Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, June 16, 2017

HAI CHỮ ANH HÙNG (CHUYỆN KHỞI ĐẦU TỪ HAI BÀI ĐƯỜNG THI) - Nguyên Lạc





HAI CHỮ ANH HÙNG               
(CHUYỆN KHỞI ĐẦU TỪ HAI BÀI ĐƯỜNG THI)                                
                                           Nguyên Lạc         
                                                                                     
                                                                                   

I.  BÀI THƠ DỊCH THỦY TỐNG BIỆT
Bắt đầu từ bài thơ tiễn đưa KINH KHA qua sông Dịch đi hành thích  TẦN THỦY HOÀNG:

"Phong tiêu tiêu hề, Dịch thủy hàn,
Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn."

Dịch:
Gió hiu hiu hề sông Dịch lạnh
Tráng sĩ một đi hề không trở về.

Lạc Tân Vương đã viết bài thơ: "Dịch Thủy Tống Biệt":

Dịch Thủy Tống Biệt

Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thủy do hàn.
(Lạc Tân Vương - đời Đường)

Tiễn  Biệt Trên Bờ Sông Dịch

Đây chỗ biệt Yên Đan
Tóc dựng khí căm gan
Anh hùng xưa đã khuất
Nước lạnh hận chưa tan.
(NGUYỄN HIẾN LÊ dịch)

Đất này ly biệt Yên Đan
Giận run; tráng sĩ.,mặt ran; tóc xừng! 
Lận dao trủy thủ, lên đàng
Ngày này Sông Dịch, ngổn ngang lạnh hoài!
(Laiquangnam dịch)

II.  VẤN ĐỀ KINH KHA

Kinh Kha đi hành thích Tần Thủy Hoàng là chuyện có thật trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. Anh hùng hay không đang trong vòng bàn cãi ! Rất nhiều người khen ông ta, nhưng Nguyên Lạc tôi không nghĩ vậy. Nhân vật này rất tầm thường nếu so với các anh hùng Việt Nam. Tại sao chúng ta người Việt lại ca tụng ông ta quá mức vậy?
Hãy đọc kỹ sẽ thấy KINH KHA bất tài, vô trí; chỉ là một con rối bị người mua chuộc, lợi dụng. Võ lược cũng chẳng ra gì! Này nhé:

1. Nguyễn Du chê bai Kinh Kha.

Trong SỬ KÝ của Tư Mã Thiên có chép:
 "...Thái tử Đan tôn  Kinh Kha lên làm Thượng Khanh, xây một biệt thự đối diện với biệt thự  Phàn Ô Kỳ, gọi là Kinh Quán để Kinh Kha ở. Thái tử Đan ngày ngày đến thăm, cung phụng đúng mức, hiến đủ thứ, ngựa xe và gái đẹp.

Hôm nọ Kinh Kha cùng Thái tử Đan đi chơi ở Đông Cung, thấy dưới ao có con rùa lớn nổi lên. Kinh Kha nhặt viên ngói  ném rùa, Thái tử Đan liền lấy thoi vàng đưa Kinh Kha thay viên ngói. Một hôm hai người cùng thi cưỡi ngựa, Thái tử Đan có con ngựa quí đi ngàn dậm. Kinh Kha bỗng nói:
- Gan ngựa ăn ngon lắm.
Thái tử Đan lập tức giết ngựa lấy gan cho Kinh Kha ăn. Thái tử Đan lại giới thiệu Phàn Ô Kỳ với Kinh Kha. 

Lại một hôm Thái tử mở tiệc đãi Kinh Kha ở Hoa Dương Đài, có cho mỹ nhân hầu hạ, gảy đàn giúp vui. Kinh Kha thấy hai bàn tay của mỹ nhân trắng muốt, thoan thoát chạy trên những đường tơ, vội buộc miệng khen:
- Thật là tay tiên. Đẹp làm sao !
Lúc tan tiệc, nội thị dâng Kinh Kha một hộp ngọc. Kinh Kha mở ra xem, thì đó là hai bàn tay của mỹ nữ mà Thái tử Đan sai chặt, đem biếu Kinh Kha.
Kinh Kha than:
-  Thái tử Đan đãi ta như thế ấy, dẫu chết cũng chưa trả được ơn sâu!"

Ngày nay đọc đoạn văn ấy, chúng ta không thấy xúc động như Kinh Kha, mà nổi giận vì tại sao Thái tử Đan tàn bạo đến thế. Thái tử Đan tàn bạo có kém chi Tần Thủy Hoàng. Thủy Hoàng sai bỏ con của Lao Ái và mẹ mình là Triệu Cơ vào bao, rồi đập chết, còn có lý do. Thái tử Đan vì muốn Kinh Kha trả thù cho mình, chỉ vì một lời khen bàn tay đẹp mà giết mỹ nhân vô cớ, thật tàn bạo?  Sao Thái tử Đan không tặng Kinh Kha mỹ nữ, mà lại chặt tay mỹ nữ như con ngựa, con heo vậy?  Đâu là lòng nhân ?!

 Nguyễn Du chê Kinh Kha không bằng Dự Nhượng. Dự Nhượng hy sinh thân mình báo thù cho chủ, còn Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình, và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ) đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của Điền Quang, của Thái tử Đan. Hành động của Kinh Kha không có  Trí,  mà chỉ vì Danh. Không có lòng Nhân, mà chỉ có Bạo lực  đối với Bạo lực. Cái Dũng của Kinh Kha chỉ là cái dũng của kẻ bị  mồi ngon thừa mứa, cám dỗ mà hành động.

Đây là trích đoạn bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du, phần chê bai Kinh Kha.

Thần dũng nghị nhiên duy độc quân.
Đồ đắc Điền Quang khinh nhất vẫn.
Khả liên vô cô Phàn Ô Kỳ,
Dĩ đầu tá nhân vô hoàn thì.
Nhất triêu uổng sát tam liệt sĩ,
Hàm Dương thiên tử chung nguy nguy.
(KINH KHA CỐ LÝ - Thơ chữ Hán Nguyễn Du)

Liều thân chỉ vì kẻ biết mình,
Huống được Điền Quang tự đâm cổ.
Khá thương Phàn Kỳ chẳng tội chi.
Đem đầu cho mượn chẳng hoàn gì.
Một sớm chết oan ba liệt sĩ.
Hàm Dương, Thiên tử vẫn uy nghi.
(Nhất Uyên dịch)
(Theo Tiến sĩ  Phạm Trọng Chánh)

