Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, November 15, 2016

GƯƠNG SÁNG NHÀ GIÁO - Châu Long

                   GƯƠNG SÁNG NHÀ GIÁO 
                
Nếu có dịp đặt chân đến mảnh đất thuộc xã Tam Lãnh, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam, hỏi thầy Lê Quang Thái công tác tại trường THCS Chu Văn An thì không ai mà không biết. Thầy được mọi người biết đến không phải vì thầy làm “ông to ông lớn” mà đơn giản gần mấy mươi năm trong nghề, đến cái tuổi nghỉ hưu thầy đã dạy dỗ bao nhiêu thế hệ học trò thành đạt, luôn sống một lối sống gần gũi với bạn bè, đồng nghiệp đặc biệt là những học trò thân yêu. Bên cạnh đó thầy còn là một trong những tấm gương tiêu biểu của nhà trường trong việc thực hiện phong trào: “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

Tôi gặp thầy với một cái “duyên kỳ ngộ”. Vì sao tôi lại gọi như thế? Bởi lần đầu tiên tôi biết thầy là vào mùa xuân cách đây ba năm về trước, lúc ấy tôi còn là một cô sinh viên được phân công thực tập sư phạm về ngay ngôi trường mà thầy đang công tác. Khi cái không khí sau tết vẫn còn nhộn nhịp, cái cảm giác ấm cúng bên mâm cơm gia đình vẫn vẹn nguyên thì tôi lại phải  tiếp tục con đường đi tìm cái chữ, đi tìm tương lai cho bản thân. Ngày đầu tiên đến trường với biết bao bỡ ngỡ, rất nhiều ánh mắt của các cô cậu học trò nhìn mình một cách lạ lẫm, tôi cảm thấy hơi run. Rất may lúc ấy, từ phòng Hội đồng, thầy bước ra đón chúng tôi với bộ quần áo đã ngã màu, dáng người thấp bé, gương mặt khắc khoải hiền từ, phúc hậu. Có lẽ trải qua nhiều năm tháng gắn bó với nghề nên thầy hiểu được tâm lí của tôi và lũ bạn đi cùng, thầy ôn tồn chỉ dẫn từng li từng tí. Với cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy thầy đã nhanh chóng để lại cho tôi cũng như các bạn của tôi một ấn tượng sâu sắc.

Để chuẩn bị cho công tác thực tập - một cuộc hành trình quan trọng nhằm tích góp kinh nghiệm cho bản thân trước khi bước vào nghề, sáng hôm sau tôi đến trường thật sớm và ngỡ ngàng trong niềm vui, sự hạnh phúc vô bờ khi biết tin thầy chính là người hướng dẫn thực tập cho mình. Qua mấy buổi được dự giờ học hỏi, tôi thấy đúng như lời mà mọi người nhận xét về thầy, thầy rất gần gũi, thân thiện, nhiệt tình trong công tác chỉ dẫn. Đặc biệt phong cách giảng dạy của thầy chẳng giống ai. Trong khi các thầy cô khác thì lỉnh kỉnh cặp sách, đồ dùng mỗi khi đến lớp - còn thầy, tay chỉ cầm mỗi cuốn sách giáo khoa. Khi giảng Văn thầy thường giảng nhiều nhưng ghi bảng rất ít, chỉ mấy cái gạch đầu dòng ngắn gọn nhưng lại giúp học sinh nhớ bài lâu. Giọng đọc bài của thầy lên bổng xuống trầm, thay đổi ngữ điệu kết hợp với những điệu bộ, cử chỉ một cách truyền cảm khiến tôi ngồi dưới không khỏi rời mắt. Trong quá trình giảng dạy thầy thường sử dụng những từ ngữ cô đúc để diễn tả một cách ngắn gọn, biểu cảm điều cần truyền đạt. Chính những điều này khiến tôi ngưỡng mộ cách dạy của thầy. Hết một tuần thực tập đầu tiên tôi học được biết bao nhiêu điều từ thầy. Bên cạnh đó tôi cũng biết nhiều điều về thầy qua lời kể của các thầy cô giáo trong trường.

Sinh ra và lớn lên trên mảnh đất Quảng Trị đầy lửa đạn, hơn ai hết thầy hiểu được hoàn cảnh nước nhà đang trong thời kì chiến tranh ác liệt. Với ý chí của một chàng thanh niên yêu nước, thầy muốn góp một phần nhỏ của mình trong công cuộc xây dựng đất nước bằng cách cố gắng phấn đấu học tập để trở thành một chàng sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Đà Nẵng (nay là trường Đại học sư phạm Đà Nẵng) chuyên ngành Ngữ văn. Tốt nghiệp ra trường với thành tích học tập xuất sắc, thầy được phân công công tác về giảng dạy tại xã Tam Trà – một xã miền núi còn nhiều thiếu thốn của huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Trải qua một thời gian cống hiến không ngại khó, không ngại khổ cho mảnh đất và con người Tam Trà, khi Tam kỳ được tách ra làm hai trung tâm hành chính là thành phố Tam Kỳ và huyện Phú Ninh, lúc này thầy được thuyên chuyển công tác về huyện Phú Ninh. Qua lời kể của các thầy cô tại trường, thầy bảo rằng không biết tự bao giờ mảnh đất Quảng Nam đầy nắng và gió này đã trở thành một phần máu thịt, một phần sự sống, một phần hơi thở trong thầy và thầy quyết định gắn bó với nó cho đến hôm nay:

“Tôi như con tàu khởi hành xa bến
Vượt trùng dương vẫn khắc khoải quê nhà
[…]
Biết khởi hành nặng nợ với sông quê
Không gợn sóng sao thấy mình có lỗi
Như Huyền Trân xưa ruột gan vò trăm mối
Giấu niềm riêng về Chiêm quốc làm dâu


Để cuộc đời có nghĩa đến mai sau
Nề hà chi gừng cay muối mặn
Trên hành trình dẫu còn trái đắng
Vẫn nhận ra mùa hạnh phúc ngọt ngào”.
                               (Khởi hành – Lê Quang Thái)

