Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, September 13, 2020

TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2) - Nguyên Lạc




LỊCH SỬ, NGUỒN GỐC PHÁT TRIỂN VÀ CON ĐƯỜNG ĐI CỦA TRÀ

1. Tên khoa hc
- Năm 1753, Carl Von Liaeus, nhà thực vật học Thụy Điển, đặt tên khoa học cây trà là Thea sinensis, xác định cây trà có nguồn gốc Trung Quốc. Thế nhưng một số học giả Anh lại cho rằng nguồn gốc cây trà là Ấn Độ. Cuộc tranh luận về quê hương cây trà đã kéo dài trên hai thế kỷ.
- Năm 1976, Djemukhatze, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô (cũ), sau khi đi khảo sát vùng trà cổ thụ trong 2 năm tại miền bắc Việt Nam, bằng phương pháp sinh hóa thực vật, lại xác định Việt Nam là quê hương cây trà trên thế giới, theo sơ đồ tiến hóa sau đây:
Camellia -- trà Việt Nam -- trà Vân Nam lá to -- trà Trung Quốc -- trà Ấn Độ
 Ta nên nhớ rằng: Khi nhà thực vật học lấy một địa danh nào đặt tên (như sinensis: Trung Hoa) không có nghĩa nơi đó là cái nôi của một loài, mà thường do nơi đó là nơi lần đầu tiên phát hiện), do vậy không thể dựa vào từ "sinensis" để nói cây trà có nguồn gốc từ Trung Hoa.

