Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, October 19, 2017

BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU - Nguyên Lạc

Tác giả Nguyên Lạc
                            
Nguyên Lạc  
  
BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU 

I. THU ĐẾN

Sáng sớm hôm nay trời hanh lạnh! Mùa thu lại trở về ? Ngẩng nhìn trời, một mảnh trăng treo trong khoảng trời xanh thật nhạt. Buồn! Trở vào nhà, đến phòng mở You Tube nghe bài "Mùa thu chết" lời của Guillaume Apollinaire, với lời dịch tuyệt vời của Bùi Giáng, phổ nhạc bởi người nhạc sĩ tài hoa Phạm Duy và lời hát ngọt ngào của Lệ Thu.

Ta ngắt đi một cùm hoa Thạch thảo *
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Đôi chúng ta sẽ chẳng còn nhìn nhau nữa
Trên cõi đời này
Từ nay mãi mãi không thấy nhau ! ...
[Mùa Thu Chết (Lệ Thu - Phạm Duy -thơ dịch Bùi Giáng )]


Mùa thu là một cụm từ ước lệ. Mùa thu là mùa thương nhớ, hồi tưởng của người ly hương vọng về cố quốc. Người xưa thường dùng mùa thu để tự vấn, tự soi rọi lại cuộc đời mình: Đã làm được gì và sẽ về đâu?

Lòng xao xuyến, tìm đọc lại thơ của người xưa, những bài về thu, để hồi tưởng quê hương

II. BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU

A. SƠ LƯỢC TIỂU SỬ NGUYỄN DU

Sinh: 3 tháng 1, 1766 Bích Câu, Thăng Long
Mất: 16 tháng 9, 1820 (54 tuổi) Huế
Bút danh: Tố Như, Thanh Hiên, Hồng Sơn lạp hộ, Nam Hải điếu đồ.

Nguyễn Du đã để lại một di sản văn chương đồ sộ với những tác phẩm kiệt xuất, ở thể loại nào ông cũng đạt được sự hoàn thiện ở trình độ cổ điển.

Thơ chữ Hán: Nguyễn Du có 3 tập thơ: Thanh Hiên thi tập, Nam trung tạp ngâm, và Bắc hành tạp lục.
Thơ chữ Nôm: Nguyễn Du có hai kiệt tác Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) gồm 3254 câu thơ lục bát và Văn tế thập loại chúng sinh gồm 184 câu viết theo thể song thất lục bát.

B. BÀI THƠ THU CHÍ

Đọc lại thơ chữ Hán của ngài Nguyễn Du, tôi sững sờ khi gặp bài THU CHÍ. Sao giống tâm trạng mình quá, vội vàng ghi ra đây va dịch thoát theo cảm nhận của mình để chia sẻ (Có gì xin các cao nhân bỏ quá cho)
Xin được mến tặng các bạn sống vùng Hương Giang dịu hiền kinh thành HUẾ, và xin cho "nhận vơ" đây là dòng Hậu Giang cho đỡ nhớ thương!

1. NGUYÊN TÁC

THU CHÍ

Hương Giang nhất phiến nguyệt
Kim cổ hứa đa sầu
Vãng sự bi thanh trủng
Tân thu đáo bạch đầu
Hữu hình đồ dịch dịch
Vô bệnh cố câu câu
Hồi thủ Lam Giang phố
Nhàn tâm tạ bạch âu
(Nguyễn Du)

2. DỊCH THOÁT

THU ĐẾN

Hương Giang ngậm mảnh trăng gầy
Một dòng lệ ngọc. đong đầy cổ kim *
Mồ xanh. chạnh nhớ buốt tim
Mùa thu lại đến. bạc thêm mái đầu!
Có thân. phải khổ. phải sầu
Dẫu không bệnh. vẫn lưng đau khom vòng!
Lam Gỉang bến cũ ngoảnh trông
Cố an lạc. biết phụ lòng cánh âu!
(Nguyên Lạc)
------------------------------------------------------------
- Mồ xanh (thanh trủng) là mộ phần của tiền nhân tác giả Nguyễn Du
- Lam Gỉang là quê hương Nguyễn Du
- Bạch  u là loài chim thiên di, đến mùa hẹn lại trở về.Từ "phụ lòng cánh âu" có nghĩa là lỗi hẹn về quê (Lam Gỉang)
(*) Xin giải thích về:"Một dòng lệ ngọc ": Đây là NL muốn sử dụng điển tích của cụ Nguyễn Du đã mượn của Lý Thương Ẩn trong truyện Kiều:

Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ
Lam điền nhật noãn ngọc sinh yên
(Cẩm Sắt - Lý Thương Ẩn)

Dịch
Sáng trăng thương hải, châu hàm lệ
Nắng ấm lam điền, ngọc khói bay
(DaoTran & laiquangnam)

Trong sao châu rõ duềnh quyên
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông! ( Kiều 3203 - 3204 -Nguyễn Du  )