Chính cái tình yêu bao la thầy dành cho đất Quảng, chính sự gần gũi, thân thiện của con người đặc biệt là học trò nơi đây đã níu bước chân của thầy không thể rời xa “miền đất hứa”. Rồi thầy lập gia đình, sinh được hai người con trai khấu khỉnh, thông minh. Cuộc sống của thầy cứ thế trôi qua, thầy vừa phải chăm con vừa phải đến lớp với biết bao vất vả và gian truân. Mặc dầu phải bận bịu lo cho gia đình nhưng thầy vẫn không quên nhiệm vụ đối với “đàn con thơ”. Cứ như vậy cả cuộc đời thầy vẫn cố gắng cống hiến cho sự nghiệp giáo dục. Dường như với thầy ngày nào không được đứng trên bục giảng thì ngày đó thầy cảm thấy cuộc sống của mình trở nên trống vắng. Tôi nhớ rất rõ thầy từng nói với tôi: Con biết không ra trường trong thời kì hòa bình vừa lặp lại, đất nước còn nhiều khó khăn, thời điểm đó lương giáo viên không đủ nuôi gia đình nên nhiều người đã chuyển sang nghề khác để mưu sinh. Nhưng với thầy, thầy luôn quan niệm đất nước lúc nào cũng cần nhân tài mà nhân tài từ đâu ta phát hiện ra? Đó là từ giáo dục. Thầy muốn góp một phần nhỏ của mình trong việc này và hơn nữa thầy yêu cái nghề mà mình đã chọn nên dù khó khăn, dù “Đầu củi đầu con nhòe mờ trang giáo án/Xe đạp tròng trành chở hết nổi truân chuyên”, dù cho cuộc sống có vất vả đến mấy, dù cho một buổi đến lớp một buổi về vừa lo cho con vừa đi bán củi để kiếm thêm thu nhập thầy vẫn quyết tâm gắn bó với nghề. Nghe những lời tâm sự của thầy mà lòng tôi như thắt lại. Nó như động lực khích lệ tôi phải cố gắng nhiều hơn nữa. Có lẽ vì vậy mà trong suốt quá trình giảng dạy mấy chục năm nay thầy không ngừng tiếp thu, nổ lực, tìm tòi phương pháp mới, nghiên cứu nhiều tài liệu nhằm đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh một cách tốt nhất. Với những người trẻ tuổi việc tiếp cận công nghệ thông tin thì rất dễ dàng còn với thầy đã mấy mươi năm cống hiến trong nghề, tuổi cao mắt kém, sức khỏe cũng sa sút nên việc tiếp thu có phần hạn chế. Nhưng không vì thế mà thầy buông xuôi, hằng ngày thầy vẫn miệt mài rèn luyện, mò mẫm tập gõ từng chữ cái một. Có những đêm thầy thức trắng cùng trang giáo án của mình. Đáp lại tấm lòng sự kỳ vọng của thầy, biết bao thế hệ được thầy dìu dắt đã thành công. Và tôi cũng là một trong số những người học trò ấy.

Tôi rất may mắn khi có dịp ghé thăm nhà thầy - Một căn nhà cấp bốn nhỏ nhắn nằm sâu ở vùng ven thuộc xã Tam Ngọc - Tp Tam Kỳ - Quảng Nam. Mặc dù nhà cửa đơn sơ nhưng nó được thầy bày trí một cách gọn gàng, sạch sẽ.  Điều khiến tôi ngạc nhiên và thích thú khi bước chân vào nhà đó chính là không gian thầy dành riêng cho ba giá sách lớn. Một giá sách thầy dành cho hai cậu con trai. Hai giá còn lại là “tài sản” của thầy. Những cuốn sách thuộc đủ các lĩnh vực từ khoa học tự nhiên đến khoa học xã hội, từ văn hóa cho đến văn học… được thầy phân loại, đóng tập cẩn thận, xếp ngăn nắp trên giá cùng với những sáng kiến kinh nghiệm trong giảng dạy, những tập thơ, những bài báo viết về thầy cũng được bố trí một cách ngăn nắp. Đến đây tôi mới ngỡ ngàng khi biết thầy không chỉ là nhà giáo, nhà thơ mà còn là một nhà diễn ngâm xuất sắc của Quảng Nam, là hội viên của Hội Văn học nghệ thuật thành phố Tam Kỳ. Có lẽ vì vậy mà trên giá sách của thầy không chỉ chứa toàn là sách mà thầy còn dành riêng một ngăn nhỏ để lưu giữ những chiếc đĩa ngâm thơ xinh xắn với giọng ngâm mượt mà. Thầy tận tình giới thiệu cho tôi từng cuốn sách, từng chiếc đĩa một. Nhìn cách giới thiệu say mê, tôi biết đây là niềm tự hào, là tài sản quý mà thầy đã sưu tầm, tích góp cả cuộc đời và thầy rất trân trọng nó. Lúc ra về tôi cũng không quên mượn một số cuốn sách mình thích về tham khảo, một số đĩa ngâm thơ về nghe để yêu hơn cái làn điệu diễn ngâm độc đáo này và đặc biệt để khơi dậy hơn nữa tinh thần yêu thơ của mình.




Thầy Lê Quang Thái – Trường THCS Chu Văn An
  
Theo tôi được biết ngoài việc sưu tầm sách thầy còn có một sở thích khác mà ai cũng quý đó chính là công tác từ thiện. Mặc dù công tác xa nhà nhưng mỗi khi Hội Văn học nghệ thuật thành phố Tam Kì tổ chức thiện nguyện thầy liền tạm gác công việc, bon bon chạy xe băng đường rừng núi, quanh co hiểm trở để về tham gia. Bên cạnh đó thầy còn cất công vận động thêm nhiều Mạnh Thường Quân cùng làm công tác từ thiện với mình. Thầy không chỉ giúp đỡ trẻ em cơ nhỡ, vô gia cư, nạn nhân chất độc màu da cam...mà còn tận tình giúp đỡ những cô cậu sinh viên có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Bởi hơn ai hết thầy hiểu được cuộc sống của những sinh viên nghèo là như thế nào vì thầy cũng từng là một cậu sinh viên luôn khát khao về mặt tinh thần và “thèm” sự sung túc của vật chất. Thầy là vậy, lúc nào cũng chỉ nghĩ cho người khác mà chưa một lần nghĩ cho bản thân mình. Luôn quan tâm giúp đỡ người khác mà không cần nhận lại bất cứ điều gì. Thầy quan niệm: “Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”.

