Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, October 30, 2016

VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “ĐÒ ĐI CÓ VỀ” CỦA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN - Trà Thanh Lam


         
                     Tác giả Trà Thanh Lam



VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “ĐÒ ĐI CÓ VỀ” CỦA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN
                                                                                     Trà Thanh Lam      

Rất tình cờ trên fb có một nic mang tên Đại Ngàn, tôi tò mò đọc thơ của họ để tìm hiểu. Càng đọc càng thấy nhiều bài chị viết rất hay đặc biệt thơ tình nhưng tôi thích và dừng lại ở bài đò đi có về của chị. Phải nói rằng theo tôi đây là một bài thơ hay cả về nội dung và câu từ. Tôi là một người ngoại đạo về văn thơ mạn phép tác giả và các bạn có đôi điều cảm nhận về bài thơ này.
 Mở đầu tác giả nêu ra một  khung cảnh đó là buổi chiều mà con đò bỏ bến ra đi ,cái khung cảnh ấy làm cho chúng ta liên tưởng đến một điều gì đó không được tốt đẹp, suôn sẻ 
“Đò chiều bỏ bến đi đâu
Bến đau tình bến biệt sầu chia ly
Chỉ 2 câu thơ thôi tác giả nhắc đến 3 lần từ bến, rồi kế tiếp là đau và sầu .Cái logic của nó đã được hiện ra, rõ ràng đây là một sự chia ly, và
“Mười hai bến nước xuân thì
Bến nào trong đục đò đi có về.”
Một câu hỏi như một sự lựa chọn và một sự hy vọng , đò đi vào cái chiều như thế có còn trở về nữa không ?
 “Đò đi bỏ lại câu thề
Trăng soi vỡ bóng mải mê cuộc tình.
Một lời than thở của bến, trách bến đã bỏ lại lời thề nguyền ngày xưa, đến với những cuộc tình khác mới hơn để đến nỗi “trăng soi vỡ bóng”, tạo nên cái hình ảnh của sự tan nát hạnh phúc của một cặp vợ chồng .
nhưng bến lại nhẹ nhàng chấp nhận dù cho phải lênh đênh lận đận như cánh lục bình :
“Bến đau ôm trọn bóng hình
Lục bình trôi dạt một mình bể dâu”
Bến sẵn sàng chấp nhận nỗi đau khi thuyền chiều có thể không trở về, và “ôm trọn cả cái bóng hình” ngày ấy đi xa như trong sầu thảm bể dâu. Nhưng cái hay là ở chỗ với bốn từ “Bến đau – Bể dâu”, làm cho đoạn thơ toát lên một nỗi đau da diết làm cho người đọc rất cảm động. Ai cũng hiểu cái bến và đò ở đây là nghĩa thực nhưng cái sức thuyết phục, cái hay của nó lại ở nghĩa bóng rất tuyệt vời .
Khổ thơ tiếp theo nói lên nỗi lòng của bến và hình ảnh trầu cau mới đẹp làm sao, nhưng trầu không têm bằng vôi mà têm bằng nỗi nhớ thương vô bờ của bến. Đó là cách ví von của tác giả, tuy không phải là cái mới nhưng khi diễn đạt theo cách dùng  từ của chị ta thấy lạ và cảm giác như mới vậy.
“Bến chiều rụng trắng hoa cau
Trầu không nhạt nắng têm màu nhớ thương”

