
Nhà thơ Lê Phước Sinh
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.

HẠNH PHÚC VỀ VỚI TẾT
Truyện ngắn
LÊ HỨA HUYỀN TRÂN
Cô khuấy nhẹ cốc café đang đặt trên bàn một cách hờ hững để đá không làm loãng chút café còn sót lại trong ly. Nâng nhẹ nó nhấm nháp một chút cô chợt nhận ra cái hương vị café thơm lừng ban đầu để lâu cũng chẳng còn chút dư vị nào nữa. Thứ gì cũng vậy, ngay từ phút ban đầu không chịu tận hưởng thì sẽ mau chóng mất đi hương vị, kể cả tình yêu. Chiếc điện thoại khẽ rung những tin nhắn liên hồi của cùng một người, đã định không mở ra xem nhưng rồi không trốn tránh được. “ Thế rồi cậu có về không?”. “… Có”. Cô buông thõng chiếc điện thoại một cách thô bạo tưởng chừng như muốn vứt nó sang một bên. Ngoài kia, hoa bắt đầu giương những nụ báo hiệu những ngày tết đã gần kề, xuân đã về trên con phố nhỏ.
Vừa bước vào nhà cô đã nghe tiếng xe máy đỗ xịch trước cổng, tiếng người đàn ông hớt hải bước vào nhà, một tay thu dọn mớ đồ cô quăng tung tóe trên giường nhét vội vào vali vừa không ngớt miệng:
-Chứ đã bảo qua liền để chở đi mà, coi chứ không kịp xe về quê.- rồi anh lấy ra một chậu mai nhỏ khoe với cô- Nãy đi ngang khu chợ cảnh, thấy này, đem về quê luôn, bác gái vui phải biết.
Hai người mau chóng lên xe về quê để kịp chuyến cuối, xe đông hơn mọi khi, những ngày cuối
Năm ai cũng kéo lũ lượt về quê. Anh khẽ nhích tấm thân to kềnh càng ngồi nghiêng hẳn qua một bên để co được ngồi thoải mái hơn. Những hành động tưởng chừng nhỏ nhoi nếu thuộc về một đôi lứa yêu nhau hẳn sẽ cảm động lắm, có ai nghĩ được chỉ dăm bữa nữa người ngồi bên cạnh cô sẽ là một chú rể, một đám cưới ngay trước tết sẽ diễn ram au chóng. Vậy là sẽ không còn ai gọi cô dậy, chở cô đi làm, và cái tính hơi ỷ lại của cô, tất cả sẽ không còn anh. Từ nhỏ đã là bạn nối khố, lớn lên khi cô quyết tâm lên Sài Gòn lập nghiệp anh cũng đòi đi theo để lo chu toàn. Cha cô mất sớm, nhà anh và cô sát bên nhau nên anh gần như thay người đàn ông trong gia đình chăm sóc cho cô từng tí. Đôi khi cô không hiểu hai người có yêu nhau không chỉ là một người không thể nào thay thế được trong cuộc đời cô.
Xuống xe anh xách hết đồ của cả hai về nhà cô, mẹ cô đang quét khoảnh sân nhỏ vừa thấy hai người bước vào lục tục chạy ra:
-Chứ sao mày còn ở đây, thằng nhỏ. Má mày sáng giờ lục tục cho cái đám cưới mà cái thằng bình chân như vại.
Anh cười xòa một cách ngốc nghếch rồi chạy vội về. Cô lại xếp mớ bánh trái lên bàn thờ cúng ba và xoay vội chậu tắc nhỏ anh mua để góc bàn tiếp khách. Mẹ cô gói nốt mớ bánh chưng còn lại, mắt không nhìn cô tặc lưỡi:
-Năm nay không có thằng Đới canh chung nồi bánh chưng. Mày coi mà lấy chồng đi chớ cũng tuổi băm rồi đấy.
Mọi năm về quê lần nào mẹ cô cũng nhắc cái vụ lấy chồng, đến độ cô nghĩ dường như cứ nhà nào mà có con gái lớn trong nhà thì tết tươi về thể nào cũng có câu hỏi “ khi nào lấy chồng” vậy. Khi ấy lúc nào cũng có anh, và thể nào anh cũng nhanh nhảu :” Bác đừng lo, có con mà bác”. Và lúc nào anh cũng bị cô đánh đét, có điều cô không chối từ, cô nghiêm túc với công việc hơn là kiếm cho mình một nửa, cũng có thể cô ỷ lại là còn có anh bên cạnh.
-Chào bác, chào chị, nhà mình đang gói bánh chưng ạ?
Tiếng người con gái lảnh lót nom lễ phép bước vào khoảng sân nhỏ, thấy anh đi phía sau cô đã biết đó là ai. Rất mau chóng người con gái ấy làm thân với mẹ cô và phụ gói bánh, anh khẽ nháy mắt:
-Người tớ chọn, cậu chấm nhá, cho lời khuyên.