2. Trà - huyền thoại và lịch sử

- Hình như tất c những gì có người Trung Hoa tham gia vào đều có bên cạnh một vài huyền thoại; trà cũng không ngoại lệ.  Ít ra người Trung Hoa có hai huyền thoại về trà: một huyền thoại mang sắc  thái người Hoa Bắc và một mang sắc thái người Hoa Nam.
    . Huyền thoại thứ nhất của người Hoa Bắc cho rằng cho rằng người đầu tiên phát hiện ra trà chính là Thần Nông (2737- 2697 tr. Công Nguyên). Truyền thuyết này lại được giới thiệu trong cuốn Trà Kinh của Lục Vũ (vào năm 780 sau Công nguyên).
Vua Thần Nông là vị Hoàng Đế huyền thoại rất giỏi về nông nghiệp và y dược. Ngài nếm nhiều loại cây cỏ để tìm dược tính trị bệnh cho dân; “Thần Nông một ngày nếm thử một trăm loại thảo dược và gặp bẩy mươi loại độc và tự mình giải độc.”. Sự tích tìm ra cây trà của Thần Nông cũng được dệt bằng một huyền thoại thần bí. Một hôm, Vua Thần Nông cùng vợ con lên núi, giữa chừng núi vua thấy khát nước thì ngay lúc đó một chiếc lá rơi xuống cạnh chân Ngài. Thần Nông lượm lên và vò nát trong tay mình, chất nhựa dính vào ngón tay và Ngài đưa lên miệng nếm. Vị đăng đắng cho Thần Nông biết nó có dược tình và cảm thấy cơn khát mất đi. Thần Nông bèn đem chiếc lá đó sắc lên, và Ngài là người đầu tiên uống trà. Lại có truyền thuyết nói Thần Nông đun nước dưới một gốc cây, lá cây này rụng và rơi vào nồi. Nước trong nồi có màu vàng xanh và mùi vị thơm ngon, uống vào hết khát: đó là trà.
Người Trung Hoa chứng minh huyền thoại này bằng cách trưng ra cuốn ‘Thần Nông Bản Thảo” , trong đó có ghi tính dược cây trà. Nhưng thực ra tác phẩm này là một biên khảo vào thời Tần-Hán (khoảng năm 220 sau Công Nguyên) do nhiều nhà y học ghi chép và về sau Đào Hoằng Cảnh (457 – 536) chỉnh lý lại và người đời sau bổ sung và sửa đổi khá nhiều. Có điều chúng ta cần lưu ý trong Trung Y (y học trung Hoa) không thấy cổ phương danh tiếng nào dùng trà làm vị thuốc và trong các hiệu thuốc đông dược chẳng thấy ai dùng đến trà cả.
Người Trung Hoa nói thế. Các học giả phương Tây dựa vào tài liệu Trung Hoa thuật lại thế và chúng ta nhắm mắt tin thế. Rồi người Nhật phụ họa thêm truyền thuyết trà là một cây thuốc như sau: vào đời Chiến Quốc một danh y truyền dạy y thuật cho con trai, nhưng chỉ mới truyền được bảy phần thì ông qua đời. Tưởng là phần còn lại thất truyền, nào ngờ nơi mộ ông ta mọc lên một loại cây hội đủ dược tính phần y thuật còn truyền sót; đó là cây trà. Càng về sau, các tài liệu đều ghi: “Khởi đầu trà là một vị thuốc, sau trở thành thứ nước uống giải khát.”
Củng cố thêm cho nguồn gốc cây trà và văn hóa trà xuất phát từ Trung Hoa, người Hoa Bắc còn đưa ra huyền thoại “Các vua nhà Chu đã dùng trà tế lễ từ năm 221 trước Công Nguyên”. Huyền thoại này thực sự có cơ sở chăng?! Nếu từ thời kỳ Xuân Thu Chiến Quốc người Trung Hoa đã dùng trà trong tế tự, ắt điều này phải có ghi trong các kinh lễ của các bậc thánh nhân như Chu Công và Khổng Tử. Đáng tiếc, Kinh Lễ hay Lễ Ký do Đức Khổng Tử san định cũng không hề thấy nói đến trà; sách Luận Ngữ do học trò ngài ghi lại các lời Ngài dạy hàng ngày cũng chẳng thấy nói đến trà; Kinh Thi cũng do Ngài san định là một tác phẩm ghi chép lại các bài ca dao trong dân gian không hề có một chữ trà hay chữ đồ. Trở ngược dòng lịch sử, sách Chu Lễ ghi rất chi li lễ tiết đời Chu cũng không thấy có chữ trà, Hoặc quay xuống đến đời Hán chúng ta thấy có cuốn Sử Ký của Tư Mã Thiên (khoảng những năm 90 trước Công Nguyên), có một thiên Lễ Thư, hay Hán Thư cũng không dành cho trà một chữ. Qua đó có thể nói ít nhất đến đời Hán trà chưa hề được biết đến ở Trung Hoa.
Trái lại chúng ta dễ dàng thấy chữ “tửu” trong các tác phẩm vừa nói, với câu nói nổi tiếng “Vô tửu bất thành lễ”. Điều này cho thấy việc vua nhà Chu dùng trà tế lễ là sự gán ghép đời sau. Nho gia không phải rồi, vậy trà có phải của Đạo gia chăng?! Chắc chắn là không vì biểu tượng thường đi kèm với các vị tiên gia là phất trần và bình rượu chứ không phải ấm trà, và giới đạo gia có thứ rượu Quỳnh tương trên tiên giới thần diệu như nước cam lồ bên Phật giáo. Chỉ mãi sau đến đời Chu Hy (cuối Nam Tống) mới xuất hiện một bài thơ gắn ông tiên với lò nấu trà. Như vậy có thể nói điều Lục Vũ ghi trong Trà Kinh “Thần Nông là ông tổ cây trà” có thể chỉ là lời lượm lặt trong dân gian thích thêu dệt huyền thoại của người Trung Hoa mà thôi.
       . Huyền thoại thứ hai của người Hoa Nam. Huyền thoại này cho rằng chính Bồ Đề Đạt Ma (Bodhidarma), Sơ tổ Thiền Trung Hoa, là người mang cây trà từ Ấn Độ vào Trung Hoa (năm 519 sau Công Nguyên). Nhờ cây trà mà Ngài thức suốt 9 năm để ngồi nhìn vách đá quán tưởng công án. Tin vào truyền thuyết này nên về sau Thiền Nam Tông có nghi thức uống trà trước tượng Bồ Đề Đạt Ma. Xoay quanh Bồ Đề Đạt Ma lại có một huyền thoại thần bí hơn, lại do người Nhât phụ họa: Sau ba năm diện bích, tổ Đạt Ma kiệt sức và ngủ lịm đi. Khi tỉnh dậy, tổ hối hận và lo lắng, cắt hai mi mắt mình liệng xuống đất. Ít lâu sau nơi đó mọc lên một loại cây bụi, tổ Đạt Ma lấy lá của nó nấu lên uống thì tỉnh ngủ hẳn. Và Ngài tiếp tục diện bích cho hết 9 năm.
 - Cũng lưu ý là các tác phẩm như Hán Sở Tranh Hùng, Tam quốc Chí có nhiều lần nói đến việc uống trà, nhưng điều này không thể khẳng định trà có từ đời Hán vì các tác phẩm này viết vào đời nhà Minh, thời trà Trung Hoa đang ở giai đoạn hoàng kim. Việc các cây bút văn chương lồng một số chi tiết nho nhỏ quen thuộc đương thời vào câu chuyện không phải là điều không xảy ra nếu không muốn nói rất thường.
- Còn nếu lấy huyền thoại làm chứng cứ thì e rằng người Việt biết uống trà và có một nền văn hóa trà sâu xa từ thời Hùng Vương (ngang đời nhà Chu). Ai trong chúng ta cũng đều biết câu chuyện cổ tích Trương Chi – Mỵ Nương , hai chữ Mỵ Nương đủ khẳng định bối cảnh câu chuyện xảy ra vào thời Hùng Vương rồi. Chuyện kể tóm tắt rằng: Chàng lái đò Trương Chi có giọng hát thật hay làm xiêu lòng Mỵ Nương. Nhưng khi gặp khuôn mặt xấu xí của chàng lái đò Mỵ Nương đâm thất vọng, ngược lại trước nhan sắc của Mỵ Nương Trương Chi về ốm tương tư rồi mất. Trương Chi chết hóa thành một hòn ngọc, người thợ đá tạc thành một cái chén uống trà dâng cho gia đình Mỵ Nương. Cứ mỗi lần rót nước trà vào chén Mỵ Nương thấy trong đó có hình chiếc đò bơi qua bơi lại và một tiếng hát từ cõi xa xăm nào đó vọng lại. Thương cảm, Mỵ Nương khóc, giọt nước mắt rơi vào chén trà và chén trà tan thành nước.
- Bên cạnh, người Trung Hoa trưng ra một số tư liệu lịch sử để chứng minh nguồn gốc cây trà của họ. Sự viện dẫn này dựa vào thương mại để chứng minh cây trà và văn hóa trà có nguồn gốc từ Trung Hoa:
      Dẫn Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo): Đây là con đường núi ngoằn ngoèo đi xuyên qua vùng núi Vân Nam – Tứ Xuyên phía Tây Nam trung Hoa, phương tiện vận chuyển chủ yếu là lừa và ngựa. Theo tư liệu của Trung Hoa con đường này hình thành vào đời nhà Đường (618-907), và trà của Trung Hoa theo đường đó bán cho các nước phía Nam.
     Điều này không mấy hữu lý vì tính theo thời gian vùng này thuộc về đất nước Nam Chiếu – Đại Lý.  Thực tế cũng cho thấy đời Đường chưa cai trị được vùng đất này, nếu không muốn nói có nhiều chiến tranh qua lại giữa Trung Hoa và các bộ tộc (nhất là khi vùng này hình thành quốc gia) tại nơi đây. Cứ liệu đáng tin nhất; năm 629 khi Đường Tam Tạng có ý qua Hồ Quốc (tức Ấn Độ) thỉnh kinh, ông phải lén đi vì Đường Thái Tông cấm đi ra nước ngoài. Lý do cấm đoán đó là vì các vùng biên giới không yên ổn và nhà Đường lúc đó không đủ sức thảo phạt . Tình hình như thế cho thấy con đường này thực sự dưới quyền kiểm soát của Nam Chiếu – Đại Lý, trà từ vùng này chuyển đi các vùng lân cận và Hoa Nam để bán . Luận cứ này cho thấy con đường Trà Mã Cổ Đạo này không do nhà Đường mở ra, thực tế nó là một con đường tự phát nhằm trao đổi hàng hóa nhỏ lẻ với Hoa Nam và các nước lân cận Đại Lý. Trà quả là sản phẩm của con đường này nhưng chủ nhân là Đại Lý chứ không phải Trung Hoa. Chính vì thế ta sẽ thấy tập quán uống trà những nước quanh Đại Lý cũ không hề giống thói quen uống trà của người Trung Hoa.
(Phần huyền thoại và lịch sử này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận ca nhà biên kho  Đức Chính)