nhưng tình cảm của bến không oán trách căm dận con đò đã bỏ ra đi mà trái lại tình thương con đò ấy, lo cho con đò trước những cơn sóng gió của cuộc đời. Đây chính là nét đẹp, tấm lòng vị tha nhân đạo … của người phụ nữ Việt Nam .
“Đò đi xa cách dặm trường
Biết đâu sóng gió để thương lấy đò”
“Mười hai bến nước so đo
Rủi đi lỡ chuyến xót đò bến đau
Đò đi có biết nông sâu
Sông dài rộng lắm biết đâu hạ nguồn”
Khổ thơ này muốn nói lên sự lo lắng của bến đối với con đò bởi vì làm sao con đò biết được con sông ấy nông sâu đến thế nào và sông dài và rộng như vậy không biết con đò có tới đích được không ? Tác giả đã khéo léo nói lên cái tình cảm của bến đối với con đò tuy đã bỏ bến ra đi .
Và tác giả viết tiếp câu để chuẩn bị kết thúc bài thơ :
“Phù sa lạc bến đỏ buồn
Bến chờ ở phía thượng nguồn gió mưa”
Phù sa thường ở bên sông gần bến nhưng ở đây đã lạc bến – và chính cái lạc bến dẫn đến đỏ buồn, một hình ảnh đầy ấn tượng mà đọc lên làm cho nỗi lòng ta xúc động. Sự  nhắc lại 2 lần chữ “bến”  đã nói lên bản tính trung thực thủy chung chờ đợi chồng trở về. Nhưng chờ ở đâu ? ở phía “thượng nguồn” mà lại đang rất cơ cực vì “gió và mưa”. Cuối cùng tuy con đò đã ra đi vào cái buổi chiều buồn như vậy nhưng niềm hy vọng của bến vẫn nghĩ rằng cái ngày xưa tốt đẹp đó sẽ làm thức tỉnh con đò. Một ngày nào đó tuy đã dầu dãi nắng mưa, con đò sẽ trở về với bến, một kết thúc có hậu và mang tính nhân văn sâu sắc.
“Bao giờ cho đến ngày xưa
Đò đi dầu dãi nắng mưa lại về.”
Toàn bộ bài thơ đã nói lên nỗi lòng của bến khi con đò chiều bỏ bến ra đi nhưng luôn đặt niềm tin vào con đò một ngày nào đó sẽ lại trở về. Một sự đoàn tụ vợ chồng hạnh phúc êm ấm. Cảm ơn tác giả Đại Ngàn, cảm ơn các bạn đã đọc và mong có điều gì tác giả bài này còn khiếm khuyết xin được thứ lỗi.

                                                                QN tháng 11/2016                                                                                   Trà Thanh Lam


                       Nhà thơ Đại Ngàn
              
ĐÒ ĐI CÓ VỀ

Đò chiều bỏ bến đi đâu
Bến đau tình bến biệt sầu chia ly
Mười hai bến nước xuân thì
Bến nào trong đục đò đi có về
Đò đi bỏ lại câu thề
Trăng soi vỡ bóng mải mê cuộc tình
Bến đau ôm trọn bóng hình
Lục bình trôi dạt một mình bể dâu

Bến chiều rụng trắng hoa cau
Trầu không nhạt nắng têm màu nhớ thương
Đò đi xa cách dặm trường
Biết đâu sóng gió để thương lấy đò

Mười hai bến nước so đo
Rủi đi lỡ chuyến xót đò bến đau
Đò đi có biết nông sâu
Sông dài rộng lắm biết đâu hạ nguồn

Phù sa lạc bến đỏ buồn
Bến chờ ở phía thượng nguồn gió mưa
Bao giờ cho đến ngày xưa
Đò đi dầu dãi nắng mưa lại về.

                            Đại Ngàn

READ MORE - VÀI CẢM NHẬN VỀ BÀI THƠ “ĐÒ ĐI CÓ VỀ” CỦA TÁC GIẢ ĐẠI NGÀN - Trà Thanh Lam

Hoài Huyền Thanh - THƠ VIẾT CHO MỘT NGƯỜI

Ảnh tác giả


THƠ VIẾT CHO MỘT NGƯỜI

*Nhớ TÌNH THƠ một thuở

Thơ viết cho một người
Mưa lòng như sóng vỗ
Hạt nắng trốn phương nào
Mực tím màu thương nhớ!

Như cọng cỏ cuối trời
Nhớ loài chim bói cá
Biển thương buồn đến lạ
Hạt nước khóc dòng trôi!

Gió ngày cũ xa xôi
Mãi đi tìm bến đỗ
Cuốn mây về phương nớ
Ngẩn ngơ một góc trời!

Thơ viết cho một người
Sao đành lòng quên được
Bao cánh diều mơ ước
Thả nỗi buồn rơi rơi!

“Thuở ấy” có còn vui
Bên thềm xưa khắc khoải
Tháng ngày găm nỗi nhớ
Tờ lịch đau ngậm ngùi!

