốn kinh kỳ. Dường như, các thi nhân đầu triều Nguyễn, vào thế kỷ 19 đã phóng tác theo lối của các thi sĩ thời Vãn Đường bên Trung Quốc. 

Hình ảnh “khói lồng nước, bóng trăng lồng cát” trong bài “Bạc Tần Hoài” của nhà thơ Đỗ Phủ còn rơi đọng để kết thành làn sương khói xóa tan miền tục lụy, theo tiếng chuông chùa ngân vọng lên không, ở bài “Dạ Bạc Nguyệt Biều” của Nhất đại thi ông Tùng Thiện Vương sáng tác nhân chuyến du xuân vào tháng giêng năm Bính Thân, 1836: 

“Dịu dàng mát mẻ khí trời. 
Kìa trăng dưới nước, gió thời trên không”. 
(Ưng Trình và Bửu Dưỡng dịch) 

 Đối cảnh với bến đò xưa Nguyệt Biều, bến nước trước nhà máy xi măng Long Thọ ở đồi cùng tên gọi, được cải đổi tên thành Thọ Xương vào đầu niên hiệu Gia Long là chùa Thiên Mụ - Huế. Thể tình, cảnh sông nước dọc hai bên bờ sông Hương ở miền Hà Khê là như thế, điều này khiến cho một số du khách phương xa lần đầu tiên viếng ngôi quốc tự cổ kính và lâu đời ở cõi Hóa Châu không khỏi băn khoăn về suối nguồn của câu ca dao vỏn vẹn chỉ có hai giòng mà ý thơ hàm súc và đa nghĩa: 

 “Năm năm tháng tháng ngày ngày 
 Lần lần lữa lữa rầy rầy mai mai 
 Có ai ta cũng thế này 
 Không ai ta cũng như ngày có ai’’ 
 (Lời Hẹn, Dương Khuê) 

 Dương Khuê là ai? Thưa rằng: Bác Dương mà Tam nguyên Yên Đổ đã làm bài văn khóc bạn rất hay bằng chữ Hán, rồi chính tự tay mình diễn Nôm, thể hiện tình bạn tri âm tri kỷ đúng nghĩa « Bá Nha - Tử Kỳ » ngày xưa. 

Ngày nay, rất nhiều người Huế thích nghe bài nhạc “Đêm Tàn Bến Ngự” của nhạc sĩ tài hoa Dương Thiệu Tước. Ít người nghĩ được rằng tác giả bài nhạc bất hủ ấy là cháu nội cụ Dương Khuê bút hiệu Vân Trì (1835 - 1898) cảm tác cảnh vật sông nước xứ Tràng An mà hình thành những cung bậc réo rắt lòng người, soi rõi đến tận miền vô thức làm cho người bận rộn phải tĩnh ngộ. Nguyễn Khuyến vinh dự được tiễn bạn, khóc người tri kỷ. Bạn thân của ông cũng là một Đệ tam giáp Tiến sĩ đồng xuất thân, làm quan đến chức Tổng đốc Nam Định, về hưu được phong tặng hàm Thượng thư. Rồi 10 năm sau, Nguyễn Khuyến đi xa, đi về với bạn mình. Năm 1886 ông đã từ quan Sơn - Hưng - Tuyên Tổng đốc lui về làm nông dân ở xứ ruộng vườn Bình Lục, tỉnh Hà Nam và làm Thầy dạy học tại dinh Tổng đốc Hoàng Cao Khải tại Hà Nội. Ở tuổi ngoài vòng càn khôn, đôi bạn tri kỷ mặc sức bình Kiều, lẫy Kiều của đại thi hào Nguyễn Du.

Lúc sinh thời, cụ Nghè Vân Đình, tổng Phương Đình, huyện Ứng Hòe, tỉnh Hà Đông làm quan lớn của triều đình Huế, rồi cuối đời giữ chức Tham tá nha Kinh lược sứ tại Bắc Kỳ(1) vào thời mạt vận của vua quan nhà Nguyễn. Sở trường của thi sĩ Vân Trì là sáng tác ca trù, vì thế cụ Nghè trở thành một danh sĩ của Bắc Hà. Dương Khuê đã để lại cho hậu thế bài lục bát gồm 4 câu ca ngợi cảnh đẹp hồ Tây dưới nhan đề "Hà Nội Tức Cảnh":

 "Phất phơ ngọn trúc trăng tà 
 Tiếng chuông Trần Võ canh gà Thọ Xương 
 Mịt mù khói tỏa ngàn sương 
 Dịp chày An Thái mặt gương Tây Hồ” 

 Do không sành địa danh cho nên nhà sưu tập Trần Trung Viên đã phiên âm và ghi chép theo ngôn ngữ của phiên bản từ chữ Nôm thành chữ quốc ngữ đầu thế kỷ 20, vì vậy các từ in nghiêng đậm cần được chú giải: 