Cô xua tay dạng không thèm để tâm, cô biết anh tôn trọng cô nên xem cô như một người để dẫn về ra mắt và cũng biết anh đủ chin chắn để lựa chọn và yêu thương lấy một người sẽ gắn bó cả đời với mình. Vài giọt mưa xuân đột nhiên rơi nhẹ bẫng, không đủ làm con người ta ướt áo mà lại khiến họ thích thú thêm.
-Ngày còn nhỏ mưa xuân thế này thì thú phải biết. Nắng lên ngay.
Anh vừa kịp nói suy nghĩ vụt hiện trong đầu cô. Qúa hiểu nhau rồi. Nắng vàng vọt vươn lên ngay tức khắc, nắng sau mưa bao giờ cũng đẹp huy hoàng. Ngoài ngõ, tiếng trẻ nô đùa khoe áo mới nhộn nhịp, các cô trong xóm chộn rộn hỏi han nhau đã m ua những gì và sắm hoa này chậu kia ở đâu đẹp. Các bà đi chợ về tay đầy nhóc đồ ăn cứ như ăn cho cả tuần và bao miệng người vốn ngày thường đột nhiên trở nên ăn rất nhiều.
Một cô gái rất lịch sự và nhỏ nhẹ, không khiến người ta ghét được, cảm thấy có thể là một người bạn tốt. .. Khi hai người về cô đã suy nghĩ rát lung, có cảm giác như một thứ vừa mất đi nhưng một thứ khác lại vừa đến. Thực sự nếu bây giờ anh hỏi cưới cô, chỉ là nếu thôi, có lẽ cô vẫn chối từ vì sự thật cô chưa sẵn sang cho việc đó, cô vẫn muốn tập trung cho sự nghiệp hơn hẳn. Nhưng con người ta vốn rất tham lam, có những người không muốn mất những thứ ở cạnh mình, vì người ta sợ mất đi những điều thân quen vốn đang hiện hữu bên cạnh, nhất là khi những thứ ấy quá hoàn hảo đi. Cô đã muốn chối bỏ việc về quê vì cô muốn trốn cái đám cưới của anh nhưng khi nhìn nụ cười hạnh phúc và những gì anh lo lắng cho cô, cô hiểu đã đến lúc cô nên giải thoát cho anh và cả cô. Sẽ chưa quen được ngay nhưng cô phải tập, vì đó là sự lựa chọn của cả anh và cô. Chậu tắc nhỏ trên bàn nổ bông trắng xóa, vài quả hãy còn xanh, vài quả đã sang cam, chắc độ tết sẽ vừa chin rộ. Tết đã về rồi, những ngày hạnh phúc cũng tràn về cùng với Tết.
Tác giả: Lê Hứa Huyền
Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định
VỀ NINH THUẬN
Sao chiều nay Quảng Thuận lại chan mưa
Vẫn đang thu... mặt trời chưa tắt lửa
Mây từ đâu... vũ vần nơi Núi Chúa
Sóng rì rào trỗi nhịp biển Ninh Sơn
Anh tìm về Ninh Thuận hẹn cùng em
Viếng Po Klong Garai... đền đài huyền thoại
Hồn Champa phế hưng bao triều đại
Còn nơi nào lưu dấu bóng Huyền Trân
Đồi Nam Cương đâu vó ngựa dừng chân
Trên chiến mã... Chế Bồng Nga oanh liệt
Cổ tháp Chàm Chế Đế lưu huyền tích
Vương quốc Chăm... hiu hắt bóng hoàng hôn
Vũ điệu Apsara quyến rũ mê hồn
Mùa Ka-Tê lễ hội còn tươi rói
Ché vang nho ngát hương vườn Ba Mọi
Rạo rực lòng... tiếng gọi thác Cha-Pơ
Hẹn em về Ninh Chữ biển bài thơ
Nghe khơi xa... thuyền gọi bờ Cà Ná
Vĩnh Hy ơi! Đêm trăng ngời lộng gió
Bên em nghe sóng vỗ rạn san hô
Về Quảng Sơn... còn đó tiếng tê-mô
Ôi thân thương... răng lòng đau nhức nhói
Bởi chiến tranh... nổi lòng người quan tái
Dặm san hà... ôm hận phải tha phương..!
Giọt cafe tí tách... đêm Ninh Sơn
Nhìn lên Krông-Pha ngắm đèo Ngoạn Mục
Niềm vui chan... lệ lòng ôi... đau thắt
Em dấu gì trong ánh mắt nụ môi..?!
Tạm biệt rồi... vội lắm Quảng Sơn ơi !
Chiếc Fortuner đưa ta về Cam Phước
Ôi cuộc đời... biết đâu là mất được
Đang chờ ta... nơi phía cuối con đường...?!?!?!...