Tình Thơ còn treo mãi
Chút Nắng Hồng vương vương
Bên chiều tàn thu muộn
Hiu hắt một con đường!

HOÀI HUYỀN THANH
    Cuối thu 2016


READ MORE - Hoài Huyền Thanh - THƠ VIẾT CHO MỘT NGƯỜI

VỀ / thơ Trần Văn Nhân

Đường về Ba Lòng


VỀ

Trần Văn Nhân

Xin đổi những ngày vui xứ lạ
Lấy một lần được trở về quê
Về lăn dưới chân cha nằm vạ
Giơ lưng cho mạ gãi rồi nhè


Về múc nước trong lu đứng dội
Thấy mình còn trai tráng khi đi
Về chúi trôốc vô gàu mà gội
Để ngước lên ngỡ vẫn xuân thì


Về cởi áo mình trần thân trụi
Đi lên nương cắt cỏ chự bò
Về vác rựa băng rừng lội suối
Hú anh em bè bạn hát hò


Về thả dép đầu trần chân đất
Chạy lăng xăng khắp xóm cùng làng
Về lục lọi người còn kẻ mất
Tưởng tượng ta là một ông hoàng


Về bỏ hết chỉ tình em giữ lại
Cả hôm nay lẫn những ban đầu

TVN


READ MORE - VỀ / thơ Trần Văn Nhân

ĐỜI PHỐ / thơ Phan Minh Châu


Núi Chóp Chài, Phú Yên


ĐỜI PHỐ

Tháp luống tuổi và giòng sông luống tuổi
Nước sông Ba ôm nỗi nhớ sang ngày
Trầm tích chở che
Chầm chậm cứ mỗi ngày qua phố
Tháp trở mình sau mùa trăng vỡ
Để đất hằn vết cắt bổng xanh hơn
Những cây cầu khỏa thân
Trắng mơn mởn chảnh đời con gái
Tuổi tháng năm mềm mại
Trườn mình gieo lễ hội đêm xuân
Phố đăm chiêu
Tiễn những con tàu
Người khách lạ neo mình ở lại
Đôi mắt chùng theo bước chân sâu…
Tiếng nhac xập xình về đâu ?
Những quán cà phê cỏ
Hồn nhiên thách gió
Và bảo giông tản mạn chờ mùa
Đuổi nhau về trên những cánh đồng mưa
Tiếng chuông điểm nóc nhà thờ
Chân người vội vã bên bờ áo cơm…
Phiên chợ tinh sương,
Mẹ quang gánh quàng đời con trẻ
Cha xe lô cút kít dặm trường
Sấm lao xao
Xé toạc những con đường
Dù xanh, dù đỏ
Những cơn mưa mây mẩy neo ngày
Choàng kín đôi vai
Chóp Chài lặng lẽ
Tiếng kinh cầu bâng quơ
Chúng sanh về lại
Nuôi cánh đồng tuổi thơ
Bốn trăm năm
Đất Phú chuyển mình
Những gam màu tĩnh lặng
Mùa Xuân

Phan Minh Châu
Nha Trang
0911731270


READ MORE - ĐỜI PHỐ / thơ Phan Minh Châu

MẠ ƠI / thơ Trần Văn Nhân




MẠ ƠI

Mạ ơi cái nóng gió Lào
Quyện mùi mắm ruốc tẩm vào xương con
Nên từ thơ dại - xuân son
Trung niên - tra lão cốt còn nhà quê
Mạ ơi hai chữ mô - tê
Theo con mỗi bước buồn lê xứ người
Nước pha uống vạn ly rồi
Cũng không loãng được một lời mần- răng
Mạ ơi cái đắng lá vằng
Khoai sùng sắn sượng còn hăng đến giờ
Con qua rừng rú bụi bờ
Cơm mem mạ mớm trong mơ vẫn thèm
Mạ ơi chuyện tưởng cũ mèm
Lại như nắng mới qua thềm sáng nay
Thời gian còn mấy gang tay
Làm sao nắm lại được ngày trôi đi
Mạ ơi đồng ruộng thâm xì
Trời Gio Linh mấy bữa ni mưa dầm
Đêm nghe phía đó trời gầm
Con nằm hốt hoảng gọi thầm: Mạ ơi