 1. Ngọn trúc: đúng nguyên tác, chớ không phải cành trúc .

 2. Trấn Võ: tên cũ là Trấn Vũ. Viết 武 đọc Vũ hoặc Võ, quán Trấn Vũ thờ Trấn Vũ tức là "Trấn Thiên Chân Vũ Đế Quân" mà trước đây người Pháp dịch là Grand Bouddha. Quán Trấn Vũ khác với quán Huyền Vũ ở phường Đồng Xuân, huyện Thọ Xương có tượng thờ bằng đồng đen nặng 6.600 cân, tương ứng 4000kg, tục gọi « Thánh đồng đen », quán Trấn Vũ ở phường Thụy Chương, huyện Vĩnh Thuận nay thuộc nội thành Thủ đô Hà Nội. Sách Đại Nam Nhất Thống Chí biên soạn từ năm 1865 dưới triều Tự Đức đã ghi rõ và lại phân biệt rành mạch quán Trấn Võ và quán Huyền Vũ. 

3. Dịp chày: Viết đúng chính tả là "Nhịp chày". Các nhà Nho thời bấy giờ không phân biệt cặn kẽ chữ nào phải viết bằng phụ âm đầu là "d", "nh" hoặc "gi". Viết một cách tự nhiên, chẳng ai bắt lỗi ai cả. 

 4. An Thái: gọi đúng tên làng là Yên Thái. Lãng Nhân Phùng Tất Đắc trong tác phẩm "Giai Thoại Làng Nho" ghi đúng tên làng Yên Thái. Tục danh của làng này là Kẻ Bưởi tức làng Bưởi ở bên hồ Tây, nổi tiếng với nghề làm giấy, kẹo mạch nha và cất rượu. Làng Yên Thái và làng bên Trích Sài làm được giấy in và cả giấy cao cấp để bộ Lễ viết sắc phong. Tá lý Trần Trinh Cáp, chuyên viết sắc phong dưới triều vua Khải Định và Bảo Đại đã khẳng định việc nầy. 

Đó là mấy chi tiết mà bộ tuyển tập «Văn Đàn Bảo Giám», Tập 3, tr.159, do nhà xuất bản "Yiễm Yiễm Thư Quán"(2) đã thông qua nhẹ nhàng, chỉ vì tin vào nhà sưu tập Trần Trung Viên và tác gia Hư Chu nhận hiệu đính mà không sâu sát quan tâm. Vì vậy nên phát sinh ra "dị bản" của bài tứ tuyệt của Dương Khuê, đã trở thành ca dao thịnh hành và phổ biến ở đất Hà Thành. 

 Trong cuối thập kỷ 50 đầu thập kỷ 60 của thế kỷ 20, nhà giáo lỗi lạc Nguyễn Duy Diễn, tác giả sách luận đề về Dương Khuê đã công bố một phiên bản (từ chữ Nôm sang quốc ngữ) có vài tiểu tiết khác với bản của Trần Trung Viên sưu tập: 

 « Gió đưa cành trúc la đà 
 Tiếng chuông Trấn Võ, canh gà Thọ Xương 
 Mịt mùng khói tỏa ngàn sương 
 Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ ». 

 Theo nhà giáo Nguyễn Duy Diễn cho biết ông Dương Thiệu Cương, anh ruột nhạc sĩ Dương Thiệu Tước và Tiến sĩ Giáo dục (Ed.d) Dương Thiệu Tống, hiệu đính nguyên tác của ông nội mình 2 chi tiết mà không ngại phạm tội "bất kính" chỉ vì thơ đã biến thành ca dao: 

 1. "Phất phơ ngọc trúc trăng tà" thành : "Gió đưa cành trúc la đà" 

 2. Mịt mù = Mịt mùng! Dân gian thấy không chuẩn nên lấy lại nguyên tác "mịt mù", chì vì khi đọc "mịt mùng" thì nghe chưa "thoáng", còn khép kín. 

 Năm 1928, cụ Lê Thanh Cảnh, Chủ biên tạp chí "Thần Kinh" tỏ ý đồng tình và cụ đã có công trình tuyển chọn, dịch thuật một số ca dao, tục ngữ của xứ Huế ra tiếng Pháp. Kế tục công việc này, về sau nhà giáo Nguyễn Xán, kết hợp với giáo sư người Pháp Délétie, Giám đốc nha Học chánh Trung kỳ đã cho ra cuốn "Tục Ngữ, Ngạn Ngữ" bằng tiếng Việt và tiếng Pháp. Linh mục Nguyễn Văn Thích, vượt qua được Tam trường thi Hương(3), giáo sư Hán học trường Quốc Học, Viện Hán học và Đại học Văn Khoa Huế đã cho biết rõ như thế, khi được hỏi về việc sưu tầm tư liệu để viết thành tập "300 Câu Ca Dao" mà ông đã dày công sưu lục và kế tục việc nghiên cứu văn chương bình dân của thân phụ mình là Phó bảng Nguyễn Văn Mại. 

 Có điều lý thú là bài ca dao "Hà Nội Tức Cảnh" có sức cuốn hút lạ thường ở khắp cả 3 miền Bắc -Trung - Nam. 

