Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, November 18, 2017

Nguyên Lạc - DỊCH THOÁT THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU





                        Nguyên Lạc         
      DỊCH THOÁT THƠ CHỮ HÁN
              CỦA NGUYỄN DU
                                                                                                                o o O o o
Lời nói đầu: Bài viết này sẽ không được trình bài theo lối truyền thống. Nguyên Lạc sẽ thử dùng cách ĐỐI THOẠI từa tựa như của Plato (*) - cho hai nhân vật sử dụng ngôn ngữ đời thường đối đáp nhau. Hai nhân vật và lời đối đáp vừa là sự thật, vừa là hư cấu được pha trộn. Nguyên Lạc hy vọng cách dùng này sẽ dễ dàng chuyển tải ý mình muốn nói đến độc giả hơn là cách cổ điển.
Bài viết chỉ là gợi ý, chắc còn nhiều khuyết điểm, nhờ các cao nhân góp ý thêm. Có gì ngoài chủ ý xin bỏ quá cho. Trân trọng (Nguyen Lac)


                                              Phần I
                      Ý KIẾN RIÊNG VỀ THƠ


I. DẪN NHẬP
Tôi có một người bạn học từ thời trung học (VKD). Bạn là một tay đọc sách và sưu tầm sách. Tủ sách của bạn có mấy trăm quyền của những tác giả nổi tiếng (trước 75). Tôi cũng là tay ham đọc sách, nhưng hơi "kẹo" nên tủ sách riêng mình chỉ "le que" vài quyển. Tôi phần lớn chỉ "đọc ké" sách bạn cho đỡ tốn tiền.
Sau cuộc bể dâu 4/1975 mỗi người mỗi ngã, mất tin tức nhau. Do sự tình cờ, bốn mươi năm sau chúng tôi liên lạc được nhau qua Email. Bạn giờ ở Úc và tôi ở Mỹ. Lại rồi tiếp tục câu chuyện văn chương ngày nào. Trao đổi nhau về văn chương , thi phú.
Gần đây, Nguyên Lac tôi có gởii đến bạn vài bài thơ dịch thoát  thơ chữ Hán của Nguyễn Du để bạn thường lãm và góp ý.
Những "vấn nạn" phản hồi của bạn về các bài dịch làm tôi giật mình; vội vã "động não", nghiên cứu thêm để trả lời cho bạn VKD  "tường".  Giải thích cho bạn rõ cách thức tôi dịch thoát thơ chữ Hán của  Nguyễn Du.
Tôi xin ghi ra đây Email  gởi bạn VKD, giải thích cách dịch thoát  thơ chữ Hán của Nguyễn Du ; sẳn nhờ các bạn góp ý và chỉnh sửa giùm, vi tôi nghĩ rằng chắc nó có nhiều khuyết điểm.
Trước khi bàn luận về cách dịch, xin các bạn cho tôi sơ lược vài điều về thơ theo quan niệm riêng tôi.


II. SƠ LƯỢC THỂ NÀO LÀ THƠ
Đây là những điều tôi đã học và ghi tâm về thơ từ các bậc tiền bối, đàn anh đàn chị như Nguyễn Hưng Quốc, Thụy Khuê.v.v..Xin được ghi ra đây.
1.
"Thơ mở ra, gợi ra man mác những nỗi niềm tâm sự chung. Thơ là một cảm xúc đi tìm một đồng cảm. Thơ là tiếng nói một người nhân danh tất cả mọi người trong hoàn cảnh ấy, số phận ấy. Nhà thơ chỉ độc quyền được cho mình một cánh cửa. Sau cánh cửa kia là của mọi người...
Trên núi Kính Đình ngày xưa chỉ một mình Lý Bạch ngồi buồn hiu hắt ngắm mây bay chim bay nhưng còn nỗi cô đơn của ông, nỗi cô đơn ấy là của chung của nhân loại. Cả ngàn năm nay, mỗi khi con người lẻ loi trước thiên nhiên thì chợt nhớ lại, đọc lại "Chúng điểu cao phi tận / Cô vân độc khứ nhàn / Tương khan lưỡng bất yếm / Duy hữu Kính Đình san". Ngỡ như nỗi cô đơn và niềm bâng khuâng ấy là của riêng mình
Hoặc nỗi nhớ day dứt, cồn cào của những kẻ lưu cư nơi đất khách, không nguôi một niềm ước mơ vô hạn được trở về: Cử đầu vọng minh nguyệt/Đê đầu tư cố hương (Lý Bạch) giờ đây đâu còn của riêng ông...
Thơ xoá đi cái không gian chết giữa đời này với đời khác. Để những giọt lệ của Kiều ngày xưa còn cay cay trong mắt người bây giờ. Để nhân loại hôm nay còn thấy bàng hoàng trước tiếng thét dài làm lạnh cả hư không của thiền sư Không Lộ một ngàn năm xa xưa.
Nhà thơ làm thơ để loài người tìm thấy một nỗi niềm chung hầu gần lại với nhau hơn; để cho
mỗi người tự thấy tâm hồn mình rộng lớn và đẹp đẽ hơn vô ngần."
(Viết theo Nguyễn Hưng Quốc)
2.
Một bài thơ hay khi ta cảm thấy hình như thơ ấy viết riêng cho mình, thấy có cuộc đời riêng của mình trong đó. Thơ mở rộng cánh cửa để ta đặt cuộc đời riêng mình vào. Nó bây giờ không phải của riêng tác giả nữa, mà là của chung, hoặc nói theo cách khác, của riêng người đọc, người đồng cảm. Cùng cái HỒN THƠ đồng cảm này, người đọc có quyền nghĩ theo (dịch theo  - nếu thơ tiền nhân) kinh nghiệm đặc thù riêng mình - có quyền diễn đạt theo ngôn ngữ, chữ nghĩa hiện đại  riêng mình (về thơ dịch).  Chắc không ai cấm?
Bài thơ tác giả nói về mùa Xuân buồn, người đọc, người dịch thoát có thể đổi sang mùa Thu, vì họ đã có những khinh nghiệm "đứt ruột" trong khoảng đời riêng về mùa này. Hoặc người xưa uống rượu "xưa", bây giờ người đọc, người dịch thoát cũng có quyền đổi thành Beer, rượu Champagne, Hennessy, Whisky .v.v. Phải không các bạn?
3.
Theo tôi, học giả dịch chính xác nguyên tác, nhưng bài thơ dịch cứng nhắc. Đó là bài thơ "mộc"  (gỗ), không có hồn. Nó giống như bức tranh, bức tượng của giai nhân toàn bích đặt trong Khảo cổ viện, nhà trưng bài hoặc trong nhà của thiểu số "đại gia"... Quần chúng chỉ ngắm, không được sờ mó.
Ngược lại, các thi nhân (không phải nghệ nhân) dịch ít chính xác hơn về từ nguyên; nhưng thoát hơn, hiểu rõ "cái hồn" bài thơ hơn nên thường bản dịch của họ dễ đi vào lòng người. Cũng giống như những giai nhân đời thường, không quá toàn bích, nhưng ta có thể ôm ấp, vuốt ve mân mê.
Xin mời bạn thử thưởng lãm hai bàn dịch bốn câu đầu bài TƯƠNG TIẾN TỬU (Lý Bạch)
Nguyên tác:
Quân bất kiến,
Hoàng hà chi thủy
Thiên thượng lai,
bôn lưu đáo hải bất phục hồi.
Hựu bất kiến,
Cao đường minh kính,
bi bạch phát,
triêu như thanh ty mộ thành tuyết. (Lý Bạch)
a.
Con sông Hoàng lưng trời tuôn nước
Xuống biển rồi, có ngược lên đâu!
Nhà cao, gương xót mái đầu,
Sớm còn tơ biếc, tối hầu tuyết pha. (Ngô Tất Tố dịch)
b.
You  có biết?
Nước sông Hòang từ trời rơi xuống,
chảy tuôn ra biển có quay về?
Dại tái tê !
Đứng trước gương thương thay tóc bạc
sáng đang xung chiều đứt bóng đi luôn! (laiquangnam dịch) (1)
Bạn thấy thế nào? Nhất là trong bàn "nhậu" cùng với bạn bè tâm giao?
***
Qua phần trên tôi đã ghi ra sơ lược ý nghĩ riêng mình về thơ, giờ mời các bạn đọc thư tôi gởi trả lời bạn VKD về việc dịch thoát thơ chữ Hán của NGUYỄN DU.