Trần Văn Nhân
Bà Rịa Vũng tàu 
0909017277
duybaolong237@gmail.com


READ MORE - MẠ ƠI / thơ Trần Văn Nhân

HƯƠNG HỎA / chùm thơ Nguyễn Văn Gia

Ảnh tác giả


BẠN ĐI ĐỊNH CƯ
XỨ CỜ HOA

Chẳng mơ chi
chuyện xa vời
Lòng ai như chút sắc trời
trong veo
Vấn vương
một góc quê nghèo
Ngẩn ngơ xứ lạ
sớm chiều
phù hoa
Cố hương mỗi lúc một xa
Người đi
mang cả quê nhà đi theo...



HƯƠNG HỎA

Ta về
Ngó sững mái từ đường
Vườn mênh mông
Giữa cơn sốt đất
Chẳng thèm hỏi lòng người
Được
Mất
Cây khế già lặng lẽ trổ bông.

Nguyễn Văn Gia


READ MORE - HƯƠNG HỎA / chùm thơ Nguyễn Văn Gia

TRĂNG TÀN ĐÊM HỒNG NGỰ / thơ Hoàng Anh 79



TRĂNG TÀN ĐÊM HỒNG NGỰ

Buồn làm chi để mưa rơi ướt lối
Mưa bay bay bong bóng vỡ trên sông
Con cá lội trắng đồng mùa nước nổi
Khói bếp lên cay mắt phía Tân Hồng

Bao lâu rồi ta không về Cao Lãnh
Chắc đường xưa thăm thẳm dấu hương yêu
Sắp vào đông nên trời hiu hiu lạnh
Nhớ em xa nghe lá rụng muôn chiều

Ta nợ em bài thơ tình chưa trả
Em nợ ta khung trời tím mộng mơ
Ta nợ nhau giữa dòng đời nghiệt ngã
Trả chưa xong và trả đến bao giờ

Cũng cám ơn em cho ta hi vọng
Chút rong rêu cứ ngỡ cả trời xanh
Thì đã quen đời một mình một bóng
Giấc mơ xưa xem như chuyện dỗ dành

Đừng ngậm ngùi trăng tàn đêm Hồng Ngự
Khóc hay cười cũng tiếp tục cuộc chơi
Em nhớ chi gã giang hồ lãng tử
Như chim đêm gãy cánh một phương trời !

NGÀY 11/10/2016
HOÀNG ANH 79


READ MORE - TRĂNG TÀN ĐÊM HỒNG NGỰ / thơ Hoàng Anh 79

VIỆT NAM NƯỚC TÔI / thơ Trúc Thanh Tâm

    


VIỆT NAM NƯỚC TÔI

 Huyền thoại nào của núi, của biển đông
 Hương của hoa, của người và của đất
 Trời đất giao thoa làm lòng tôi ngây ngất
 Cho bao yêu thương se thắt trái tim mình
  
Sông Hương hiền hòa, chuông Thiên Mụ còn ngân
Cung đình Huế theo tháng năm sống mãi
Hồ Hoàn Kiếm mơ màng trong sương khói
Ải địa đầu oanh liệt đất Thăng Long 

Đất phương Nam màu mỡ chín dòng sông
Tình nhân loại rạng ngời trong mắt nhớ
Việt Nam nước tôi, tài hoa còn muôn thuở
Gia Định - Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Đông!

 TRÚC THANH TÂM
READ MORE - VIỆT NAM NƯỚC TÔI / thơ Trúc Thanh Tâm

CỔNG TRƯỜNG VẪN MỞ / truyện ngắn Võ Quốc Tuấn

Ảnh tác giả


Truyện ngắn:

Cổng Trường Vẫn Mở


     Mấy đêm rồi, sao nó thấy nhớ trường quá. Mặc dầu, gần hai năm gắn bó, trường đối với nó cũng rất đỗi bình thường: cũ kĩ, dột như nhà nó, có điều nhiều phòng hơn; và cái sân nữa, cũng to hơn sân nhà nó nhiều và có nhiều cây xanh hơn. Nếu tất cả chỉ có thế thôi thì nó không thao thức nhiều như thế! Ừ, trường đối với nó còn có nhiều kỉ niệm đẹp gắn bó với những người bạn, và những thầy cô mà nó quý còn hơn cả cha mẹ nó nữa.