Trở lại với kì thực tập sư phạm của tôi, trải qua hai tháng được thầy chỉ dẫn nhiệt tình, tôi tự tin hơn khi đã trang bị cho bản thân một lượng kiến thức cũng như kinh nghiệm. Thầy luôn sát cánh cùng tôi và các bạn trong suốt quá trình thực tập. Thầy tận tình chỉ bảo, giải đáp mọi thắc mắc một cách vui vẻ. Có những lúc lắng lòng thầy trò chúng tôi ngồi trò chuyện, thầy đã chia sẻ nhiều điều bổ ích với tư cách không còn là một người thầy nữa mà là một người đi trước. Thầy tâm sự rất thật lòng:

- Thầy cảm thấy buồn cho xu hướng xã hội bây giờ. Ngày xưa, các thầy cô vì yêu văn chương mà chọn nghề sư phạm, muốn đem lời hay ý đẹp đến học trò nên dù cuộc sống biêt bao vất vả, khó khăn, dù đến được trường phải đi bộ hàng mấy cây số, ăn sắn, ăn khoai nhưng vẫn quyết tâm đứng lớp bằng mọi cách. Còn thế hệ về sau lại chọn văn chương chủ yếu với mục đích mưu sinh. Cũng vì thế mà giáo viên trẻ bây giờ ít ai yêu văn chương thực sự. Đây cũng là điều mà thầy luôn trăn trở.

Nghe thầy tâm sự mà tôi ngẹn lòng. Cách nhìn nhận của thầy rất sâu sắc. Không biết nói gì miệng lí nhí tôi đáp:

- Thầy nói đúng ạ! Rồi thầy tiếp lời tôi:

- Các con muốn dạy văn hay thì không nên đưa bài học vào một khuôn mẫu. Dạy văn là làm sao phải tạo được cảm hứng, phải biết chọn lọc những gì quan trọng, cần thiết để giảng thật sâu, thật kĩ thì học trò mới có hứng thú bởi bây giờ không mấy ai yêu văn chương nữa. Viết văn cũng vậy, chúng ta không nên quy định cho học sinh viết bao nhiêu dòng, bao nhiêu trang hay thậm chí bao nhiêu từ. Cứ để học sinh thỏa sức sáng tạo, tưởng tượng sau đó giáo viên chúng ta sửa bài thì “những đứa con tinh thần” của các em sẽ trở nên “tròn trịa”. Các con nhớ nhé!.

Thầy là vậy đó, luôn sống thật, nói những điều cũng thật và gần gũi. Thầy không ngần ngại chia sẻ với chúng tôi những kinh nghiệm trong giảng dạy mà còn chia sẻ kinh nghiệm trong cuộc sống. Cứ như vậy qua hai tháng thực tập không chỉ tôi mà cả lũ bạn của tôi đã học hỏi ở thầy rất nhiều điều. Giữa chúng tôi dường như không còn là khoảng cách thầy – trò, thay vào đó thầy giống như một người cha, một người cha của biết bao thế hệ trong đó có tôi, luôn ôn tồn dạy bảo mọi điều hay lẽ phải cho con của mình. Có lẽ vì thế mà khi kết thúc chuyến thực tập năm ấy thầy đã thực sự trở thành người cha thứ hai của chúng tôi. Chúng tôi gọi thầy với một cái tên thân mật – ba Thái. Thầy vui vẻ đón nhận và mỉm cười một cách mãn nguyện.

Rồi thời gian trôi qua, mới đó mà chúng tôi cũng đã trở thành những thầy cô giáo được ba năm nay. Trong suốt khoảng thời gian ấy mối quan hệ cha con giữa thầy và chúng tôi ngày càng được bồi đắp qua những lần tôi cùng lũ bạn ghé nhà thăm thầy. Cứ mỗi lần như thế tôi lại cảm nhận thầy như trẻ ra vì niềm vui và sự hạnh phúc.

Cả cuộc đời của thầy đã cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà nói chung và sự nghiệp giáo dục tỉnh Quảng Nam nói riêng. Vì vậy bây giờ cũng là lúc thầy phải được nghỉ ngơi sau mấy mươi năm cống hiến. Thầy về hưu ở cái tuổi xế chiều. Thầy nghỉ hưu không phải vì hết yêu học trò mà vì vai trò, trách nhiệm với người cha ở quê – Quảng Trị. Bởi mấy mươi năm phục vụ cho sự nghiệp giáo dục tỉnh nhà thầy không có thời gian để về quê chăm sóc cha già những lúc ốm đau, trái gió trở trời. Chính vì vậy mà giờ đây thầy muốn dành khoảng thời gian ngắn ngủi còn lại để toàn tâm toàn ý lo cho ông. Cùng với đó thầy cũng muốn dành thời gian cho niềm đam mê viết văn, làm thơ và đặc biệt thực hiện những chuyến thiện nguyện của mình cho quãng đời còn lại:

“Những buồn vui cùng lúc bỗng ùa về
Khi tôi biết mình sắp rời bục giảng
Buồn biết mấy khi xa lớp đầu xanh, bè bạn
Và cả tuổi già sức đuối phải về hưu!

Trong nỗi buồn chợt khấp khởi niềm vui
Có chút thảnh thơi bên cháu con đoàn tụ
Được chăm sóc cha già đã bao năm ấp ủ
Phút lắng lòng mài dũa thú văn chương
[…]
Mỗi sớm mai trống trường khua dồn dã
Biết lòng mình cất nỗi nhớ vào đâu…?
                                (Ngày về - Lê Quang Thái)

Và rồi những nguyện vọng của thầy cũng được thực hiện. Thầy xứng đáng là một đứa con hiếu thảo, một người thầy giáo mẫu mực, là tấm gương sáng để nhiều thế hệ học trò noi theo. Xin cho phép tôi được gọi thầy bằng sự tôn kính, bằng cả trái tim một lần nữa– ba Thái!.

Châu Long

Châu Thị Hoàng Long
Trường THCS Huỳnh Thúc Kháng,
Thôn Dương Trung, xã Trà Dương, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam.
Email: chaulong91@gmail.com














READ MORE - GƯƠNG SÁNG NHÀ GIÁO - Châu Long

Monday, November 14, 2016

BUỒN NHƯ... - Thơ Trần Mai Ngân





BUỒN NHƯ...