2. KINH KHA võ lược tầm thường

Trong SỬ KÝ của Tư Mã Thiên có chép:
[... Tần Thủy Hoàng:
-  Lấy bàn đồ Vũ Dương cầm đưa lên đây.
Kinh Kha  dâng lên. Vua Tần lần mở ra xem, mở gần hết thì lòi chuôi con dao trủy thủ. Kinh Kha thừa dịp, tay trái nắm tay áo vua Tần, tay phải cầm trủy thủ đâm. Nhát đâm hụt. (hành động của Kinh Kha không dứt khoát, thủ pháp không chính xác).  Vua Tần hoảng sợ,  đứng phắt dậy, tay áo đứt rời. Vua Tần tuốt kiếm, kiếm dài vướng vỏ. Lúc bấy giờ hoảng hốt, kiếm lại chặt quá nên không rút ra ngay được. Kinh Kha đuổi theo vua Tần, vua Tần chạy quanh cột trụ (vua trang phục thường rườm rà, nên không nhanh nhẹn vậy mà Kinh Kha cũng không thể nào đuổi kịp, chứng tỏ thân pháp của Kinh Kha có vấn đề, không linh hoạt). Bọn triều thần đều kinh ngạc, vì sự việc xảy ra bất ngờ nên không ai giữ được bình tĩnh. Theo phép nước Tần, các quan chầu trực ở trên điện không được mang theo binh khí. Các Lang Trung cầm binh khí đều đứng sắp hàng ở dưới điện, nếu không có chiếu gọi thì không được lên. Bấy giờ đang lúc gấp, không kịp gọi những người cầm binh khí ở dưới. Vì vậy Kinh Kha đuổi theo vua Tần, các quan cuống quýt, không có gì để đánh trả lại, chỉ lấy tay không mà đánh Kinh Kha. Lúc bấy giờ viên thầy thuốc đứng hầu, tên là Hạ Vô Thư, lấy túi thuốc cầm trong tay ném Kinh Kha. Vua Tần cứ vòng quanh cái cột mà chạy, cuống quýt không còn biết phải làm thế nào. Bọn tả hữu nhắc:
- Đại vương, đẩy kiếm ra phía sau lưng.
Vua Tần đẩy kiếm ra sau lưng, tuốt chém Kinh Kha, chặt đứt đùi bên trái. Bị thương, Kinh Kha phóng con dao trủy thủ, nhưng không trúng vua Tần (lại thêm một chi tiết rất đắt giá phản ánh rõ nét nhất về thủ, cước pháp của Kinh Kha, cứ cầm dao chạy theo, không hề có phản ứng của quyền cước), trúng cái cột đồng (ngày nay trong các bức họa Kinh Kha thích Tần đều vẽ cây trủy thủ ghim vào cột là thế). Vua Tần chém tiếp, Kinh Kha bị tám vết thương, tự biết công việc không xong bèn tựa vào cột mà cười, ngồi xổm mà mắng:
-  Việc này không thành là vì ta muốn bắt sống nó (lời nói rất ngạo mạn, khoác lác), buộc nó phải nhận lời trả lại các đất đai đã chiếm của chư hầu, để ta được báo đáp Thái tử. ]

Qua những lời trên, rõ ràng chúng ta thấy Kinh Kha chỉ là tên khoác lác, võ thuật  tệ hại !

III. LUẬN ANH HÙNG

"Anh hùng là hành động của một người vì đại cuộc không xem sự sống chết của mình là quan trọng tuyệt đối, sống vì tha nhân, hy sinh vì dân tộc, cho dù có phải chết thì vui lòng đón nhận. Khi bàn đến hai từ “anh hùng” thì ý niệm thành công không nằm trong thuộc tính định nghĩa cho từ đó. Thử tra hai từ Heros trong các bộ Encyclopedia thì biết. Đông Tây đều định nghĩa như thế"  (Laiquangnam)(1)

 Suy gẫm chuyện  KINH KHA, ta thấy ông ta đâu phải là người anh hùng. Như Nguyễn Du đã chê bai: Kinh Kha đi thích khách Tần Thủy Hoàng chỉ vì có người biết đến mình và vì sự đối đãi thừa mứa. Kinh Kha chỉ là một con rối, hành động không vì tấm lòng trung dũng  (diệt kẻ tàn bạo, phò người đức độ), đâu có hy sinh vì dân tộc, mà hành động chỉ vì sự mua chuộc và kích động của người khác.
Tại sao ông ta  lại được nhiều người làm thơ, hát ca để ca tụng, vinh danh?!
Anh hùng là như Đặng Dung của VIỆT NAM ta đây:

Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma. 
(Đặng Dung)

Thù trả chưa xong đầu đã bạc,
Gươm mài bóng nguyệt biết bao rày.

Xin mời các bạn tìm hiểu kỹ về vị ANH HÙNG đáng kính này cùng bài thơ CẢM HOÀI (Nỗi niềm hoài bão) của ông. (1)

Mặc dù vua Trần Giản Định Đế đã u mê giết tướng Đặng Tất, cha Đặng Dung, thế mà ông vẫn vì nước quên thù nhà, lãnh đạo cuộc kháng chiến chống lại cuộc xâm lặng của Trương Phụ (tướng nhà Minh)
Sử liệu cho biết:
"Minh Thành Tổ Vĩnh Lạc chỉ đạo cho Trương Phụ (năm 1406), trong lần xuất binh thứ hai,   huy động 80 vạn quân dân binh các loại, quyết tâm làm cỏ nước ta và xóa sạch đất nước này trên bản đồ thế giới.
Các vị anh hùng (dưới sự lãnh đạo của Đặng Dung) đã đánh nhau ròng rã trên dưới bảy năm (1407-1413) với một binh lực hơn hẳn mình. Có lúc họ cũng đã thắng nhiều trận lẫy lừng, tưởng chừng như đã thắng, nhưng dài hơi thì cuộc đọ sức đã không cân sức. Than ôi! họ đã bại trận! Trên đường bị bắt đưa về Yên Kinh (Bắc Kinh ngày nay) để làm nhục, vua tôi Đặng Dung đã ca hát như không có chuyện gì xảy ra, thắng bại là lẽ thường tình đối với người tráng sĩ một khi họ đã toàn tâm toàn ý, hết lòng, hết sức vì dân tộc. Đặng Dung, trong vai trò lãnh đạo cuộc kháng chiến, đã ngâm cho vua tôi nghe khúc ca cảm khái này, vừa ngâm vừa gõ nhịp xuống ván gỗ thuyền, cùng vui và sẵn sàng đón nhận mọi sự trả thù tàn bạo của kẻ thù. Dân tộc ta đâu còn lạ gì sự tra tấn đầy thú tính của người Tàu đối với dân bị trị.

Sử kể rằng: Đặng Dung vốn coi cái chết nhẹ như lông hồng, ông thường ngâm vang cho các chiến hữu cùng nghe bài thơ này. “Nhóm quý Ông” cùng nhau gõ ván thuyền giữ nhịp. Lính canh xem Họ khác gì như cá nằm trên thớt, nay cam đành số phận. Họ không còn mấy ngày trên thế gian. Bọn lính canh lơ là và trở nên dễ chịu là lúc "quý Ông" lập mưu, xin lính canh đựợc chút không khí để thở, do bởi có người đang ốm. Bất ngờ, kẻ trước người sau, cùng nhào xuống biển từ trầm qua ô cửa vừa mở ra.

Một thiên anh hùng ca lẫm liệt, một cái chết của một tập thể kiêu hùng trong dòng sử Việt. (Laiquangnam)(1)

Đây là  bài thơ CẢM HOÀI (Nỗi niềm hoài bão) của Đặng Dung.

 Bài thơ này là một bản anh hùng ca mang tâm trạng về thế sự, trong ấy thể hiện rõ phong cách của người tráng sĩ, người anh hùng trong cơn quốc nạn.

 CẢM HOÀI
Thế sự du du nại lão hà 
Vô cùng thiên địa nhập hàm ca
Thời lai đồ điếu  thành công dị
Vận khứ  anh hùng ẩm hận đa 
Trí chúa hữu hoài phù địa trục 
Tẩy binh vô lộ vãn thiên hà 
Quốc thù vị báo đầu tiên bạch
Kỷ độ Long Tuyền đái nguyệt ma.

Tạm dịch nghĩa:

NỖI NIỀM HOÀI BÃO
Thế sự mang mang lại tuổi già
Thiên hạ thì vô cùng hãy nhập vào mà hát hàm ca
Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận
Hết lòng vì chúa có hoài bão xoay trục đất
Rửa giáp binh không lối kéo ngược dòng sông ngân hà
Thù nước chưa báo thì đầu bạc trước
Bao thời qua đội trăng mà mài kiếm long tuyền.

