Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, February 9, 2017

CHÙM THƠ ĐỖ ANH TUYẾN


  


DẠI ĐẦN
Giọt sầu gỏ nhịp cùng sương
Nguyệt tà lờ lững vấn vương nỗi buồn
Gieo sầu tỏa nhớ ngàn phương
Ai người vong phụ, hoài thương riêng mình...!
Úa mòn một Đóa hoa xinh
Thu tàn Đông đến, tim mình giá băng
Người ơi! Xin hãy nhớ rằng
Vì tôi chót dại yêu bằng con tim...
Nên giờ như kẻ đắm chìm
Xót xa một kiếp con tim dại đần.

GIỜ THÀNH QUÁ KHỨ
Và như thế chúng mình từ đó.
Hỏi thăm nhau mà gượng những ngôn từ.
Ngàn câu chuyện không cách nào trọn vẹn
Bởi "ừ".à" và những dấu chấm trôi
Anh tự hỏi lẽ nào thành như vậy?
Bức tường câm hay khoảng cách vô hình?
Vui hay giận khôg tìm về nhau nữa
Hé môi rồi nhưng không nói thành câu
Chắc có lẽ đã chạm vào giới hạn
Chạm lằn ranh và sắp bước qua rồi
Mọi lí lẽ điều quy rằng : quá bận
Để quên rằng duyên phận bắt đầu trôi
Ừ. Thôi thế không tìm về nhau nữa
Giữ cho nhau một kỉ niệm qua rồi
Nếu đã biết đời này là hữu hạn
Cố dặn lòng tìm lấy những ngày vui.

ĐỖ ANH TUYẾN
Địa chỉ: Khu Cộng Hòa, thị trấn Thanh Nê,
huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình
READ MORE - CHÙM THƠ ĐỖ ANH TUYẾN

ĐẦU NĂM, NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC - Tuỳ bút của Hoàng Đằng


          
                        Tác giả Hoàng Đằng




ĐẦU NĂM, NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC
                                               
Tuỳ bút của Hoàng Đằng


Trong chương trình thời sự lúc 19 giờ trên VTV1 ngày 05/02/2017, có phát phần: “Đổi mới giáo dục – chú trọng phát triển tố chất” do BTV Kim Hải chủ trì, bình luận với sự góp ý của các chuyên gia giáo dục: Bà Lưu Minh Hường, GS. Hồ Ngọc Đại và GS. Chu Cẩm Thơ
Mọi ý kiến đưa ra đều nhấn mạnh đến việc giáo dục trẻ cần chú trọng phát triển tố chất (bản chất) của trẻ, nói rõ hơn là phát triển những sở trường riêng, năng khiếu riêng, cá tính riêng của từng trẻ. Tuy nhiên, muốn được vậy, các ý kiến chưa đưa ra giải pháp cụ thể.
Vì vậy, hôm nay, dù chỉ là “tay ngang”, tôi muốn bàn về giáo dục và mong nhận được ý kiến xây dựng từ độc giả. Biết đâu việc bàn luận của chúng ta giúp ích, không nhiều thì ít, cho những vị lập chính sách giáo dục!