@1.  Câu “Thương hải nguyệt minh châu hữu lệ”. Ý thơ tưởng chừng như chỉ để tả cảnh: Mỗi lần một đầu sóng xô nhau trên mặt biển xanh dưới ánh trăng sáng, đâm bổ đầu xuống thì lập tức có muôn ngàn giọt nước sinh ra, nhận được ánh trăng, nó loé sáng lên. Thật ra còn "Tình đáp tình".  Những hạt nước này nay được ánh trăng rọi vào viền cho nó thành mỗi giọt châu lệ.(1)
@2. Theo NL, tùy theo tâm trạng, bạn có thể đổi thành:
1. Hương thủy "nguyệt minh châu hữu lệ"  (Dành cho sông Hương)
2. Hậu thuỷ "nguyệt minh châu hữu lệ" (Dành cho sông Hậu)
Ai cấm phải không các bạn ?
----------------------------------

C. LỜI KẾT

Tính nhân bản là một thuộc tính của thơ hay, nước nào cũng có, chỉ có trước hay sau thôi. Hãy trân trọng cái hay của tiền nhân, của đất nước!

Chúc một mùa thu an lạc!

Nguyên Lạc   8/2017
--------------------------
Nguồn: Laiquangnam, Chim Việt Cành Nam, Art2all net, Thi Vien...
(1) Laiquangnam Lai:
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_lythuongan_camsat_B.htm
(*) Bùi Giáng
Ông là nhà trí thức lớn, là giáo sư đại học, là học giả, dịch giả, là triết gia, là thi sỹ, là phù thuỷ ngôn ngữ, là kẻ lãng du thiên tài không màng thế sự....

Vĩnh Biệt
Ta đã hái nhành lá cây thạch thảo
Em nhớ cho mùa thu đã chết rồi
Chúng ta sẽ không tao phùng được nữa
Mộng trùng lai không có ở trên đời.
Hương thời gian mùi thạch thảo bốc hơi
Và nhớ nhé ta đợi chờ em đó...!
(Bùi Giáng dịch & Phạm Duy phổ thành bài Mùa Thu Chết)

Nguyên tác: 
Nous ne nous verrons plus sur terre
Odeur du temps brin de bruyere
Et souviens-toi que je t'attends
(Appolinaire)

@.các bạn hay bài nhạc thu:
LỆ THU - NƯỚC MẮT MÙA THU
https://www.youtube.com/watch?v=2S0bfw6a9hc&list=RDCFlZIYMi7nM&index=3





READ MORE - BÀI THƠ THU CHÍ CỦA NGUYỄN DU - Nguyên Lạc

HƯƠNG THU - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân


Tác giả Lê Hứa Huyền Trân


HƯƠNG THU
Lê Hứa Huyền Trân
(Tặng cậu T của tôi)