Đặc biệt là câu 3 và câu 4:

Thời lai đồ điếu* thành công dị
Vận khứ anh hùng ẩm hận đa
...........
* đồ điếu:  đồ là người đồ tể, chỉ Phàn Khoái, chiến hữu của Hán Lưu Bang; điếu là người đi câu, chỉ Hàn Tín, đại tướng của Lưu Bang. Cả hai giúp Lưu Bang xây dựng nhà Hán (dưới mắt Đặng Dung cả hai đều là bọn bần tiện, đồ tiểu tốt)
...........
- "Thời lai đồ điếu thành công dị": Truong Phụ thoát chết là nhờ may mắn khi Đặng Dung nhảy lên thuyền cùng toán người nhái, vì nhìn không ra ai là Trương Phụ nên hắn đã thoát.

Sử liệu chép:
"Chuyện khó tin trong binh sử thế giới, trường hợp hy hữu này duy chỉ có trong quân sử Đại Việt. Khi vị tướng tư lệnh lại là cầm đầu toán người nhái cảm tử rất gọn nhẹ đánh thẳng vào sào huyệt kẻ tử thù. Việc tổ chức đã xong đợi ngày G sẽ đến. Cơ hội đến, vào tháng 9 được biết quân Trương Phụ vào đến Thuận Hóa, và kéo binh tập kết vào ngã ba sông này để tổ chức cuộc săn đuổi vua quan Hậu Trần đang đóng quân ở trên bờ. Quan thái phó Nguyễn Súy và quan đại tư mã Đặng Dung nửa đêm chia quân đến đánh Trương Phụ. Quan thái phó Nguyễn Súy dùng thuyền nhẹ đánh nghi binh, giặc Minh trào về phía Nguyễn Suý, và thừa lúc đó Quan tư mã Đặng Dung lao mình xuống nước trước, hơn mươi chiến sĩ cảm tử quân lao theo sau. Họ bơi nhanh về phía thuyền lớn nhất, sáng nhất trên sông. Từ dấu hiệu của Đặng Dung, bọn họ leo lên được thuyền của Trương Phụ, dùng đoản đao thịt lẹ các tên lính trên sàn. Họ nhào vào tên mập mạp nhất, phương phi nhất và đã bắt sống tên này, lôi y xuống nước. Y la lên. Do vì không biết thường ngày tên Trương Phụ mặc quần áo gì, do chưa thấy mặt kẻ thù lần nào, nên họ đã bắt lầm. Thừa cơ Trương Phụ lập tức nhảy xuống sông lấy cái thuyền con mà chạy thoát."
(Laiquangnam)(1)

- "Vận khứ anh hùng ẩm hận đa":   Người Đại tư mã , Tổng tư lệnh mà chịu dẫn quân đi thích khách kẻ chỉ huy địch, xưa nay trên chiến trường chưa hề có , đó là hành động anh hùng .

Xin lập lại nghĩa hai câu trên:

Thời đến bọn đồ tể, bọn câu cá cũng thành công dễ dàng
Thời qua anh hùng cũng đành nuốt hận

Chính câu 3 và câu 4 trong nguyên tác đã gây biết bao nhiêu cảm xúc cho người thời nay. Cụ Phan kế Bính năm xưa đã dịch:
Bần tiện gặp thời lên cũng dễ,
Anh hùng lỡ bước ngẫm càng cay. (Phan kế Bính )
Đặng Dung cũng cho Trương Phụ, người đã thắng ông, và cả đất nước của Trương Phụ cùng là xứ sở bần tiện cực kỳ." (2)

Vị anh hùng của Việt Nam ta tài đức vẹn toàn như thế sao chúng ta không hát ca để vinh danh, mà lại đi ca tụng một ông "nước lạ" tầm thường!

Về chuyện các vĩ nhân tầm cỡ quốc tế như NGUYỄN TRÃI (tiễn cha) (3) , BÀ TRƯNG (trả thù chồng) (4) Trần Hưng Đạo (quên thù riêng), Lý Thường Kiệt (bản hùng văn Hịch Tướng Sĩ)(5). v.v..chúng ta nên suy gẫm, trân trọng và vinh danh.

IV. HỌA THƠ ĐƯỜNG

Từ bài "Dịch Thủy Tống Biệt", nhiều bạn thơ, trong đó có thi sĩ kiêm nhà bình thơ Diên Hồng Dương họa, rồi thách Nguyên Lạc họa theo. Nguyên Lạc tôi bắt buộc phải hoa lại. Đây là thơ họa:

Xin được ghi lại nguyên tác
Dịch Thủy Tống Biệt

Thử địa biệt Yên Đan
Tráng sĩ phát xung quan
Tích thời nhân dĩ một
Kim nhật thủy do hàn.


1. Diên Hồng Dương họa thơ:

Khứ niên tráng sĩ biệt
Dịch Thủy hàn căm căm
Kim nhật vọng cố quốc
Bạch đầu tâm bất trầm.

Anh hùng xưa ra đi
Nước sông Dich lạnh căm
Hôm nay nhớ cố quốc
Bạc đầu lòng không an
(Nguyên Lạc lược dịch)

2. Nguyên Lạc họa thơ:

Khứ niên mạc sĩ biệt
Đông hải hàn căm căm
Kim nhật vọng cố quốc
Cố nhân hề vô âm!

Kim nhật vọng cố quốc
Cố nhân ... bất khả tầm!

CÙNG SĨ  xưa ra đi
Nước biển Đông lạnh căm
Nay nhớ về cố quốc
Người xưa giờ biệt tăm

Nay nhớ về cố quốc
Người xưa ...ơi nơi nào?! (không thể tìm!)

(Nguyên Lạc lược dịch)

3. Họa thơ TÔ ĐÔNG PHA

31. Thi sĩ Nguyễn Hàn Chung:
"Vọng mỹ nhân hề thiên nhất phương"
(Tô Đông Pha )
(Ngóng người đẹp trời chỉ một phương)

32. Nguyên Lạc họa thơ: 

"Vọng cố  nhân hề địa đa phương
Mạc anh hùng hề nhân vô phương !"
(Nguyên Lạc )

Ngóng người xưa đất nhiều hướng                       
Người anh hùng khốn cùng không còn nơi nào để đi!
(Nguyên Lạc lược dịch)

Chú ý đến 3 chữ THIÊN, ĐỊA và NHÂN. Trời trên, đất dưới và người ở giữa ( Quẻ CÀN)(6)

[ Quẻ CÀN là quẻ tốt, hạnh thông. Người (NHÂN) mà không có trời (THIÊN), đất (ĐỊA) (trời đất = QUÊ HƯƠNG) thì làm sao vui vẻ, hạnh thông (CÀN) được?! ]

Qua trên, Nguyên Lạc tôi họa  Đường thi chơi cho vui cùng với bạn thơ. Tuy nhiên những dòng này cũng là tâm sự của kẻ tha hương:
Kim nhật vọng cố quốc
Cố nhân hề vô âm!
Kim nhật vọng cố quốc
Cố nhân ... bất khả tầm!

V. KẾT
Việt Nam đã sống dưới "tầm phủ sóng", dưới và trong cái "bóng mờ" của Trung Quốc quá lâu rồi. Họ hưởng trọn những tia nắng ấm, làn gió mát ...; còn chúng ta, vì ở dưới, vì núp bóng nên chỉ "ăn theo", "ăn tàn", chỉ "hưởng sái"(*). Cái "sái" này cũng không thơm tho gì như ai cũng đã biết. Nếu không có chọn lựa, chẳng thà hưởng "sái" của Phuơng Tây chắc còn khá hơn nhiều! Tại sao không thoát ra ?
Hàn quốc (Korea), Nhật (Japan) đã làm được, tại sao Việt Nam ta không?! Họ đã THOÁT và bây giờ là ÔNG CHỦ của công nhân Trung Quốc. Đất nước họ thế nào chắc ai cũng rõ !
Còn Việt Nam thì sao?
Xin các bạn hãy THOÁT TRUNG và trở lại với Việt Nam yêu dấu của mình! Tại sao vẫn chịu mang cái VÒNG KIM CÔ mãi thế? Phải tháo ra ! Phải vượt lên, chứng tỏ ƯU ĐIỂM  riêng của VIỆT NAM ! Hãy THOÁT TRUNG !
Xin nói rõ, chúng ta nên phân biệt giữa THOÁT TRUNG với BÀI TRUNG. Thoát Trung nghĩa là chúng ta phải dùng trí óc phân tích cho kỹ, đừng theo "chủ nghĩa bầy đàn".  Không phải cái gì của Trung Quốc là hít hà khen ngợi, cũng làm răm rắp theo. Phải chọn lọc, giữ lấy cái hay (nó là tài sản chung của nhân loại) và loại bỏ cái dở, cái gì không hợp với Việt Nam.   
Thoát Trung  không phải là Bài Trung, kỳ thị người dân Trung quốc. Chỉ những kẻ kém hiểu biết mới làm việc nầy!
Rất mong thay!