Giáo dục là đào tạo con người; do đó, phải có hình mẫu con người để giáo dục nhắm đến – con người lý tưởng.
Ngày xưa, hình mẫu con người ấy là các bậc thánh hiền; việc chọn hình mẫu ấy là đúng. - thánh hiền luôn dạy con người những điều phải. Vậy mà hiện giờ, nhiều người đổ lỗi tình trạng xã hội trì trệ là do nền giáo dục chọn hình mẫu ấy. Thật ra hoàn toàn không phải!
Giáo dục ngày xưa không thúc đẩy xã hội tiến triển hay tiến triển quá chậm là do nền giáo dục ấy quá xem trọng từ chương mà bỏ quên những mặt khác của đời sống - chương trình giáo dục không có các môn khoa học tự nhiên; lại thêm, nền giáo dục ấy không khuyến khích sự sáng tạo.
Tình trạng trì trệ của xã hội ngày xưa một phần lớn còn do các người lãnh đạo cộng đồng hay những người nắm quyền hành quốc gia quá tham lam, vị kỷ, họ mượn thánh hiền làm bình phong che đậy ý đồ biến con người thành kẻ trung quân dại dột để duy trì quyền lợi của họ: “Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung ... – Vua bảo bề tôi chết, bề tôi không chịu chết là bất trung” (a), ai đời ác độcvậy, điên rồ vậy mà cũng dạy được!
Ngày nay, hình mẫu con người mà giáo dục nhắm đào tạo nên thay đổi tuỳ theo mục đích chính trị, môi trường sống của từng người.
Cố chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo đảng Cộng Sản Việt Nam giành thắng lợi trong chiến tranh giành độc lập, dựng nên chế độ xã hội chủ nghĩa, qua giáo dục, muốn có hình mẫu con người (1) biết yêu Tổ Quốc, (2) biết yêu nhân dân, (3) biết yêu lao động, (4) biết yêu khoa học, (5) biết yêu đạo đức (b).
Cố thi sĩ Tố Hữu, một trong những nhà lãnh đạo cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, đánh đổ chế độ Việt Nam Cộng Hoà do Mỹ bảo trợ, trong “Bài Ca Xuân 71”, đưa ra hình mẫu con người “biết căm thù và biết yêu thương”:
“ ... Nhưng phải luyện những con người đẹp nhất,
Biết căm thù và biết yêu thương”.
Chủ Tịch hiện nay của nước Việt Nam, Trần Đại Quang, trong buổi làm việc với lãnh đạo bộ Giáo Dục và Đào Tạo ngày 04/02/2017 (08 Tết Đinh Dậu) đã chỉ đạo ngành giáo dục phải cho ra lò những “công dân toàn cầu” (global citizen, citizen of the world) nghĩa là những người có trình độ văn hoá, trình độ chuyên môn, khả năng giao tiếp để sống và làm việc được bất cứ ở đâu trên trái đất này; “công dân toàn cầu” phải góp phần mình vào kho tàng văn minh của nhân loại bằng những phát minh, sáng chế; “công dân toàn cầu” còn phải trăn trở với những bất công, phi lý trên phạm vi toàn cầu, từ đó, chung sức, lên tiếng xoá bỏ những tệ trạng ấy, biến trái đất này thành nơi càng ngày càng tốt đẹp hơn
GS Nguyễn Đăng Hưng, giáo sư ngành cơ học, người trưởng thành dưới chế độ Việt Nam Cộng Hoà, du học rồi định cư ở nước ngoài, cho rằng giáo dục phải nhắm đào tạo nên con người tự do, con người nhân văn, con người có hiểu biết, con người có tinh thần phê phán và sáng tạo (c).
Như thế, hình mẫu con người mà một nền giáo dục muốn đào tạo luôn thay đổi theo tình hình, theo thời đại để thích nghi.