3.  Truy lại cội nguồn nền văn hóa trà
Qua những điều trên chúng ta đ biết: Trà là sn phẩm ca Con Đường Trà Cổ (Trà Mã Cổ Đạo) và ch nhân ca nó là nước Đi Lý.
Lãnh thổ nước Đại Lý bao gồm 3 tỉnh:  Vân Nam, Quý Châu và tỉnh Tứ Xuyên ngày nay. Nước này còn chiếm một phần vùng thượng du miền Bắc Việt Nam và một phần lãnh thổ của Myanmar hiện nay. Trước khi thành lập nước Đại Lý, vùng đất này là của người Bạch và người Di, gồm 6 bộ tộc (gọi là chiếu) Mông Huề, Việt Thác, Lãng Khung, Đằng Đạm, Thi Lãng, Mông Xá, trong số đó Mông Xá là bộ tộc mạnh nhất nằm ở phía nam nên thường gọi là Nam Chiếu. Năm 737, thủ lãnh của Mông Xá là Bì La Cáp mượn thế lực của Đường Huyền Tông thống nhất các chiếu khác thành lập ra nước Nam Chiếu. Điều này có ghi trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư: “Trong khoảng năm Khai Nguyên (713-742) đời vua Huyền Tông nhà Đường, Nam Chiếu là Bì La Cáp cường thịnh lên, mà 5 chiếu kia suy hèn đi. Bì La Cáp mới đút lót cho quan tiết độ sứ đạo Kiếm Nam là Vương Dục để xin hợp cả 6 chiếu lại làm một. Triều đình nhà Đường thuận cho, và đặt tên là Qui Nghĩa. Từ đó Nam Chiếu càng ngày càng thịnh lên, đem quân đi đánh Thổ Phồn (Tây Tạng)Bấy giờ Nam Chiếu đã mạnh lắm, bèn xưng đế và đặt quốc hiệu là Đại Mông rồi lại đổi là Đại Lễ…” Triều đại này tồn tại đến năm 902, Đoàn Tư Bình nổi lên thành lập nước Đại Lý.

                    (Hình Bn đồớc Đại lý)