III. THƯ TRẢ LỜI VỀ VIỆC DỊCH THƠ
Như đã nói, để trao đổi niềm vui văn chương, tôi đã gởi đến bạn VKD hai bài thoát dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du: THU CHÍ và ĐỐI TỬU.
Đây là bốn câu đầu của bài ĐỐI TỬU mà bạn VKD "vấn" tôi:
Phụ tọa nhàn song tửu nhãn khai
Lạc hoa vô số hạ thương đài
Sinh tiền bất tận tôn trung tửu
Tử hậu thùy kiêu mộ thượng bôi
(Đối tửu -  Nguyễn Du)
Thoát dịch
Tựa song. mắt rượu. ngồi trông
Hoa rơi lả tả. phủ lòng thảm xanh!
Sống. không cạn chén trọn tình
Chết. ai tri kỷ. rượu nghiêng rưới mồ?
(Nguyên Lạc)


LỜI VẤN CỦA BẠN
Đây là câu những vấn của bạn VKD (nguyên văn):
"Tao thấy bài thơ dịch của mầy có nhiều chổ "lấn cấn":
-- bỏ qua chữ nhàn khá quan trọng!
-- giải thích rõ lại chữ phụ tọa!
-- uống rượu nhìn qua cửa sổ" mà thành "mắt rượu"
-- người dịch phải giữ "ý" chính của tác giả mới được!


IV. GIẢI THÍCH VỀ CÁCH DỊCH THƠ
Tôi vội vàng nghiên cứu và trả lời:
"Bạn VKD, NL sẽ phải giải thích dài để trả lời những thắc mắc sau đây của bạn :
Trước hết, NL biết ý bạn khi viết: "Tao thấy bài thơ dịch của mầy có nhiều chổ "lấn cấn".
_ Bạn đòi hỏi bài thơ phải được dịch xác nghĩa theo từng mặt chữ phải không? NL sẽ giải thích rõ với bạn  ở phần dưới.
Và "người dịch phải giữ "" chính của tác giả":
_ Cái chữ Ý chính theo NL hiểu là "hồn thơ".
Trước khi giải thích cho bạn rõ, NL có vài điều để bạn "tường"
Khi NL viết bài, NL  tham khảo rất kỹ để bảo đảm bài mình viết phải chính xác, nếu không sẽ bị phê phán. Nhất là việc dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du, NL đã tham khảo kỹ tự điển và hỏi rõ các cao nhân."
Đây là những điểm chính cần chú ý, theo NL, khi dịch thơ chữ Hán của Nguyễn Du
1.  Muốn hiểu rõ thơ Nguyễn Du, ta phải biết rõ tâm tư của ông:
Ông không thích nhà Nguyễn; vua Nguyễn ép ông ra làm quan, giống như cây cảnh, để thu phục nhân tâm thôi. Nguyễn Du được thăng chức nhanh, do có tài, ông vẫn thường buồn lặng lẽ, không nói, đến nỗi vua Gia Long còn biết.
Ông nhiều lần từ quan, xin trở về quê, bến Lam gỉang nhưng không được, cuối cùng bệnh mà không chịu uống thuốc để chết lúc 54 tuổi.
Vợ chánh ông rất thương đã chết sớm, ông có viết một bài thơ rất buồn nhớ vợ (NL có dịch). Nhà đông con mà nghèo vì thanh liêm. Cuộc đời ông chỉ có BUỒN (ĐOẠN TRƯỜNG = Đứt ruột), do đó mới có truyền:  "Bài ca mới đứt ruột"  (ĐOẠN TRƯỜNG TÂN THANH)
Vì tựa của truyện Kiều là Đoạn Trường Tân Thanh, nên trong Kiều nhiều chỗ Nguyễn Du tả cảnh sầu đau, sầu khổ, tương tư đến não lòng, đứt ruột. Nguyễn Du rất nhiều lần nhắc tới  từ "đoạn trường".
Ví đem vào tập đoạn trường,
Thì treo giải nhất chỉ nhường cho ai.
hay
Đoạn trường là sổ thế nào?
Đoạn trường lại chọn mặt người vô duyên.
Đoạn trường thay lúc phân kỳ.
Đoạn trường lúc ấy nghĩ mà buồn tênh.
Lại tìm những chốn đoạn trường mà đi.
(Xin xem bệnh "Đứt Ruột" ở phần phụ chú:(+)
Đời ông không có chữ NHÀN (danh từ) hiếu với nghĩa "Thị tại môn tiền náo / Nguyệt lai môn hạ NHÀN" (Nguyễn Công Trứ). Đem chữ NHÀN danh từ vào thơ ông là không hiểu HỒN THƠ ông.
Các bài thơ ông đầy tình nhân bản và tâm sự buồn!
2. Về chữ  THU trong bài Thu chí:
Mùa thu là danh từ dùng cho thời gian, bốn mùa, nhưng nó có nghĩa ước lệ. Mùa THU là mùa thương nhớ, hoài niệm, nhớ về. Mùa để cho văn nhân tự vấn: _Mình đã làm được gì và sẽ ra sao?..
Ngay trong tựa đề Thu chí đã cảm thấy đầy tâm sự, buồn thảm rồi, làm gì có NHÀN danh từ trong thơ