            Tôi rất ít khi viết về cậu. Cứ giống như có một thói quen cố hữu khó bỏ là thích giữ những thứ quan trọng đặc biệt cho riêng mình. Bởi thế cậu hay bảo tôi ích kỉ, nhưng là kiểu ích kỉ rất dễ thương, rất con nít. Tự nhiên hôm nay tôi lại muốn viết về cậu, viết khi mùa thu đang đưa đẩy những hương thơm đầu tiên, và cậu đã ở cạnh tôi kể cho tôi nghe về mối tình rất đẹp của cậu trong những mùa thu đong đầy nắng ấy.
            Cậu chỉ lớn hơn tôi vài tuổi, cậu là con út của ông bà nên được cưng lắm, tuy nhiên cậu lại có cái vẻ già trước tuổi, từng hành động của cậu đều như được suy nghĩ rất kĩ để mang trong mình một giá trị nào đó. Tôi còn nhớ khi tôi bước vào cấp hai thì biến cố gia đình xảy ra, thế là cả nhà tôi chuyển về quê ngoại. Tôi học tiếp cấp hai ở đây. Cậu khi ấy “đại ca” lắm,  lúc ấy đã lớp 9 rồi, thế mà cứ qua lớp tôi rồi chỉ chỏ: "Cháu tao đấy, đừng có ai ăn hiếp nó.” Thế mà có ai tin đâu, toàn ghẹo chúng tôi là tình nhân của nhau, bởi tôi mới chuyển về, chưa ai biết tôi là con cháu của ai cả. Những lúc ấy cậu lại quệt mũi phì cười: "Là người yêu hay là cháu tao thì chúng mày cũng không được ăn hiếp nó, không tao bắt chúng mày trói hết vào tổ kiến cả lũ.” Thế là đám bạn mới của tôi phì cười, cậu cũng bật cười rồi chạy bay về lớp. Cũng nhờ như thế mà tôi dễ chơi với đám bạn trong lớp hơn, vì tôi vốn là cô bé nhút nhát không dám gợi chuyện, nên khi cậu làm cho “lễ ra mắt” của tôi trở nên “hoành tráng” như thế thì bạn học bắt đầu chú ý tới tôi hơn và gợi chuyện với tôi.
            Cậu hay bày tôi những trò chơi rất dân dã, như cứ tới mùa gặt, khi người ta bắt đầu gặt lúa, nhưng lúa vẫn vương vãi đầy cánh đồng, mấy mụ vịt thi nhau ăn cho béo no béo núc, cậu è cổ rượt chúng nó chạy, thế là chúng nó tung cánh vẫy đạp đủ kiểu lạch bà lạch bạch chạy trông rất buồn cười. Hay có khi tôi đang ăn cơm, cậu bắt tôi ăn thật nhanh rồi kéo tôi chạy bay ra đồng, vạch cỏ vạch lá bắt châu chấu cào cào về chiên mặn, mỗi đũa là một con ăn với cơm nóng cứ phải nói là bá cháy. Ban đầu tôi không ăn được vì thấy…ghê ghê, nhưng cậu lại so sánh chúng với những con cá cơm khô săn của mẹ vì biết đó là thứ tôi thích nhất thế tôi mới ăn, và thích mê tới tận giờ.
            Cậu rất chú ý tới sở thích của tôi. Cũng bởi tôi mới chuyển về quê nên có nhiều cái tôi còn bỡ ngỡ, trong nhà lại toàn người lớn nên tôi cũng khó nói chuyện, thế là cậu tìm mọi cách gợi chuyện bày tôi những trò chơi, mà sau này mỗi khi tôi hỏi cậu lại bảo: "Thế không phải cháu thích những người đông trang lứa à? Cậu cũng sàng sàng cháu chứ mấy.” Cậu biết tôi thích văn nên cứ cố gợi cho tôi đủ chuyện văn chương trên trời dưới đất, có lần hai cậu cháu ngồi nói chuyện cậu nhìn trời và bảo: "Sang mùa thu rồi đấy.” Tôi vặn ngược: "Cậu mà cũng chú ý tới mùa à? Tưởng cậu chỉ quan tâm hai mùa mưa nắng.” Cậu cốc đầu tôi cái nhẹ: "Cậu mày cũng lãng mạn lắm đấy.” Rồi hai đứa phì cười.
            Rồi mấy năm cũng trôi qua, khi tôi bước vào cấp ba cũng là lúc cậu bận bịu sách vở chuẩn bị lên phố thi đại học. Tự nhiên có lần đi trên con đường làng về tôi bắt gặp cậu đứng nói chuyện với một cô gái, cậu nở nụ cưởi rất tinh khôi. Về tôi gặng hỏi mãi, cậu chỉ cười: “Đó là bạn, tên cô ấy là Thu. Bạn từ hồi nhỏ của cậu đấy, từ hồi hai đứa còn để chỏm cơ.” Rồi cậu kể cho tôi nghe về cô bạn mang cái tên của cái mùa mà cậu thích ấy. Tôi còn nhớ cậu hay nhắc về một cô bé cậu đã gặp bên gốc hoa sữa… “Ngày đó cậu còn bé lắm, còn đang đi chăn trâu ở cánh đồng đầu làng, thì có mùi hương sực nức thổi lại. Mùi hoa ấy gắt lắm khiến cậu khó chịu, tò mò nên cậu đi tìm cho kì được, thì cậu thấy một cô bé đứng cạnh cây hoa sữa, đang cố hít lấy hít để mùi hương hoa ấy, cậu bèn hỏi: "Cậu không thấy nó có mùi gắt quá à?” thì cô bé ấy đáp: "Tớ thích mùi hương của nó, nó thơm một cách đầy mạnh mẽ,” cậu thấy cô bé ấy thú vị thế là kết thân từ đó.” Cậu còn kể nhiều, nhiều nữa về những lần đi chơi của hai người, về loài hoa khi nhắc tới mùa thu là người ta hay nhớ về ấy… Bất giác tôi hỏi: "Cậu yêu mùa thu vì đó là mùa thu hay đó là tên người con gái ấy?” cậu chỉ cười bâng quơ…
            Cậu lên đại học xa nhà làm tôi thấy nhớ. Có thể nói giờ ở quê tôi cũng bắt đầu có nhiều bạn hơn nhưng cậu vẫn như người tri kỉ đã đi cùng tôi một quãng thời gian rất dài. Những cánh thư vẫn đi về đều đặn làm tôi biết cậu ở đất người như thế nào. Bẵng đi ít năm, một hôm đi về nhà tôi nghe tiếng ông ngoại quát mắng rất dữ: "Mày cút! Ai cũng được, không phải là nó.” Theo đó là cậu lầm lũi bước ra sân, mấy năm mới gặp lại tôi muốn kéo cậu trò chuyện nhưng cậu chỉ cười và bước đi rất nhanh. Tôi không còn gặp cậu nữa. Cậu muốn cưới cô gái tên Thu ấy, nhưng vì mối quan hệ rất xấu của những đấng sinh thành nên ông ngoại nhất quyết không cho lại còn đuổi cậu ra khỏi nhà. Sau này thi thoảng tôi vẫn nghe mẹ ngồi trách ngoại: "Sao ba lại vì chuyện đẩu đâu mà nỡ để thằng Út đi như thế, có đáng không,” nhưng ngoại không nói gì. Tôi biết cậu đi nhưng vẫn thương ngoại lắm, đi làm gửi tiền về miết nhưng nhờ mẹ đưa và nhờ mẹ giấu.
            Tôi tốt nghiệp đại học thì cậu về. Ông vừa thấy cậu định quơ gậy chống lên đánh, cậu không đỡ nhưng khi nhìn phía sau cậu thấy có cô gái ôm trên tay đứa nhỏ chợt khựng lại quay vô trong. Mẹ và bà ngoại chạy ra ôm cậu xuýt xoa…Thế là cậu về, tôi bế đứa bé có tên cái tên rất đẹp: Hương Thu, thi thoảng thấy tôi bế, ông cũng có nhìn, tôi dúi đứa trẻ vào tay ông, ông cũng ra vẻ nhưng khi thấy nó vuốt chùm râu bạc ông lại cười chòm râu rung rung..
            Tự nhiên tôi nghĩ đến khi nào thì tôi sẽ lại có mối tình như cậu nhỉ? Mối tình được bắt đầu từ chớm thu sang, bởi một mùi hương thu vấn vít rất nồng. Mối tình sâu đậm, nhưng tôi sẽ không đủ can đảm yêu hết mình như cậu đâu, yêu và làm tất cả cho người mình yêu, tôi ngưỡng mộ mối tình mùa thu ấy…
           