Vương Quốc Đại Lý tồn tại trên vùng đất này từ năm 937 cho đến năm 1253; kế tiếp nhau bởi 22 đời xưng đế, trong đó có nhân vật Đoàn Chính Thuần được Kim Dung hư cấu vào tiểu thuyết võ hiệp của mình. Sau năm 1253, Đại Lý mất vào tay Nguyên Mông nhưng dòng họ Đoàn vẫn cai trị vùng đất này với tước danh Tổng quản đến tận năm 1387 (vị tổng quản cuối cùng là Đoàn Thế) bị diệt dưới tay Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương. Nước Đại Lý đổi thành phủ Đại Lý, người Bạch và người Di nước lưu lạc xuống phương Nam. Một số thành các dân tộc người ở Việt Nam, Lào và Myanmar (như Thái Trắng, Thái Đen, Thái Đỏ, Lô lô, Nùng); một nhóm đông hơn di chuyển sâu về hướng Nam thành lập nước Thái Lan ngày nay.
Nếu Trung Hoa cho rằng Vân Nam – Tứ Xuyên ngày nay là của Trung Quốc nên nguồn gốc từ Trung Quốc mà ra; chúng ta cũng có thể nói vùng Thượng Du Bắc Việt Nam ngày nay của Việt Nam xưa thuộc Đại Lý, vậy Việt Nam cũng là cái nôi của  thế giới. Theo tôi điều này không hay ho chút nào. Hãy như người Việt, cứ để nền văn hóa Óc Eo là tài sản của vương quốc Phù Nam, Tháp Chàm của người Chăm, … chứ không nhận bừa của người Việt. Tương tự, cội nguồn của trà là người Đại Lý, một vương quốc cổ nay không còn nữa. Và có thể các nhóm dân tộc dùng ngôn ngữ Tạng-Miến như người Thái vùng Tây-Bắc miền Bắc Việt Nam là một thành tố đại diện còn tồn tại đến ngày nay.
Nghiên cứu về văn hóa nên lấy mốc từ khi một sự kiện trở nên phổ quát và đi vào tư tưởng, chứ không nên vin vào một vài chứng cứ vật thể nhỏ để khẳng định đã có một nền văn hóa. Cũng như khi cắm ngọn cờ trên mặt trăng không thể khẳng định con người đã sống trên mặt trăng vào thời điểm đó. Chính trị và văn hóa khác biệt nhau ở chỗ này.
Vậy tại sao ngày nay khi nói đến trà người ta nghĩ ngay đến Trung Hoa và Nhật Bản. Đó là vì họ có phương thức truyền bá tư tưởng tốt: người Trung Hoa bằng các huyền thoại và cửa miệng các Hoa Kiều (chưa kể ngụy thư đời sau viết gán cho người đời trước để làm chứng cứ giả tạo); người Nhật có tác phẩm Book of the Tea của Okakura Kakuzo gây tiếng vang trên thế giới và gây tò mò người Phương Tây nơi nghi thức trà của họ vừa cầu kỳ vừa thoang thoảng kỳ bí.
(Phần truy lại cội nguồn này được trích từ quyển Trà Thư trong Trà Luận ca nhà biên kho  Đức Chính)

4. Các giai đon phát triển trà

- Cây trà nguyên thổ sản của miền Hoa Nam, đã dược các nhà thực vật học và dược vật học Trung Hoa biết đến từ những thời đại rất xa xưa. Các văn gia cổ điển gọi nó bằng những tên khác nhau: Đồ (Tou), Thiết (Tach), Thuấn (Chung), Giả (Kha), và Minh (Ming), và trà được tán dương là có hiệu năng làm cho người ta hết mệt nhọc, tinh thần sảng khoái, ý chí tăng cường và thị lực hồi phục. Người ta không chỉ dùng trà làm thuốc uống bên trong, mà còn hay dùng như một thứ cao đắp ở bên ngoài để trị phong thấp nữa. Các môn đồ Đạo gia coi trà là một vị trọng yếu trong môn thuốc trường sinh bất lão; còn các tăng đồ Phật giáo thì thường dùng trà để chống lại cơn buồn ngủ trong những giờ ngồi trầm tư mặc tưởng dài đằng đẵng.

- Tuy nhiên, phương pháp uống trà thời kỳ ấy hãy còn cổ lỗ hết sức. Người ta lấy lá trà đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và một đôi khi cả hành nữa! Tập quán này cũng còn thịnh hành trong dân xứ Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ, họ chế tất cả các vị kể trên thành một chất "xi rô" kỳ xảo. Lối dùng những lát chanh của người Nga tập uống trà tại những đội thương lữ quán Trung Hoa là một lối cổ còn sót lại.

- Sau nhờ thiên tài của Đường triều, trà mới được "giải thoát" khỏi trạng thái thô lậu này và được lý tướng hóa một cách tuyệt diệu. Lục Vũ ở khoảng giữa thế kỷ thứ tám, là đệ nhất sứ đồ của trà. Ông sinh vào thời kỳ mà Phật giáo, Đạo giáo và Khổng giáo đang tìm đường tổng hợp với nhau. Phiến thần luận của tượng trưng chủ nghĩa lúc bấy giờ có ý muốn phản chiếu cái "Phổ biến" (Universal) ra khỏi cái "Đặc thù" (the Particular). Lục Vũ là một nhà thơ, nhận thấy trong bộ đồ trà cũng có đủ cả sự điều hòa và trật tự như trong mọi sự vật khác. Trong tác phẩm danh tiếng của ông là cuốn Trà Kinh (Kinh thư của Trà Đạo), ông đã định thức hóa Pháp điển về Trà. Từ đó ông được thờ như vị thần giám hộ của các nhà buôn trà Trung Hoa.

- Nhưng trà chỉ thật sự phổ cập ở khắp Trung Hoa bắt đầu từ thời Nguyên khi Đại Lý bị diệt và dòng họ Đoàn quy thuận, trà mới có cơ sở thông thương rộng hơn. Qua đời Minh (1368-1644), việc buôn bán trà trở nên rất thịnh vượng nên triều đình lập ra “Bộ Trà Mã” để quản lý và thu thuế, kết quả tất yếu của việc sáp nhập nước Đại Lý vào Đại Minh. Trong bối cảnh đó nhiều tay bút bàn về trà sinh sôi nảy nở là điều tất yếu, và thường hay đề danh tính người đời trước để dễ thuyết phục người đọc (đời nhà Minh nổi tiếng nhiều ngụy tác). Tuy vậy để xuất khẩu trà quy mô phải đợi đến khi kỹ thuật canh tác phát triển và trà được trồng nhiều ở các vùng như Hồ Nam, Hồ Bắc, Chiết Giang, Giang Tô, Lãnh Nam, Kinh Tương, Phúc Kiến, nghĩa là khó sớm hơn thế kỷ 14.