V. TRẢ LỜI CÁC CÂU VẤN
Bây giờ NL xin trả lời từng câu "vấn" của bạn:
a - - "giải thích rõ chữ phụ tọa"
Đúng là ngồi xếp bằng, kiết già chứ không phải ngồi "kiểu nước lụt", ngồi chéo quẩy ... vì ông là văn nhân. Tuy nhiên hai chữ này không quan trọng
b -"bỏ qua chữ nhàn khá quan trọng"  
Chữ NHÀN Nguyễn Du dùng ở đây không phải là danh từ (như trong Thị tại môn tiền náo / Nguyệt lai môn hạ nhàn đã nói). Nó là trạng từ để phụ nghĩa cho động từ ngồi (tọa) và liên hệ với những chữ sau để phụ nghĩa cho khai, trong "tửu nhãn khai". Đây là biệt tài dùng chữ của Nguyễn Du . Đừng nên lầm NHÀN là danh từ. Tuy nhiên, nó cũng không quan trọng. Cái quan trọng nhất của câu này và đưa đến tâm tư của toàn bài là chữ: TỬU NHÃN
c -- "uống rượu nhìn qua cửa sổ" mà thành "mắt rượu"
"Tửu nhãn" là dịch xác nghĩa là "mắt rượu". Khi mùa đến (Xuân/Thu) đến gợi nỗi niềm, Nguyễn Du  dùng rượu giải sầu. Rượu cũng là nỗi buồn chảy trong máu lên mắt. Cũng có thể là hơi, hương rượu... và cả nước mắt (lệ) phủ đầy mắt. Mắt rượu là có nghĩa vậy.
Cũng có thể dịch là "mắt lệ", "mắt ưu tư".v.v. đó bạn.
Đôi mắt ưu tư nhìn lá rụng
Hoặc:
Mắt lệ người thương lá thu rơi
Dịch vậy cũng không sai tâm tư ông
Do đó hai câu :
Phụ tọa nhàn song tửu nhãn khai
Lạc hoa vô số hạ thương đài
Có thể dịch thoát như thế này:
Lặng ngồi độc ẩm bên song cửa
Mắt lệ người nhìn lá hoa rơi!
Hoặc:
Bên song. im ngất.  cùng ly nhớ
Mắt lệ người. nhìn lá thu rơi!
Bạn thấy sao?
c -- "người dịch phải giữ "ý"chính của tác giả mới được"
Câu này chắc không cần giải thích phải không? Ý chính là cái HỒN THƠ đã nói ra rồi, phải không bạn?


VI. KẾT
Đó là những gì NL muốn giải thích đến bạn VKD. Nghề chơi rất công phu, nhất là chơi chữ nghĩa. Nó giống như LÀM TÌNH, nếu hiểu rõ, ân cần, trân trọng ...sẽ đạt tới "thống khoái".
Xin được kết thúc bài bằng hai câu thơ "riêng lẻ" duy nhất đầy tâm sự của Nguyễn Du:(2)
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như