Nguyên Lạc          2017



Tham khảo:  Sử Ký Tư Mã Thiên (bản dịch của Nguyễn Hiến Lê), Đại Việt sử ký toàn thư, Laiquangnam, TS Phạm Trọng Chánh, Nguyễn Đức Ngọc Phương, Thi Viện, Wikipedia...

Ghi chú:
(*) Sái: dùng theo nghĩa "Sái thuốc phiện": phần chất đen còn lại khi người ta đã hút hết thuốc  (hút hết cái tốt, cái ngon)

(1) LUẬN ANH HÙNG
http://www.art2all.net/tho/laiquangnam/lqn_luananhhung1.htm

(2) Cảm Hoài  (Nỗi niềm hoài bão) - Đặng Dung:
http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqn_DangDung_CamHoai_P1_056.htm

(3) Khi cha (Nguyễn Phi Khanh) bị giải sang Trung Quốc, Nguyễn Trãi đã theo cha lên cửa ải và tỏ ý muốn đi theo hầu hạ, nhưng Nguyễn Phi Khánh không đồng ý và khuyên ông nên về lo cứu nước báo thù nhà. Sau NGUYỄN TRÃI đã giúp LẼ LỢI đánh tan quân Mình, giành độc lập cho đất nước. (Wikipedia)
(4) Do chính sách đồng hóa gắt gao và bóc lột hà khắc của nhà Đông Hán đối với người Việt tại Giao Chỉ đương thời, các Lạc tướng người Việt liên kết với nhau để chống lại nhà Hán. Trưng Trắc kết hôn với con trai Lạc tướng ở Chu Diên là Thi Sách, hai nhà cùng có chí hướng chống Hán. Khoảng năm 39-40, nhằm trấn áp người Việt chống lại, Thái thú Tô Định giết Thi Sách.

Trưng Trắc và các Lạc tướng càng căm thù, cùng Trưng Nhị mang quân bản bộ về giữ Hát Giang nay là xã Hát Môn huyện Phúc Thọ, Hà Nội. Sau một thời gian chuẩn bị, tháng 2 năm 40, Trưng Trắc cùng Trưng Nhị chính thức phát động khởi nghĩa chống lại nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa được sự hưởng ứng của nhiều đội quân và nhân dân các nơi thuộc  u Lạc và Nam Việt cũ. Quân Hai Bà đánh hãm trị sở Luy Lâu. Tô Định phải chui trụ đồng trốn chạy về Trung Quốc. Các quận Nam Hải, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố đều hưởng ứng. Hai bà lấy được 65 thành ở Lĩnh Nam.  Trưng Trắc tự lập làm vua, xưng là Trưng Nữ Vương (hay Trưng Vương). (Wikipedia)

(5) Hịch Tướng Sĩ - Lý Thường Kiệt
 http://chimviet.free.fr/vanhoc/laiquangnam/lqnt071_namquocsonha.htm

(6) Nguyên Lạc – Quẻ Dịch: Cách Lập Và Giải Đoán
https://khoahocnet.com/2016/12/13/nguyen-lac-que-dich-cach-lap-va-giai-doan-bai-1/








READ MORE - HAI CHỮ ANH HÙNG (CHUYỆN KHỞI ĐẦU TỪ HAI BÀI ĐƯỜNG THI) - Nguyên Lạc

HẠ NHỚ! - Thơ Hoài Huyền Thanh

Tác giả Hoài Huyền Thanh


HẠ NHỚ!

Sài gòn nắng ửng chân mây
Phất phơ từng hạt mưa bay cuối trời
Chân cầu nước cuốn hoa trôi
Tím biền biệt chút tình đầu mông mênh

Chào trăng cuối bãi đầu ghềnh
Ta lạc nhau mãi quên thềm dấu xa!
Bây chừ nắng của người ta
Đâu sông ngày cũ đâu tà áo xưa

Sài Gòn nắng sớm chiều mưa
Đan tóc rối nhớ giậu xưa chạnh lòng
Ngậm ngùi phố nhớ ta không !
Chùm phượng vĩ mãi long đong hạ về.

         HOÀI HUYỀN THANH
                   HẠ 2017



READ MORE - HẠ NHỚ! - Thơ Hoài Huyền Thanh

Thursday, June 15, 2017

THANH LONG TRẮNG - Ảnh của Chu Vương Miện


READ MORE - THANH LONG TRẮNG - Ảnh của Chu Vương Miện

THU, MỘT ĐOẠN ĐỜI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Tác giả Lê Thanh Hùng
Chùm thơ Lê Thanh Hùng

Thu, một đoạn đời

Em chợt đến và đi, không từ giã
Như thu vàng trên mắt lá xanh xao
Không lời hẹn mà dòng trôi vội vã
Buột hồn ta trong tiếng gió thì thào
                       *
Lời của nắng hay là lời của gió?
Cho lá vàng rơi kín chỗ ai nằm
Của mùa thu cũ ngày xưa còn đó
Cuốn quýt reo trên dấu tình xa xăm ...
                       *
Em đã bỏ quên gì trên gối mộng?
Mà cứ đắn đo, lưỡng lự về tìm
Bỗng quay quắt thả vào trong gió lộng
Một thu vàng trĩu lặng cả con tim
                       *
Em đã đi, đi thật rồi - ừ nhỉ !
Không một lời từ giã – đếm vòng quay
Thời gian nào, đọng điều gì ủy mị
Một chút tình suông, choáng ngợp, vơi đầy ...
                                  VI/2016
                                  LTH


Như không

Gió nam non, lộng nuột nà
Em qua ngõ vắng, hương là đà bay
Sóng xa gọt bãi hao gầy
Như không, đứng đợi ở đây một mình

                                   LTH


Dấu vết của thời gian

Vết nứt chạm sâu ...
Tuổi anh mười chín
Trên
Đồng làng
Em
Khô khốc vầng trăng
Gió
Tháng hai
Níu mùa xuân
Bịn rịn
Bốn mươi năm
Còn lại
Những vết hằn

                Lê Thanh Hùng

                Bắc Bình, Bình Thuận
READ MORE - THU, MỘT ĐOẠN ĐỜI - Chùm thơ Lê Thanh Hùng

CẢM ƠN ANH ĐÃ ĐẾN...! - Thơ Dạ Thy



                    Tác giả Dạ Thy


CẢM ƠN ANH ĐÃ ĐẾN...!

Nhớ anh nhiều đến độ
Thấy nhoi nhói trong lòng
Tận sâu anh có biết?!
Em khổ nhiều lắm không?!?

Nhớ anh nhiều đến vậy
Mà em chẳng dám mong
Ngày hai ta gặp lại
Sợ chết điếng trong long

Trời hôm nay giông gió
Cứ quất mạnh lên chiều
Hằn roi lên thương nhớ 
Tím bầm cả cô liêu.