Buồn như chiều đã vội buông
Hôn nhau đã biết nụ hôn cuối cùng
Môi em vùi lấp bão bùng
Thắp lên đốm lửa mịt mùng chiều đông

Buồn như hết thảy mênh mông
Hôn nhau đã biết trong lòng còn đâu
Môi em giọt mật rót sầu
Miết mê quyện chặt... lần đầu, lần sau...

Buồn như tha thứ ngọt ngào
Hôn nhau như đã kiếp nào dấu yêu
Môi em khoá hết những điều
Lời chia tay cả thật nhiều... ăn năn !

                            Trần Mai Ngân

READ MORE - BUỒN NHƯ... - Thơ Trần Mai Ngân

CHÙM THƠ LÊ MAI


                      Nguyễn Khôi và Lê Mai 

  

LỬNG LƠ

Chân không chạm đất
Cật không tới trời!
Lửng lơ - lơ lửng - chơi vơi…
Như sương- như khói - Suốt đời vẩn vơ…
Đời còn là một giấc mơ
Có chăng đời thật để ngờ chiêm bao?
Sướng khổ lẽ ấy tính sao?
Lửng lơ nên cũng trông vào tùy tâm.
Phật còn sắc sắc không không
Chốn mênh mông ấy cũng không điểm đầu.
Lòng người lơ lửng nông sâu
Hồn nhiên mà sống giữa đầu với chân!


VÌ SAO HUẾ…

Sao Huế buồn?
Sao Huế mơ?
Sao vành nón Huế nghiêng bờ sông Hương?
        Dịu dàng mắt Huế thẳm sương
        Câu hò xứ Huế vấn vương mái chèo!
        …
Sao Huế buồn?
Sao Huế mơ?
Sao tà áo Huế thẫn thờ gió xuân?
         Sao sông Hương chảy tần ngần?
         Thì ra!… Núi Ngự chỉ gần sông Hương!

                                                          Lê Mai 

READ MORE - CHÙM THƠ LÊ MAI

Sunday, November 13, 2016

MÀU CỦA GIÓ - Thơ Nguyễn An Bình





MÀU CỦA GIÓ

Có phải em mang hình hài của lá
Suốt đời nhau ta mãi nợ một người
Năm tháng cũ ngân hoài câu biệt xứ
Trên dốc buồn còn chút nắng chiều rơi.

Màu mắt nhớ mang bóng hình của gió
Reo thì thầm trong sắc đỏ hoàng hôn
Giấc mơ xưa lên đồi sim trái chín
Tím se lòng tràn con sóng qua sông.

Gió mang em về cuối trời thương nhớ
Màu mắt em như mây trắng muôn trùng
Bước chân người qua bao mùa mê thảo
Áo phù hoa vuột nỗi nhớ khôn cùng.

Cánh chuồn ớt cuốn trôi thời thơ ấu
Ngày qua đi vương mãi khúc tình ca
Ở đâu đó  sương mùa đông quạnh quẽ
Có bừng lên sắc nắng chốn quê nhà.

Nhành quyệt quế tàn đêm bung cánh trắng
Tỏa hương thơm ngây ngất đến nao lòng
Màu của gió vẫn một thời xanh biếc
Có tình tôi em còn giữ được không?

                            Nguyễn An Bình

READ MORE - MÀU CỦA GIÓ - Thơ Nguyễn An Bình

"CÚN KHÓC", NỖI ĐAU THỜI CUỘC - TS. Nguyễn Ngọc Kiên





           CÚN KHÓC – NỖI ĐAU THỜI CUỘC
                                               TS. Nguyễn Ngọc Kiên

Chuyện rằng, nhà nọ bỗng dưng xuất hiện rất nhiều chuột. Chuột đủ loại: Chuột Cống – Chuột Đồng – Chuột Chù – Chuột Nhắt… Chúng quá thể lắm, chẳng coi ai ra gì. Thế là anh chồng nghĩ ra keo dính chuột. Rồi lợi bất cập hại! Chuột chẳng dính lại dính ngay người. Nghĩ đủ cách nhưng mỗi cách chỉ được một thời gian, trong đó có cả phương pháp diệt chuột theo binh pháp Tôn Tử! Cách kể chuyện ngụ ngôn hài hước (humour), giọng văn trào lộng không lẫn vào đâu, chỉ có ở Lê Mai! Vì vậy câu chuyện càng thêm hấp dẫn, mang tính thời sự cao! Bà vợ bèn nghĩ ra cách nuôi mèo, nhưng cũng không ổn. Mèo (đại diện chống tham nhũng) lại thông đồng với chuột (kẻ tham nhũng). Thỉnh thoảng mèo mới vồ được con chuột nhắt mà cứ chờn vờn ra oai với thiên hạ, theo kiểu “thùng rỗng kêu to”, công lao của ta cũng rất lớn:
“Năm thì mười họa mới vồ được con chuột nhắt mà cứ ra vẻ ta đây, quăng con mồi chỗ này, quẳng con mồi chỗ kia, dền dền dứ dứ… sốt ruột. Gặp con chuột to, chuốt cống thì lỉnh. Lại còn lươn lẹo, thông đồng cả với lũ chuột mới kinh. Chẳng phải ngẫu nhiên mà đồng dao có câu:
Con mèo mà trèo cây cau
Hỏi thăm chú chuột đi đâu vắng nhà
Chú chuột đi chợ đồng xa
Mua mắm mua muối giỗ cha chú mèo.”