     Mà không quý hơn sao được, khi một đêm đầy mưa gió, người sinh ra nó, đã âm thầm cuốn gói ra đi lúc nó vừa 8 tuổi, thì trách gì nó giận mẹ và ghét gió mưa từ đó. Thay vì “ gà trống nuôi con”- cha nó- một người đàn ông bị vợ bỏ vì nát rượu giờ lại có cớ buồn “nhân tình thế thái” nên lại càng uống rượu nhiều hơn thì có bao giờ đủ tỉnh táo để lo cho con cái. Không những thế, mỗi lần nhậu hắn lại huênh hoang: “Không yêu nữa để tiền ta đi nhậu; sống một mình cho gái nó thèm chơi”. Không biết gái có thèm hắn hay không, chỉ thấy hắn làm được một điều: chìm đắm trong mem rượu…

***

     …Cổng trường vẫn mở như ngày nào. Nó muốn dừng lại giây lát để nhìn kĩ hơn về ngôi nhà đã cho nó nhiều niềm vui trong hơn một năm qua, mà sao nó không đủ can đảm để làm điều ấy. Tiếng trống “ tùng…tùng …tùng ” , báo hiệu giờ ra chơi ngày nào mà nó cùng chúng bạn vẫn thường mong đợi sao bây giờ lại là một nỗi ám ảnh với nó mỗi lúc đi ngang. Những khi ấy, nó cúi mặt, đạp xe thật nhanh sợ gặp phải bạn bè, thầy cô như kẻ trộm sợ gặp phải chủ nhà trong lúc tháo chạy vậy. Chao ôi! Nó vẫn là thành viên trong đại gia đình ấy mà sao giờ đây nó lại rụt rè, xa cách thế kia? Cổng trường vẫn mở mà sao cha nó lại đóng kín cuộc đời nó như thế? Nó thấy mình lạc lỏng như bị bỏ rơi trong chính ngôi nhà của mình.
Không. Nó không bị bỏ rơi. Nó còn có bạn bè và thầy chủ nhiệm vẫn quan tâm đến nó. Đã biết bao lần thầy và bạn nó đến thuyết phục cha nó để nó được đi học là biết bao lần cha nó xúc phạm đến họ, đại loại như: “ con tôi, tôi cho học hay nghỉ, phải xin phép các người à?”, hay “ Mỗi ngày năm chục ngàn cho gia đình, tôi cho nó học.”, hoặc “ Đừng phiền, tôi đang nhậu” …Thầy nó cũng có gia đinh riêng tư, có 2 con nhỏ đang tuổi ăn học thì làm sao thầy lo được. Nhưng thầy vẫn kì vọng, dầu có ngồi chật, thầy không bao giờ cho đứa nào được ngồi vào khoảng trống ấy…

***

     Hôm nay, như lệ thường. Nó vẫn bán vé số, mà không bán thì lấy gì mà ăn? Thế là nó vẫn cứ đi. Càng gần về chiều, nó càng phải cố gắng đi nhiều hơn mặc dầu trời đầy mưa và gió. Vừa đi nó vừa nhớ đến lời thầy nó: “ Giàu nghèo thấy nhau ở túi tiền; sướng khổ thấy nhau lúc chiều mưa” mà không khỏi chạnh lòng. Nó đi bán là vì miếng ăn, còn người ta vì miếng ăn mà dại gì ra mưa gió cho khổ thân! Thế nên nó phải đến chỗ người ta ăn để bán. Và nó cứ đi…