Thèm nghe một hơi thở
Thèm nghe giọng nói anh
Mà sợ lòng đỗ vỡ
Khản hồi chuông thất thanh

Tình yêu thật mong manh
Đến rồi đi vội vã
Đã từng là tất cả
Rồi cũng thành người dưng.

Đừng giá như chưa từng
Đừng giá như chưa biết
Em dù đau cùng kiệt
Em vẫn tạ ơn đời.

Cuộc sống thường vốn vậy
Biếc xanh rồi vàng rơi
Cảm ơn anh đã đến
Nhuộm em xanh một thời!

                     Dạ Thy
              (Lưu Thị Thẩm)

P/s: đàn bà; chúng ta được phép khổ; nhưng đừng luỵ.

READ MORE - CẢM ƠN ANH ĐÃ ĐẾN...! - Thơ Dạ Thy

NGUYỄN KHÔI "SÁNG NGỜI, NỒNG ẤM, CHÂN THẬT" - Lê Ngọc Trác


      
            Tác giả Lê Ngọc Trác


NGUYỄN KHÔI "SÁNG NGỜI, NỒNG ẤM, CHÂN THẬT" 

Cuối tháng 5 năm 2017, nhà thơ Nguyễn Khôi trình làng tập thơ "Chân dung 99 nhà văn Việt Nam đương đại". Đây là tác phẩm thứ 09 của ông được xuất bản. Trong đó gồm 5 tập thơ và 4 tác phẩm biên khảo, dịch thuật. Năm nay, nhà thơ Nguyễn Khôi đã vượt xa cái tuổi "Nhi trùng tâm sở dục bất du củ", điều này cho những người yêu thơ càng cảm phục bút lực, sự sáng tạo của ông.

Viết chân dung văn học bằng thơ đã từng có nhiều người viết. Mỗi tác giả thể hiện theo phong cách riêng của mình. Không ai giống ai. Và, nhiều người đã thành công. Riêng tác phẩm "Chân dung 99 nhà văn Việt Nam đương đại" của Nguyễn Khôi được tác giả viết bằng thể thơ ngũ ngôn tứ tuyệt, với văn phong giản dị, chân thật, mang hơi thở tân văn. Nguyễn Khôi đã thành công trong việc khắc họa 99 chân dung nhà văn Việt Nam mà ông yêu mến. Chỉ với bài thơ 20 câu, ông đã khái quát được chân dung, tiểu sử, cá tính, nét nổi trội về sự nghiệp, tác phẩm và thời đại sống, môi trường sống của từng nhà văn nhà thơ.

Cái đáng quý của Nguyễn Khôi là khi viết chân dung nhà văn, ông không phân biệt Người "lề trái lề phải, phe ta phe địch hay người miền Bắc xã hội chủ nghĩa, miền Nam Sài Gòn cũ". Không phân biệt "cây đa cây đề" ở ngôi đền văn chương hay người mới vào nghề. Nguyễn Khôi chỉ viết chân dung những nhà văn mà ông đã mến và từng đọc tác phẩm của họ:

"Trung thực được như ông
Là "Việt Nam sử lược"
"Hồi kí" thực như tâm
Tin đời còn sự thật.
(Trần Trọng Kim)

"Giảng triết cho lũ dốt

Tù đầy giữa đời thừa
Yêu nước thành phản Quốc
"Trăng trối" đã quá mùa.
(Trần đức Thảo)

Hăng hái "Lên miền Tây"
Đi B không sợ chết
"Bình công" nuốt đắng cay
Làm thơ trong xó bếp.
(Bùi Minh Quốc)

Tù túng thành "phu chữ"

Đẽo / tỉa bay mất hồn
Người chết / thơ còn, hết
"Đường chữ" nẻo cô thôn.
(Lê Đạt)

Chẳng cần tốc váy đỏ

"Quốc sư" vẫn say thơ
Văn em không có sex
Đếch ai thèm tìm mua.
(Vi Thùy Linh)

Đọc "Chân dung 99 nhà văn Việt Nam đương đại" của Nguyễn Khôi, chúng ta càng hiểu về cuộc đời, tâm tình và thời đại, lịch sử xã hội mà nhà văn đã từng sống và viết. Người đọc sẽ tự rút ra cho mình một cái nhìn về "nhà văn đương đại". Thật là thú vị.

Thập niên 90 của thế kỷ 20, Nguyễn Khôi đã là một cây bút tên tuổi trên văn đàn. Người yêu thơ còn nhớ đến Nguyễn Khôi với bài "Ao làng":

"Vượt biển, chơi hồ, trở quá giang
Bỗng dưng lại thấy nhớ ao làng
Cái đêm hè ấy ai ra tắm
Để cả bầu trời phải tắt trăng"

Dung dị, đằm thắm, trữ tình là nét đặc trưng nổi bật trong thơ Nguyễn Khôi. Sau nhiều năm đọc thơ ông, chúng tôi nhận ra: Nguyễn Khôi là một người sáng tác rất nhanh, rất nhiều. Ông có tài "xuất khẩu thành chương". Qua những bài thơ giao lưu, vịnh cảnh mang tính ghi chép ký sự của ông, thấm đẫm chất thơ, nhưng không thiếu đi sự chân thật, giúp cho chúng ta rõ được hoàn cảnh lịch sử, bối cảnh thời đại của bài thơ khi ra đời. Ông có nhiều bài thơ trữ tình, lãng mạn:

"Hà Nội ơi!
Thôi mai về Cửu Long Giang cuộn sóng
Nhớ sông Seine... thời khắc chẳng ngừng trôi
Khung cửa hẹp
Ôi thu hừng sắc tím
Tím cả hồn thơ thả mộng lên trời"
("Gởi em Paris mùa thu tím")

Nhà thơ có những lúc thấm đẫm một màu thương nhớ xa xôi:

Ừ có hẹn cũng chưa về Tuyên được
Bếp lửa nhen ai đó sưởi riêng lòng
Đêm Hà Nội đã nhạt mùi hoa sữa
Tưởng tóc ai phảng phất hương rừng"
(Trích: "Gởi Tuyên Quang")

Nguyễn Khôi viết về Bắc Ninh, Tuyên Quang, Hà Nội... những miền quê chở đầy cảm xúc trong ông. Qua những bài thơ Nguyễn Khôi viết về Hà Nội, chúng ta càng suy nghĩ về những biến đổi của một vùng đất trong cuộc sống. Ông đã từng xa và nhớ về Hà Nội thân thương:

"Xa để nhớ đượm đà tình xứ sở
Mặt trời Sông Hồng chói lọi thân thương
Thật hạnh phúc ngày trở về Hà Nội
Thấy lòng mình tĩnh lặng giữa hồ Gươm"
(Trích: "Nhớ Hà Nội" - 2002)

Ấy vậy mà bây giờ, nhà thơ của chúng ta phải buồn rầu thốt lên:

"Ngày nghỉ lễ
Thôi, ta xa Hà Nội
Về nhà quê nghỉ dưỡng thỏa tâm hồn
Xa để "thoát" lấn chen, xô đẩy
Tìm nơi "buồn" yên tĩnh, dịu dàng hơn
...
Ôi Hà Nội
Còn mấy nàng thỏ thẻ
Mở miệng ra là "đ.m" chửi thề...
...
Ôi Hà Nội có điều gì không ổn
Như trên mây
Trên gió "cấp điều hành"
Mong sớm có một Tràng An thanh lịch
Để ta về
Soi bóng xuống Hồ Gươm"
(Trích "Xa Hà Nội")

Nguyễn Khôi như là một "thư ký của thời đại". Qua thơ của ông, chúng ta cảm nhận được bức tranh xã hội. Nguyễn Khôi đã từng viết những câu thơ như là một định hướng, một tâm niệm của người làm thơ khi bước vào ngôi đền văn chương:

"Ai những mong "lầu" là "núi"
Mà trái tim giả dối vô hồn
Đâu là nước mắt tắm cuộc đời xuôi ngược
Thơ sáng ngời nồng ấm máu, mồ hôi"
(Trích: "Thi sĩ")

Riêng chúng tôi, đọc thơ Nguyễn Khôi nhận ra một điều: Thơ ông "sáng ngời, nồng ấm, chân thật". Đây là nét đáng yêu, thu hút nhiều người yêu thơ.