Cuối cùng anh ta nghĩ đến chuyện nuôi chó. Ngay cả cái chuyện vợ chồng đặt tên cho chó cũng thật khôi hài rất “Lê Mai”! Tên ta hay Tây? Hiện đại hay truyền thống? Làm sao phải xóa bỏ hận thù hướng tới tương lai!
Anh đặt cho nó là Cún. Cún có được không em? Cún! Nghe vừa thuần Việt, thuần chủng vừa tình cảm. Vợ anh buột miệng khen: tên hay, được lắm. Không như cái tên Bíp. Chẳng biết có bíp được ai không, hay chỉ bíp chính mình. Cún! Giỏi lắm. Các cụ mình từ ngàn xưa thường vẫn gọi cháu chắt yêu dấu của mình là Cún con anh nhỉ. Cún. Hay, hay tuyệt. Vừa tình cảm vừa truyền thống. Anh vui với niềm vui của vợ. Cún mừng với niềm vui của chủ.
Nhưng kết cục thật thảm hại!
Chuột (tham nhũng) càng leo lên cao thì cún (chống tham nhũng) càng bất lực. Vì ở cùng một nhà nên đành phải thỏa hiệp “ chung sống hòa bình” như dân chúng ở vùng thiên tai phải sống chung với lũ – cún ta tự an ủi bằng cái lý luận cù lần “ thôi, anh em cùng một nhà không  thể ta chống ta được!”. Không tìm ra giải pháp, cún ta cứ luẩn  quẩn bế tắc, đến nỗi cún phải …khóc, ngẩng mặt nhìn lũ chuột hoành hành. Từ nay có lẽ phải “cấm cửa” không cho lũ chuột xuống tầng một!
Nhà văn Lê Mai (Hà Nội) vốn là một thương binh chống Mỹ, sống một mình ẩn dật, cô đơn. Ông lặng lẽ quan sát, chiêm nghiệm thời cuộc, viết lên những trang văn sống động đầy tính hiện thực mang tính phúng dụ. Ông không đi theo lối mòn của một số nhà văn trại lính, viết theo kiểu “minh họa” -  như  nhà văn đại tá Nguyễn Minh Châu đã cáo chung. Nhà thơ Nguyễn Khôi nói rằng, với các tác phẩm như: “Tẩu  hỏa nhập ma”, “Quyền được rên”, “Cún khóc”, “ Thời gian xuẩn ngốc” Lê Mai đã vượt trên cả  Nam Cao, Bùi Ngọc Tấn (Hậu sinh khả úy!)

Đọc “Cún khóc” của Lê Mai người đọc lại nghĩ đến bài thơ  “Hội đồng Chuột” (Conseil tenu par les rats) của  nhà thơ ngụ ngôn nổi tiếng người Pháp La Phông ten (La Fontaine) , đầy tính phúng dụ.

                                          Hải Đường, Hải Hậu, 12/11/2016
                                                 TS. Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - "CÚN KHÓC", NỖI ĐAU THỜI CUỘC - TS. Nguyễn Ngọc Kiên

CHÙM THƠ TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN



         Tác giả Nguyễn Ngọc Kiên



ĐÊM ĐỒNG VĂN

Sương mù vây bủa trắng đất trời
Cái lạnh biên cương tím tái người
Cô gái Hơ-mông bên bếp lửa
Thơm mùi ngô nướng tới miền xuôi.
                         Hà Giang, 11/2013


GHI Ở CỔNG TRỜI
Vượt dốc cheo leo tới cổng trời
Dưới chân mây trắng lững lờ trôi
Đôi gò thấp thoáng trong hư ảo
Như tự ngàn xưa vẫn đợi người.
                    Quản Bạ, 11/2013

                    Nguyễn Ngọc Kiên

READ MORE - CHÙM THƠ TỨ TUYỆT NGUYỄN NGỌC KIÊN

NGÀY VÔ VI - Truyện ngắn của Lê Mai


     

             Nguyễn Ngọc Kiên và Lê Mai (từ trái sang)



NGÀY VÔ VI


Quái lạ, mấy ngày nay sắp đến 20 tháng 11 rồi mà chẳng thấy thằng con nhắc nhở việc chuẩn bị phong bì đến thăm thày cô, cũng chẳng thấy nó đòi tiền nộp cho ban phụ huynh học sinh của lớp. Trên đường đèo con đi học tôi phân vân về điều này mãi.
Đường phố hôm nay không bị ùn tắc. Mọi phương tiện giao thông lưu thông êm ả trên đường, không ồn ào, không bụi bặm, không tiếng còi xe ầm ĩ…
lại không có cả chiếc xe cảnh sát rà rà chầm chậm đi sát lề đường, chốc chốc các chiến sĩ cảnh sát lại tung mình ào xuống mặt đường giành giật quanh gánh cùng các bà, các cô bán rau, bán ổi… Thế mà, vỉa hè rất thông thoáng, sạch sẽ chỉ dành riêng cho người đi bộ. Đường đúng là đường, vỉa hè đúng là vỉa hè, không nhập nhằng, lẫn lộn.

Chỉ mươi phút tôi đã dừng xe trước cổng trường con học, giảm được 2 phần 3 thời gian. Đây là lần đầu tiên trong đời xe máy của tôi đi nhanh hơn người đi bộ. Sao thế này? Sao cổng trưởng không có tầng tầng lớp lớp xe máy, cái quay dọc, cái quay ngang rì rì phạch phạch… Muộn học chăng? Tôi lo lắng đẩy xe vào trường. Không! Không muộn. Sao hôm nay sân trường sạch thế? Rác rưởi, bụi bặm đâu hết cả rồi? Những cô giáo duyên dáng trong bộ áo dài dân tộc ân cần, niềm nở với phụ huynh, dịu dàng âu yếm với học sinh… Thế thì đúng “cô giáo là mẹ hiền” rồi còn gì nữa! Những cô cậu học trò mặt mũi sáng sủa thông minh, gọn gàng trong bộ đồng phục không đá vút những quả cầu, quả bóng vào mặt khách, không chạy đuổi đâm sầm vào người lạ… Thấy lạ, tôi quay sang hỏi bác bảo vệ:

- Thưa bác! Hôm nay trường ta đón đoàn kiểm tra nào vậy? của Sở hay của Bộ?

- Không! Có đoàn kiểm tra kiểm triếc nào đâu!

Nghe bác trả lời, tôi giật mình. Thế thì trường đúng là trường, lớp đúng là lớp, thày đúng là thày, trò đúng là trò rồi còn gì. Thôi chết rồi! Mải vui với sự lạ, quên béng mất thời gian, giờ nhìn đồng hồ mới biết: nếu đường thông hè thoáng như hôm nay, phóng nhanh đến cơ quan tôi cũng muộn làm đến 5 phút. Tôi ngây người nghĩ tới việc chỉ mươi phút nữa thôi, mình sẽ bị giám đốc chan tương hắt mẻ vào mặt. Ông giám đốc cơ quan tôi nóng tính cực kỳ. Ai đi làm muộn thì… May mà chúng tôi nhẫn nhục quen rồi. Cất xe xong, tôi đi như chạy vào phòng làm việc. Như mọi lần, giám đốc kia rồi… Tôi cúi đầu bước chậm, chuẩn bị chịu trận…

- Thưa giám đốc, tôi xin lỗi, hôm nay tôi muộn làm 5 phút – Tôi lí nhí.