Muốn đào tạo hình mẫu con người như thế nào, nhà cầm quyền phải có triết lý giáo dục thích hợp – có người đã ví triết lý giáo dục đối với một nền giáo dục như hiến pháp đối với một quốc gia; hiến pháp không tốt thì quốc gia không ổn định, triết lý giáo dục không đúng thì nền giáo dục sẽ lạc vào mê trận đồ không lối thoát – lạc đường.  
Chế độ Việt Nam Cộng Hoà (1955 – 1975) triệu tập Đại Hội Giáo Dục Quốc Gia năm 1958 gồm đại diện phụ huynh học sinh, thân hào nhân sĩ, học giả, quân đội, chính quyền, ngành văn hoá & giáo dục, các tổ chức quần chúng ... ở miền Nam trước đây đề ra triết lý giáo dục dựa vào 3 trụ cột: Nhân Bản, Dân Tộc và Khai Phóng, đại khái là tôn trọng con người, giữ gìn truyền thống tốt đẹp của cha ông và tiếp nhận đồng thời đóng góp những cái hay, cái đẹp, cái mới của nhân loại và cho nhân loại.
Triết lý giáo dục của Mỹ dựa trên 5 trụ cột (d): (1) thuyết bản chất (essentialism): chú trọng tố chất tốt đẹp của cá nhân, (2) thuyết trường tồn (perennialism): “chú trọng các chân lý phổ quát đã được kiểm nghiệm qua thời gian” , (3) thuyết tiến bộ (progressivism): cổ xuý những ý tưởng mới, những phát minh, những sáng tạo, (4) thuyết cải tạo xã hội (social reconstructionism): cổ xuý sự thay đổi xã hội để mỗi ngày một tốt hơn, (5) thuyết hiện sinh (existentialism): cổ xuý sự tự do và tinh thần trách nhiệm của con người.
Còn dưới chế độ Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa hiện nay, theo nhiều bậc thức giả, Việt Nam cũng đã có triết lý giáo dục; triết lý ấy nằm rải rác trong những bài phát biểu của các lãnh tụ, nhưng có lẽ chưa được ai hệ thống hoá. Triết lý ấy nhằm xây dựng “con người xã hội chủ nghĩa” trung thành với chế độ xã hội chủ nghĩa, “mình vì mọi người, mọi người vì mình” ... Phó Thủ Tướng hiện nay, ông Vũ Đức Đam, trả lời chất vấn ngày 21/11/2016 của một đại biểu Quốc Hội: “Việt Nam có triết lý giáo dục hay không?”, đã phát biểu: “Triết lý giáo dục ViệtNam trước hết là triết lý xây dựng đất nước, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đó là xây dựng con người Việt Nam toàn diện: đức, trí, thể, mỹ, có tinh thần dân tộc, có lòng yêu nước và có trách nhiệm quốc tế.” Lời phát biểu của Phó Thủ Tướng nói lên những mục tiêu của giáo dục, chứ chưa phải là triết lý giáo dục.