HỒ VIẾT THẮNG
15/09/2018
Thương tặng các anh chị: chị Hải Yến, a.Tùng, a.Tình, anh chị
Lan Cường, anh chị Lệ Tuấn... và các bạn tôi ở Quảng Sơn, Ninh Sơn, Ninh Thuận...
Chân thành cảm ơn t/c & tấm lòng các anh chị đã ưu ái... trong
những ngày viếng thăm nơi đó...
HVT rất trân trọng...!!! Xin nhắn về Cam Phước hãy đợi Thơ...
CÁNH DIỀU ĐỒNG DAO
Trong dòng lục bát quê hương Bến Tre hiện nay, bỗng nhiên xuất hiện một tác giả tỏa chất thơ gắn liền cùng cục đất giàu nghĩa tình xứ Nam bộ. Lục bát có tiếng dễ làm và vì quá dễ nên rất… khó hay!
Chưa có tài liệu chính xác về khoảng thời gian lục bát ra đời, các nhà nghiên cứu cứ lấy truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du làm đỉnh cao lục bát nhưng quên mất Nguyễn Du không biết quốc ngữ và bản Kiều hiện nay được biết đến, rơi mất công sức bởi người chuyển quốc ngữ lẫn thành công từ bao thế hệ uốn nắn, hoàn thiện rồi vinh danh trong văn học đương đại!...
Lục bát xem ra rất có duyên với tác giả Ca Trúc, bởi lẽ anh được sinh ra tại nơi bát ngát dừa xanh và đồng nội lại cò bay thẳng cánh. Từ cục đất hiền hòa đã sinh ra người con đam mê gắn mình cùng quê hương và đem Hương Quê ấy kết tinh trong vần lục bát mang đậm chất đồng dao. Thơ Ca Trúc ngọt ngào như cô thôn nữ e ấp tuổi dậy thì. Hương cứ tỏa. Dáng điệu đà. Cứ thế chinh phục những tâm hồn thích không gian từ đồng nội nhưng ngày ngày khung cảnh đang vắng đi…
Có một chút xốn lòng khi đến với dòng thơ tác giả này! Có thể đâu đó trong mưu sinh, loài người đã rời xa vùng đất mẹ từng nâng đỡ những đứa con nay đang lạc bước vào chốn phồn hoa… Hương vị được cảm nhận theo nhiều cách khác nhau, nhưng đâu là… sự thật!?
Đi tìm và khôi phục quá khứ e rằng chỉ còn lại những tác giả dám đeo bám, gìn giữ cái nôi con nhỏ. Dựng xương. Đắp thịt. Thổi hồn. Cho điệu lục bát say chiều, say đò, say luôn con nước lớn ròng với bao hò hẹn. Người thưởng thức lục bát của Ca Trúc có dịp hồi tưởng lại ký ức ngày tết, cưới hỏi, phong tục tập quán vùng miền v.v… với cơ may trở thành huyền thoại xa vắng ở tương lai…
Cấu trúc ngôn ngữ lẫn cách buông vần trong dòng lục bát Ca Trúc đang sở hữu đẹp một cách tự nhiên. Tuy cách thể hiện mộc mạc, đơn giản nhưng đậm chất tình Nam bộ với hơi hướm đồng dao. Những ngôn ngữ trực cảm luôn có nét sáng, tiếp cận nhanh cùng người thưởng thức thay cho các từ quá nhiều nghĩa bóng, đầy “rình rập”. Tính cách Ca Trúc mở ra sự hồn nhiên giúp người tiếp cận “cảm nhanh” rồi “xúc động” theo câu từ. Tất cả đã tạo ra một tác giả bình dị với cõi riêng mênh mông chân quê, chất phác…
Xa hoa cùng giản dị, vẫn luôn có cái đẹp riêng! Nếu nói “giản dị” không có điểm hút thì loài người thời nguyên thủy không còn lưu dấu văn hóa phi vật thể và đồng nội đã cháy trụi mảnh đất tổ tiên, nhường bước cho những đô thị choáng lộn đầy ắp ánh đèn… Ánh sáng ngọn nến, đèn “trứng vịt”, heo hút trong vùng sâu vẫn là nơi con cháu tìm về những ngày cuối năm. Đón chút Xuân xưa. Tìm cái mang đi trong mùa “giáp hạt”! Những điều này vẫn âm thầm bươn chải, tồn sống cùng thời gian đợi chờ tín hiệu báo xuân. Ca Trúc như con én nhỏ, liệng cánh trong trời lộng gió, đem câu lục bát gìn giữ bản sắc vùng miền. Dòng thơ của anh đang chảy cùng năm tháng với nhiều cảm xúc, chinh phục người đọc quay về vùng không gian bát ngát in bóng quê hương…
“Thèm ngồi
câu cá bờ ao
Dừa in đáy nước
xạc xào bóng nghiêng
Dường như
trút bỏ ưu phiền
Hòa mình quyện với
thiên nhiên miệt vườn
Dẫu rằng
một nắng hai sương
Đơn sơ vách lá
gạo lường, canh rau
Tình quê
sao thấy ngọt ngào
Theo ta vào giấc
chiêm bao bao lần.