- Xe hỏng hay tắc đường? - Ông nhỏ nhẹ hỏi tôi.

- Dạ không, xe tốt, đường thông thoáng.

Trả lời xong, tôi khẽ nghiến răng sẵn sàng chịu đựng trận cuồng phong bão tố. Da mặt tôi lúc này đã dày lên, lì ra sẵn sàng chống đỡ.

- Rút kinh nghiệm nhé. Thôi về chỗ làm việc đi – Giọng ông nhẹ như tâm sự với người tình.

Tôi thở hắt ra. Gân cơ toàn thân từ từ giãn, nhẹ nhõm. Tôi ngơ ngác nhìn ông rồi buột miệng nói:

- Thủ trưởng còn chưa mắng chửi em cơ mà. Mọi hôm tính thủ trưởng nóng như lửa… Hay hôm nay vô tuyến truyền hình đến cơ quan ta quay chuyên mục “Chuyện lạ Việt Nam”?

Giám đốc cười xòa, vỗ vỗ vai tôi rồi thân mật nói:

- Các cậu cứ coi tôi là người nóng tính nên tôi đâm ra cũng nghĩ như vậy, nhưng… hóa ra không phải. Người nóng tính là người phải nổi xung với bất cứ ai, chứ mình thì… chỉ nổi xung với cấp dưới, chưa lần nào dám nổi nóng với cấp trên. Thì ra, văn hóa lãnh đạo ở mình quá thấp, chẳng nhận ra quan hệ giữa chúng mình chỉ là quan hệ giữa cấp trên với cấp dưới, giữa đồng nghiệp với nhau trong tình người ấm áp, mà cứ tưởng là quan hệ bố con. Thôi cho mình “tổng xin lỗi” những sỉ vả trước nhé.

Những lời nói chân tình của ông có tác dụng như liều Viagra cực mạnh làm tôi rất phấn khích. Tôi lao về phòng làm việc, hùng hục làm. Làm để đáp nghĩa, để tri ân người thủ trưởng đầy nhân tính. Tôi đang say sưa làm việc với hiệu quả và chất luợng rất cao thì… Bỗng, có lệnh lên gặp giám đốc. Tôi tái mặt, lo lắng. Hay là bây giờ ông ấy mới lên cơn cho gọi tôi lên để trút giận. Trong phòng giám đốc đã có trưởng phòng hành chính tổng hợp đang ngồi co ro như chú cún con ở góc phòng. Tôi run run bước vào thì giám đốc nói ngay:

- Gia đình cậu Tuấn bảo vệ vừa đến báo, cậu Tuấn vừa đi cấp cứu ở bệnh viện Vinh Quang. Hai cậu đến ngay xem gia đình, bệnh viện cần gì ta giúp. Hết bao nhiêu tiền cũng chi. Con người là vốn quí nhất. Tôi lên phòng họp, cho dừng cuộc họp lãnh đạo cơ quan xong là tôi cũng đến ngay viện đấy!

- Cậu Tuấn là bảo vệ, có phải là giám đốc đâu mà đòi hưởng tiêu chuẩn đặc biệt. – Tôi nói.

- Cậu lạc hậu quá! Bảo vệ hay giám đốc cũng đều là con người, đều đòi hỏi phải được đối xử bình đẳng, dân chủ. Chức trách khác nhau chẳng qua là do Đảng và Nhà nước phân công thôi. Thôi, đi đi!

Tôi và trưởng phòng hành chính tổng hợp phi vù vù tới viện. Trong phòng cấp cứu, Tuấn đang nằm thiêm thiếp trên giường bệnh. Xúm quanh anh rất nhiều bác sĩ. Người đang lắng mình nghe tim phổi, người đang đo huyết áp, người đang chăm chú dõi theo nhịp tâm đồ, người nắm chân, bóp tay, người xoa trán… Chẳng bù cho tôi, mấy ngày trước cũng nằm trong phòng cấp cứu này, nằm suốt buổi chẳng thấy ma nào đến hỏi. Đến mức, chỉ thoáng thấy bóng áo trắng, áo xanh là tôi phải cố hết sức rên hòng thu hút tình thương hại. Nhưng họ điếc. Điếc tất. Sau gia đình tôi phải dùng phong bì mới chữa được điếc cho họ… Nhờ sự tận tâm của tập thể bác sĩ, mươi phút sau Tuấn hồi tỉnh. Ông bác sĩ (có lẽ là trưởng nhóm) ân cần nói với chúng tôi và gia đình.

- Gia đình yên tâm, anh ấy không sao đâu. Đ
ể chúng tôi theo dõi thêm một chút thời gian nữa cho chắc chắn rồi cho về. Mai đi làm bình thường.

Lời nói ân cần của bác sĩ nghe sướng đến tận tim. Theo kinh nghiệm, tôi nháy mắt ra hiệu với trưởng phòng hành chính tổng hợp. Ông ý tứ xích lại gần bác sĩ và tế nhị đút chiếc phong bì vào túi áo blu. Phải công nhận người thiết kế cái túi áo blu là người cực giỏi, miệng túi ở tư thế nào cũng ngoác rộng, sẵn sàng nuốt gọn phong bì. Ông bác sĩ nhíu mày, thò tay vào túi áo lấy chiếc phong bì giơ lên cao, ông phật ý nói:

- Bác làm gì thế này. Bác coi chúng tôi là loại người gì?

Giữa thanh thiên bạch nhật mọi người ngước nhìn theo chiếc phong bì cồm cộp dầy. Trưởng phòng hành chính tổng hợp cơ quan tôi đỏ lựng mặt, thẹn thùng. Nhìn ông, lần đầu tiên trong đời tôi hiểu được hình tượng “dê già e thẹn”! Trưởng phòng lúng túng thanh minh:

- Có cốc nước chúng tôi thành tâm mời các bác sĩ… Có gì to tát đâu mà bác sĩ phải ngại.