Trở lại đề tài “phát triển tố chất”. Việc phát triển tố chất của trẻ không phải chỉ cậy vào trường học. Trường học không đủ điều kiện để làm tròn công việc ấy; phải là người trực tiếp quản lý trường hay đứng lớp mới thấy được điều ấy. Muốn “phát triển tổ chất”, cần có sự vào cuộc của nhiều tổ chức khác nữa.
Ở các thị xã, huyện lỵ, thành phố, các nhà thiếu nhi đang hoạt động tốt trong việc phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu của trẻ xuất thân từ những gia đình khá giả. Tiếc là trẻ con nhà nghèo và trẻ vùng sâu vùng xa chưa được hưởng những tiện ích ấy! Trước đây, đoàn Thanh Niên có tổ chức sinh hoạt định kỳ cho đội Thiếu Niên Nhi Đồng hàng tuần, bây giờ sinh hoạt ấy không thấy nữa. Để lấp lỗ hỏng, việc phát hiện và bồi dưỡng tố chất trẻ, thiết tưởng, nên giao cho tổ chức hướng đạo, tổ chức thiếu niên nhi đồng của các tôn giáo – đã không tốn phí mà kết quả thu được thì tốt, bằng chứng khá nhiều lãnh đạo nhà nước trước đây xuất thân từ phong trào hướng đạo: Tạ Quang Bửu (1910 – 1986), Hoàng Đạo Thuý (1900 – 1994), Trần Duy Hưng (1912 – 1988), Dương Đức Hiền (1916 – 1963) ...
Tố chất của từng trẻ được phát hiện và bồi dưỡng chỉ cần bước đầu ở cấp cơ sở, sau đó, các trung tâm chuyên môn sẽ nhận trách nhiệm nâng cao. Làm được thế, người tài năng trong từng lãnh vực sẽ càng ngày càng nhiều; sự cống hiến của họ cho nước, cho dân sẽ tăng gấp bội.
Tuy nhiên, dù việc bồi dưỡng tài năng đặc biệt là quan trọng, việc đào tạo con người toàn diện lại quan trọng hơn. Con người ra đời phải có trình độ văn hoá, tinh thần kỷ luật, tinh thần dân chủ, tinh thần trách nhiệm, óc phân biệt đúng sai, tinh thần xây dựng ...
Muốn có con người đầy đủ các tiêu chuẩn, tôi xin đưa ra mấy đề xuất – lẽ dĩ nhiên là chưa đủ - với ngành giáo dục: (1) về mặt giáo dục học đường, lớp học nên được cấu trúc với sĩ số ít – điều kiện này, đối với nhà nước ta hiện nay, khả thi vì trường lớp nhiều nơi đã đầy đủ, thậm chí là dư, đội ngũ giảng huấn chưa-được-sử-dụng khá lớn; (2) việc dạy, việc học không phải “truyền” và “thụ” mà là sự tương tác giữa thầy và trò; nói như nhà giáo dục người Nhật Hiroike Ghikuro – 1866 – 1938, thầy không “dạy” mà “gợi mở”, “nuôi dưỡng”; (3) ý kiến đúng, hay, mới của học sinh phải được tôn trọng, khuyến khích dù không nằm trong sách giáo khoa hay giáo án của thầy; (4) ý kiến không đúng được đem ra mổ xẻ, tranh luận giữa lớp để mọi người chỉnh sửa cho phù hợp với các tiêu chuẩn “chân”, “thiện”, “mỹ” - viết đến đây, tôi nhớ trong thập niên 1960, một đồng nghiệp ra đề văn: “Lớn lên, em chọn nghề gì? Tại sao?”, một học sinh làm bài có đại ý là lớn lên em sẽ làm nghề ăn trộm vì em nghe nói: “Con ơi, học lấy nghề cha. Một đêm ăn trộm bằng ba năm làm.” Người đồng nghiệp ấy đem đọc bài luận cho cả lớp nghe, rồi mời cả lớp thảo luận. Buổi thảo luận đi đến sự nhất trí là ý bài trái ngược với đạo đức, với tôn chỉ giáo dục – giáo dục đào tạo con người làm lợi mình đồng thời lợi người, còn “ăn trộm” chỉ lợi mình còn hại người; (5) giáo dục, trong lớp, còn cần chú trọng vào những chuyện tưởng-chừng-có-thể-bỏ-qua; chẳng hạn, trong giờ học môn nào đó, trò thích thì chú ý nghe, trò không thích thì nói chuyện; nhiều thầy cô bỏ mặc, như vậy, bỏ lỡ một cơ hội giáo dục. Phải giải thích cho trò nói chuyện biết cái sai mà tránh - nói chuyện trong giờ học là cản trở công việc chung, là không tôn trọng thầy giáo, không tôn trọng tập thể; từ đấy, sau này, lớn lên, người học trò sẽ là người vô kỷ luật trong xã hội; lại thêm, học trò nói chuyện thì không bắt kịp bạn bè ở bài học hôm sau vì bài học hôm nay là đà cho bài học hôm sau.

Giáo dục là chuyện khó, nhưng rất quan trọng; Cố Chủ Tịch Hồ Chí Minh, trong thư gởi học sinh nhân khai giảng năm học đầu tiên của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, đã viết: “Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, dân tộc Việt Nam có được sánh vai các cường quốc năm châu hay không chính là nhờ, một phần lớn, ở công lao học tập của các cháu.” Kỳ vọng của lãnh tụ đã thành tựu hoàn toàn chưa?
Nhìn vào thực tế, xin thưa là chưa. Lý do? Bởi vì chúng ta mới chỉ chú trọng giáo dục ở trường mà bỏ quên phần giáo dục ở những nơi khác; người Nhật giỏi, tài, có kỷ luật, có cống hiến ... là nhờ nước Nhật không những có chương trình giáo dục hay ở học đường mà mỗi người ngoài xã hội là một tấm gương; trẻ Nhật nhận được sự giáo dục từ bất cứ người nào, ở bất cứ nơi nào, vào bất kể lúc nào.
Phải có tâm huyết, phải có tầm nhìn, phải có kiến thức, kinh nghiệm mới làm tốt giáo dục được.
Mừng là thời gian này, vấn đề giáo dục ở nước ta được quan tâm và xem trọng hơn. Truyền thông nhà nước bàn về giáo dục, lãnh đạo nói về giáo dục.
Với những đổi mới giáo dục đang tiến hành, hy vọng mọi con người Việt Nam trong thời gian tới sẽ tốt lành; không còn số người làm dân thì cướp giật, hung hãn với nhau, chưởi bới nhau trong những trường hợp không cần thiết, mê tín dị đoan, sống vô kỷ luật; làm quan thì hối lộ, tham nhũng, bè nhóm, không “chí công vô tư”, có bằng cấp cao mà không sáng chế phát minh gì giúp ích cho nước, chứ chưa dám nói, cho nhân loại.
Mọi sự nhờ giáo dục - không phải chỉ giáo dục qua nhà trường mà qua cả gia đình, xã hội, chính quyền, tôn giáo ./.