Tác giả  : Lê Hứa Huyền Trân
Hội viên Hội VHNT Tỉnh Bình Định

READ MORE - HƯƠNG THU - Truyện ngắn Lê Hứa Huyền Trân

HOA LAN - Chùm ảnh của Chu Vương Miện







READ MORE - HOA LAN - Chùm ảnh của Chu Vương Miện

XA BIỂN VỀ ĐỒNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng



XA BIỂN VỀ ĐỒNG

Anh về thôi, xa biển về đồng
Nơi tuổi trẻ neo bờ cát trắng
Con sóng bạc, xao tình phẳng lặng
Trãi ngập bờ, sâu lắng mênh mông
                    *
Sóng bâng quơ, ngời đãy lưới rùng
Thương con ruốc, hết mình thành mắm
Bánh tráng giòn tan chiều xanh thẳm
Trong vắt tiếng cười góc cạnh trẻ trung
                    *
Về ruộng rẫy, đồi cao, triền thấp
Mùa măng non, lại nhớ cá mòi
Nhớ đôi mắt cứ nhìn chằm chặp
Rối bước, quẩn bờ, anh lẻ loi
                   *
Anh về cuốc lật ngày xưa lại
Thở giốc, bên đồi nắng đăm chiêu
Bỗng quay quắt, dáng người con gái
Đứng chôn chân kéo lưới trong chiều ...
                Lê Thanh Hùng


TRONG CHIỀU GIÃ BIỆT

Sao em cứ dùng dằng trong một chữ …
Tiền đề cho câu hỏi, tại vì sao?
Đừng nói vậy, này em, đừng lưỡng lự
Chia tay nhau, còn sấp ngữa ngọt ngào
                      *
Đâu đó ân tình, nặng lòng níu giữ
Dẫu biết đời, còn lại những chênh chao
Lời hẹn cũ, vọng bên đời ngấp ngứ
Biết đắng cay, còn oằn đẫm sắc màu
                      *
Em bước qua đường, ngập ngừng do dự
Lối mòn xưa, ta đã đến tìm nhau
Đường ký ức, đang dội về tràn ứ ...
Để lại câu thơ, tướp nát, cũ nhàu
                       *
Để lại một trời lộng chiều lãng đãng
Mây núi giăng giăng, dấu hỏi lặng thầm
Bờ cỏ biếc, đọng chút gì lãng mạn
Của mối tình đầu, lóng lánh, xa xăm
                       *
Thì em ơi, hãy quên đi lời hẹn
Một sợi tình giăng, nối buột thời gian
Nghe tiếng gọi, sao mơ hồ, lỏn lẻn
Bên bến tình xưa, bổi hổi ngập tràn ...
                Lê Thanh Hùng


 EM LÀ DÂY DẬU BIẾC

Bờ giậu tình anh
Em là dây đậu biếc
Trói buột
Hồn nhau
Trong tím ngắt
Sắc hoa
Biết có ngã nghiêng
Nhưng
Một lời
Vĩnh quyết
Lặng lẽ mùa trôi
Bừng sắc tím
Vỡ òa
                Lê Thanh Hùng


GIỌT NẮNG BÊN THỀM

Sẽ sàng, giọt nắng liêu trai
Rơi trên ngực áo của ai bên thềm
Trinh nguyên vầng trắng ngọt mềm
Hoang sơ góc cạnh, dịu êm tơ trời
                
Lê Thanh Hùng
Huyện Bắc Bình, Bình Thuận
READ MORE - XA BIỂN VỀ ĐỒNG - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Wednesday, October 18, 2017

ĐONG, ĐO...- Thơ Trần Mai Ngân



                            Nhà thơ Trần Mai Ngân


ĐONG, ĐO...

Anh...
Em cứ hay đong đo 
Hôm qua và hôm nay
Anh còn yêu em hết
Tình yêu vơi hay đầy...

Trong từng ngày, từng ngày
Anh đừng giận la rầy
Bởi vì yêu anh quá
Em nông nổi thế thôi !

Em cảm thấy đơn côi
Không dưng anh im lặng
Ngày ấy mây ngưng trôi
Bướm không còn từng đôi...
Em cô đơn đến thế !

Tình yêu không phải dễ 
Để mãi mãi có nhau
Tình yêu làm chênh chao
Và trắng đêm không ngủ...