 « Gió đưa cành trúc là đà, 
 Tiếng chuông Hải Đức, canh gà bên sông ».
 (Non Nước Khánh Hòa - Nguyễn Đình Tư) 

 Năm Mậu Ngọ, 1918 Phạm Quỳnh, danh sĩ đất Hải Dương đã nổi tiếng không riêng gì ở Hà Thành mà khắp cùng đất nước như lời câu nói lối thời danh «Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn»(4). Nhân chuyến Phạm Quỳnh vào thăm Huế cùng năm ấy, đã viết ký sự "Mười Ngày Ở Huế" và ông là người đã chuyển giòng thứ 2 của bài ca dao "Hà Nội Tức Cảnh" thành: 

"Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương". 

 Học giả Phan Văn Dật không hẳn đồng tình với việc ông Phạm Quỳnh đã làm việc "tréo cẳng ngỗng" này chỉ vì vin cớ tiếng chuông Thiên Mụ sao mà lại đi cùng với tiếng gà gáy sáng ở tận ngoài Hà Nội. Thiết nghĩ, nhà văn Phạm Quỳnh nhân « cao hứng » đã thay 2 từ « Trấn Võ » bằng « Thiên Mụ » một cách hợp tình hợp cảnh mà âm sắc của lời ca vẫn trọn tình với nước non. Nếu có cách nhìn nhận thông thoáng, ngôn ngữ văn chương chuyển hóa và đa nghĩa, miễn sao không gượng gạo mà lại bắt nhịp có cơ sở là khả dĩ chấp nhận được.

 Huế cũng có địa danh Thọ Xương cải đổi từ gò Long Thọ (Long Thọ Cương), tên chữ là «Thọ Khương Thượng Khố ». Nguyên dưới các chúa Nguyễn tại gò này là nơi đặt kho thóc, rồi đến đời các vua Nguyễn là kho đồ gốm và là nơi làm gạch ngói. Quốc sử triều Nguyễn đã xếp gò Long Thọ là thắng tích ở chốn Kinh Sư. Ngày nay, trong lúc sửa chữa chùa Dương Biều (5) nguyên là Long Thọ Tự, được Hội An Nam Phật Học cho phép trùng tu dưới thời Chấn Hưng Phật Giáo, Phật tử tại địa phương đã đào đất tìm thấy nhiều mãnh đồ gốm gạch vồ xưa đủ loại, ngói thanh lưu ly, hoàng lưu ly... 

 Thiết nghĩ đó là cơ sở để cho câu mở bài đầu câu ca dao được chuyển đổi từ nguyên tác "Phất phơ ngọn trúc trăng tà" thành « Gió đưa cành trúc la đà » cho phù hợp với cảnh quang của khúc giòng Hương chảy từ Văn Thánh về tận ranh giới giữa làng Xuân Hòa với phủ cũ Kim Long, mà người dân bản địa quen gọi là sông Thiên Mụ có mặt nước phẳng lặng và trải rộng khác nào mặt nước hồ Tây được ví von như mặt gương vậy. 

Từ đó câu ca dao mới ra đời, chứ từ trước năm 1918 lời hát ru: «Gió đưa cành trúc la đà/ Tiếng chuông Thiên Mụ, canh gà Thọ Xương » ở Huế không ai hát bao giờ. Lời ca đã gói gọn biết bao nhiêu thứ tình: tình yêu thiên nhiên, tình yêu đất nước, tình yêu văn học, văn chương mà tác giả sách Tùng Thiện Vương (1819 - 1870), hậu duệ của Nhất đại thi ông là Ưng Trình và Bửu Dưỡng(6) đã viết về ý nghĩa sâu lắng và linh diệu của tiếng chuông Thiên Mụ đi vào sử sách, thi ca và âm nhạc nước nhà tạo thành quốc hồn, quốc túy, tinh hoa của giòng văn hóa Việt: 

 "Chỉ có thiên nhiên và nhân tâm có thể tồn tại sau bao nhiêu biến cố vật đổi sao dời. Còn những thứ nhân tạo phụ thuộc vẫn phải hao mòn hư hỏng, trừ khi biết uốn mình theo mưa gió dưới sức mạnh của thiên nhiên". Và điều này lại khớp đúng với một tình tiết ở bài Tổng luận về phong tục của phủ Triệu Phong mà Tiến sĩ Dương Văn An đã viết trong sách Ô Châu Cận Lục, sau khi nhận lời hiệu đính sách quý này do hai nho sinh phủ Tân Bình (Quảng Bình xưa) mong cầu: « Ánh Nguyệt Biều tỏa rạng, núi sông trong sáng vô ngần » (7). 