(Nặng Tình Hai Chữ Quê Hương)
CT
Tâm sự từ tác giả Ca Trúc chắc còn không ít! Nhưng ngoài kia nắng chiều đã lệch, những cánh diều no gió đang chao liệng trong tiếng rì rào lẫn lộn điệu đồng dao…
VL – 28.9.2020
MacDung
<macdungvh@gmail.com>
Tôi có thói quen từ thuở nhỏ là phải tìm cách tập thể
dục hằng ngày để có sức khỏe. Lúc ấy còn ở Huế, tuổi tiểu học, tôi thích chạy bộ.
Lên trung học, tôi thích nhiều bộ môn hơn, nào bơi lội trên sông Hương, bơi từ
bến nhà tôi qua bên Cồn hái trộm vài quả bắp, vài trái ớt (gởi lời xin lỗi những
vườn cây năm xưa đã từng bị tôi và các bạn hái trộm) rồi bơi về cười đùa ầm ĩ
trên sông rất khoái chí. Mặc dù tôi không giỏi bơi lội, phải bơi bằng phao ruột
xe hơi cho an toàn. Có khi là chèo thuyền lên tới chùa Thiên Mụ rồi chèo về, mỗi
thuyền hai đứa, một đứa chèo đi, một đứa chèo về. Nếu bữa nào có tiền thì ghé
khu vườn cạnh chùa Thiên Mụ ăn bánh bèo rồi mới chèo về.
Lúc đã là sinh viên, có học bổng, có tiền đóng niên
phí để chèo thuyền ở Câu lạc bộ Thể thao thường xuyên hơn. Sáng chủ nhật một tốp
bạn cùng nhau đua xe đạp ở sân vận động lòng chảo, (ở Huế có sân vận động có
lòng chảo) hoặc leo dây. Có khi là đua xe đạp ra tận Quảng Trị cách xa Huế chừng
50km, vào chợ Quảng Trị ăn bánh bèo, chè bắp rồi về, bạn nào đạp xe chậm nhất
phải bỏ tiền ra đãi.
Cũng có khi là leo núi, lên tận đỉnh Ngự Bình, ngồi ca
hát nghêu ngao một chặp rồi về, có lẽ nhờ những cuộc thể dục thể thao đơn giản ấy
mà đứa nào cũng khỏe khoắn vui tươi, học hành dễ dàng hơn.
Lúc ra trường, đi dạy ở một thành phố biển miền Trung
(Tuy Hòa) bãi biển này sóng dữ nên tôi không dám bơi, chỉ tập thể dục trên bãi
cát hoặc “nhúng nước” gần bờ thôi.
Sau đó tôi về Sài Gòn cho mãi đến giờ, tôi vẫn tìm cách giữ thói quen thể dục
như xưa, dù đã thay đổi qua nhiều địa chỉ.
Khi tuổi đã cao, tôi vẫn cố gắng giữ thói quen ấy, vì
biết rằng thể dục giúp người già chống lại bệnh tật. Nhà ở xa công viên, lại
không chạy xe được, tôi rút gọn lại làm bài tập thể dục buổi sáng gồm 6 động
tác: thở, vận động tay chân, lưng, gối để chống lại những bệnh thông thường. Biết
rằng tập thể dục và đi bộ là rất ích lợi cho người cao tuổi, song tuổi già lại thường
mắc cái bệnh bất trị là lười, chán và dễ mệt mỏi, có khi bỏ giữa chừng bài tập.
Bỗng một hôm tôi khám phá ra một buổi tập rất thú vị.
Số là tôi thường tập trước ngõ nhà tôi trong hẻm. Đang tập thì một bầy chim sẻ
từ đâu sà xuống gần đấy lượm nhặt những thức ăn chút đỉnh còn rơi rớt. Tôi chợt
nghĩ sao ta không cho bầy chim bé nhỏ này một nắm gạo, chắc là chúng sẽ thích lắm.
Tôi dừng tập chạy vào nhà vốc một nắm gạo ra vãi cho chim ăn. Ban đầu, lũ chim
sợ bỏ bay lên mái nhà cả, đậu trên mái nhà, trên đường dây điện, nhưng chúng vẫn
ngó nghiêng xuống nơi vãi gạo một cách thèm thuồng và cảnh giác, sau đó chúng lần
xuống ăn, thấy an toàn, cả bầy gọi nhau ríu rít sà xuống mổ lia lịa trông thật
vui mắt và rất dễ thương.