Em cứ hay đong đo 
Biết bao nhiêu cho đủ
Tình yêu em và anh
Xin đừng chóng mong manh

Hạnh phúc hãy yên lành
Em xin làm hơi thở 
Luôn mãi ở trong anh 
Đời gọi là trăm năm !

         Trần Mai Ngân

READ MORE - ĐONG, ĐO...- Thơ Trần Mai Ngân

SỎI ĐÁ - Thơ Lê Hoàng



                   Tác giả Lê Hoàng


 SỎI ĐÁ 

 Lênh đênh sỏi đá cuộc tình, 
 Yêu ai ? Ai biết đời mình ai yêu ?
 Đường dài mưa nắng mấy chiều 
 Hương xưa vội  tắt, cánh diều đứt dây 
 Hôn mê sỏi đá đêm ngày 
 Bình yên trở lại đêm nay một mình.
 Dạt dào hoa lá bình minh,
 Sáng ra mới biết giật mình chiêm bao.
 Cuối thu chim hót trên cành,
 Đầu đông hoa lá ngọn ngành trổ ra.
 Tình về chẳng thấy nở hoa,
 Cô đơn theo mãi trong ta chuyện buồn.
 Yêu ai ? Ai biết nội tình,
 Ai yêu ? Sỏi đá lênh đênh tâm hồn.
 Thôi đành nhận lấy cơn buồn
 Yêu người, người mãi cô đơn giọt sầu.
 Đi tìm góc khuất đêm thâu,
 Chờ nhau mấy thuở, bể dâu vẫn chờ.
 Tình nào, tình chẳng bơ vơ 
 Đá nào, đá chẳng cứng trơ cuộc tình 
 Yêu ai ? Ai biết lòng mình,
 Cuối thu, đông đến.... 
       sỏi đá, tìm đâu hỡi nàng. 

                                      Lê Hoàng

  
READ MORE - SỎI ĐÁ - Thơ Lê Hoàng

NỮ SĨ NGÂN GIANG VỚI BÀI THƠ "TRƯNG NỮ VƯƠNG", MỘT HÙNG TÀI VĂN HỌC BỊ LÃNG QUÊN - Lang Trương


Chào mừng ngày PNVN 20/10



                      Nữ sĩ Ngân Giang


NỮ SĨ NGÂN GIANG VỚI  BÀI THƠ "TRƯNG NỮ VƯƠNG", 
MỘT HÙNG TÀI VĂN HỌC BỊ LÃNG QUÊN

Văn học Việt Nam qua mỗi thời kỳ đều xuất hiện những bậc nữ sĩ kỳ tài. Những người mà tác phẩm của họ là những nét son cho nền văn học nước nhà, trở thành kinh điển của văn chương Việt Nam. Có thể kể những bậc nữ sĩ tài hoa như Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương...
Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, sự va đập mạnh mẽ giữa hai nền văn hoá Đông - Tây đã làm bùng nổ một thế hệ văn chương đầy tài năng. Tinh hoa của dân tộc đang thời kỳ phát tiết mạnh mẽ nhất. . Trong số những vì tinh tú đang rực sáng trên bầu trời văn học nước nhà, có một ngôi sao nữ, đó là nữ sĩ Ngân Giang, một nữ sĩ tài hoa với áng hùng thi nổi tiếng, gây chấn động văn đàn một thời :

TRƯNG NỮ VƯƠNG

Thù hận đôi lần chau khoé hạnh 
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi 
Dồn sương vó ngựa xa non thẳm 
Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi
Ngang dọc non sông đường kiếm mã
Huy hoàng cung điện nếp cân đai 
Bốn phương gió bão dồn chân ngựa 
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ 
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai 
Hồn người chín suối cười an ủi 
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi
Lạc tướng quên đâu lời tuyết hận 
Non hồng quét sạch bụi trần ai
Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận 
Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa 
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi 
Chàng ơi điện ngọc bơ vơ quá 
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi. *
                    Ngân Giang (1939)

Nữ sĩ Ngân Giang tên thật là Đỗ thị Quế. Bà sinh năm 1916, trong một gia đình danh gia vọng tộc ở cố đô ngàn năm văn hiến. Tài năng của bà phát lộ rất sớm. Cho dù gần như suốt cả đời bị ghen ghét, vùi dập tả tơi, bị chụp mũ “uỷ mị”, “tiêu cực”, “tiểu tư sản, nữ sĩ Ngân Giang cũng kịp để lại cho đời hơn 4000 bài thơ, một sự nghiệp đồ sộ. Thơ của bà là đỉnh cao của nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ, là dấu son của nền văn học nước nhà. Trong số đó, Trưng Nữ Vương là tác phẩm nổi tiếng nhất, đưa tên tuổi nữ sĩ Ngân Giang trở thành một trong những nhà thơ lớn nhất, tài hoa nhất thời bấy giờ. Bà được người đương thời xưng tụng là “ Nữ Hoàng Đường Thi Việt Nam 
Bài thơ Trưng Nữ Vương được nữ sĩ Ngân Giang viết năm 1939, khi bà còn rất trẻ - 23 tuổi. Bài thơ là gạch nối giữa cổ thể và hiện đại với lớp vỏ ngoài là thể thơ tự do nhưng tinh hoa bên trong lại là một bài Đường Luật biến thể. 
Toàn bộ bài thơ có 20 câu chia làm 5 khổ, có bố cục, niêm luật chặt chẽ. Hai câu đầu và hai câu cuối là Đề và Kết. 16 câu còn lại là 8 cặp đối Thực, Luận. Nữ sĩ Ngân Giang đã sử dụng ngôn ngữ điêu luyện tài hoa đến độ rất ít người nhận ra 16 câu thơ mượt mà ấy lại là 8 cặp đối ! 
Bài thơ viết về một người phụ nữ tôn quý nhất của dân tộc Việt Nam: Trưng Vương. Bài thơ mở đầu bằng đôi câu đề của thể thơ Đường Luật :