Chú thích: 
 1. Nha Kinh lược sử Bắc Kỳ: Thực dân Pháp bải bỏ nha nầy năm 1897. Tham tá là ngạch và chức quan mới dưới thời Pháp đặt nền bảo hộ nước ta. 
2. Yiễm Yiễm Thư Quán: Tên riêng của quán sách do thi sĩ Đông Hồ trông coi ở Sài Gòn vào đầu thập kỷ 30 thể kỷ 20. Viết chữ « Yiễm » gồm các nguyên âm Y, i, ê và phụ âm m rồi đánh dấu ngã (~). 
 3. Tam trường thi Hương : Từ thời vua Thành Thái đến khoa thi Mậu Ngọ 1918, thi Hương để lấy Tú tài và Cử nhân phải qua đệ tứ kỳ mới xếp loại. Linh mục Nguyễn Văn Thích dự thi trường tư nhưng không trúng để Chánh khảo cho ra bảng ai đỗ, ai hỏng. Về tân học, ông thi đỗ Cao đẳng Tiểu học. 
 4. Quỳnh, Vĩnh, Tố, Tốn : 4 danh sĩ Bắc Kỳ gồm Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Văn Tố và Phạm Duy Tốn. 
 5. Chùa Dương Biều : nguyên Niệm Phật đường Dương Biều của hai làng cổ Dương Xuân và Nguyệt Biều. 
 6. Cụ Ưng Trình gọi Tùng Thiện Vương là ông nội - Bữu Dưỡng là con trai cụ Ưng Trình được truy tặng Hiệp tá Đại học sĩ. 
 7. Nguyệt Biều sắc xứ, hiệu khiết sơn xuyên (月瓢色處皎潔山川)

Lê Quang Thái
Nguồn: lieuquanhue.vn và khamphahue.com

READ MORE - NGUỒN GỐC CÂU CA DAO: "GIÓ ĐƯA CÀNH TRÚC LA ĐÀ, TIẾNG CHUÔNG THIÊN MỤ, CANH GÀ THỌ XƯƠNG" - Lê Quang Thái

Tuesday, June 1, 2021

TRUYỀN THUYẾT MỚI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

 

Nhà thơ Lê Thanh Hùng

Truyền thuyết mới


Chuyện xưa kể rằng

Khi bà Eva cắn miếng táo và nhận ra sự xấu hổ

Thì ý thức sở hữu đầu tiên hiển lộ

Sở hữu chính bản thân mình, trong suốt cõi vĩnh hằng

                               *

Từ đó con người cứ đánh mất, rồi lại loay hoay kiếm tìm

Vì “Phía sau sự thật bao giờ cũng có một sự thật khác”

Con đường chưa có ai đi, thì tại sao gọi là lầm lạc

Rơi trong góc khuất cuộc đời không một tiếng vọng, lặng im

                                 *

Hình như ta đang né tránh điều gì

Mà “Khoa học là đặt sự vật vào đúng chỗ

và gọi đúng tên của nó” (*)

Thì biết làm sao mà lược bỏ

Dù con đường đã chọn chúng ta đi

                                 *

Nhưng không sao, rồi lịch sử sẽ đặt đúng chỗ của mình

Cho mọi việc sẽ tự thân lóng la lóng lánh

Một ánh hồi quang chập chờn kiêu hãnh

Làm dấu chỉ trên đường đời lao nhọc nghiệm sinh

                                  *

Không chỉ là khái niệm, thực tế khó khăn lớn hơn nhiều

Mà lại cứ loay hoay những nỗi niềm riêng tư bé nhỏ

Khắc khoải chìm trôi, nhưng vẫn còn đâu đó

Trên con đường mới thênh thang,

sao lại còn chờ chực đảo chiều ...

 

 

Trên đường về qua Hòa Thuận


Chiều xa tan, tiếng chuông chùa đổ

Hàng tre nghiêng nắng đậu bến sông

Mây in bóng trên dòng kênh mới

Mê mãi bầy trâu gặm cỏ đồng


Đôi sáo líu lo, chiều lộng gió

Nhảy nhịp đôi vui vẻ chưa kìa

Vô tư sống, tương lai để ngỏ

Một nỗi niềm đâu đó sẻ chia


Chìm trong giấc mơ, chừng như đã

Gói ngày xưa, mộng tưởng bên đời

Xa hun hút đồng chiều cuốn rạ

Gió phập phồng vạt áo buông lơi


Bánh xe đạp vòng quay số phận

Óng ả soi chiều nắng ngượng ngùng

Năm tháng đã so đo rối lẫn

Trong tiếng cười nguyên cớ bao dung


Đâu lối rẽ, quãng đời xuôi chảy

Đây góc đường tiễn bạn đăm đăm

Mười năm qua nao lòng chỉ vậy

Ơi nhũng gì thương nhớ mười năm

                                          10/86


 

Con sóng vỗ về

từ nơi xa xôi


Nước lớn, loang dần lên chỗ em ngồi

Gió mơn man lưng trần tươi mát

 

Nắng lấp lửng rơi ngày hoan lạc

Vẫn xanh trong bát ngát một màu

Bãi biển này, ta đã có nhau …




Khi tuổi trẻ không biết gì

về thế hệ đi trước


Một vết đứt gãy sẽ hình thành

Bước tới ngày mai bằng bước trơn, bước trượt


Một sắc màu đổ vỡ mong manh

Tóc xanh rồi, lem ướt

Treo tương lai trên những sợi chỉ mành…


Lê Thanh Hùng

    Bắc Bình, Bình Thuận


READ MORE - TRUYỀN THUYẾT MỚI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