Buổi tập hôm đó nhờ nhìn ngắm bầy chim xuống ăn gạo
tôi thấy rất vui và không hề thấy mệt, thấy chán. Vậy là từ đó, sáng nào trước
khi ra ngõ tập thể dục, tôi cũng vốc một nắm gạo vãi ra xa xa cho bầy chim “ăn điểm tâm miễn phí”, còn tôi thì hưởng
cái thú vừa tập vừa ngắm bầy chim vô tư, ríu rít, lách chách gọi nhau vừa vui
tai, vui mắt và bài tập thể dục qua mau mà không mệt nhọc chút nào, tập xong thấy
khỏe và rất sảng khoái, niềm vui có thể kéo dài cả ngày.
Nhưng không phải là không có trở ngại khi tôi vãi gạo
cho chim ăn. Một nhà hàng xóm không bằng lòng vì “cho chim ăn rồi chim ị trước cửa nhà tôi”. Tôi đổi chiến lược, vãi
gạo về phía khác, lại một nhà hàng xóm có ý kiến “vãi gạo rồi xe cộ dắt trong nhà ra dẫm lên gạo” (mặc dù chim chỉ
đua nhau ăn một chốc là hết sạch không còn hột gạo nào). Thế là tôi lại phải
tìm cách khác vãi ra chỗ sát mé tường không ai có ý kiến ý cò gì, và phải xa xa
chỗ tôi tập thể dục khoảng 5m thì lũ chim mới thấy an toàn sà xuống ăn mà không
sợ. Tôi rất vui mỗi buổi sáng vừa tập thể dục vừa ngắm bày chim ríu rít, vô tư
mổ từng hạt gạo. Thật vui và rất thư giãn.
Thỉnh thoảng cũng có buổi sáng trời mưa to, bầy chim
trốn trong mái nhà, còn tôi phải tập trong nhà, những buổi ấy tôi thấy nhơ nhớ
lũ chim thế nào ấy. Chờ tạnh mưa là tôi lại vãi cho chúng một nắm gạo. Ôi, có
gì to tát đâu, chỉ một vốc gạo nhỏ, chỉ một bầy chim nhỏ thôi mà chúng đã cho
tôi một niềm vui tràn ngập tâm hồn. Tôi thầm cám ơn bầy chim sẻ.
Chỉ có một điều… đôi khi làm tôi nghèn nghẹn, là tôi đã ở cái tuổi U80 rồi, không bao lâu nữa tôi sẽ về cõi Phật, dù biết sinh lão bệnh tử là chuyện thường tình. Nhưng tôi sẽ bỏ lại bầy chim, không biết đến lúc đó xóm tôi còn ai thương lũ chim nhỏ bé, cho chúng những bữa “điểm tâm miễn phí” như tôi không?
Hoàng Hương Trang

Bâng Khuâng Tháng Mười
Tháng mười thu ngát lối về
Hưong mềm mại gió tóc thề nghiêng bay
Long lanh ánh mắt mơ say
Chắt chiu hẹn ước… tháng ngày yêu thương
Tháng mười dệt mộng tơ vương
Trao em một đoá diệu hương nồng nàn
Tình anh trăng sáng mơ màng
Đong đưa em giấc mộng vàng đêm thu
Tháng mười ấm áp lời ru…
Môi ngoan đắm đuối ngọt từ tiếng yêu
Tình thu ủ ấp hương chiều
Chờ đêm Nguyệt mộng bao điều thầm trao
Ươm vần thơ đắm ngọt ngào
Ru em vào giấc chiêm bao… tình nồng
Nâng niu nhẹ áng thu hồng
Bâng khuâng tay chạm… mênh mông tháng mười.
Nhật Quang
Tác giả: Nhật Quang
Đc : TP- HCM
Tel: 0975764469
CUỘC SỐNG MÀ CHỊ CHỌN
Truyện ngắn
LÊ HỨA HUYỀN TRÂN
Chị đã không nhận ra ngoài kia thu
đã sang rồi. Chị có chút ngẩn ngơ và tiếc nuối cái nắng hè oi bức mệt nhọc như
chính cuộc sống khó khăn của chị vậy. Cũng chẳng hiểu nổi con người ta nữa, những
vất vả khi qua đi đôi khi lại muốn nếm trải một lần nữa để hiểu như thế nào là
nhân sinh. Cơn gió mùa thu thổi qua mát rượi, khiến chị tưởng như mình đang thả
hồn vào đâu đó, cho đến khi có một người khách tạt ngang qua:
-Cho một đậu váng với một chuối chị ơi.
-Vâng, mùa này ăn chè chuối mát lắm,
nay mới mua được mấy quả bưởi, nấu tươi lắm, thêm bịch chè bưởi không cậu?
-Thôi ạ, chè bưởi ăn không quen.