Hoàng Đằng
   09/02/2017 (13/Giêng/Đinh Dậu)   

 ---------------------------------------------------------- 

(a) Câu trả lời của thái tử Phù Tô với tướng Mông Điềm khi nhận lệnh vua cha là Tần Thuỷ Hoàng bắt phải chết do Lý Tư nguỵ tạo di chiếu. Tướng Mông Điềm đề nghị đem quân về kinh đô xem có thực là di chiếu của Tần Thuỷ Hoàng hay không. (Bài của Nguyễn Văn Nghệ: “Câu nói: Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung ...là của Nho Gia hay Pháp Gia?)
(b) ”Triết lý giáo dục Hồ Chí Minh” trong tạp chí Tổ Chức Nhà Nước của GS Song Thành ngày 15/6/2015.
(c) Ý kiến lược trích từ bài: “Triết lý giáo dục Việt Nam là gì?” của Biên Tập Viên Mặc Lâm phát trên RFA ngày 21/11/2016.
(d) Tham khảo bài: “Triết lý giáo dục Việt Nam là gì?” của Lương Hoài Nam – một doanh nhân - đăng ngày 29/4/2014 trên VnExpress.

READ MORE - ĐẦU NĂM, NÓI CHUYỆN GIÁO DỤC - Tuỳ bút của Hoàng Đằng

QUÊ HƯƠNG TÔI - Nguyễn Ngọc Kiên phỏng dịch


          Dịch giả Nguyễn Ngọc Kiên



QUÊ HƯƠNG TÔI
      (Dân ca Nga)

Tôi nhìn thấy những cánh đồng 
Thấy trời đất rộng mênh mông diệu kì!
Con đường rộng mở tôi đi,
Dòng sông biển cả nói gì cùng tôi!
Bức tranh non nước tuyệt vời
Tiếng chim thánh thót rộn trời vang ca. 
Muôn thanh muôn sắc giao hòa
Quê hương đâu cũng đậm đà mến thân!
Nước Nga yêu quí vô ngần 
Nước Nga xinh đẹp muôn lần tôi yêu!

         Nguyễn Ngọc Kiên phỏng dịch

READ MORE - QUÊ HƯƠNG TÔI - Nguyễn Ngọc Kiên phỏng dịch

MƯỜI NĂM TÌNH LẬN ĐẬN - Thơ Thủy Điền


       
                                 Ảnh tác giả




MƯỜI NĂM TÌNH LẬN ĐẬN

Ngày xưa em mặc áo ngà
Cùng tôi hai buổi la cà trên sân
Hè về tôi nhặt phượng hồng
Cà lên áo trắng nhìn, trông dịu hiền
Em ngồi mái tóc nghiêng nghiêng
Tựa lưng phượng đỏ tôi nhìn ngắm em
Ngắm hoài mà vẫn thấy thèm
Dáng người con gái đẹp duyên vô cùng
Thời gian…. Em mặc áo hồng
Lên xe xuất giá theo chồng về xa
Tôi buồn, tình quá nhạt nhòa
Người đi bỏ lại mình ta bên đường
Nhìn em theo gót bên chồng
Lòng tôi đau xót biết dường nào nguôi
Thế là vĩnh viễn xa tôi
Đời tôi như kẻ mồ côi trên đời
Mười năm tôi gặp lại người
Nửa quen, nửa lạ lòng ôi ngỡ ngàng
Đầu em đã quấn khăn tang
Áo em thay sắc màu đen u buồn
Nhìn em tay dắt đàn con
Thân tôi như chết, xác, hồn chia hai
Trời ơi ! Sao nỡ thế nầy
Người tôi yêu phải đắng cay một đời.