HỒNG NHAN BẠC TRIỆU - Thơ Chu Vương Miện

 


HỒNG NHAN BẠC TRIỆU

Thơ Chu Vương Miện

-

Khi tan rựơu lúc tàn canh

Dựt mình mình lại thương mình đẹp thêm

Tiền vào duyên lại thêm duyên

Thường ngày Tống Ngọc vương tôn cận kề

Trường Khanh thường cứ lơ mơ

Phần say vì sắc phần mê vì đàn “bà“

Sân trang treo sẵn hồ cầm

Nắm giây so phím đưa chàng lên mây

Còn tình đủ thứ còn đây

Nguyệt cầm 1 khúc làm ngây ngất lòng

Ngày đêm rượu ngọt thịt nồng

Đêm ngày toàn giấc vu sơn đã đời

Đồng thau trộn với vàng 10

Ôi thôi ngậm miệng mà cừơi cho cam

Thương mình thương cái hồng nhan

*

Gươm đàn nửa gánh giang sơn 1 chèo

Từ khuya “mơ chuột mến mèo“

Nghe danh kỳ nữ Thuý Kiều lầu xanh

Hoa khôi nức tiếng kinh thành

Đại gia công tử dập dình ngày đêm

Thế là phát lệnh ra quân

Phèng la nghi trượng gươm trần tuốt ra

Dẫn đầu cờ quạt lâu la

Nối đuôi đầu lĩnh cả bà lẫn con

Kiệu vàng trét phấn tô son

Vàng mân bạc thỏi rước nàng dìa dinh

Ngày đêm “xập quán xiêu đình“

Ôi thôi đầu bạc đầu xanh xìu xìu

Rừng hoang khỉ cũng ngang tiều

Vượn đen lẫn trắng mĩ miều nhởn nhơ

tam quân rợp bóng dưới cờ

1 Hồi trống dục 2 bờ giáo gươm

Từ quân phát lệnh lên đường

Ngựa hồng đi trứớc ngựa vàng theo sau

Thế là lẫm liệt mày râu

Thế là le lói công hầu tán xanh

Trên trời vân cẩu bu quanh

Dưới đây toàn bụi tơ hồng đầu xuân

Anh hùng tao ngộ mỹ nhân

Ôi thôi mão chụp thay quần chả sao

Bên trên bắc đẩu nam tào

Bên dứơi Từ Hải Hoàng Sào 1 đôi

Gươm đàn lúc bắn lúc chơi

Thế gian lúc khóc lúc cừơi bên nhau

giang sơn tiếp đến giang đầu

làm thân thảo khấu dặm cầu ngổn ngang

đàn hồ dăm tiếng tình tang



Chu Vương Miện


READ MORE - HỒNG NHAN BẠC TRIỆU - Thơ Chu Vương Miện

Monday, May 31, 2021

TÌNH – Thơ Tịnh Bình

 
 
          Nhà thơ Tịnh Bình


TÌNH
 
Bận chi lời gió gieo neo
Thương nhau chín núi mười đèo cũng qua
Sầu chi vời vợi trăng xa
Còn trong nhung nhớ riêng ta với mình...
 
                                         TỊNH BÌNH
                                           (Tây Ninh)

READ MORE - TÌNH – Thơ Tịnh Bình

Sunday, May 30, 2021

CHÙM THƠ “ĐOẢN KHÚC...” CỦA LÊ VĂN TRUNG


 


ĐOẢN KHÚC
 
Xin trải hết lòng thơm lên cỏ biếc
Cho em về ngà ngọc gót chân vui
Xin chảy với dòng suối nguồn tinh tuyết
Em về đây xỏa tóc gội mây trời.
 
Tình ươm màu nắng lụa
Thuở trăng vừa mười lăm
Tình thơm lừng mật sữa
Từ độ trăng nguyên rằm.
 
Em từ buổi trăng chưa rằm bóng nguyệt
Tóc trầm hương chải mộng suối trăng hồng
Ta từ buổi hồn thanh niên tuyệt bích
Bỗng sững sờ một đóa dạ quỳnh hương.
 
Tôi đang mơ giấc luân hồi
Mai kia gối mộng tay người trăm năm.
                            
 
ĐOẢN KHÚC ĐÊM
 
1*
Đêm sâu quá!
Hay lòng tôi?
Đêm quạnh vắng!
Hay tình người hoang vu?
Tiếng chim buồn vọng xa mù
Nghe như tiếng rụng màu thu úa vàng
 
2*
Bóng người!
Hay sương vừa tan?
Áo hoa!
Hay cánh quỳnh lan bay vờn
Lòng tôi?
Hay đêm vô cùng!
Giấc mơ còn giọt lệ nồng môi ai.
                  
 
ĐOẢN KHÚC XUÂN
 
1.
Muôn ngàn hạt nắng lung linh
Nở vàng như vạn nụ tình đang hương
Nhớ bàn tay hái hoa xuân
Chạm vào thơ nhuộm thắm hồn thi ca.
 