Tay chị vẫn thoăn thoắt múc chè từ
những chiếc xoong nhỏ để đầy trên chiếc xe hàng
Con con của chị vào những chiếc ly đã bị cắt đi phần đáy. Chiếc ly nửa ấy sẽ được chèn vào miệng bì cốt để múc chè vào bì không bị đổ ra ngoài. Thói quen, con người ta xét cho cùng vẫn không bỏ đi được thói quen của mình, cũng giống như chị khi đã mặc định với cuộc sống này thường không muốn bứt phá mà chỉ muốn chấp nhận nó. Chiếc xe vừa trờ tới rồi đã lại đi, chị lại quay lại sự yên tĩnh thường nhật nơi góc đường.
Chị bán chè ở đây ngót nghét cũng cả chục năm rồi. Ban ngày chị đi làm công nhân giày, còn ban đêm thì ra góc chợ tối này cùng một cái xe chè nhỏ bán đủ loại: từ chè chuối, bắp, đậu váng, đậu đen, đậu đỏ đến cả thập cẩm…để kiếm thêm thu nhập. Ngày trước, nơi chị bán là một con chợ , dù tối nhưng vẫn tấp nập người ra vào, cả những người đi chợ muộn hoặc công nhân tan ca lai vãng thường ghé mua dăm ba bịch về ăn. Kể từ ngày đường trên mở đường, khu chợ cũng được dời sang con phố ấy, ngõ nhỏ nơi chị bán trở nên trầm mặc. Nhiều quán nhỏ cũng dọn sang khu đó bán buôn, chị vẫn bám trụ nơi này một phần vì : “thuê chỗ trên đó tiền không nổi, cô xem xe chè nhỏ thế này…”
Tôi đã ăn ở quán chè chị cũng bằng
từng ấy thời gian chị mở quán, cũng tâm sự và nghe được nhiều về chị.
-Cô là nhà văn à? Cô thích viết về
cuộc sống của những người đi ngang qua đời cô không?
Đó là cách bắt đầu của chúng tôi.
Tôi thường đến quán chị, so với sự hào nhoáng của
Những hàng quán sáng trưng với đủ
kiểm thẩm mĩ đi theo xu hướng, “quán”của chị đơn giản là một chiếc xe chè với
những chiếc ghế con con trải trên vỉa hẻ. Ngay cả bóng điện thắp sáng cũng chỉ
là một cái đèn tròn đủ lấp ló thấy mặt chủ và khách ăn chứ bóng tối cứ dường
như chực chờ bao quanh căn quán nhỏ. “Câu điện nhờ cô ạ, người ta không lấy tiền
điện nên mình cũng không dám sử dụng bóng to” (ý chị là bóng to tốn điện). Chị
sẽ múc cho tôi một ly chè bắp, thêm rất nhiều đá dăm vì tôi thích ăn lạnh, chè bắp
của chị nấu không quá ngọt, nó khá thanh, vàng đẹp, và chị sẽ tưới lên trên đó
một lớp sữa dừa ngọt lịm beo béo. Những ngày thu này, góc chị bán cũng ít dần
khách, chỉ đôi ba chiếc xe đi ngang qua, thấy quán chè nhỏ nổi cơn thèm thì lai
vãng. Còn lại hầu như cả chị và tôi đều chìm vào yên lặng, tưởng như không có cả
sự tồn tại của nhau. Như khi có một ai đó ghé vào mua thì sự vô hình mới bị phá
vỡ, mọi sự chuyển động mới trở mình bắt đầu sự sống.
-Anh đỡ bệnh chưa chị?
-Cũng – Dường như mỗi khi nhắc đến
anh là chạm vào nỗi đau của chị, chị thở dài một tiếng – Vẫn không bỏ được.
Hai người đến với nhau cũng vì những
thân phận cơ nhỡ chứ không phải bắt đầu bằng
Tình yêu, Như chị nói là khi đàn bà
đến tuổi muốn có một chỗ dựa vào nhưng rồi sống với nhau có bền lâu hay không
cũng vì cái tình cái nghĩa. Ngót nghét cũng cả chục năm trời, đứa con duy nhất
cũng đã vào lớp một. Nhưng rồi cơn dịch đến bất chợt, anh mất việc, bắt đầu sa
vào rượu chè.
-Ông chỉ nhậu nhiều chứ tuyệt nhiên
không bao giờ la mắng chị, lại rất thương con.
Có lẽ cả chị cũng không nhận ra ở một
mảng trời nào đó trong tim, khi chị tìm ra một lí
Do để thứ tha cho một lỗi lầm của
ai nghĩa là chị đã có tình cảm với người đó. Và cứ thế chị cam chịu, không
thoát khỏi, cũng chẳng khuyên anh, vì chị hiểu khi anh tìm đến với hơi men thì
anh cũng bất lực lắm rồi. Uống dữ rồi bị đau rồi phải nằm viện mất cả một thời
gian, mình chị lại gồng gánh gia đình nhỏ. Đôi khi tôi muốn khuyên chị bỏ anh
vì nhiều lẽ, đôi khi chị cũng có ý nghĩ đó nhưng mỗi khi nồi chè cạn, lăng xăng
dọn dẹp bàn ghế, nghe chị nói :” Phải mua thứ gì ngon ngon về cho ổng mới được”
với gương mặt hò reo của một đứa trẻ trong vô thức, cả chị và tôi đều dừng lại.