                                       Thủy Điền
                                      12-01-2017

READ MORE - MƯỜI NĂM TÌNH LẬN ĐẬN - Thơ Thủy Điền

CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN



   Nhà thơ Chu Vương Miện



NGŨ NGÔN

Cuối đông lại ông Đồ
thời xưa viết câu đối
ông đồ mới bây giờ
toàn thư hoạ toàn thơ
vẫn mực tàu giấy đỏ
bên phố người vẫn qua
vẫn nhũ vàng nhũ trắng
nhưng hồn hoàn khác xưa ?
cụ cử Vũ Đình Liên
giờ ra ngưoì thiên cổ
những vần thơ bất hủ
vừa xuất khẩu thành chương

Năm nay hoa đào nở
Nhìn nét chữ cũng buồn
Xưa thơ có người đọc
Thơ chừ làm để chơi
viết xong quăng xó bếp
đúng là đời đổi đời
sau vài cơn biến động


HỮU

Cái học nho nhe đã hết thời
Học xong cũng chỉ nước đi bồi
Khá hơn chút nữa thì đi bếp
Cơm thừa và một chút của rơi

Thơ văn cùng với con chó chết
lộn xộn cám bèo
chó chết 
cùng nhà thơ chết
cuộc đời
bèo cứ thế mà trôi
đường đi không tới ?
chờ chi chuyến khứ hồi ?


NGUYỄN VÔ CÙNG

Ta với bạn cùng ở chung Thạch Hãn
Thôn làng này xưa rộng lớn vô cùng
cả Vân Quý, Hải Qui, Hải Tân, Hải Trí
kéo dài tới tận La Vang Trung
ta ở ngay sân vận động phía đông
bạn ở gần lối đi Tích Tường phía tây
ngay đoạn sông bị xâm thực
bên lở bên bồi
bạn toàn làm thơ đường trộn sữa
đọc thoáng qua vừa ngọt ngọt bùi bùi
thơ cổ hũ cùng là thơ "sướng gọa"
sưóng thì không
mà hoạ dài dài
tuổi trẻ tài cao viêm phổi ngủ ngồi
bao nhiêu năm sống trong chờ chết
sống phây phây mà ngỡ là chết thiệt
vẫn làm thơ hiếu hỉ để gác bếp phơi khô
Vịnh, tả, cổ phong xếp chật ba lô
Mang bỏ xó không thèm đăng báo chợ
Quê hương bạn bây chừ xoá sổ
Toàn là bom rơi đạn lạc gạch vụn cùng vôi
Nhà cuả ta cũng cháy sạch lâu rồi
Cha mẹ, anh chị em
Mỗi người mỗi nẻo
Đường Quang Trung hàng phưọng dài chết héo
Cổ thành giờ thành bình điạ tan hoang
đường về Tri Bưu lăng Thánh Tử Đạo không còn
thì nói chi tới Hạnh Hoa, Ba Bến ?
Sáu mươi năm ta ghé về vài bận
Trời tháng 5, tháng 6 hiu hắt ngọn gió Lào
Dòng Thạch Hãn chừ nước chảy xôn xao
Qua Nhan Biều, Sải nước không còn trong nữa
Ta với bạn cũng cùng xa đất tổ
Ơi Châu Ô Quảng Trị nhớ Lá Vằng


NGUYỄN BÔNG

Ngày xưa làm lính thú
ba năm trấn thủ lưu đồn
Mãn lính về quê cũ
hiếu hỷ cùng vợ con

Ngày vừa qua làm lính khố xanh
quận huyện tỉnh thành
canh gác loanh quanh
sống bình an và thác yên lành

Bây giờ là chủ lực quân
Đất nước thênh thang đi đủ bốn miền
Từ quân khu tới vùng chiến thuật
Nơi nào cũng loạn khổ chiến tranh

Mai mốt thì anh dũng bội khiêng
Về vùng 5 chiến thuật
tức là đã phiêu diêu miền cực lạc
đã thoát