2.
Gió hoàng mai trải vàng ươm
Trên tà áo mỏng tình xuân lụa là
Người về từ mộng - mai - hoa
Tay cầm lệ ngọc mở tòa thiên hương.
 
3.
Người về ôm nắng vào xuân
Tay mai hoa nở nụ vàng tỏa hương
Người về nhẹ gót tình nương
Hồn như sương lụa chập chờn áo mây
Người về môi thắm men say
Ngậm lời thơ đã ướp đầy rượu thơm
Tình vừa chín ngực thanh tân
Người về rót cả mùa xuân vào hồn.
 
                                Lê Văn Trung
 
READ MORE - CHÙM THƠ “ĐOẢN KHÚC...” CỦA LÊ VĂN TRUNG

Saturday, May 29, 2021

MÙA HÈ TUỔI THƠ – Nhật Quang


 


MÙA HÈ TUỔI THƠ
 
Hè về hí hửng tuổi thơ
Năm… mười, trốn chạy bên bờ ao quê
Lưng chiều túm tít triền đê
Lăng xăng bịt mắt bắt dê trốn tìm
 
Hè về bắt bướm, đuổi chim
Thập thò bờ sậy rình bìm bịp kêu
Lưng trần, tóc úa nắng chiều
Đua nhau chạy níu cánh diều bay cao
 
Hè về rón rén bờ rào
Chuồn chuồn vụt cánh bay vào dậu thưa
Trèo cây bẻ ổi, hái dưa
Hồn nhiên một thuở tắm mưa cởi truồng
 
Hè về nghe khúc ve buồn
Tuổi thơ trong trắng, tâm hồn tươi vui
Khép trang sách vở, trao dồi…
Đón năm học mới ươm ngời tương lai
 
Tuổi thơ thế hệ ngày mai…
 
                                          Nhật Quang
READ MORE - MÙA HÈ TUỔI THƠ – Nhật Quang

MÙA TRÁI DẦU RƠI - Tùy bút Lê Hứa Huyển Trân

Nhà văn Lê Hứa Huyền Trân

 


MÙA TRÁI DẦU RƠI

Tùy bút

LÊ HỨA HUYỀN TRÂN


Những ngày chớm hè tôi dạo bước trên con đường rợp nắng mà bỗng thấy lòng mát rượi ngẩn ngơ. Con đường mà tôi đã đi qua quen thuộc rất nhiều lần ở những khoảng thời gian khác nhau luôn khoác lên mình một màu rất khác. Cảm giác của thứ vốn đã quen bỗng chốc hóa thành lạ mang đầy mùi khám phá khiến tôi yêu con đường này mỗi lúc một nhiều hơn. Khi nắng bắt đầu chảy tràn trên vai tôi và cái rát thuở ban đầu của nàng hè bắt đầu tinh nghịch trên mái đầu thì cánh “chong chóng trái dầu” đầu tiên bắt đầu rơi xuống. Và cơn gió nhẹ thổi qua, những cánh hoa dầu bắt đầu buông cành rợp kín mặt đường. Tôi chợt hiểu mùa rơi của những trái dầu đã về.

Ngày trước cứ giữa hè là đến mùa trái dầu bay nhưng nay thì đã bắt đầu sớm hơn khi vừa chớm hè đã thấy chúng chuyển màu từ những lá non ửng đỏ sang độ vàng và nâu và bắt đầu thả mình theo gió. Ngày còn bé, lũ trẻ chúng tôi gọi chúng là hoa bông vụ, vì chúng tựa hao hao với trái dầu có hai cánh lá cứ như bông vụ xoay tròn, một tạo hình đầy ngộ nghĩnh. Khi còn đi học, trông chúng như những cái cầu mà chúng tôi đá trong giờ thể dục nên chúng tôi hay nhặt và vờ đá, nhưng chúng không đủ sức nặng để bay cố định, chỉ là lấy chơi vài lần rồi buông bỏ. Lũ trẻ chúng tôi cứ hay lấy chúng bỏ vào tay, kẹp rồi xoay một lực thật mạnh rồi buông rơi chúng, khi ấy những cánh dầu sẽ xoay tít tròn trong không trung nom đẹp mắt vô cùng. Có những lúc lũ trẻ con chơi trò cô dâu- chú rể, những “phù dâu” bé xíu trèo lên cây thả những cánh dầu xuống “lễ đường”, chúng xoay tít tạo ra khung cảnh nhìn vừa ảo vừa thực. Vì chúng không thả mình tự nhiên như những cánh hoa rơi mà xoay tròn nên khung cảnh động có phần kì ảo hơn.

Hoa dầu đi theo tôi cùng năm tháng, lại đổi tên trong mỗi mắt nhìn. Khi tôi bắt đầu yêu, cách nhìn của tôi về những trái dầu rơi có phần lãng mạn hơn, tôi bắt đầu gọi chúng là “hoa gió” hay “hoa chong chóng”. Con đường mà tôi và em đã đi qua, hai bên là những cây dầu cao to với những tán lá cao vút tỏa mát cả một quãng đường dài. Mỗi khi có một cơn gió nhẹ thổi qua những trái dầu bắt đầu rơi xuống theo đợt kín cả một góc trời, nắng khi ấy bỗng trở nên dịu dàng hơn trong mắt của những người đang yêu. Vỉa hè và cả lòng đường khi ấy như bị nhuộm vàng bởi những trái dầu rơi. Thanh âm đẹp nhất của tôi khi ấy là cảnh em nhặt cả một vòng tay những trái dầu rơi rồi tung xòe trong nắng. Hoa dầu đẹp trong gió, còn em đẹp trong tôi.