Nguyên Lạc         2017
_____________________________
Nguồn: Thi Viện, Chim Việt Cành Nam,art2all net, Tiền Vệ, Laiquangnam, Nguyễn Hưng Quốc, Bs Nguyễn Xuân Quang, Truyện Kiều, The Journey (Levinhhuy) FB, Net...
(*) Plato [Platon (tiếng Hy Lạp:Platōn "Vai Rộng"), khoảng 427-347 TCN, là một nhà triết học cổ đại Hy Lạp được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều người coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại cùng với Sokrates  (thầy ông).(Wikipedia)
Câu nói nổi tiếng của ông:
Conquering yourself is the greatest feat (Plato)
Tự chinh phục mình là chiến công vĩ đại nhất.
(2) Theo Laiquangnam: "Đây là ý kiến của Laiquangnam Lai:
[...Theo tôi (LQN) cao thủ luôn làm cầu kết trước , hoặc dốc sức vào câu kết  Từ bài Lương Châu Từ. của Vương Hàn đến bài Bạc vãn túy quy của Cao Bá Quát, v.v . Người Việt ít làm thơ tứ tuyệt. Đại cao thủ Nguyễn Du không có bài nào (Hay chỉ mỗi một bài duy nhất?)  Tàu thì nhiều lắm ... Nhân đây, bàn thêm về bài Độc Tiểu Thanh Ký của Nguyễn Du.
Nguyễn Du đã làm hai câu cuối trước. Nhưng khi ráp 6 câu đầu vào thì trật chìa (do đời sau ghép )
Hai câu cuối làm trước.
Bất tri tam bách dư niên hậu
Thiên hạ hà nhân khấp Tố như
Ráp 6 câu đầu không khớp (do mấy người đời sau ráng lắp ghép, một cách cuõng bức). Nguyễn Du là kẻ sĩ sao lại tự so đời mình với một “cô làm bé cho một ĐẠI GIA (Phùng Sinh)"?  Họ đã để Nguyễn Du mang tiếng làm thơ thất niêm. ...] (http://vannghequangtri.blogspot.com/2017/09/tho-hay-tu-tuyet-nguyen-lac_8.html)
--------------------------------
(+) Phụ chú:
Có một chứng bệnh liên hệ mật thiết với “rầu thúi ruột”, “buồn đứt ruột”:
Thò tay mà ngứt ngọn ngò
Thương em đứt ruột, giả đò ngó lơ.
Thương yêu, thất tình, sầu đau đến độ “buồn đứt ruột”, buồn đến độ ruột đứt ra từng đoạn, từng khúc, từ Hán gọi là “đoạn trường”. Chứng buồn rầu đứt ruột này khởi sự từ chứng “rầu thúi ruột”. Chúng ta thường than thở là rầu thúi ruột, buồn thúi ruột, buồn nẫu ruột, buồn não lòng, buồn đứt ruột… Chứng này không những thấy trong văn chương bình dân ca dao tục ngữ mà con thấy trong văn chương bác học, đặc biệt nhất là trong truyện Kiều của Nguyễn Du, vì thế để nói hết ý, trong bài này tôi xin trích dẫn thêm truyện Kiều.
Não lòng thay, bấy hóa công,
Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha…
(Nguyễn Du, Kiều).
hay
Trải qua một cuộc bể dâu,
Những điều trông thấy mà đau đớn lòng.
(Nguyễn Du, Kiều).
Truyện Kiều của Nguyễn Du còn có tên là Đoạn Trường Tân Thanh tức “Khúc Ca Mới Đứt Ruột”. Có thật sự buồn đến nỗi ruột đứt ra từng đoạn từng khúc không? Xin thưa là có. Đứt ruột “đoạn trường” dựa vào sự thật là trong thiên nhiên có một loài khỉ có tình mẫu tử rất tuyệt vời. Khỉ mẹ rất yêu thương con. Vì một lý do gì đó, khỉ con bị chết mà còn thấy xác, khỉ mẹ ngồi ôm xác con cho tới khi xác con rữa thối. Các con khỉ khác trong bầy phải lén rình cướp lấy xác đem dấu đi. Nếu con bị bắt mất, khỉ mẹ ngồi ôm hai bầu sữa, buồn rầu, bỏ ăn, bỏ uống cho tới chết. Đem xác khỉ mẹ mổ bụng ra, thấy ruột khỉ mẹ đứt ra từng đoạn, từng khúc. Vì thế cho nên mới có câu “Buồn đứt ruột” hay đoạn trường là vậy.
THƯƠNG EM ĐỨT RUỘT, GIẢ ĐÒ NGÓ LƠ – NGUYỄN XUÂN QUANG (https://bacsinguyenxuanquang.wordpress.com/)

READ MORE - Nguyên Lạc - DỊCH THOÁT THƠ CHỮ HÁN CỦA NGUYỄN DU

ĐỌC NGƯỢC - Chùm thơ Nguyễn Văn Gia

Tác giả Nguyễn Văn Gia


ĐỌC NGƯỢC

Đường thẳng 

chừng không thông
Thôi thì
phải đi vòng
Uốn éo 
như làm xiếc
Thơ viết 
giữa hai dòng 
Độc đáo
là chuyện đọc
Viết mây bay
trên trời
Biết dưới chân
đất sập
Người đọc 
và kẻ viết
Nhìn qua hiểu ý nhau...
Viết 
không thể viết xuôi
Thôi đành
phải đọc ngược.


BÂNG QUƠ

(thơ lục bát)


Trang giấy trắng

nhớ câu thơ
Cánh buồm nâu
nhớ bến bờ xa xa
Rứa mà 
váy ngắn đi qua
Giả vờ đứng ngó 
rất là bâng quơ...


 BÂNG QUƠ
(thơ 7 chữ)

Nhớ như

giấy trắng nhớ câu thơ
Cánh buồm nâu 
nhớ những bến bờ
Rứa mà
vấy ngắn đi qua ngõ
Có người giả bộ
ngó bâng quơ...



Nguyễn Văn Gia
READ MORE - ĐỌC NGƯỢC - Chùm thơ Nguyễn Văn Gia

“ANH" THẦY - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Tắc giả Lê Hứa Huyền Trân