Thù hận đôi lần chau khoé hạnh 
Một trời loáng thoáng bóng sao rơi 

Khác với người phương Tây, xem hoa hồng là nữ chúa của muôn hoa; người phương Đông quan niệm rằng ngôi vị ấy là của hoa hạnh. Trong Hồng Lâu Mộng (Một trong tứ thư của nho gia xưa), giữa rừng hoa thắm sắc đa tài nhà họ Giả, chỉ một người được ví với hoa hạnh; người mà nhan sắc, tài năng và đức hạnh khiến cả quản gia phủ Vinh Quốc Công, “kẻ đanh đá” Phượng Thư cũng phải kiêng nể. Người đó là Thám Xuân. 
Trưng Trắc, con gái Lạc Hầu, tiểu thư khuê các, đoá hạnh của muôn hoa. Kẻ thù vừa giết mất hôn phu của bà: con trai Lạc Tướng Chu Diên, Thi Sách :

Một trời loáng thoáng bóng sao rơi. 

Đau khổ không làm người con gái anh hùng ấy gục ngã. Bà đã kìm nén nỗi đau riêng, để rồi dồn hết tâm sức cho một mục đích lớn hơn: quét sạch kẻ thù, giành lại giang san, xây nền độc lập cho dân tộc. 
Chỉ với câu mở đầu, nữ sĩ Ngân Giang đã khắc hoạ hình ảnh rất kiêu hùng của một nữ anh thư, người đã vượt lên mọi lề thói nhi nữ thường tình. Với Trưng Trắc, “Thù hận” là tình riêng, chỉ làm bà “đôi lần chau khoé hạnh . Nợ nước mới là mục tiêu cao cả nhất mà người phụ nữ kiệt xuất này hướng tới.
Cặp đối đầu tiên trong khổ thơ đầu tiên là một cặp thực _luận: Một câu Thực, một câu Luận :
Câu thực vẽ nên hình ảnh rất đẹp về đoàn chiến binh trên lưng ngựa, rời căn cứ khởi nghĩa, dũng mãnh lao đi trong màn sương sớm. Những hạt sương ban mai bị vó ngựa cuốn lên, dồn lại như một tấm thảm. Đoàn chiến mã tung vó trên tấm thảm ấy, như bay lên, lao vút về đồng bằng. 

Dồn sương vó ngựa xa non thẳm 
Gạt gió chim Bằng vượt dặm khơi 

Câu luận sự vận dụng điển tích thường thấy trong thơ Đường. Trưng Trắc, thủ lĩnh của cuộc khởi nghĩa, đoá hoa Hạnh ngày nào bỗng chốc vươn mình trút bỏ vẻ yểu điệu thục nữ, hoá thành cánh chim Bằng, loài chim của huyền thoại, chúa tể của bầu trời. Cánh chim Bằng mang hình hài con gái đã gánh cả sơn hà trên lưng, “Gạt gió lao vút đi, không gì cản nổi. Cánh chim Bằng ấy còn mang trong mình một “bóng sao rơi, hôn phu của bà, linh hồn cuộc khởi nghĩa, Lạc Tướng Thi Sách. 
Người xưa thường ví những bậc chính nhân quân tử, tài cao, chí lớn với chim hồng, chim hộc, loài chim bay cao và bay xa. Chỉ những ai có chân mạng thiên tử, một mình có thể xoay chuyển cả Càn Khôn mới được ví với chim Bằng. Trưng Trắc là một người như vậy.
Khổ thơ thứ hai nêu bật sự nghiệp anh hùng, hiển hách của Trưng Vương. Bà giành lấy giang san từ tay kẻ thù, qua những trận chiến :

Ngang dọc non sông đường kiếm mã 
Huy hoàng cung điện nếp cân đai. 