                                                           Lê Ngọc Trác
                                                Phố biển La Gi tháng 6/2017

READ MORE - NGUYỄN KHÔI "SÁNG NGỜI, NỒNG ẤM, CHÂN THẬT" - Lê Ngọc Trác

Wednesday, June 14, 2017

TIẾT HỌC VĂN CUỐI CÙNG - Thơ Châu Thanh Thủy



                 Tác giả Châu Thanh Thủy


TIẾT HỌC VĂN CUỐI CÙNG

Em thấy đó chia tay rồi mùa hạ
Vạt nắng xuyên lá đổ rợp sân trường
Trống hết tiết vang từng hồi hối hả
Buổi cuối cùng, bạn gái mắt mờ sương.

Trên mặt bàn những nét bút vấn vương
Lời muốn nói chưa một lần dám nói
Còn đâu nữa run tim khi cô gọi
Bài học dài, câu hỏi khó. Ôi thôi...

Điểm kém ư? Buồn một chút lại... vui!
Ừ thế đó chẳng để gì trong bụng
Tuổi vô tâm suy nghĩ còn non vụng
Mắc lỗi hoài, xin lỗi mãi rồi... quên!

Em nhớ không nét bút vẫn khắc tên
Người bạn ấy một thời thầm thương nhớ
Gửi xa xôi vài lời trong trang vở
Hồi hộp chờ "người ấy" mở ra xem.

Em biết không thầy cô vẫn bên em
Vẫn dõi bước, con đường đời gian khổ
Vẫn khuyên em phải tự mình vượt khó
Và thành công phải của tự chính mình.

Vẫn bên em hàng ghế đá xinh xinh
Lá bàng rợp những buổi trưa oi ả
Cơn gió mát vô tình lùa khe cửa
Tiết học nào cũng bụi phấn bay bay.

Nhớ em nghe kỉ niệm vẫn trên tay
Tà áo trắng chữ kí dày nét mực
Ngày mai đây trên đường đời tấp nập
Lúc nhớ nhung hãy trở lại mái trường!

                            Châu Thanh Thủy

READ MORE - TIẾT HỌC VĂN CUỐI CÙNG - Thơ Châu Thanh Thủy

ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (Kì 5) - TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ

 
               Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên



ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (Kì 5)


Lí Bạch

塞下曲其四 
塞下曲其四 
白馬黃金塞, 
雲砂繞夢思。 
那堪愁苦節, 
遠憶邊城兒。 
螢飛秋窗滿, 
月度霜閨遲。 
摧殘梧桐葉, 
蕭颯沙棠枝。 
無時獨不見, 
淚流空自知。

Phiên âm:

TÁI HẠ KHÚC KÌ 4 – Lí Bạch
Bạch mã Hoàng Kim tái, 
Vân sa nhiễu mộng tư. 
Na kham sầu khổ tiết, 
Viễn ức biên thành nhi. 
Huỳnh phi thu song mãn, 
Nguyệt độ sương khuê trì. 
Tồi tàn ngô đồng diệp, 
Tiêu táp sa đường chi. 
Vô thời độc bất kiến, 
Lệ lưu không tự tri.

Dịch nghĩa:

 TÁI HẠ KHÚC KÌ 4
Ngựa trắng phi trên ải Hoàng Kim 
Mây cát cuốn theo giấc mộng 
Sá kể chi nỗi đau khổ 
Xa nhớ trẻ ngoài biên cương 
Mùa thu, đom đóm bay đầu cửa sổ 
Sương lạnh, trăng chầm chậm qua buồng the 
Lá ngô đồng tàn rụng 
Cành sa đường xác xơ 
Trông ngóng luôn nhưng nào có thấy 
Một mình tuôn lệ âm thầm

Dịch thơ: 

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 4) 
 Ngựa trắng phi Hoàng ải
Giấc mộng theo cát mây
Sá kể gì đau khổ
Nhớ trẻ biên ải này
Thu, đóm qua cửa sổ
Sương lạnh trăng qua đây
Lá ngô đồng tàn rụng
Cành sa đường lá bay
Trông ngóng nào có thấy
Một mình lệ tuôn đầy!

塞下曲其五 
塞虜乘秋下, 
天兵出漢家。 
將軍分虎竹, 
戰士臥龍沙。 
邊月隨弓影, 
胡霜拂劍花。 
玉關殊未入, 
少婦莫長嗟。

Dịch thơ: 

TÁI HẠ KHÚC KÌ 5
Tái lỗ thừa thu há, 
Thiên binh xuất Hán gia. 
Tướng quân phân hổ trúc, 
Chiến sĩ ngọa Long Sa. 
Biên nguyệt tùy cung ảnh, 
Hồ sương phất kiếm hoa. 
Ngọc Quan thù vị nhập, 
Thiếu phụ mạc trường ta.

Dịch nghĩa:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 5) 
Gặp tiết thu giặc ngoài ải tràn xuống 
Binh trời ra từ nhà Hán 
Tướng quân chi ấn hổ trúc 
Binh sĩ nằm lăn trên bãi Bạch Lonh Đôi 
Trăng ngoài ải theo lẩn bóng cung 
Sương đất Hồ thấm ướt lưỡi kiếm 
Ngọc Quan chưa vào được 
Vợ trẻ chớ nên than dài

Dịch thơ:

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI
Thu giặc tràn xuống ải
Nhà Hán xuất binh trời
Tướng nhận ấn hổ trúc
Chiến sĩ nằm Long Đôi
Trăng ải, cung theo ảnh
Sương Hồ ướt kiếm thôi
Ngọc Quan chưa vào được
Thiếu phụ chớ than dài.

塞下曲其六 
烽火動沙漠, 
連照甘泉雲。 
漢皇按劍起, 
還召李將軍。 
兵氣天上合, 
鼓聲隴底聞。 
橫行負勇氣, 
一戰靜妖氛。

Phiên âm:

HẠ TÁI KHÚC KÌ 6
Phong hoả động sa mạc, 
Liên chiếu Cam Tuyền vân. 
Hán hoàng án kiếm khởi, 
Hoàn triệu Lý tướng quân. 
Binh khí thiên thượng hợp, 
Cổ thanh lũng để văn. 
Hoành hành phụ dũng khí, 
Nhất chiếm tĩnh yêu phân.

Dịch nghĩa 

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 6)
Khói lửa rung động ngoài sa mạc 
Soi đến tận mây Cam Tuyền 
Vua Hán chống kiếm dậy 
Lại vời Lý tướng quân 
Khí quân tụ cả trên trời 
Tiếng trống vang dậy ngoài cõi 
Tung hoành đầy khí thế 
Yêu quái một trận dẹp tan

 Dịch thơ: 

KHÚC HÁT DƯỚI ẢI (KÌ 6)
Khói lửa rung sa mạc
Soi mây Cam Tuyền lan
Vua Hán chống kiếm dậy 
Lại vời Lý tướng quân 
Trên trời khí quân tụ 
Ngoài cõi tiếng trống vang
Tung hoành đầy khí thế 
Yêu quái một trận tan.