“ANH" THẦY
Truyện ngắn
Lê Hứa Huyền Trân
               
Từ nhỏ tôi với Học đã chơi với nhau, y chang cái tên của nó, suốt ngày nó chỉ biết cắm đầu vào học, lần nào ai hỏi muốn tương lai làm gì cũng ngoác mồm ra phanh áo vỗ ngực nói rõ to:
- Làm thầy giáo!
Những lúc như thế lũ trẻ xóm núi chúng tôi nhìn nó bằng đôi mắt như nhìn cái gã nào dị hợm lắm rồi phẩy quạt húych trâu đi thẳng, chỉ để thằng nhỏ ở lại đứng ngẩn ngơ chẳng biết mình sai cái gì. Thằng Học ba mẹ mất sớm, nó sống với bà được mấy năm thì bà cũng mất, nhà tôi và nó sát cạnh nhau, ba mẹ tôi thấy thương với tôi cũng là thằng con trai một nên vời nó về nhà ở chung cho có bạn. Chơi thân thì thân nhưng ban đầu nó cũng ngại ngùng, cũng chối từ, ba mẹ tôi thấy nó không ưng cũng không ép nhưng thấy hôm nào nó cũng ăn cơm trộn sắn rồi nấu một món ăn cũng chả ra hồn ( nó nhỏ quá mà), lại xót, bắt nó qua nhà rồi buông thõng:               
-Tính sao tính chứ bắt chạy qua chạy lại đưa cơm cho mày quài cô chú cũng mỏi quá, liệu mà dọn qua đây ở chung luôn cho tiện ! Cách có cái giậu mồng tơi mà chảnh!
Ba mẹ tôi chỉ “ dằn mặt” nó vậy thôi mà nó sợ, nó chối đây đẩy:
-Con nào dám…! Tại con ngại , do con nhỏ quá chưa làm được gì cho nhà mà đã động chén động đũa…
Ba tôi quát:
-Thế ra mày nghĩ nhà này cần tiền à? Láo!
Âý thế mà ba tôi đè nó ra đánh thật, nhưng đánh không phải vì giận nó mà vì “ để nó khóc”, nó cứ tỏ ra mình mạnh mẽ để không làm phiền lòng đến ai hết, ngày bà mất cũng cắn răng cắn lợi không khóc để lo tang lễ cho chu toàn, chứ nó vật ra đó thì ai chạy đôn chạy đáo lo mọi việc cho được. Nó khóc vì đau, vì bao cảm xúc dồn nén nay chực òa mà cũng vì nó chưa bao giờ hiểu được cảm giác khi bị “ ba đánh đòn” là gì. Thế rồi căn nhà nhỏ lụp xụp của tôi có thêm một thành viên, ba mẹ tôi dù phải thêm miếng ăn càng nai lưng ra để làm nhưng chưa bao giờ than phiền và đối xử công bằng với cả hai đứa, có khác chăng chỉ là tôi… bị đánh đòn nhiều hơn nó vì quậy. Học rất siêng, nó bảo siêng mới làm thầy được, phải giỏi thì khi nói người ta mới phục, nó lại rất hay lí luận, hồi nhỏ tôi thấy mấy câu dông dài của nó thì phiền phức thật nhưng lớn lên một chút  lại nhận ra có nhiều điều đúng mà chỉ một đứa trưởng thành trước tuổi như nó mới có thể nghĩ ra.
-Có lắm nghề kiếm tiền mà sao cứ muốn làm thầy chi vậy? Tao nghe nói làm thầy giáo nghèo lắm, mày học giỏi kiếm cái nào có tiền mà làm, chi uổng tương lai.
-Tao thích làm thầy, để còn dạy cho mấy đứa nhỏ nghèo như tao, hơn nữa trước khi mất bà tao cũng muốn tao làm thầy, thế mới nên người.
Nó nói mà làm thật, khỏi phải kể cái sự dông dài thành tích học tập của nó, rồi nó thi vào Sư Phạm, phải lên phố học, tôi cũng theo nó lên phố nhưng do tôi học không tới nên lên phố làm. Ngày ba mẹ tiễn hai đứa đi, mẹ tôi khóc như mưa cứ ôm nó mà vỗ vỗ, ba tôi lại dặn dò nó đủ điều chỉ có tôi đứng trơ ra chẳng biết ai mới là con hai người. Lên phố, hai đứa tôi thuê chung một phòng trọ nhỏ, nó miệt mài học, tôi siêng năng làm, có việc gì không vừa ý tôi lại về hỏi nó. Năm đầu tiên nó được nhận học bổng, bạn bè cùng lớp có đứa rủ đi ăn, nó cũng rủ tôi theo, có người tốt tán dương nó, lại có kẻ móc mỉa:
-Nói thiệt chứ biết cậu khó nên thầy cô giáo cũng thương, cái điểm cái tình hết mà. Cứ thế này thì học bổng có nước theo cậu nối gót.
Trong khi tôi bực thì Học chỉ mỉm cười nhã nhặn, tối về tôi ức không chịu được trách nó sao để thiên hạ đè đầu đè cổ, nó chỉ cười:
-Thiên hạ với mình, xét cho cùng cũng là người lạ, lời người lạ nói, hay thì làm ta mát lòng, dở thì ta xem như gió thoảng qua tai, có quan trọng gì đâu mà ta phải bận tâm.
Thấy nó nghĩ thông, tôi cũng không thêm vào làm to chuyện. Nó lớn trước tuổi, lại là chỗ dựa cho tôi, chỉ bảo tôi nhiều chuyện, lại lớn hơn tôi một tuổi nhưng chẳng bao giờ tôi gọi là anh. Tuy lời nó nói với người rỗng tuếch như tôi đôi khi hơi khó hiểu nhưng ngẫm lại thì thấy đúng. Chẳng hạn như làm việc tay chân như tôi mà cũng bị cấp trên kiếm cớ trừ bớt lương, làm tối mặt tối mũi về nằm ấm ức, nó khuyên:
-Người ta là chủ, người ta có quyền định đoạt, khi người ta đã muốn lấy của mày thì dù mày có đủ nghĩ cách ngăn chặn vẫn có cách tuồn bớt thôi. Khôn ngoan mới lên làm chủ được chứ. Mày cứ gắng làm, nếu người ta thấy thương thì người ta cho gỡ gạc lại, còn nếu đã không ưng thì có cố cũng không được, lúc đó nghỉ đi.
Tôi giật mình:
-Mày nói nghỉ là nghỉ à? Công việc người ta dễ kiếm lắm chắc. Gì thì gì cũng cắn răng mà làm chớ.
-Thế nếu mày đã có quyết định là sẽ làm tiếp rồi thì ở đó mà than thở làm gì?
Tôi ngớ người ra rồi chợt hiểu bị thằng bạn bắt thóp, nó lúc nào cũng có những lí luận đanh thép hoặc khiến người ta nhận ra điều người ta muốn làm chỉ với một câu chốt hạ. Sau này cũng thế, cuộc đời của tôi mọi khó khăn đều được nó san sẻ,trong mắt tôi, dù nó vẫn chưa tốt nghiệp, thì nó đã như một người thầy trong cuộc đời tôi vậy.
Sau khi tốt nghiệp, nó quyết định lên miền núi dạy, cái quyết định của nó không làm cả nhà tôi bất ngờ nhưng kì thực vẫn không muốn nó đi. Đường đi đã hiểm trở, lương bèo bọt rồi lên đó đâu phải lúc nào thầy cũng được trọng dụng, đôi khi còn phải năn nỉ vận động người ta đi học, khó khăn đủ bề, nhưng nó vẫn quyết tâm đi. Nó đi biền biệt ba năm, mỗi năm về thăm nhà một lần, lần nào cũng đen và ốm đi khiến ba mẹ tôi xót lên xót xuống, lại móc:
-Làm thầy khổ cực lắm hả con? Thằng Li thì mập phơi thây cả ra, còn con thì gầy nhom, đen nhẻm!
Tôi chỉ biết túc tắc đầu. Đúng là nó khác, nhưng thấy đĩnh đạc, thấy đường hoàng hơn. Tối, hai thằng nằm ngủ tại tấm phản sau hiên nhà, nhìn ánh trăng rơi gọn vô cái chum nước, nó lúc lắc:
-Ở trên đó nhiều lúc nhớ quê, nhớ ba mẹ, nhớ mày khủng khiếp, nhưng cứ sáng đi làm, thấy đám trò nhỏ biết thêm một con chữ tự nhiên hết cả mệt nhọc.
Tôi đang định khoe với nó tháng này tôi mua thêm cái áo mới, sắm thêm cái tủ, rồi kể về việc tán tỉnh một cô nàng nào đó nhưng rồi bỗng thấy tất cả chợt vô nghĩa, tất cả như quá xa xôi và vớ vẩn trước những điều nó vừa nói.
-Dẹp cái suy nghĩ của mày đi. Có một ông cụ non ở đây rồi thì nên có một trai trẻ để đời bớt nhạt.
Nó như nắm được suy nghĩ của tôi nên nói ra, và lúc đó tôi lại hào hứng kể cho nó nghe về những gì đang xảy ra với tôi như hồi còn bé, chỉ có điều là bây giờ đã là hai người đàn ông ngấp nghé tuổi ba mươi.
Tuy nó kể trên chỗ nó làm không quá đỗi khó khăn nhưng tôi vẫn quyết định lén lên thăm nó một lần. Con đường khúc khuỷu xe không thể đi nên phải lội bộ, ngay khi tôi mới vào làng, hỏi thăm “thầy giáo Học” đám trẻ đã ríu rít cả lên như nhìn tôi từ …ngoài hành tinh tới. Mấy người lớn trong làng kéo tôi vão chõng ngồi :
-Thầy lên núi bẻ măng với đám học trò rồi, nay học khuya, nấu ăn. Cậu bạn thầy à? Cũng gọi là thầy nhỉ?
Rồi thấy tôi hơi e ngại vội rót cho tôi miếng nước vối, thúc tôi ăn miếng bánh vừa đun.
- Ăn đi, ăn đi, bạn thầy cũng là bạn làng mà.
Tôi chợt thấy ấm lòng trước những điều bình dị nhất mà bấy lâu nay vì bôn ba chốn phố thị lạnh lẽo tình người đã nỡ lãng quên. Ăn vội miếng bánh tôi ra chơi với đám nhỏ đang đánh đáo trước sân, đám nhỏ bu lấy một người lạ như tôi như một người quen chỉ vì tôi là bạn của thầy giáo chúng, đủ biết đám nhỏ thương thầy nó như thế nào. Những trò đám nhỏ chơi, những trò tôi và thăng Học đã cùng nhau chơi, bỗng trở nên quen thuộc.
-Mày tới khi nào? Sao không báo?
Thằng Học cất tiếng gọi tôi trong khi đám nhóc đang bu lấy nó, tôi thấy ánh mắt nó lấp lánh vô cùng. Dù không biết trên này có khó khăn như những gì dưới xuôi nói hay không, tôi cũng thấy với nó, nó đang tận hưởng những gì mà nó cho là hạnh phúc nhất.
-Thì tao muốn làm “thầy” bất ngờ mà.
Rồi tôi chưng hửng, gì mà “thầy”, lậm tiếng mấy người gọi nó mất rồi. Ừ, thì anh “thầy” bất ngờ!
Nó lớn hơn tôi mà, kêu là anh cũng đúng, rồi thêm chữ thầy vào cho ra dáng, thế là ra cái danh xưng kì cục mà cả hai chúng tôi đều bật cười.