Ông bác sĩ vẫn nghiêm giọng nói:

- Bác có biết như thế là bác sỉ nhục chúng tôi không? Bác hãy nhìn xem…

Ông chỉ ngón tay lên phần cao của bức tường trước mặt. Chúng tôi ngước mắt nhìn theo. Trên đó lấp lánh dòng chữ đỏ: “Lương y như từ mẫu”. Ông chỉ ngón tay lệch sang bên phải, thấp hơn một chút, ở đó trang trọng treo một tấm biển trắng chói lòa dòng chữ đỏ: “Lời thề HYPOCRAT…” Lòng chúng tôi ấp áp! Mắt chúng tôi tin yêu!

Bỗng… choang một cái. Không phải sét mà như sét! Tôi giật mình choàng dậy… Thì ra, đó là một giấc mơ! Giấc mơ đẹp, mà sao mồ hôi tôi lại toát ra như tắm!

                                                                                     LÊ MAI


READ MORE - NGÀY VÔ VI - Truyện ngắn của Lê Mai

ĐÁM TANG TRONG CƠN MƯA LŨ - Truyện ngắn của Thủy Điền





 ĐÁM TANG TRONG CƠN MƯA LŨ

   Vừa chôn tạm bà vợ nơi phần đất gò còn lại. Ông Ngạn và hai người em trai ngổi bên cạnh gốc cây me cổ thụ vừa nghỉ tay, vừa than thở „Thật cái số chị dâu của hai chú thật là bạt vận, chết mà cũng chẳng yên, chết mà không đất chôn, chết mà không người đưa tiễn „ Khi nói xong ông bật ngã người ra khóc ngất giữa một vùng trời trắng xóa, xung quanh toàn là nước.

   Đầu tháng 11 cơn bão số 7 bắt đầu kéo đến, vây hãm cả phần xương sống miền trung, cũng là lúc bà Ngạn đã qua đời sau cơn bệnh ác tính dài hạn. Biết bão kéo đến, cả làng lo đùm túm chạy lũ, gia đình ông cũng thế. Nhưng vì bà qua đời ông chỉ để các con ra đi và ông đành ở lại với bà cùng hai người em trai ruột. Ngỡ cơn bão dài ba ngày sẽ qua đi và chôn cất bà. Nhưng mưa càng lúc càng nhiều, nước càng lúc càng dâng cao khủng khiếp, trong ngôi nhà không còn chỗ nào đễ bà nương tựa và cuối cùng ông và hai người em phải đành thả bà theo dòng nước và lần tìm đến nơi nào còn đất sẽ chôn tạm bà và sau khi nước rút sẽ đem bà về lại quê hương.

   Trời càng lúc càng mưa to- nước dâng cao ba anh em dìu chiếc hòm lang thang trên sóng nước mà chẳng thấy đất đâu để cho bà tạm nghỉ. Suốt một ngày, một đêm vật lộn với bão gió, mưa to và cuối cùng trời cũng thương , ông đã tìm thấy ở làng khác một cây me to còn lại bên gò đất cao và ông tạm dừng rồi đặt bà nằm nghỉ nơi đó. Ông miệng luôn vái trời, vái đất nước đừng dâng nữa để cho bà được yên thân còn cứ tiếp tục, có lẽ. Ba anh em ông lẫn bà đêm nay sẽ trôi ra sông ra biển và người thân sau cơn bão trở lại quê nhà chẳng biết đâu mà tìm.

   Chiếc hòm được ông chôn phân nửa và còn trơ lại phân nửa không nhang đèn, không tiếng khóc, không một lời đưa tiễn thật lạnh nhạt vô cùng như sóng nước xung quanh.

   Nấp dưới tàng me già mà tai cứ nghe ầm ì đè lên trên vầng trán, xa xa những đám mây đen cứ dồn dập tấn công báo hiệu những cơn mưa mới sắp hoành hành trên mảnh đất còn lại nầy thật là vô cùng khắc nghiệt.

   Những ngày lênh đênh trên sóng nước, ông cố giữ bình tĩnh để lo cho bà đến nơi an nghỉ cuối cùng, ông chưa một lần rơi nước mắt. Nhưng hôm nay sau khi chôn cất bà xong, ông khóc thật nhiều, hai chú em của ông không tài nào cản nổi. Ông la hét giữa trời thật to như xót thương số phận của con người, xót thương tình vợ. Miệng ông cứ la to "Hỡi trời cao có thấy, chết mà chẳng đất chôn, chết mà không tiếng khóc, chết mà không nhang khói, chết mà chẳng một người đưa tiễn" (Hỡi, hỡi trời có thấu cho chăng):

   Sau cơn dằn vặt ấy, ai ai cũng hy vọng mỏng manh ngày mai cơn bão sẽ lùi đi và những cơn mưa sẽ tắt dần và bà sẽ được về lại miếng đất thân yêu cạnh nhà gần ông bà, chồng con, thân thuộc. Nhưng mãi đến ngày hôm nay những cơn mưa, cơn bão cứ liên tục kéo dài như thác đổ, ông tay luôn ôm chặt hòm bà trong mệt mỏi và khóc ngất suốt đêm...!
                                                                                     Thủy Điền 
                                                                                    10-11-2016

READ MORE - ĐÁM TANG TRONG CƠN MƯA LŨ - Truyện ngắn của Thủy Điền

TRẢ LẠI; CON ĐÂU? - Thơ Đại Ngàn


                         Tác giả Đại Ngàn



CON ĐÂU? 