Trong lịch sử quân sự thế giới, có lẽ chưa từng có một đạo quân nào mà thủ lĩnh của họ, các tướng lĩnh chỉ huy đều là nữ giới. Dưới trướng Trưng Vương, những chiến tướng oai hùng nhất, tài ba nhất, khiến quân thù khiếp sợ, đều là phụ nữ. Hàng chục nữ tướng anh hùng xông pha giữa hòn tên mũi đạn, khiến quân thù vừa trông thấy hiệu cờ đã khiếp vía vỡ tan. Đó là các nữ tướng Phật Nguyệt, Lệ Chân, Thánh Thiên, Bát Nàn công chúa... Chỉ trong một tháng, Trưng Vương san phẳng 65 thành trì, 9 quận, thu hồi lãnh thổ cha ông, nước Văn Lang của Quốc Tổ Hùng Vương thuở trước, đến tận Động Đình Hồ, bờ nam sông Dương Tử. Trưng Vương là vị anh hùng dân tộc duy nhất làm được điều này. Góp phần làm nên chiến công oanh liệt đó là các nữ tướng dưới quyền bà. 
Nữ sĩ Ngân Giang rất tài hoa khi viết một cặp Luận rất hay, về các nữ tướng thời Trưng Vương :

Bốn phương gió bão dồn chân ngựa 
Tám nẻo mưa ngàn táp đóa mai. 

Những “đoá hoa mai  anh hùng mang dòng máu Lạc Việt, trên lưng chiến mã, băng băng trong “gió bão, “ mưa ngàn , tung hoành trên chiến địa. Có bao giờ văn học nước nhà xây dựng được một hình ảnh đẹp mà kiêu hùng đến thế chưa? 
Khổ thơ thứ ba là lời tâm tình của vị Nữ Vương với vị hôn phu. Bà đã trả xong mối “thù vạn cổ, mối thù truyền kiếp của dân tộc, không phải mối thù của riêng mình. Nhưng cũng rất đau xót, trên ngôi cao chín bệ, Trưng Vương không có người kế vị:

Máu đỏ cốt xong thù vạn cổ 
Ngai vàng đâu tính chuyện tương lai. 

Chỉ những người phụ nữ mới có những cảm nhận rất tinh tế ấy. Nữ sĩ Ngân Giang là một phụ nữ. Tận trong sâu thắm trái tim nhạy cảm của mình, Bà biết vị Nữ Vương dũng mãnh, đầy quyền uy, trước chỉ “đôi lần chau khoé hạnh; giờ đây đang lặng lẽ khóc đêm đêm :

Hồn người chín suối cười an ủi 
Lệ nến năm canh rỏ ngậm ngùi. 

Những giọt “lệ nến” chảy dài trong đêm ấy không làm Nữ Vương yếu đuối. Là người đứng đầu quốc gia, nắm giữ vận mệnh dân tộc, Trưng Vương giấu đi nỗi đau của riêng mình, thống lãnh ba quân, sẵn sàng cho những cuộc chiến sắp tới, còn khốc liệt hơn :

Lạc Tướng quên đâu lời tuyết hận 
Non hồng quét sạch bụi trần ai 

Và "thù hận" trong lòng vị Nữ Vương đã bị kìm nén bấy lâu, giờ là lúc lên tiếng :

Cờ tang điểm tướng nghiêm hàng trận 
Gót ngọc gieo thoa ngát mấy trời. 

Khổ thơ thứ năm, khổ thơ cuối cùng bắt đầu bằng cặp đối, một câu Thực, một câu Luận, giống khổ thơ đầu tiên :

Ải bắc quân thù kinh vó ngựa 
Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi 

Trưng Vương đã thống lãnh một đạo quân vô cùng thiện chiến và thần tốc. Chỉ hơn một tháng, Bà quét sạch quân thù, thu hồi 65 thành, 9 quận. Tiếng trống đồng vang lên là kẻ thù kinh tâm tán đởm; tiếng vó ngựa vọng về đủ khiến quân giặc vỡ mật, nát gan. Cái uy dũng của Trưng Vương đã ám ảnh kẻ thù phương Bắc và dường như in đậm nét trên vị anh thư khác: Bà Triệu Thị Trinh. Hai trăm năm sau, quân Ngô đã phải kinh hoàng khi đương đầu với Bà Triệu. Chúng rụng rời khiếp sợ đến nỗi thốt lên:

Hoành qua đương hổ dị 
Đối diện Bà Vương nan. 

(Vung giáo chống hổ dễ 
Đối diện vua bà khó) 

Đạo quân của Trưng Vương vừa trả nợ nước, vừa trả thù nhà. Đạo quân này dùng cờ tang làm hiệu lệnh. Thủ lĩnh của họ là một phụ nữ, mặc giáp vàng quấn khăn tang, cưỡi đầu voi xông trận. Không có hình ảnh nào uy nghi mà lẫm liệt hơn thế. Tấm khăn tang mang hơi lạnh từ trong cõi lòng người goá phụ lan sang, buốt lạnh đầu thớt voi chiến. Không là phụ nữ, sẽ không thấu hiểu nỗi lòng goá phụ Trưng Vương. 

Giáp vàng khăn trở lạnh đầu voi. 

Câu thơ như cứa vào tim người đọc. Phía sau bóng dáng can trường, lẫm liệt của một đấng quân vương, là một người con gái, tuổi xuân phơi phới, chưa kịp nghinh hôn đã trở thành goá phụ, chưa vu quy và cũng chưa mãn tang chồng ! 
Cặp câu kết mới là đỉnh cao của nghệ thuật và tư tưởng. Không là phụ nữ, cho dù văn tài như đại thi hào Nguyễn Du cũng không viết được như nữ sĩ Ngân Giang :

Chàng ơi, điện ngọc bơ vơ quá 
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ loi. 