Tác giả: Lê Hứa Huyền Trân

Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định
READ MORE - “ANH" THẦY - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

Friday, November 17, 2017

THƯƠNG TIẾC NGUYỄN VĂN QUẢNG NGÃI - Chu Vương Miện


        


        NGUYỄN VĂN QUẢNG NGÃI
                               Chu Vương Miện giới thiệu 


TIỂU SỬ TÁC GIẢ:

Tên thật là Nguyễn Văn Sang
Sinh quán tại Quảng Ngãi
Trước năm 1975 sinh họat trong các lãnh vực Giáo Dục, Chính Trị
Từ 1975 đến 1984: Học tập cải tạo tại trại Kim Sơn - Bình Định  
Định cư tại Hoa Kỳ muà hè 1985.
Làm việc trong nghành Giáo Dục và Xã Hội tại Hoa Kỳ , cũng như tại Đông Nam Á.
Tốt nghiệp Cao Học Xã Hội (M&W)
Từ 1986 đến 1992 viết cho nhiều báo ở Hoa Kỳ và Gia Nã Đại dưới các dạng thơ, tùy bút ,truyện ngắn , bình luận , giới thiệu sách 
- Đã xuất bản "  Hoen Mầu Thời Gian 1991
- Đã hoàn tất " Xanh Mầu Thời Gian "

     
                Nguyễn Văn Quảng Ngãi


PHỤ LỤC

Thơ trích :

xin chào tất cả quê hương
xin chào : hai tiếng tầm thường mà đau
nghìn xưa cho mãi về sau
nỗi sầu ly biệt viết sao cho tròn
                     Vũng Tàu 1984

Ta còn gì lại cho ta
vinh quang tủi nhục đã qua một thời
giờ ta làm lại cuộc đời
niềm đau vong quốc bồi hồi tâm tư
           Ga lăng Nam Dương 1985

bơ vơ quá giữa quê người
đón xuân lặng ngắm đầy trời tuyết bay
mà này mà rượu chẳng cay
niềm thương nỗi nhớ viết hoài chưa xong
                                   Oklahom 1988

có con chim nhỏ kêu chiều
có làn gió thoảng đìu hiu cuối trời
có mênh mông một mình tôi
nhìn hoàng hôn xuống thương đời lưu vong
                                            Kansas 1989