 SẦM THAM (715-770)  
                                 
Sầm Tham là người Nam Dương, tỉnh Hà Nam (Trung Quốc). Cha ông từng làm Thứ sử (hai lần), và đã qua đời lúc Sầm Tham còn nhỏ.
Nhà nghèo, ông phải tìm cách tự học. Năm 744 đời Đường Huyền Tông (ở ngôi: 712-756), Sầm Tham thi đỗ Tiến sĩ lúc 29 tuổi, được bổ làm một chức quan nhỏ là Binh tào Tham quân.
Năm 749, ông theo tướng Cao Tiên Chi đến An Tây  (ra biên ải lần thứ nhất), nhưng chẳng bao lâu lại trở về kinh đô Trường An.
Năm 754, ông ra biên ải lần thứ hai, làm Phán quan cho Tiết độ sứ An Tây là Phong Thường Thanh. Thời kỳ này, ông sáng tác rất nhiều thơ về chủ đề "biên tái".
Sau loạn An Sử (755-763), từ Tửu Tuyền (nay thuộc Cam Túc), Sầm Tham đến Phượng Tường (nay thuộc Bảo Kê, Thiểm Tây) là nơi Đường Túc Tông (ở ngôi: 756-762) đang ở. Được bạn thân là nhà thơ Đỗ Phủ và Phòng Quân tiến cử, ông được giữ chức Hữu bổ khuyết.
Thời Đường Đại Tông (ở ngôi: 762-779), Sầm Tham lại ra biên ải (lần thứ ba). Năm 766, ông được bổ làm Thứ sử Gia Châu (nên ông xưng là Sầm Gia Châu), nhưng sau đó bị bãi chức .
Lâm cảnh đói nghèo, năm 770, Sầm Tham mất trong quán trọ tại Thành Đô (nay là tỉnh lỵ tỉnh Tứ Xuyên) lúc 55 tuổi.
Tác phẩm của ông để lại có Sầm Gia Châu thi tập (Tập thơ của họ Sầm ở Gia Châu) gồm 8 quyển.
                                (Theo Từ điển mở Kiwipedia tiếng Việt)

磧中作 
走馬西來欲到天, 
辭家見月兩回圓。 
今夜不知何處宿, 
平沙萬里絕人煙。

 Phiên âm: 

THÍCH TRUNG TÁC
Tẩu Mã tây lai dục đáo thiên, 
Từ gia kiến nguyệt lưỡng hồi viên. 
Kim dạ bất tri hà xứ túc, 
Bình sa vạn lý tuyệt nhân yên.

Dịch nghĩa: 

VIẾT TRONG SA MẠC
Giục ngựa chạy về phía Tây, muốn đến tận chân trời 
 Rời nhà ra đi, đã thấy trăng hai lần tròn
 Đêm nay không biết ngủ ở đâu
 Trên sa mạc muôn dặm, tuyệt không thấy bóng người và khói bếp.

Dịch thơ: 

CẢM TÁC TRONG SA MẠC
Ngựa sải về Tây muốn tới trời
Xa nhà chốc đã hai mùa rồi
Đêm nay chẳng biết  tìm đâu ngủ
Vạn dặm cát xa chẳng khói, người.

見渭水思秦川 
渭水東流去, 
何時到雍州. 
憑添兩行淚, 
寄向故園流. 

 Phiên âm:

KIẾN VỊ THỦY TƯ TẦN XUYÊN 
Vị thuỷ đông như khứ, 
Hà thời đáo Ung Châu. 
Bằng thiêm lưỡng hàng lệ, 
Ký hướng cố viên lưu. 

Dịch nghĩa: 

THẤY SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN
Song Vị chảy về đông
Bao giờ tới châu Ung
Nếu chở thêm được hai dòng lệ
Xin gửi đưa giùm về quê hương

Dịch thơ: 

THẤY SÔNG VỊ NHỚ TẦN XUYÊN
Sông Vị chảy về Đông
Bao giờ tới châu Ung
Nếu thêm đôi dòng lệ
Xin gửi về cố hương.

逢入京使 
故園東望路漫漫, 
雙袖龍鐘淚不乾。 
馬上相逢無紙筆, 
憑君傳語報平安。

Phiên âm: 

PHÙNG NHẬP KINH SỨ
Cố viên đông vọng lộ man man, 
Song tụ Long Chung (1) lệ bất can. 
Mã thượng tương phùng vô chỉ bút, 
Bằng quân truyền ngữ báo bình an.

Dịch nghĩa: 

GẶP SỨ GIẢ VÀO KINH
Ngóng về hướng đông nơi quê nhà, đường dài hun hút 
Hai tay áo thõng, nước mắt không cạn 
Ở trên lưng ngựa gặp nhau, không có bút trong tay 
Nhờ anh gửi lời nhắn tin báo rằng tôi vẫn được bình yên.

 Dịch thơ: 

GẶP SỨ GIẢ VÀO KINH
Đông ngóng quê nhà, chốn mênh mang
Hai tay áo thõng, nước mắt giàn
Gặp trên lưng ngựa không giấy bút
Nhắn hộ rằng tôi vẫn  bình an.

                                                          Nguyễn Ngọc Kiên  

READ MORE - ĐƯỜNG THI – CHỦ ĐỀ BIÊN TÁI (Kì 5) - TS. Nguyễn Ngọc Kiên chọn dịch và giới thiệu thơ

KHÚC TỲ BÀ - Thơ Trần Mai Ngân




KHÚC TỲ BÀ


Tỳ bà réo rắt

Réo rắt cung tơ

Như gieo muôn ngàn ý thơ

Cuộc đời không giống như mơ tình nồng


Có những vợ chồng

Không là trăm năm

Tỳ bà réo rắt xa xăm

Chìm vào hư ảo mộng nằm kề nhau...


Cung oán cung đau

Tỳ bà lắng sâu

Tóc chàng mây trắng pha mầu

Người xưa như nước qua cầu đã chia...


Réo rắt xa lìa

Tỳ bà ngân vang

Làm sao... ý thiếp tình chàng

Chỉ là cõi mộng bẽ bàng thoáng qua! 


                                  Trần Mai Ngân


READ MORE - KHÚC TỲ BÀ - Thơ Trần Mai Ngân

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 3, 4


              Nhà thơ Chu Vương Miện



XA LẮC
(Chùm thơ CVM 3)

sụt sùi cố bám nơi mặt đất
phương trời chia ngả bắc đông tây
nay bể mai dâu chìm khe sưối
trôi chi trôi mãi dạt cỏ cây
hoa cành đâu khác tàu lá chuối
tả tơi phơ phất lá rừng mây
hết tiết sương mù qua sương muối
mưa rơi rả rích một cội mai
mưa lũ năm nay hoa nở muộn
vàng mơ đã quá nửa tháng hai

cưỡi trên ngựa
thì làm tướng
làm vua
cưỡi mình trâu
thì làm dân
một mưa hai nắng
cởi trần
cưỡi voi
thì làm nài
để cho chủ sai ?
xuống chó
là kể đã hết thời


GIỜ THÌ
(Chùm thơ CVM 4)

mỗi người mỗi ngả
kẻ thuyền thúng người thuyền quyên
không xa mà cũng không gần
cách nhau chừng mươi cây số
kiếp này đành ghi sổ nợ
kiếp sau nhớ kiếm mà đòi

tháng 7 trời mưa Ngâu
tháng 8 trời mưa mau
tìm em ? tìm nơi đâu ?
kẻ giang đuôi
kẻ giang đầu
kẻ nghèo 
người giầu


sông Seine quá hẹp sen nào mọc
xa xăm nên cứ nhớ thương dài
bến đỗ cũng quá nhiều mật đắng
dáng đò toàn đá tảng nung vôi
vàng cây bạc nén sờ không tới
tảng đời không tụ lặng lờ trôi
em nửa chừng xuân chèo bơi ngược
anh thân củi mục nhớ thương đời
yêu nhau bến đậu thường không có
nơi đây đâu khác Bạc Tần Hoài
rác rưởi bềnh bềnh trên sông nước
tiếng ca nhạt nhẽo nhớ thương ai ?