“Cánh hoa dầu xoay tít bay bay/ Nhớ ngày xưa bên nhau từng ngày”… tôi nghe lời bài hát của nhạc sĩ Giap Văn Thạch đâu đây khi quay về con đường xưa cũ mà thiếu đi một bóng hình. Cũng chỉ có những cánh dầu rơi đầy trên vai áo tôi như an ủi, như để mong chờ một khởi đầu mới. Tôi vẫn hay nhìn chúng rụng và cho rằng đó là đẹp nhưng với chúng, đó là đã kết thúc một chuỗi đời. Cũng là khúc ly tan. Chúng gieo mình để nảy lên một điệu nhạc buồn cũng là một kết thúc đẹp nhất. Đột nhiên một tia nắng vàng vọt rơi xuống tay tôi, bất giác ngẩn ngơ không nhận ra tay đã nắm chặt một trái dầu tự lúc nào, qua những kí ức vẫn đang rơi kia, tôi thấy không chỉ những trái dầu rơi, mà cả tôi, như được chúng ủi an, cũng bắt đầu chờ đợi một khởi đầu.


Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định


READ MORE - MÙA TRÁI DẦU RƠI - Tùy bút Lê Hứa Huyển Trân

DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI, ĐOẢN KHÚC 26 - 30 (TRONG 100 ĐOẢN KHÚC) – Thơ Khaly Chàm

 
 
                      Nhà thơ Khaly Chàm

 
trích đoản khúc: dọc đường gió bụi
 
26.
trợn trừng nhẵn ngón yêu ma
cầm tay phiên bản tụng ca ái tình
điên mê gõ nhịp rập rình
mùi thân phận dại ru hình chưa em?
 
27.
úp ly nhốt mặt trời đêm
vòng tay khát lửa nhũn mềm hân hoan
bao năm nhảy múa nhập tràng
câu thề ta… đẫm máu tràn ngực khuya
 
28.
xòe tay nghiệm nắng phân chia
khói hồn vờn bóng xác lìa thức tâm
hé môi hút mộng thú cầm
thổi vồng ngũ sắc lạnh căm mặt người
 
29.
trôi vào nguyệt tận ba mươi
chìm trong mắt gió ma cười nhạo ta
lời em bao giọt thánh ca
màu sa thạch rụng vỡ ra biển tình
 
30.
nghe lau lách gọi tên mình
dư vang hóa bướm bình minh chập chờn
gầm gào chi nữa căm hờn
hai chân mắc bẫy chết đơn độc rồi
 
khaly chàm

READ MORE - DỌC ĐƯỜNG GIÓ BỤI, ĐOẢN KHÚC 26 - 30 (TRONG 100 ĐOẢN KHÚC) – Thơ Khaly Chàm

KHÓC... - Thơ Trần Mai Ngân

 



KHÓC...


Em ngã vào hoàng hôn 
Liêu xiêu, liêu xiêu gọi anh
Chỉ có nắng quái chiều nay rọi vào đôi mắt - giọt nước đầy rơi...rơi....
Em tự mình lau khô
Đưa bàn tay vuốt ve lan can chiếc cầu đã tróc hết nước sơn...
Chỗ đứng cũ...
Liêu xiêu, liêu xiêu...
Em ngã vào lòng hoàng hôn - khóc! 

Trần Mai Ngân
READ MORE - KHÓC... - Thơ Trần Mai Ngân

RĂNG CHƯA VỀ QUẢNG TRỊ - Thơ: Andy Nguyễn - Nhạc: Trần Kiềm - Giọng ca: Bảo Yến - Video: Đinh Thanh Hải

READ MORE - RĂNG CHƯA VỀ QUẢNG TRỊ - Thơ: Andy Nguyễn - Nhạc: Trần Kiềm - Giọng ca: Bảo Yến - Video: Đinh Thanh Hải

HOA DAYLYLY - Chu Vương Miện

 






READ MORE - HOA DAYLYLY - Chu Vương Miện

NGƯỜI SÁT ÂM LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO - Đặng Xuân Xuyến


 

*

Theo tín ngưỡng dân gian thì người Sát Âm là người có thể nhìn thấy người âm, thậm chí nghe được người âm nói chuyện nhưng không giao tiếp (trò chuyện) được với người âm. Điểm đặc biệt ở người Sát Âm là dễ bị các âm linh mượn xác để nhập vong. Còn những người hoặc "có cốt tiên" (là những “tiên cô tiên cậu”, những "nguyên thần"... ở cõi Trời vì lý do nào đó mà đầu thai chuyển kiếp xuống cõi Trần), hoặc là "người của Tứ Phủ", có số "Mở Phủ Trình đồng" thì có thể giao tiếp với người âm, thậm chí còn tương tác tình cảm (ái, ố, hỉ, nộ) với người âm như hai người ở cùng một cõi.