     Bao nhiêu hi vọng nó đã mang bán cho người. Cái mà nó còn lại là thực tế bị cha không cho học. Chao ôi ! Còn gì đáng buồn hơn? Thầy cô, bạn bè sẽ nghĩ nó như thế nào đây? Nó tệ hại thế nào mà chính cha đẻ nó lại cấm nó đi học? Nó thấy tủi thân quá. Những người nghèo thường hay tự ti, mặc cảm như vậy. Nhìn một quán ăn sang trọng định vào bán nhưng nó còn suy nghĩ: “ Người ta mua vé số là mua hi vọng được đổi đời; còn mình bán vé số là mang đến hi vọng cho họ thì có gì phải ngại”? Thế là nó cũng bước vào. Đập vào mắt nó là Hồng, cô bạn xinh xắn học cùng lớp, đang ăn chiều cùng đại gia đình. Nó toan lui bước thì Hồng vừa cất tiếng gọi vừa chạy đến:
     - Nhi! Nhi! Vào ăn với gia đình mình!
     Vừa nói nó vừa lôi cô bạn và giới thiệu:
     - Ba! Mẹ! Đây là Nhi, bạn cùng lớp 7 với con. Vì hoàn cảnh gia đình nên cha bạn ấy bắt bạn phải nghỉ học mấy hôm nay để bán vé số, mặc dầu bạn học rất khá
     - Cháu chào hai bác, chào Hồng - Nhi đáp.
     - Mời cháu ăn cơm cùng gia đình!
     - Cảm ơn bác! Sắp đến giờ xổ nên con phải bán vội ạ!

     Nói rồi nó chào tạm biệt, vụt đi ngay. Hồng còn nói với theo câu gì đó nhưng nó không nghe rõ. Nó đi nhanh về phía cửa hông như đang chạy trốn và cầu mong đừng gặp ai đó thân thuộc trong lớp nó nữa, nếu không nó sẽ khóc vì tủi thân mất. Sang quán nhậu kế bên, nó rảo mắt vòng quanh, chỉ thấy toàn người lớn nên cũng an tâm. Nó tiến về phía bàn cuối phòng. Và cất tiếng mời:
     - Mời các cô, các chú mua dùm cháu vài tờ vé số ạ!
     - Gì?... Gì mà chú …dữ …vậy em? Gọi bằng … anh đi cho trẻ! -      Một người đàn ông, giọng lè nhè trong nhóm đáp lại.
Người đàn ông đang quay lưng về phía nó cũng ngoáy cổ lại nhìn. Nó như chết lặng khi thấy người ấy không ai lạ, chính là ba nó. Nó ấp úng…
     - B…a…Ba…a…a…
     Người đàn ông đó còn ngạc nhiên hơn cả nó, không đáp được lời nào. Bởi hắn cũng không tin, xa gần mười cây số như thế mà con hắn cũng đạp xe đến bán. Nhưng hắn không đáp được không phải chỉ vì say mà còn vì sỉ diện với mấy cô bạn nhậu. Thế là con gái hắn ù chạy bỏ mặc đằng sau những tiếng cười cợt, trêu ghẹo: “ Đẹp trai, con rơi đầy hé anh yêu!”…

     Vừa ra khỏi cửa, nó thấy trời đất tối đen. Cha nó đã khép kín cánh cổng tương lai đời nó giờ lại phải đóng chặt thêm cánh cửa tình cảm giữa nó và cha nó ư? Cha nó làm bạn với những người như thế ư? Sao cha không dám nhận nó là con? Thì ra trong mắt cha nó, nó không bằng những người dưng kia? Nó ném cả sắp vé số còn lại như ném cả niềm hi vọng theo cơn mưa chiều. Những tấm vé số - những hi vọng mong manh cuốn trôi theo dòng nước. Mưa trắng xóa phủ cả lối về. Nó gò lưng đạp ngược gió. Tiếng căm xe xé nước sè sè, lẫn với tiếng mưa đập vào nón lá lộp bộp nghe càng buồn thêm. Cổng trường vẫn mở nhưng giờ đây một bức tường vô hình nào đó đã chặn đứng bước chân nó. Nó thấy xa xôi quá.

    Nó thao thức và khóc như chưa từng được khóc. Nó nhớ trường, lớp. Nhớ bạn bè và nhớ đến lời của thầy dạy mà chạnh lòng: giàu chưa ắt đã sang, nghèo chưa chắc đã khổ; các em có thể đang nghèo nhưng cố gắng đừng để khổ. Muốn vậy các em phải học. Vì có kiến thức mọi người sẽ nể trọng. Nhưng thầy ơi, đời nó rồi sẽ phải khổ mất thôi khi mà nó có còn được theo học nữa đâu để được bằng chúng bạn? Và nó thiếp đi lúc nào chẳng biết. Trong chiêm bao, nó thấy mình được đi học, được mạnh dạn bước vào cổng trường, được vui đùa cùng nhóm bạn và hình như nó đang cười cả khi đang ngủ…