                 CHU VƯƠNG MIỆN

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN 3, 4

MẮT PHƯỢNG CHIỀU - Thơ Sĩ Chương

  
                 Tác giả Sĩ Chương


  MẮT PHƯỢNG CHIỀU

  Nhẹ bước qua
  hồn rơi rớt lại
  Bâng khuâng chiều 
  những cánh phượng - em
  Cổng trường khép    
  mùa sang đổi hạ
  Mắt lá răm 
  nghiêng đậu sân trường
  Chùm phượng vĩ 
  theo về cuối ngõ
  Áo trắng bay 
  thương tuổi học trò
  Đường Chùa Cầu 
  về Sông Hoài phố
  Rất hồn nhiên 
  phượng níu cầm tay
  Bây giờ đây 
  vọng ngày chung lớp
  Hẹn cà phê 
  quán PHỐ đợi người
  Cà phê nguội 
  góc bàn còn nhớ 
  Em hay quên 
  chiều vắng mình tôi
  Tình ta đẹp 
  một thời thơ dại
  Mắt phượng chiều 
  ươn ướt phượng ơi  !

                Sĩ Chương 
                14/6/2017

READ MORE - MẮT PHƯỢNG CHIỀU - Thơ Sĩ Chương

MỘT CHÚT TÌNH, CẢM HOÀI - Thơ Tịnh Đàm


                   Tác giả Tịnh Đàm



MỘT CHÚT TÌNH 

Nỗi gì?
Vừa gợi chiều nay,
Tôi không biết nữa...
                          cứ day dứt lòng.
Người xưa,
Thôi hết chờ mong.
Còn chăng... một chút tình trong mộng hờ!

CẢM HOÀI

Nỗi đời tôi,
Nỗi khôn khuây !
Như trăng viễn xứ...
Đã gầy nẻo sương...
Nào đâ u?
Dấu mộng trên đường
Bước tha phương.
Mỏi
Về nương chốn này.
Nỗi đời tôi,
Nỗi buồn vay!
Trăm năm...
Đổi chút tình say bên người .
Để tôi vui vơí nụ cười,
Khi mơ thấy lại...
Khoảng trời an nhiên

TỊNH ĐÀM
(Hóc Môn,TP.HCM)

READ MORE - MỘT CHÚT TÌNH, CẢM HOÀI - Thơ Tịnh Đàm

CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN


  
                       Tác giả Thủy Điền


Đêm Mơ

Giữ đêm, mơ thấy ngày hồng
Có bầy chim nhỏ lượn vòng quanh ta
Đùa vui bên gốc phượng già
Hỏi han, líu lót. Sao mà ngồi đây ?
Một mình giữa buổi nắng gay
Gương buồn ẩn lệ chẳng ai thương giùm
Chim đây nước mắt thôi, ngưng
Ta cùng vui nhé; xin đừng làm ngơ

Giật mình toàn gối, chăn tơ
Chim đâu không thấy bơ phờ mặt hoa
Bao nhiêu lời nói ngọc ngà
Bấy câu an ủi bay xa mất rồi
Đêm mơ  để lại đơn côi
Một người con gái thương người bao năm
Đơn phương tình gởi gối nằm
Canh ba hiu hắt. Hỏi chàng có hay?

Thủy Điền
12-06-2017


Tình Cờ - Khơi Lại Nỗi Đau

Tình cờ chung một chuyến tàu
Tình cờ ta lại gặp nhau "Ngỡ ngàng "
Em giờ tay dắt con đàn
Còn tôi cô lẻ, lang thang khắp trời

Tình cờ tôi gặp lại người
Mười năm xa cách mừng ơi là mừng
Buồn vui thuở ấy hiện dưng
Tôi- em bốn mắt giọt lưng, giọt đầy

Tình cờ sao giữa chốn nầy
Tình ơi! Tình hỡi, còn say thắm nồng
Ngày xưa sao vội lấy chồng
Bỏ tôi ở lại giữa dòng cô đơn

Đêm về còn lại tiếng đàn
Tiếng ca, tiếng hát em mang đi rồi
Cuộc đời cứ ngỡ cuốn trôi
Bao nhiêu kỷ niệm mình tôi ôm sầu

Tình cờ ta gặp lại nhau
Đời khơi trở lại nỗi đau ngày nào.

Thủy Điền
12-06-2017


Người Buồn. Thử Hỏi ? Thơ Nào Có Vui
(Kính Tặng NT Tịnh Đàm)

Mới quen, nhưng có chút tình
Đọc thơ “ Có lẽ  “ Bạn mình chẳng vui
Luôn mang tâm sự, bùi ngùi
Bao năm dùi dập cuộc đời đắng cay
Nào đời- tình lẫn cả hai
Đuổi đeo, đeo đuổi năm dài không buông
Nhìn anh gương mặt nét buồn
Thơ anh như lệ đang tuôn má gầy
Nhớ thời trai trẻ, trẻ trai
Cũng như anh đó, nhớ hoài ngàn năm
Cũng lênh đênh, cũng thăng trầm
Mà thành Thi sỹ giống anh. Không ngờ
Nhờ văn, nhờ bút, nhờ thơ
Nên lòng tỏa bớt nỗi đau năm nào
Nhìn anh, nghĩ trước, suy sau
Người buồn, thử hỏi thơ sao không buồn.

Thủy Điền 
11-06-2017


Tạm Bợ

Khói chiều nghi ngút bay
Đời "Tạm bợ " Qua ngày
Sống rày đây mai đó
Chẳng chút gì tương lai

Đêm cũng giống như ngày
Sáng quăng lưới, kéo chài
Chiều tấp vào bến cạn
Bên bát chè rai rai

Quê hương nào có thấy
Xứ sở ai có hay
Lênh đênh trên sóng nước
Bồng bềnh, gió lung lay

Cuộc đời như thế đấy
Ngày chỉ thấy toàn mây
Đêm về nghe sóng vỗ
Vây phủ tấm thân gầy.

Thủy Điền
11-06-2017


Vội Vã 

Chưa tháng bảy sao em trông lá đỗ 
Làm thơ buồn trời đã sắp sang thu
Cây phượng hồng đang nở đứng im ru
Con Ve nhỏ cũng lắc đầu ngưng tiếng réo

Chưa tháng bảy mà sao em đuổi khéo
Mùa hạ nầy! Mi hãy vội qua mau
Để ta quên chuyện cũ thuở năm nào
Thuở, ngày ấy tim ta từng đau nhói
Thuở, biết yêu nhưng lặng câm không nói
Để cánh tình hờ hững vội bay xa

Chưa tháng bảy sao em nôn nao quá
Cứ trông nhìn ra ngõ ngắm thu rơi
Thèm một mình đi dưới lá vàng bay
Bên tiếng gió vuốt ve tình cô độc
Bên giọt mưa sẻ chia từng tiếng khóc

Chưa tháng bảy mà dường như cơn lốc
Đang cuộn vào xao động quả tim non.

Thủy Điền
10-06-2017

Than thở

Qua sông mới biết sông dài
Có đi mới thấy mòn hài, mỏi chân
Lớn khôn cất bước theo chồng
Làm dâu thiên hạ đụt, trong hai màu
Tháng năm sống cảnh khổ đau 
Bên người xa lạ tiếng vào, lời ra
Mới càng thương lũ em nhà
Ngày ngày hai buổi lân la bên thềm
Chỉ nghe những tiếng dịu êm
Toàn nhìn những cảnh êm đềm bên nhau
Ngày xưa em ngã chị đau
Bây giờ chị ngã ai nào xót thương.

Thủy Điền
09-06-2017

READ MORE - CHÙM THƠ THỦY ĐIỀN