                        Chu Vương Miện

READ MORE - CHÙM THƠ CHU VƯƠNG MIỆN

NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHIỀU VỢ VÀ NHIỀU CON NHẤT VIỆT NAM - Phan Bùi Bảo Thi


Nguồn:  http://thanhnien.vn/doi-song/gap-lai-nguoi-dan-ong-co-gan-100-nguoi-con-114778.html



                         Con trai trưởng của ông Chu: 
        “Anh em chúng tôi rất đoàn kết  và không hề trách cha”



NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHIỀU VỢ VÀ NHIỀU CON NHẤT VIỆT NAM

Ông Trần Viết Chu ở làng Câu Nhi, xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng, tỉnh Quảng Trị có rất nhiều vợ, với vô số con và cháu, thế nhưng họ vẫn sống bình yên bên nhau trong một xóm nhà rất mực đoàn kết. Bà vợ trước nói thì ngay lập tức bà sau vâng lời răm rắp. Vợ con của ông Chu ở thành xóm, người dân địa phương gọi đây là "xóm nhiều vợ" (khi nhà văn Nguyễn Quang Lập đến đây để làm phóng sự, ông Chu mới có 7 bà vợ - NV). Đã có một vài bài báo viết về cái xóm nhà lạ lùng, đã phê phán ông Chu đa thê, đa thiếp nên việc gặp và tiếp cận với ông Chu không còn mấy dễ dàng. Nhờ sự giúp đỡ rất chân tình của một cán bộ ở UBND xã Hải Chánh, huyện Hải Lăng (Quảng Trị), chúng tôi đã tiếp xúc được với người đàn ông đặc biệt này.
Lăng của người đàn ông có tới “một tá” bà vợ.