Gió lùa bao đợt phên thưa
Ngày xưa mẹ chắn bão mưa bao lần
Giờ đây đơn bước tủi thân
Bóng con mãi cứ xa gần chiêm bao
Con ơi nước mắt chảy vào
Mặn trong từng đợt nghẹn ngào xót xa
Mẹ lần nuốt những khổ qua
Chờ con mòn mỏi trời xa đất gần
Ngày xưa lẫm chẫm giữa sân
Mẹ nâng từng bước ân cần bên con
Bây giờ mẹ sức chẳng còn
Con đâu? Để mẹ lăn tròn giọt đau

                                    Đại Ngàn

TRẢ LẠI 

Em nhặt tiếng thở dài
Bỏ túi nơi lồng ngực
Túi ấy đầy rưng rức
Nhưng có phép nhiệm màu
Bao nhiêu là khổ đau
Bao nhiêu là kỷ niệm
Túi rộng như lòng biển
Gói hết những ngày qua
Em nhặt những cách xa
Ủ nồng cho ngày gặp
Con đường dài tít tắp
Em góp nhặt niềm tin
Chiều nay giữa lặng yên
Túi nặng bên ngực trái
Anh về em trao lại
Gom nhặt những ngày xa

                       Đại Ngàn

READ MORE - TRẢ LẠI; CON ĐÂU? - Thơ Đại Ngàn

CHÙM THƠ NGUYỄN KHÔI

      
                         Nhà thơ Nguyễn Khôi




BA VÌ - MÙA DÃ QUỲ NỞ
(Tặng bạn Fb.Tạ Toàn - 3 Mã Mây/HN)
                    
Mây trắng bay đi...Dã Quỳ bừng nở
Vàng, vàng rơi nắng ấm Ba Vì
Ai có "phượt" thì nhanh lên nhé
trước Dã Quỳ "tự sướng" say mê.
                    
Như đến hẹn một mùa vàng nhung nhớ
Cái mùa vàng thu mở sang đông
Nồng nàn hôn, hổn hển thở
Vượt tầm yêu trong khung kín khuê phòng.
                      
Dã Quỳ vàng bềnh bồng mây núi
Ai như Sơn Thánh...kiệu hoa về
Ôi Phong Châu... Mỵ Nương rạng rỡ
theo lối Dã Quỳ vàng kín sơn khê.

      Ba Vì - Sơn Tây 10/11/2016
                 Nguyễn Khôi

BẠN VĂN - CHIỀU XẾ BÓNG
(Tặng Bắc Phong - Canada)
Càng gắng lên cao tuổi
Bạn cũ cũng dần thưa
Tìm bạn Văn trao đổi
Đành dở sách bạn cho.
              
Về làng toàn người lạ
Thăm mả toàn người quen (1)
Sông lâu thêm buồn bã
Cô đơn tới trước thềm.
               
Trông một trời mây trắng
Lãng đãng câu thơ xưa
Còn một mình lẩn thẩn
Bạch vân không du du...
          Quê 9/11/2016
           Nguyễn Khôi
      
(1) Mượn ý thơ Vũ Quang Tần.
      
READ MORE - CHÙM THƠ NGUYỄN KHÔI

VỀ ĐÔNG HÀ GẶP NGƯỜI XƯA - Thơ Hoàng Yên Lynh


           Nhà thơ Hoàng Yên Lynh năm 1971

READ MORE - VỀ ĐÔNG HÀ GẶP NGƯỜI XƯA - Thơ Hoàng Yên Lynh

Saturday, November 12, 2016

NẾU MAI KHÔNG CÓ LOÀI NGƯỜI - Thơ Nguyễn An Bình


 


NẾU MAI KHÔNG CÓ LOÀI NGƯỜI

Có một ngày thế giới biến mất loài người
Đâu còn tắc kè hoa biến hình trong màu xanh của lá
Đôi tình nhân ung dung bước qua sỏi đá
Từng cứa nát bàn chân
Nhện giăng những sợi tơ mềm tựa như trăng
Biết giữ chân ai bây giờ
Khi trí nhớ mù lòa
Cây thập tự treo đầy trái ác?

Ẩn trong đá loài khủng long hóa thạch
Chờ cuộc tái sinh trong thế giới hồng hoang nào khác
Giọt mưa ngàn năm trôi qua kẻ đá
Lóng lánh hàng thạch nhủ suốt đời trầm tư
Mang bí ẩn loài người
Tìm chi quá trình tiến hóa
Khi ta là tác nhân hủy diệt
Trái đất không một màu xanh.

Con thuyền bay lên hành tinh xa xôi diệu vợi
Cách trái đất hàng triệu triệu năm ánh sáng
Khám phá  điều gì trong thiên hà bí ẩn
Lỗ đen hun hút sâu thẳm
Hay lại đưa chiến tranh lên những chòm sao
Đang yên bình thơ mộng
Khi hành tinh nầy không còn nơi thử nghiệm
Bao vũ khí quái thai dị kỳ?

Những tâm hồn lạc lõng
Ngã ba, ngã tư hay ngã năm
Cầu vượt nối tiếp nhau như mắc cửi
Khu phố không đèn xanh, đèn vàng, đèn đỏ
Bảng chỉ dẫn lạc loài đường đi không tới
Trên miền đất khổ
Nước mắt em có hóa thành ngọc bích
Tưới mát địa đàng anh sa mạc?

                  Nguyễn An Bình
                      12/11/2016

READ MORE - NẾU MAI KHÔNG CÓ LOÀI NGƯỜI - Thơ Nguyễn An Bình

CÒN GÌ ĐÂU EM - Thơ Kha Tiệm Ly





CÒN GÌ ĐÂU EM
(Khóc Xuân Khanh)

 Dù lúc buồn, hay lúc gượng vui
Vần thơ em vẫn điểm tô đời
Vì bao mơ ước, bao dang dở
Thì cũng tan vào cát bụi thôi!

Mặc nợ duyên, hay không duyên nợ
Cũng kéo nhau về cõi hư không
Phấn son ngày cũ em còn đó,
Chẳng thẹn nhân gian chút má hồng!

Lá úa tàn thu không làm em cô quanh,
Dẫu gió đông về cợt ánh trăng đêm
Gió mưa không đủ làm em lạnh,
Bời có tình anh sưởi ấm em!

Còn đâu em, tiếng cười thơ dại,
Có còn đây, bao chua xót ngậm ngùi
Tiễn em đi, lòng anh se thắt lại,
Như một ngày nào anh tự tiễn anh thôi

Thanh thản đi em, chẳng gì luyến nhớ,
Chuyện nhục, chuyện vinh, chuyện đoạn trường.
Trong suối lệ tiễn em về nơi đó,
Lẫn giọt đau buồn, lẫn giọt nhớ thương!

                                       Kha Tiệm Ly

READ MORE - CÒN GÌ ĐÂU EM - Thơ Kha Tiệm Ly