5. Bước đi ca trà

- Vào cuối thế kỷ thứ mười sáu, người Hòa Lan truyền đi cái tin ở Đông phương có loại thức uống làm bằng một thứ lá cây rất ngon. Các nhà du lịch Giovanni Batista Ramusio (1559), L.Almeida (1576), Maffeno (1528), Tareira (1610), cũng nói đến trà. Trong năm cuối cùng kể trên, thương thuyền của Hòa Lan Đông Ấn Độ Công ty đem những lá trà đầu tiên vÂu châu. Trà được nước Pháp biết đến năm 1636, và lọt vào nước Nga năm 1638. Năm 1650, nước Anh hoan nghênh trà và khi nói đến trà thì ca ngợi coi là "một món đồ uống ngon tuyệt, tất cả các y sĩ đều tán thành món đồ uống Trung Hoa, mà người Trung Hoa gọi là trà, các nước khác thì gọi là tê (thé) hay ti (tea)". Trà đã bắt đầu được coi là thức uống quốc tế
Sự giao lưu thương mại giữa Trung Hoa và các nước phương Tây ngày một lớn mạnh bắt đầu từ triều đại nhà Thanh. Khi Hoàng đế Trung Hoa “ngự hít” điếu thuốc lá đầu tiên được mang đến từ Châu Âu, thì Nữ hoàng Anh Quốc cũng đang nhấm nháp tách trà đầu tiên. Vào khoảng năm 1615, các thương gia Anh Quốc với công ty Đông Ấn Độ nhận thức được sự có mặt của Trà. Trà đã nhanh chóng được truyền bá khắp Châu Âu và gần 100 năm sau, khối lượng trà nhập khẩu vào Anh tăng từ 100 pound/năm lên đến hơn 5 triệu pound/năm. Điều này đòi hỏi cần phải có nhiều phương tiện lớn mới mang được tải trọng trà như thế từ Trung Hoa.

- Tại Anh: Theo sử liệu,thì chính Nữ Công Tước Bedford, tác giả quyển “Năm giờ uống trà” rất được người Anh ưa thích. Bà cũng là người đã tạo ra phong trào uống trà vào buổi chiều tại xứ sương mù. Ngày nay tới nhà bất cứ một người Anh nào, đặc biệt là giới trung và thượng lưu trí thức, ai cũng phải lóe mắt trước sự khéo tay và vô cùng thẩm mỹ của các bà nội trợ , trong việc trang trí bàn uống trà với khăn phủ bàn có bình hoa tươi và bộ bình trà làm bằng bạc và sứ men Trung Hoa. Người Anh từ lâu có tập quán đãi khách loại trà sữa hay trà chanh. Cũng theo sử liệu, thì vào thế kỷ XVIII, khi Anh chiếm Hồng Kông và nhiều thành phố lớn khác tại Trung Hoa như Thiên Tân, Thượng Hải, Quảng Châu đã du nhập tập tính uống trà của người Tàu về bản quốc.
Tập quán uống trà ở Anh phát triển mau lẹ không thể tưởng tượng dược, trong nửa đầu thế kỷ thứ mười tám, những quán cà phê ở London, trên thực tế, đã biến thành những phòng trà, nơi hẹn hò của những bậc anh tài như Addison và Steele, tiêu khiển bên những "món trà”. Chẳng bao lâu, trà trở thành một món cần thiết cho đời sống sinh hoạt - một món có thể đánh thuế được.

- Tại Hoa Kỳ: Hằng năm theo thống kê, thì dân chúng Hoa Kỳ tiêu thụ cả chục triệu tấn trà, bằng mọi hình thức như uống nóng, lạnh, trà nguyên chất hay ướp các loại hoa, uống không hay uống chung với đường thêm mật ong, sữa, kem, chanh. Người Mỹ uống nhiều loại trà, từ thứ gọi là Decaffeinated Tea hoặc các loại trà lá, kể cả dược trà bằng lá ổi, lá hồng để trị bệnh va làn tan mỡ, gọi là Herbal Tea.
Xin được nhắc qua về vụ Trà đã dự phần hết sức quan trọng trong sự kiện lịch sử hiện đại. Thuộc địa Mỹ cam chịu áp chế cu Anh cho đến khi sức nhẫn nhục của con người không thể chu đựng được nữa, phải nổi dậy trước những khoản thuế quá nặng đánh vào Trà. Nền độc lập của Mỹ bắt đầu từ ngày người ta quẳng những thùng trà xuống hải cảng Boston: Người Mỹ đã vùng dậy mà ném cả 342 thùng trà xuống biển, để rồi bắt đầu cuộc khởi nghĩa giành độc lập năm 1773. Cố nhiên là không lỗi ở trà, và cũng không phải chỉ vì trà, mà còn nhiều lý do khác nữa; nhưng đã nói đến trà thì cứ nên cho rằng, nhờ đó mà cái gọi là Boston Tea Party trở thành bất hủ.

- Tại Nhật: Cuối thế kỷ 11 đầu thế kỷ 12, cùng với Thiền, trà ở Trung Hoa tràn sang Nhật. Người Nhật tiếp thu cả hai thứ văn hoá vật chất và tôn giáo này, đem nó hoà quyện với văn hoá bản địa và nâng lên thành triết lý riêng của dân tộc là Trà Đạo.
Trà đạo bao gồm những nghi lễ thiêng liêng thấm đượm chất tâm linh tôn giáo, khiến cuộc thưởng trà trở thành một cuộc lễ.
Ngày nay Triết Lý Trà của người Nhật đã trở thành một nghi thức chính thống của một tôn giáo gọi là Trà Đạo, hình thành từ thời kỳ Mạc Phủ Tướng Quân ở thế kỷ thứ XV. Những trà đồ trước khi bước vào trà thất đã tự mình rũ bỏ hết cái thế giới ồn ào bon chen, nhập vào sự tĩnh lặng của tâm hồn, quên hết kể cả cái ta phiền toái đáng phiền.