Ông Chu ngày xưa đối với mọi người là một chàng thanh niên mẫu mực, siêng năng, không hút thuốc, không rượu chè, không cờ bạc bê tha như một số thanh niên có tiền có của cùng thời. Năm 17 tuổi, ông đem lòng yêu thương một cô gái láng giềng rất xinh đẹp tên là Lâm Thị Lớn. Hai người đã thề non hẹn biển, rồi kết tóc xe duyên và có với nhau một người con gái. Ông Chu yêu vợ, thương con hết mực, suốt ngày ông chỉ biết làm lụng và vun vén cho hạnh phúc của gia đình mình. Chính vì vậy vợ chồng ông mỗi ngày thêm khấm khá, chỉ trong vòng 10 năm kể từ ngày ông thành gia thất, ông Chu - bà Lớn đã trở thành một đôi vợ chồng trẻ giàu có vào loại nhất làng. Sợ chúng tôi không tin vào cái quá khứ rất "hoành tráng" đó, bà Sính "tổng quản" của ông Chu lên tiếng: "Ông ấy nói thiệt đó. Sau khi chị Lớn mất, tui về làm vợ ông Chu, hồi nớ (ấy) của nả trong nhà nhiều lắm, đất ruộng mênh mông, trâu bò, lợn gà không đếm xuể, ước chừng đứng chật cả một góc đồi". Ông Chu kể tiếp: "Khi người vợ đầu của tui khuất núi, tui lâm vào tình cảnh "gà trống nuôi con". May nhờ có mụ Nậy (bà Sính- NV) đây san sẻ cho tui những nỗi gập ghềnh gian khó trong đời, tui mang ơn mụ suốt đời, mụ hỉ?". Nói xong, ông nhìn mụ Nậy gật gù, đắm đuối...
Ngoài bà Sính, ông Chu đã đưa về “nhập cư” vào xóm thêm 12 bà vợ khác. Những bà này hiện đang sớm tối quây quần bên nhau rất đoàn kết. Ngoài những bà này, anh Trần Đình (con trai ông Chu) còn cho tôi biết rằng cha anh còn có thêm nhiều bà vợ ở nơi khác: Đà Nẵng 1 bà, ở Huế 2 bà, ở Nghệ An 1 bà, ở Lâm Đồng 1 bà, ở Long Khánh 1 bà, ở Hương Điền (Thừa Thiên - Huế) 2 bà, ở Hải Lăng (Quảng Trị) 2 bà, ở Quy Nhơn 1 bà... Trước khi chúng tôi có mặt ở "xóm nhiều vợ" vài ngày, ông Chu đã đến UBND xã để làm khai sinh gửi về nơi đứa con ông vừa được sinh ra với một người phụ nữ 37 tuổi khác... Ông Chu hiện có 86 người con, đó là chưa kể những đứa con ông gửi khai sinh qua đường bưu điện. Trong đó có 22 người con đã lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự và có một người là liệt sĩ. Ông Chu có cả thảy gần 200 cháu nội và ngoại.
Ông Chu không phải là một người đàn ông có khả năng thôi miên hay có bùa, có ngải như nhiều người thêu dệt. Nhưng phải thừa nhận rằng ông Chu là một người rất nam tính, tính tình lại hết sức đa cảm, thương người, bởi thực tế hơn một nửa số vợ của ông Chu đều nằm trong diện "cụt đọt" (chết chồng, chồng bỏ). Ông bày tỏ rằng mình chúa ghét những gã đàn ông "quất ngựa truy phong".
      Bia đá tuy là to nhất nhưng ghi không thể hết tên vợ và các con ông Chu.
Nhiều vợ, đông con nên "xóm nhiều vợ" hiện vô cùng vất vả. Người con gái đầu của ông Chu đã bị chồng bỏ, có 8 đứa con thì không đứa nào học hết cấp tiểu học. Người con gái thứ hai của ông có 5 đứa con, chồng cũng đã chết do đi rà phế liệu trúng bom bi, các con giờ cũng theo nghiệp cha đi rà tìm phế liệu để kiếm sống. Nói chung, vợ và những người con đã có gia đình của ông Chu đều đang sống trong nỗi cơ hàn, đầu tắt mặt tối, chạy gạo từng ngày... Có lẽ cái xóm nhà này vẫn là cái xóm nghèo nhất trong cái tỉnh nghèo vào loại bậc nhất của cả nước.
Để trả lời cho nhiều câu hỏi của chúng tôi, ông Chu mở tủ mang ra hai "bộ luật" của "xóm" được ông kẻ, vẽ rất nắn nót:
Luật cấm ghen
Điều 1: Bà vợ đến sau phải chấp hành lệnh của bà vợ đến trước. Tất cả những bà vợ thứ đều phải chấp hành lệnh của bà vợ cả.
Điều 2: Ông trưởng xóm (ông Chu) có quyền điều một, hai, hay ba bà vợ đến để "thực thi nhiệm vụ", cấm không được ai vì việc đó mà điều to, tiếng nhỏ làm ảnh hưởng đến danh dự của xóm.
Điều 3: Không ai được từ chối mỗi khi ông trưởng xóm có yêu cầu. Không ai được tự tiện chen ngang hoặc phá đám người được yêu cầu.
Điều 4: Mọi luật lệ riêng trái với những điều đã quy định trên đều được bãi bỏ.
Luật sinh nhai
Điều 1: Mỗi bà vợ phải tự làm lấy mà nuôi con, không ai xin ai, không ai được vòi tiền bạc của ông trưởng xóm.
Điều 2: Tiền bạc do ông trưởng xóm làm ra là để nuôi ông, số còn lại sẽ dành để giúp đỡ cho những gia đình có hoạn nạn.
Điều 3: Tất cả các gia đình phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ tiết kiệm chung của xóm. Quỹ này do ông trưởng xóm quản lý.
Điều 4: Các bà vợ sẽ nhất loạt đóng cửa không cho ông trưởng xóm bén mảng tới, nếu xét thấy ông trưởng xóm không chí công vô tư, làm trái với những điều đã quy định trên.
Điều 5: Ông trưởng xóm, bà vợ cả và các bà vợ thứ có trách nhiệm thực hiện luật này.
                                                                         Phan Bùi Bảo Thy



READ MORE - NGƯỜI ĐÀN ÔNG NHIỀU VỢ VÀ NHIỀU CON NHẤT VIỆT NAM - Phan Bùi Bảo Thi