Lại im lặng vì có người khách tạt
qua, lại nghe chị buôn bán thoăn thoắt:
-Thêm thập cẩm không bé? Còn nóng đấy…Hai
ly đậu xanh đánh thôi à?
Tôi ngồi nhìn vài chiếc xe ngang
qua, nhìn lên chiếc bóng đèn thậm chí độ sáng còn
Không đủ làm chói mắt tôi, nhìn
bóng tối thi thoảng chực chờ bò lên từng chiếc bàn chiếc ghế nhưng nhìn thấy
bàn tay chị đập mạnh chiếc đèn, ánh sáng nhỏ hắt lên, chúng lại chạy trốn. Người
đàn bà ấy, tôi tin biết cách tìm được ánh sáng cho cuộc sống của mình.
-Má ơi, để con trông quán, má ngồi
nghỉ xíu nhan. Con trông hai tiếng rồi má cho con đi đá banh nhan.
Nhìn thằng bé trả treo với chị
trông đến dễ thương. Cái cách chị xoa đầu nó và lau vội vài giọt mồ hôi lấm tấm
khi thu về mà tiết trời vẫn còn nồng màu oi bức. Chị ngồi xuống cạnh tôi:
-Ba nó bảo nó ra đấy, còn ham chơi
lắm, nhưng thương má.
Nét thu sang vẫn còn đượm buồn
trong mắt chị, nhưng lại có ánh hồng của hạnh phúc
Đâu đây. Tôi chợt thấy mọi lời nói của mình lúc này đều là dư thừa trước hạnh phúc giản đơn của người phụ nữ ấy. Cuộc sống của chị, lựa chọn của chị, tất cả đều đã thành hình. Đôi khi, hạnh phúc không cần phải quá cầu kì, nó bắt nguồn từ những yêu thương nhỏ nhoi nhất mà ta đã dành cho nhau.
Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định
PHẬT GIÁO VỚI QUAN NIỆM PHÙ HỘ ĐỘ TRÌ
Việt Nam là một dân tộc lấy đạo hiếu làm đầu nên tín ngưỡng thờ cúng, nhất là thờ cúng gia tiên được dân gian tín trọng.
Với người Việt, cái chết chỉ chấm dứt sự tồn tại và hoạt động của thể xác con người còn linh hồn người chết sẽ luôn hiện hữu và có “mối liên hệ vô hình” với các thành viên trong gia đình, theo dõi và bảo trợ cho người thân tránh rủi ro, bất trắc, gặp được điều may mắn. Vì quan niệm như thế nên người Việt lập bàn thờ để cúng lễ tổ tiên, làm nơi trú ngụ cho linh hồn người chết, đồng thời cũng cầu mong sự phù hộ độ trì của người đã chết cho những người còn sống; coi đấy như là thước đo về đức hiếu - nghĩa của con người.
Tín ngưỡng trong văn hóa của người Việt là như vậy, còn quan điểm của Phật giáo thì sao? Phật giáo có cho rằng người đã chết sẽ phù hộ độ trì cho người còn sống gặp điều may mắn, “thoát khỏi bể khổ trần ai” như tín ngưỡng của người Việt?
Chúng ta đều biết: Tư tưởng của Phật giáo là tư tưởng vô thần, phủ nhận hoàn toàn thuyết Thiên mệnh, hơn nữa, Phật giáo chủ trương: Con người và chỉ có con người mới thực sự là người ban phúc giáng họa cho chính mình. Sự cầu cạnh, van xin ở người khác hoặc nơi thần linh, nếu có được cũng chỉ là phần không đáng kể, chỉ có tâm niệm, hành động hướng thiện mới mang lại hạnh phúc cho bản thân. Ngược lại, một tâm niệm ác, một hành động xấu sẽ tự chuốc lấy kết quả đau khổ về cho mình. Chính với quan điểm con người làm chủ mọi quả báo của mình nên Phật giáo không chấp nhận quan điểm cho rằng linh hồn người đã chết vẫn còn tồn tại, vẫn giữ “mối liên hệ vô hình” và phù hộ độ trì cho quyến thuộc hiện tại (những người còn sống) được bình an, hưởng lạc.