- Cho đến thế kỷ 19 mà Trung Hoa vẫn còn là nơi độc quyền sản xuất trà bán ra khắp toàn thế giới. Thuở ấy người ta chỉ mới biết mua trà về pha chế thêm, mang bỏ vào hộp, đóng thùng dán lên các thứ nhãn hiệu rồi đưa đi bán lại mà thôi. Càng ngày thấy nhu cầu càng tăng và nguồn lợi càng rõ ràng vĩ đại, người ta nghĩ đến mang giống trà đi trồng ở các miền đất đai các xứ khác mới đủ cung cấp cho cả thế giới.
Người Anh quốc là kẻ tiên phong đã biết dùng ngay đất thuộc địa của mình, tức là xứ Ấn Độ thời ấy, làm nơi trồng trọt và sản xuất trà, thay vì phải mua từ người Trung Hoa. Họ đã lấy giống trà từ Trung Hoa, đón một số chuyên viên Trung Hoa trong ngành trồng tỉa cũng như pha chế, đưa những người nầy sang Ấn Độ để dạy cách thức trồng trọt pha chế cho dân địa phương, và họ đã thành công.
Ngoài ra còn những vùng mà cây trà được trời ban cho cũng mọc lên tự nhiên và hợp khí hậu không kém trà của Trung Hoa đó là những vùng như Việt Nam, Miến Điện, Mã Lai, Lào, Miên.
(Còn tiếp nhiều kỳ)
                                                         Nguyên Lạc

READ MORE - TẢN MẠN ĐÔI ĐIỀU VỀ TRÀ (Kỳ 2) - Nguyên Lạc

GÓC KHUẤT - Thơ Lê Phước Sinh


 
               Nhà thơ Lê Phước Sinh


GÓC KHUẤT

Người Mẹ đơn thân
nước mắt nuốt vào
lặng lẽ nỗi đau
từ lòng ngực sâu
trái tim
chẳng ai hay biết giản đồ nhịp đập sin, cos thế nào
Người Mẹ
thản nhiên vác Thập giá
không lời rao giảng
lừng lững
hành trình.

                                           Lê Phước Sinh

READ MORE - GÓC KHUẤT - Thơ Lê Phước Sinh

BẾN XƯA, BIỆT, BIẾT TÌM ĐÂU TÌM NHAU - Thơ Lê Văn Trung


     


BẾN XƯA
Tặng Ngọc Thư

dòng sông xa cội nguồn xưa
như em từ độ nắng mưa xứ người
nào hay bên lở bên bồi
bến chiều quạnh quẽ mùa vơi mùa đầy
cây tàn thu gió vàng bay
đau từng chiếc lá rụng đầy bến sông
buồn vui ấm lạnh quê chồng
để thương nhớ lại chập chùng bờ lau
chuyện nghìn năm cũ phai màu
dòng Thu nước chảy về đâu mấy mùa?

                                       Hội An 1995


BIỆT

Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi quê quán mịt mùng
Mẹ cha chắc đã tan thành đất
Đất ở đâu cũng lạnh vô cùng

Đất ở đâu cũng màu luân lạc
Và nỗi buồn trải quạnh như sương
Ta đi có lẽ không về nữa
Về làm chi bến mịt sông mù

Em giờ chắc đã thành góa phụ
Xương trắng cồn hoang đêm chó tru
Hồn ai xiêu lạc đền rêu cũ
Cũng đành nén lệ khóc thiên thu

Ta đi là biệt đời nhau nhé
Em có lên ngàn ngóng bốn phương
Đã biết trăm năm tình hóa đá
Thì mong chi giọt lệ tương phùng

Đã biết ta trăm đường muôn ngả
Không chốn nào là chốn dung thân
Thôi cứ xem như ta chẳng về
Xem như đời chỉ tạm ngang qua

Thân là hạt bụi bay trong gió
Đậu xuống trần gian như giấc mơ
Đậu xuống lòng em như điềm gỡ
Nỗi đau truyền kiếp tự bao giờ

Thôi xem như chưa hề có nhau
Hai ta là hai cõi chiêm bao
Em và ta là hai chiếc lá
Chiếc rơi triền thấp chiếc đồi cao

Giông bão thổi tung ngàn số phận
Lạc nhau từ giấc mộng ban đầu
Về làm chi thôi về làm chi
Thà cứ như người không bản quán

Không họ hàng không cả tông chi
Đời ở đâu cũng đời nhiều loạn
Ta ở đâu nào có hơn gì
Người ở đâu cũng người xa lạ

Thôi về chi rào chắn giậu che
Thôi về làm chi đừng hỏi nữa
Gươm cuồng tay mỏi chí tàn suy
Đốt đuốc mà soi lòng nhân thế

Đất trời là một khối vô tri
Qua bao vong diệt cùng dâu bể
Trái tim người là nấm mộ đây
Đôi mắt đã mù khô cả lệ

Thì rót làm sao chén rượu đầy
Về làm chi về làm chi hỡi
Ngươi phương mù áo rách tang thương
Ta nghe ngươi hát lời vinh Thánh