đêm đêm lộng lẫy phố phừờng
uống theo điệu nhạc giọt buồn phương Đông
niềm thương nỗi nhớ mênh mông
làm thân nhược tiểu xuôi dòng nổi trôi
                                    Manila 1992

em đi xõa tóc trùng dương
nguy nga cung điện phố phường nguy nga
một trời Đông Á bao la
vành trăng huyền nhiệm cho ta nỗi sầu
                                     Bangkok 1994

ừ thì ta lại ra di
làm thân lưu lạc ngại gì đổi thay
xuôi dòng ta lạc về đây
cảm ơn con nước bến này mát trong
                               Dallas 1997

mẹ ru con ngủ giấc nồng
mặt trời lên tỏa ánh hồng khắp nơi
sữa thơm ngọt lịm cuộc đời
uống no con nhoẻn môi cười. Cha vui
                                       Dallas 1999


     


THƯƠNG TIẾC NGUYỄN VĂN QUẢNG NGÃI
                   M.Loan Hoa Sử & Chu Vương Miện

1.
 trước hoặc sau cũng về với đất
ôi kiếp người kiếp vật giống nhau
trăm năm chẳng có gì đâu ?
mà người giang vĩ giang đầu ngóng nhau ?
thì cũng vẫn cồn dâu thương hải
thì cũng toàn vạn tải quan san
hết dân rồi lại tới quan
giấc hoàng lương buổi chiều tàn về không ?
hết hồ thỉ tang bồng tứ hải
hết khổ sai đầy ải quê nhà
cuối đời ta chẳng gặp ta
toàn là số phận vịt gà giống nhau
cáo khôn chết quay đầu về núi
người tài danh về hội Long Hoa
quản chi nơi chốn ta bà ?
Sang ơi 1 cõi toàn hoa nở vàng

2.
Vạn Lý Chẻng Chẻng
cũng thành đất sét
đất hoang cỏ mọc
dù là bao nhiêu triệu quân dân phu
đã chết ?
nay chỉ còn một vài điểm 
làm nơi nghỉ mát
du lịch
còn bao nhiêu chả còn di tích
ôi lịch sử và thời gian
cái gì đã qua 
là mất tích ?

3.
Bát bó
sớm nắng chiều mưa
ở không đi mua đất
đỉnh đồi lưng đồi chân đồi
đất xa đất gần
xem quan tài
xem nhà quàn
xem thêm lò đốt xác ?
ở không nhìn bầy quạ khoang
đậu trên hàng mộ bia
miệng kêu quàng qụạc

      Chu Vương Miện


READ MORE - THƯƠNG TIẾC NGUYỄN VĂN QUẢNG NGÃI - Chu Vương Miện

ANH KHÔNG LÀ MỘT NỬA ĐỂ THƯƠNG YÊU - Thơ Châu Thanh Thủy



                      Tác giả Châu Thanh Thủy

ANH KHÔNG LÀ MỘT NỬA ĐỂ THƯƠNG YÊU

Anh ! Hãy đừng vội đánh thức tiếng ve
Ta vẫn muốn để mùa hè say ngủ.
Gợi làm chi để mất công luyến nhớ,
Phải xôn xao những kỉ niệm mùa xưa…

Anh ! Hãy đừng ! Trời vần vũ cơn mưa
Ta không thể vẫn cho anh ở lại
Bên song buồn ta vẫn đơn côi mãi
Vẫn riêng ta và ta chỉ là ta !

Anh ! Hãy đừng nói mai mốt đi xa...
Ta không nhớ ! Anh đừng mong ta nhớ .
Con tim ta không có nơi để ngỏ
Cho mênh mông những ảo ảnh u hoài.

Anh ! Hãy đừng nhắc đến những ngày mai
Ta đâu mượn bờ vai anh để tựa.
Trên đường đời, bước ta không lần lữa
Anh không là một nửa để thương yêu !