Phật giáo cho rằng đã là chúng sinh thì phải trải qua vòng luân - hồi - sinh - tử và cái sự “chết” kia không phải là sự “sống gửi thác về” như quan niệm dân gian của người Việt, mà là bước kế tiếp của sự chuyển kiếp. Sau khi chết, tùy theo nhân thiện, nghiệp ác lúc còn sống và nhân duyên của các kiếp trước mà người đã chết sẽ được sinh vào cõi người, cõi trời hay bị đọa vào địa ngục. Nếu bị đọa vào địa ngục thì phải chịu quả báo của nghiệp ác khi còn sống, sự quả báo (bị trừng phạt) ấy nặng hay nhẹ, nhanh hay lâu phụ thuộc vào nghiệp ác tạo ra lúc còn sống ở kiếp người. Do vậy, người đã chết dù thế nào cũng không thể trở về “dương gian” để phù hộ độ trì cho người đang sống.
Trái với quan điểm của khá nhiều tôn giáo và đạo giáo khác (trong đó có tín ngưỡng của người Việt) là tin vào chuyện người chết sẽ có những tác động, ảnh hưởng tới cuộc sống của người trần tục, Phật giáo đưa ra quan điểm: Người đã chết không thể phù hộ độ trì cho quyến thuộc còn sống mà chính những quyến thuộc (hiện tại) còn sống, bằng nhân thiện, hành thiện của mình đang làm sẽ ảnh hưởng tới “quả báo” của người đã khuất.
Trong Kinh Địa Tạng, khi nói về Lợi ích người còn kẻ mất, có đoạn viết:
“Các chúng sinh đã làm ác, lúc sắp chết cha mẹ bà con nên vì những người đó mà tu tạo Phúc Đức để giúp cho đời sau của họ. Như treo tràng phan, bảo cái và đốt đèn, hoặc tôn kính tượng đọc kinh trang, hoặc cúng dường tượng Phật, lại trì niệm danh hiệu Phật, danh hiệu Bồ Tát.
(...) Sau khi người đó chết rồi, trong bảy tuần bảy ngày, lại vì người đó làm nhiều việc thiện thì có thể làm cho người ấy thoát hẳn đường ác, được sinh lên cõi trời (...) quyến thuộc hiện tại cũng được lợi ích vô cùng.
(...) Trong ngày có người thân sắp chết phải hết sức thận trọng, chớ sát hại sinh vật và làm những chuyện ác như: Lễ quỷ thần, cầu cúng yêu quái. Tại sao vậy? Vì những sự sát hại và cúng tế đó không có một mảy may năng lực nào lợi ích cho ngwời sắp chết mà lại còn kết thêm tội duyên sâu nặng hơn. Giả sử người sắp chết kia, đời nay lúc này còn sống hoặc ngay đời sau có được những nhân duyên thánh thiện, đáng sinh vào cõi người hay vào cõi trời, nhưng vì trong lúc sắp chết, bị quyến thuộc làm những nhân ác nói trên, nên khiến cho người ấy vạ lây, phải biện bạch đối chứng mãi, thành chậm trễ sinh vào chỗ tốt lành. Huống chi người sắp chết kia, lúc sống chưa từng có chút thiện căn thì cứ theo nghiệp dữ đã làm mà tự chịu lấy quả khổ ở đường ác. Vậy nỡ nào mà quyến thuộc lại làm tăng thêm tội cho họ nữa.”.
Có thể nói ở điểm này, Phật giáo hơn hẳn nhiều tôn giáo khác về tính nhân văn và đạo lý làm người, phù hợp với nếp sống tình cảm của người Việt. Ai trong chúng ta cũng vài lần trong đời từng được nghe những lời ca thán: “Rõ khổ, ông ấy chết rồi mà chẳng được yên” hay “người sống làm nhục vong linh người chết” khi thấy cảnh đau lòng: Người còn sống làm mất gia phong do tổ tiên để lại.
Giáo lý nhà Phật không chấp nhận việc phù hộ độ trì cho những người còn sống của những người đã khuất mà đi vào đề cao việc người còn sống phải lo làm việc thiện, tạo ra những duyên thiện để trước hết tạo ra thiện căn cho chính bản thân mình, sau đó làm giảm bớt nghiệp ác mà người thân khi còn sống vướng phải. Phật giáo chỉ thừa nhận ở một chừng mực nào đó, Phật tử sẽ nhận được sự phù hộ độ trì của Trời, Phật, Bồ Tát... khi Phật tử là người có thiện căn.
Quan điểm của Phật giáo về vấn đề này, dù có khắt khe đến mấy chúng ta cũng phải thừa nhận đây là quan điểm đầy tính nhân bản. Quan điểm đó giáo dục mọi người phải không ngừng vươn tới Chân - Thiện - Mỹ để hoàn thiện và làm đẹp thêm nhân cách của mình. Quan điểm đó nhắc nhở mọi người không chỉ sống xứng đáng với truyền thống của cha ông mà còn phải “phát tiết” những giá trị đạo đức, những tinh hoa mà cha ông đã xây dựng, gìn giữ, để người đương thời phải thừa nhận: Con hơn cha vì nhà có phúc.
-------------------
- Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT - NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT
của Đặng Xuân Xuyến;
Nhà xuất bản Văn Hóa Thông Tin 2006 –