Mà buồn hơn khúc hát đoạn trường
Ta thấy ngươi ngồi ôm tượng Chúa
Mà như ôm cả thế gian buồn
Thôi về làm chi về làm chi

Ngươi và ta hai kẻ sau cùng
Cứ đi cho hết vòng luân chuyển
Mà ngắm nhân gian đã loạn cuồng
Trái tim người chứa toàn sâu bọ

Rắn rít trườn lên cuôn chặt hồn
Ta đi có lẽ không về nữa
Gặp ngươi nơi góc biển chân trời
Tình như phù vân không hò hẹn

Lòng như sương khói chẳng buồn vui
Ta chỉ thương ngươi còn vọng tưởng
Một trần gian quá đổi ngậm ngùi
Ta chỉ thương ta còn ngất ngưỡng
Đi- về hai nẻo vẫn chưa nguôi.
                           

BIẾT TÌM ĐÂU TÌM NHAU

Có lẽ mười năm sau
Còn mình anh ngồi lại
Ai tìm nhau tìm nhau
Giữa nhạt nhòa sương khói
Có lẽ mười năm sau
Em phương người quên lãng
Anh con sóng chân cầu
Vỗ hoài vào vô vọng
Có lẽ mười năm sau
Trăng hạ huyền chếch bóng
Làm sao biết tìm đâu
Thuở rằm ươm tình mộng
Có lẽ mười năm sau
Anh con tàu về muộn
Lặng lẽ vào sân ga
Sân ga buồn hoang vắng
Biết tìm đâu tìm nhau
Mà tìm nhau tìm nhau.

                  Lê Văn Trung

READ MORE - BẾN XƯA, BIỆT, BIẾT TÌM ĐÂU TÌM NHAU - Thơ Lê Văn Trung

THƠ 1- 2- 3 CỦA TRẦN MAI NGÂN


     


MÙA GIÁP HẠT BỮA CƠM ĐỘN SẮN ĐỘN KHOAI

Ba mẹ dành phần khó nuốt
Để cho con hạt gạo trắng nấu thành cơm...

Đến bây giờ hương vị vẫn còn thơm
Theo con mãi đến nơi thành thị
Phố ồn ào, quán xá món ngon... con ngồi nhớ bữa cơm giáp hạt..


NGƯỜI ĐÀN ÔNG LI DỊ

Nghe những lời bi bô ái ngữ của con
Lập đi lập lại mà không sáo mòn

“ Ầu ơ... ví dầu tình bậu muốn thôi...”
Người đàn ông vừa hát vừa đưa nôi
Ngày mai con lớn tặng ba hoa hồng “ngày của mẹ”...


BẤY NHIÊU KHÚC KHUỶU ĐƯỜNG TRẦN

Xin con vẫn cứ đi bằng đôi chân thật vững
Qua suối, qua ghềnh...lòng con như vượt thác

Đời người đâu dài lắm cho đợi chờ
Trên đường đi tới như một cuộc dạo chơi
Con nhớ hái những bông hoa tươi thắm tặng đời và tặng mẹ...


NHỮNG ANH CHÀNG GRAB MŨ XANH ÁO XANH

Trốn nắng trưa chờ khách dưới tàn cây lá cũng xanh
Trời hâm hấp nóng mà hộp cơm canh nguội lạnh...

Vừa ăn, vừa tán gẫu cùng nhau
Ngày mai này, ước gì... sự lương thiện ngọt ngào
Được trao tặng để dạt dào thêm cuộc sống...


NHỮNG CUỘC PHÓNG SINH MƯU CẦU HẠNH PHÚC

Những gia đình chim sụp bẫy to
Những đàn cá phập phòng âu lo...

Như trò xiếc được thả ra và nhốt lại
Người phóng sinh không nghi ngại
“Nam mô di đà...” con được giàu sang...

                                   Trần Mai Ngân

READ MORE - THƠ 1- 2- 3 CỦA TRẦN MAI NGÂN

HẠNH PHÚC - Thơ Nhã My, nhạc Nguyễn Hữu Tân


 
                      Nhà thơ Nhã My



HẠNH PHÚC

Em xỏa tóc
Đùa mùa xuân gió nhẹ
Anh đêm về
Khẻ động giấc mơ hoang
Ai miên man trong tiếng nhạc thơ
Vòng tay ấm
Cho đông về bớt lạnh
Nghe rất khẽ
Ôi mùa yêu đang chậm
Ôi làn hương ngây ngất thoáng qua
Hương tình yêu vừa nở nụ hoa
Tình không đợi
Nghĩa là tình rất mới
Anh không chờ giữa cuộc đời đau
Em không ngờ tình đến với nhau
Như hạnh phúc bên bờ khát vọng
Em xa lạ
Và anh xa lạ
Hai cuộc đời chia mấy chờ mong
Hai cuộc đời hai nhánh của dòng sông
Bờ hạnh phúc nay nối về một bến


                                              Nhã My





Thơ: Nhã My.
Phổ nhạc & trình bày: Nguyễn Hữu Tân.
Video clip: Huỳnh Tâm Hoài.

READ MORE - HẠNH PHÚC - Thơ Nhã My, nhạc Nguyễn Hữu Tân

Saturday, September 12, 2020

NHỮNG NÀNG THIẾU NỮ ĐÔI MƯƠI | TÌNH YÊU CỦA EM - Thơ Trần Đức Phổ

 


Những Nàng Thiếu Nữ Đôi Mươi


Những nàng thiếu nữ tuổi đôi mươi
xinh xắn như hoa, đẹp rạng ngời
ta muốn làm thơ ca tụng mãi
sắc hồng đôi má, nụ cười tươi!