                            Châu Thanh Thủy

READ MORE - ANH KHÔNG LÀ MỘT NỬA ĐỂ THƯƠNG YÊU - Thơ Châu Thanh Thủy

Wednesday, November 15, 2017

NHỮNG CÂU THƠ MỌC TỪ CÂY ĐỜI - Phan Nam




Những Câu Thơ Mọc Từ Cây Đời

 Đà Nẵng một ngày cuối thu, trong một dịp tình cờ, tôi nhận được tác phẩm mới “Như Hạt Bụi Đam Mê” của tác giả Thụy Sơn (NXB Hội Nhà văn, tháng 8-2017).
Mùa thu là mùa của thi ca, mùa của bao nỗi niềm riêng mang trào dâng dịu dàng. Và đặc biệt, mùa thu là mùa của yêu thương. Nữ sĩ Xuân Quỳnh với bài “thơ tình cuối mùa thu” làm say đắm biết bao trái tim hậu thế: “Chỉ còn anh và em/ Là của mùa thu cũ/ Chợt làn gió heo may/ Thổi về xao động cả”. Tâm hồn tôi cũng chợt xao động khi lật mở từng trang thơ trong chiều thu lộng gió bên bờ sông Hàn. Với 121 bài thơ, chủ yếu là thể thơ Đường luật, nhà thơ Thụy Sơn đưa độc giả yêu thơ vào không gian thấm đượm “sắc nâu sòng, màu của thiền, của chiều sâu tâm khảm” (Nguyễn Thúy Hồng). Tôi không biết nhiều đến “thiền” nhưng luôn tìm thấy trong thơ của Thụy Sơn những sắc màu phiêu lãng phối trộn rất hài hòa khung cảnh huyễn hoặc, mê say. Nhà báo Nguyễn Thúy Hồng băn khoăn về sự chật hẹp của thời gian nên thi ca cứ trôi tuột tận đáy sông sâu, người người hững hờ lướt qua nhau về phía vô cùng, chỉ còn trang thơ hồn hậu bao dung tồn tại mãi. Thơ của Thụy Sơn thật sự cuốn hút nên cầm lên là không nỡ đặt xuống để làm việc khác, mặc dầu tâm tưởng không cho phép mình “tay cầm sợi nắng tay buông gió/ một gánh vô thường một gánh mây” (Thong Dong). Trong dòng chảy tưởng vô hình của cuộc sống, thi ca vẫn đang đâm chồi nảy lộc mời gọi con người vào trú ngụ. Và tác giả Thụy Sơn đã khéo léo mắc lên từng chồi non, nách lá những vần thơ của tận cùng xúc cảm, rút hết từ gan ruột tự thân đắm chìm và giải thoát. Nhiều khi ao ước được làm “hạt bụi nghìn trùng” lay động cõi người u mê, bụi bặm về với thế giới khác, thế giới thánh hiện, không vướng bận chuyện cơm-áo-gạo-tiền. Thoát khỏi bộn bề của cuộc sống thường nhật, thơ của chị phác họa không gian cũ kỹ, huyễn hoặc, đầy mộng mơ. Cái không gian ấy mặc nhiên trở thành chất xúc tác giúp cho vần thơ cất lên trọn vẹn:
Có một vì sao cuối trời đi lạc
Rơi xuống đời hạt tâm thức tinh anh
Chẻ tan mây làm ngọn gió trong lành
Về bên sông Thu Bồn hóa duyên
Cùng đất trời trong hình hài mới.
                            (Giai Thoại Về Anh)
Ngọn gió thi ca là một ngọn gió có thật, vẫy gọi bước chân thi nhân đi tìm khám phá, dẫu biết rằng vẻ đẹp phù phiếm sẽ rơi rụng và không tồn tại. Nhưng tự trong sâu thẳm, đôi cánh nghiệp duyên đã gieo nhân lành, nên cây đời trổ hoa đầu ngọn bút, giúp thơ bay cao, bay xa. “Em tinh khôi bên anh giờ tan trường cổng kín/ Trưa Cẩm Nam chiều An Hội - sông Hoài/ Khoảng trời xanh mây nước chung đôi/ Tay trong tay mùa chín vàng thương nhớ” (mùa hoa bưởi), khẽ rung giọt sương tinh khôi, gom chút nắng vàng lênh loang khóe mắt. Dấu xưa, tiếng cũ vẫn đang thành hình hài, nuôi dưỡng xác thân, án ngự tâm hồn. Dẫu đôi khi được khai thác quá liền trở thành lối mòn khiến người đọc nhàm chán, nhưng tôi vẫn tìm thấy những khoảng trống khó lý giải ánh lên những tia chớp, những đốm lửa, những cung bậc man mác u hoài, vang vọng tự cõi nghìn trùng. Lan man trong cõi thơ Thụy Sơn chợt nhớ đến câu thơ của tác giả Vĩnh Thông: “Điều bình thường mỗi ngày/ Ta gọi là dư vị cuộc chơi/ Nếu không có những điều bình thường/ Ta hôm nay sẽ khác...”. Đọc thơ Thụy Sơn tôi đã tìm được chính mình, biết yêu thương cuộc sống, luôn mong mỏi chiếm lĩnh bến bờ tương lai. Của hạnh phúc và tin yêu. Từ những vần thơ mọc từ cây đời lên xanh...
Đà Nẵng, tháng 10.2017
PHAN NAM


READ MORE - NHỮNG CÂU THƠ MỌC TỪ CÂY ĐỜI - Phan Nam

LẦN TRỞ LẠI CỦ CHI - Thơ Trúc Thanh Tâm



LẦN TRỞ LẠI CỦ CHI

 Sông Sài Gòn về Bình Dương xa ngái
 Bến Vượt nào để ta đến thăm em
 Tiếng gió rít mà khiến ta chột dạ
 Kinh Thầy Cai chìm dưới ngọn mưa êm !

 Chiều yên ả ai cắm sào thương nhớ
 Ta thấy mình như lạc giữa vườn hương
 Nụ cười em khiến lòng ta say sóng
 Mắt mùa thu giăng một chút mây buồn !

 Và, từ đó ta thương hoài Hậu Nghĩa
 Yêu con đường làng bùn dính áo em
 Xin làm gió được chui qua kẽ tóc
 Lúc học bài từng sợi cũng ngủ quên !

 Giờ trở lại Củ Chi vui hơn trước
 Nắng ngày xưa làm nếp áo cũ rồi
 Theo năm tháng em qua thời con gái
 Nhưng men tình chưa hết ở làn môi !

 TRÚC THANH TÂM
 ( Châu Đốc )
_____________

 PHỤ CHÚ:

 - Thời nhà Nguyễn, Củ Chi thuộc huyện Bình Dương, phủ Tân Bình, trấn Phiên An. Năm 1836, thuộc huyện Bình Dương, tỉnh Gia Định. Năm 1956, Củ Chi trở thành quận của tỉnh Bình Dương, được thành lập do tách hai tổng Long Tuy Thượng và Long Tuy Hạ của quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định.

 - Huyện Củ Chi có sông Sài Gòn chảy qua. Các hệ thống kênh rạch tự nhiên khác, đa số chịu ảnh hưởng trực tiếp chế độ thủy văn của sông Sài Gòn như Rạch Tra, Rạch Sơn, Bến Mương. Riêng kinh Thầy Cai chịu ảnh hưởng chế độ thủy văn của sông Vàm Cỏ Đông. 

- Năm 1963, lập tỉnh Hậu Nghĩa, nửa quận Củ Chi vẫn giữ tên cũ, thuộc tỉnh Hậu Nghĩa, nửa còn lạị là quận Phú Hòa, tỉnh Bình Dương. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 quận Củ Chi của tỉnh Hậu Nghĩa hợp với quận Phú Hòa, tỉnh Bình Dương thành huyện Củ Chi, thuộc TP Hồ Chí Minh.

- Bến Dược là tên gọi của vùng đất Phú Mỹ, Phú Thuận từ năm 1929, nay thuộc xã Phú Mỹ Hưng. Trước kia, nơi đây là địa điểm vượt qua sông Sài Gòn để đi qua các tỉnh Đông Nam Bộ khác. Giai thoại kể rằng, nguyên là tên Bến Vượt, nhưng do cách phát âm của người Nam bộ, đã bị biến âm, nói trại đi thành Bến Dược như hiện nay.
READ MORE - LẦN TRỞ LẠI CỦ CHI - Thơ Trúc Thanh Tâm