Ngoại trừ những người có khả năng giao tiếp ngôn ngữ nói với người âm - là nhóm người rất ít trong xã hội, có thể chuyện trò, tương tác với người âm như 2 người đang sống mà không lo sợ sẽ bị người âm "bắt hồn" về cõi Âm ti - Địa phủ, ví như giấc mơ trong câu chuyện sau:

"Hoảng hốt thấy tủ sách cạnh cầu thang không còn. Nhìn vào thì phòng trống trơn. Định lên tầng thì một nhóc trai trong xó nhà vọt chạy. Đuổi theo nhưng không kịp, quay về lại thấy bố con anh Quý cùng 1 thanh niên đang dọn phòng.

Định đi ngủ thì 5 thanh niên vào chào tạm biệt.

Hỏi: - Các cậu là ai?

Áo đen trả lời: - Quấy quả anh đủ rồi.

Áo vàng cười nhạt: - Anh tò mò thế.

Giật mình hỏi: - Là mấy vong vẫn trêu tôi?

Áo trắng toét miệng: - Biết làm gì?

Sợ quá, tỉnh giấc. Ngó đồng hồ: 3 giờ 45.

Người mệt nên mơ vậy?

Ghi lại để kiểm chứng."

- thì những người khác (số đông trong xã hội) như: người Sát Âm, người không thuộc người Sát Âm, cũng không thuộc người "cốt tiên", không thuộc "người Tứ phủ" sẽ không thể trò chuyện với người âm. Trong giấc mơ gặp người âm, những người thuộc nhóm này không chuyện trò, tương tác được với người âm mà chỉ có thể hoặc người âm nói còn người dương nghe, hoặc người dương nói còn người âm nghe, hoặc có những tương tác về hành động nhưng tuyệt không có trao đổi về ngôn ngữ nói giữa 2 người, ví như giấc mơ trong câu chuyện dưới đây:

"Đêm qua, khi lơ mơ ngủ thấy lởn vởn bóng người ngồi xuống giường, cười lẳng lơ, tình tứ lắm. Tự dưng lại có ý thích kỳ quặc: muốn hôn người âm xem cảm giác thế nào, liền nháy mắt, mời gọi. Khuôn mặt xinh xinh cúi xuống, phả làn hơi lạnh ẩm ướt vào mặt, liền giật mình hoảng hốt: nếu bị hút hết dương khí thì sao? liền đẩy khuôn mặt đó ra nhưng không được. Bực, chửi: - "Mẹ mày! Muốn đọa xuống chín tầng địa ngục à!". Khuôn mặt đó liền nhòa đi rồi biến mất.

Tỉnh giấc, không biết là mơ hay đã gặp người âm thật.

Từ sáng đến giờ, thi thoảng nghĩ đến giấc mơ vẫn thấy lạnh người."

nên nếu ai đó trong nhóm người này "đột nhiên" có cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ nói với người âm thì người đó đã "bị âm linh bắt hồn", sự sống chỉ còn được tính theo ngày, theo tháng.

Cũng lưu ý rằng, môn Tử Vi Trung Quốc có sao Âm Sát, là sao của linh giới thuộc nguyệt hệ, chỉ đóng ở các cung: Dần, Tí, Tuất, Thân, Ngọ, Thìn, được an theo tháng, thứ tự an như sau: 1 (7): Dần, 2 (8): Tí, 3 (9): Tuất, 4 (10): Thân, 5 (11): Ngọ, 6 (12): Thìn. Sao Âm Sát không thuận cho cuộc sống của người phàm tục nên Âm Sát đóng ở đâu sẽ đem đến những cản trở, những phiền toái, thậm chí là bất hạnh cho nơi Âm Sát cư trú. Ví dụ: Âm Sát đóng tại Điền Trạch thì nhà cửa thường có ma quỷ. Âm Sát đóng tại Quan Lộc thì hay dính vào mê muội mà phá nát sự nghiệp, gia đình. Âm Sát đóng tại Phu Thê thì hôn nhân dễ gặp cảnh âm dương cách biệt. Âm Sát đóng tại Thiên Di thì thường là người cô độc, ngại giao tiếp, mê muội với những chuyện hư ảo...

Tử Vi Việt Nam không có sao Âm Sát nhưng trong tín ngưỡng của người Việt thì có người Sát Âm, đó là những người thường không may mắn trong cuộc sống, hay gặp những chuyện nằm ngoài khả năng chế ngự của con người.

Người Sát Âm có thể là người “yếu bóng vía” nhưng không hẳn tất cả những người Sát Âm đều là người “yếu bóng vía”.

*.

Hà Nội, ngày 26 tháng 05-2021

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

READ MORE - NGƯỜI SÁT ÂM LÀ NGƯỜI NHƯ THẾ NÀO - Đặng Xuân Xuyến