Có đến hàng trăm nhà thơ viết về sự nghiệp anh hùng vũ dũng của Trưng Nữ Vương; nhưng chưa một ai Nhìn bà dưới hình hài một goá phụ trẻ tuổi như nữ sĩ Ngân Giang. Chỉ những người phụ nữ mới cảm nhận được nối cô đơn, đau khổ thầm kín của người đồng giới với mình. Câu thơ lay động tâm can người đọc. Dưới này, giữa điện ngọc huy hoàng, Trưng Vương một “bóng lẻ loi”; trên cao kia, Hằng Nga đơn côi ngự giữa ngôi trời. Sự cô đơn bao trùm vũ trụ. Từ “chếch gợi lên một cảm giác chông chênh, hụt hẫng. Một từ rất khó dùng và nữ sĩ Ngân Giang đã dùng rất đắt. 
Bài thơ Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang gắn liền với một giai thoại văn học rất đặc biệt. Đó là vào năm 1969 khi mà tác giả áng hùng thi nổi tiếng đang bị hắt hủi, vùi dập ở miền bắc, ngày ngày phải ra bờ sông Hồng quét lá khô đổi gạo nuôi đàn con thơ dại; thì ở miền nam, giữa giảng đường Đại Học Văn Khoa, nhà giáo, nhà thơ Đông Hồ sang sảng ngâm vang Trưng Nữ Vương, giảng dạy cho các sinh viên yêu văn học. Đến câu kết, nỗi xúc động trào dâng, trái tim nhạy cảm của nhà thơ Đông Hồ không chịu nổi khiến ông bật ngã giữa giảng đường, qua đời ngay sau đó. Ngày 25/03/1969 đã ghi dấu một giai thoại đẹp, rất bi hùng giữa các thi nhân Việt Nam, là dấu ấn khôn phai trong lòng người yêu văn học nước nhà. 
Bài thơ Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang là một tuyệt phẩm văn học, xứng đáng có mặt trong giáo khoa văn. Nếu chọn một nhà thơ nữ, sau các nữ sĩ Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan, Hồ Xuân Hương, thì người thứ tư xứng đáng góp mặt trong giáo khoa phải là nữ sĩ Ngân Giang. Xét về nữ tính, Sóng của Xuân Quỳnh chỉ như một cô bé con lần đầu nghịch thỏi son môi của mẹ ; trong khi Trưng Nữ Vương của nữ sĩ Ngân Giang đã là một tiểu thư khuê các, lộng lẫy và kiêu sa. Có lẽ người ta chọn Xuân Quỳnh vì những lý do ngoài văn học. 
Nhân ngày Phụ Nữ Việt Nam 20 tháng 10, tôi viết bài này như một nén tâm nhang kính cẩn dâng lên hai người phụ nữ tôn quý: Một vị anh hùng dân tộc: Trưng Nữ Vương và một bậc nữ sĩ tài hoa của văn học thời hiện đại: nữ sĩ Ngân Giang. 
Từ trên tiên giới xa xôi ấy, nữ sĩ Ngân Giang chắc sẽ vui khi biết rằng hậu thế vẫn không quên bà, vẫn luôn nhớ đến bà, bậc nữ sĩ tài hoa với lòng ngưỡng mộ và kính trọng.

                                               Một ngày cuối thu, 20/10/2017
                                                              Lang Trương
.............
*
Có người cho rằng câu kết là :
Trăng chếch ngôi trời bóng lẻ SOI.

READ MORE - NỮ SĨ NGÂN GIANG VỚI BÀI THƠ "TRƯNG NỮ VƯƠNG", MỘT HÙNG TÀI VĂN HỌC BỊ LÃNG QUÊN - Lang Trương

DẤU TANG THƯƠNG - Thơ Như Thị


Xin chia buồn cùng anh Lê Doãn Dũng, có vợ và hai con gái (4 tuổi và 1 tuổi) bị lũ cuốn trôi ở Mù Cang Chải - Yên Bái




DẤU TANG THƯƠNG

Sao đang tâm gặm cây rừng
Ngoảnh lơ để nước dùng dằng can qua
Suối cầm đất trụt xót xa
Chiều xao xác gọi bầy tha thiết tìm

Hồn Hữu Loan nuối đồi sim
Buồn hơn thuở “chiều hoang biền biệt” * rồi…
Hoa màu tím ngắt chao ôi!
Đâu còn màu cũ của người xa xăm

Mây thường xé áo vô tâm
Nguyên sơ rừng rú mưa ôm dịu dàng
Chừ lũ hót quá ngang tàng
Em trôi chưa kịp lên trang vở đời

Vắng tênh chiều giọng ru hời
Cha thờ thẫn đứng níu trời quạnh hiu
Tìm con trong cõi phiêu diêu
Như đây thê thảm mấy chiều quặn đau

Bởi người gieo cuộc bể dâu
Trồng cơ hàn xuống cảnh đau đớn này!

                                             Như Thị

*Chữ của nhà thơ Hữi Loan, tác giả bài Màu tím hoa sim
(Sanh 2 tháng 4-1916  Mất 18 tháng 3-2010)

READ MORE - DẤU TANG THƯƠNG - Thơ Như Thị