Những bàn tay ngọc búp măng non
những mái tóc xanh mát suối nguồn
những tà áo lụa xinh như bướm
khiến lòng trai trẻ mộng mơ luôn!

Ôi! thật mê ly, thật diệu kỳ…!
như mùa Xuân chín tuổi xuân thì
những nàng con gái hay tiên nữ?
cho đời chán vạn kẻ tình si!


Tình Yêu Của Em

Em hãy yêu tôi bằng tiếng hát
những lời tình tự của quê hương
để tôi trên bước đường lưu lạc
nghe vọng mong manh chút cội nguồn.

Em hãy yêu tôi bằng ánh mắt
của nàng thiếu nữ tuổi đôi mươi
để lòng tôi mãi không cô độc
giữa cuộc mưu sinh khóc lại cười!...

Em hãy yêu tôi bằng trái tim
của người con gái rất Việt nam
để tôi còn biết tình chân thật
giữa chốn nhân gian vạn sự lầm!...

Vậy đó, tình em rất nhiệm mầu
cho tôi vá lại những xưa sau
cho tôi lẽ sống, niềm tin mới
một chút ân tình, xóa hận đau!

--
tranducpho

READ MORE - NHỮNG NÀNG THIẾU NỮ ĐÔI MƯƠI | TÌNH YÊU CỦA EM - Thơ Trần Đức Phổ

CHÙA CHUÔNG, ĐỆ NHẤT DANH LAM PHỐ HIẾN - Đặng Xuân Xuyến

 


Chùa Chuông có tên chữ là Kim Chung Tự, được xây dựng từ thời Hậu Lê và trùng tu quy mô lớn vào năm 1707, được mệnh danh là "Phố Hiến đệ nhất danh thắng".

Theo truyền thuyết, vào một năm đại hồng thủy, có một quả chuông vàng trên một chiếc bè trôi vào bãi sông thuộc địa phận thôn Nhân Dục, tổng An Tảo, huyện Kim Động, phủ Khoái Châu (nay thuộc phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên), tỉnh Hưng Yên. Dân làng cho là trời Phật giúp bèn góp công góp của dựng chùa, xây lầu treo chuông. Mỗi lần đánh chuông, tiếng vang xa hàng vạn dặm. Do vậy chùa có tên gọi là Kim Chung Tự (chùa chuông vàng), tên thường gọi là chùa Chuông.

Chùa Chuông có kết cấu: Tiền đường, Thượng điện, Nhà tổ, Nhà mẫu và 2 dãy hành lang.

Mặt tiền chùa quay hướng Nam. Qua cổng Tam quan là tới ba nhịp cầu đá xanh, bắc ngang qua ao (mắt rồng). Tiếp đến là con đường độc đạo được lát đá xanh dẫn đến nhà tiền đường.

Nhà Tiền đường có quy mô năm gian hai chái, kết cấu kiểu con chồng đấu sen.

Nối giữa tiền đường và Thượng điện là khoảng sân, giữa sân có cây hương đá còn gọi là "Thạch trụ", bốn mặt khắc chữ Hán ghi công đức của nhân dân đóng góp tu sửa chùa.

Thượng điện cũng kết cấu gồm năm gian hai chái, mang đậm nét kiến trúc thời Hậu Lê. Hệ thống tượng ở thượng điện được bài trí theo thứ tự: trên cùng là 3 pho Tam Thế; tiếp đến là A-di-đà và tứ Bồ-tát; lớp dưới là Văn Thù và Phổ Hiền; tiếp theo là Ngọc Hoàng và Nam TàoBắc Đẩu; tiếp nữa là Địa Tạng Vương và Phạm ThiênĐế Thích; sau cùng là tòa Cửu Long và tượng Thích Ca sơ sinh.

Nối nhà Tiền đường và nhà Mẫu là hai dãy hành lang, kiến trúc kiểu kèo cầu quá giang đơn giản. Hai dãy hành lang được bài trí đối xứng các lớp tượng khác nhau. Đầu tiên là động "Thập điện Diêm Vương", diễn tả cảnh nhục hình mà con người phải trải qua nơi âm giới. Tiếp đến là tượng Bát Bộ Kim Cương, sau đó là 18 pho "Thập Bát La Hán", 18 vị được tạo tác trong tư thế ngồi rất sinh động, rất đời thường. Cuối dãy hành lang là tượng Đức Ông đứng cạnh có Già Lan - Chân Tể và tượng Đức Thánh Hiền, đứng cạnh có Diệm Nhiên - Đại Sỹ.

Hằng năm, vào dịp đại lễ Phật Đản, dịp xuân về, Chùa Chuông lại tổ chức lễ hội, thu hút đông đảo nhân dân trong vùng và khách thập phương. Chùa Chuông cùng các danh thắng khác trong quần thể di tích Phố Hiến là một điểm đến không thể bỏ qua của du khách đến Hưng Yên.

.....................

(Trích từ VÀO CHÙA LỄ PHẬT NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT của Đặng Xuân Xuyến ; Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin 2006)

*

ĐẶNG XUÂN XUYẾN

.

READ MORE - CHÙA CHUÔNG, ĐỆ NHẤT DANH LAM PHỐ HIẾN - Đặng Xuân Xuyến