***

     Một lần nữa, thầy chủ nhiệm nó lại đến sau mấy ngày nằm viện về. Nhưng lần này thầy không thuyết phục bằng lí lẽ nữa! Mà có điên mới nói lí lẽ với một người chẳng biết lí lẽ! Có chăng là lấy thứ gì đó tống vào mồm hắn để hắn im thì hơn. Và không biết thầy nó đã làm gì, chỉ thấy hôm sau nó được đi học. Kể từ đó người ta thấy thầy nhịn ăn sáng và nhịn cả uống cà phê.

Trà Vinh: 9/ 2015

Võ Quốc Tuấn


READ MORE - CỔNG TRƯỜNG VẪN MỞ / truyện ngắn Võ Quốc Tuấn

CƠM VÀ CÁ - Tùy bút của Hoàng Đằng


                   

                                Tác giả Hoàng Đằng 


          CƠM VÀ CÁ                        
                                                    Tùy bút của Hoàng Đằng

Thuở còn bé, mình ra đường, gặp người bà con, làng xóm; họ tỏ tình thân, xoa đầu  mình rồi hỏi:
- Trưa nay cháu ăn chi?
Những lần đầu, mình thật thà, ăn gì nói nấy:
- Cháu ăn khoai lang chấm muối. Cháu ăn cơm với rau lang luộc chấm nước ruốc.
Thời xưa ấy, cái nghèo tấn công mọi sinh hoạt trong đời sống con người, đặc biệt là bữa ăn. Đâu chỉ gia đình mình ăn vậy mà đa số dân cả làng, cả nước phải ăn vậy để sống, thậm chí có nhà phải đào củ chuối nấu ăn trừ bữa, ăn cám rang trộn với tựa trái muồng phơi khô giã thành bột; cám ăn vào miệng, dù nham nhám, nhờ cái vị ngọt ngọt, cũng nuốt được.
Dân số nước ta trong thập kỷ 1940 mới chỉ trên dưới 20 triệu; đất còn rộng, người còn thưa; mà không đủ ăn, do cách làm ăn còn non kém, chứ lượng lương thực, thực phẩm tiềm tàng trong thiên nhiên lớn lắm; ruộng đồng bao la, tôm cá đầy biển, đầy sông, đầy ao hồ. Trồng trọt thì nhờ trời, không thủy nông, không giống mới, không phân bón … Đánh bắt cá thì phương tiện tối tân nhất !!! chỉ là chiếc thuyền nan với lưới đã to sợi lại đan thưa mắt …
Rồi khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp ở nước ngoài phát triển, du nhập vào nước ta, dân ta bắt chước, áp dụng; nông sản dồi dào lên; bữa ăn no dần về chất và lượng; trẻ ở thế hệ sau mình được người ngoài hỏi:
- Đến bữa, bố mẹ cho cháu ăn chi?
Chúng trả lời không chút suy nghĩ:
- Ăn cơm với cá.
Bữa cơm của người Việt được tạo nên do nhiều thứ: cơm, cá, thịt, rau, củ, quả, gia vị ..., trong đó, cơm và cá được mặc định là hai thứ chính. Bữa cơm có cơm và cá là chỉ dấu một gia đình khá giả.
Tuy có gián đoạn hoặc do  mùa màng thất bát, hoặc do bom đạn khiến ruộng đồng bỏ hoang, hoặc do chiến tranh khiến nông dân bỏ ruộng đồng tản cư, hoặc do nông dân mất hứng thú trong công việc đồng áng trước chính sách tập thể hóa quá mới mẻ của chính quyền, thời gian mà đa số người Việt có cơm có cá ăn kéo dài cũng đã hơn 60 năm rồi (từ khi kết thúc chiến tranh Việt – Pháp 1954). Và hy vọng sẽ mãi như thế!
Tuy nhiên, thời gian gần đây, TV nhà nước cứ loan những tin khiến mình – giờ đã là một ông già có tính gàn – đâm hoảng.
Cơm đến từ gạo, gạo đến từ thóc, thóc đến từ đất đai. Vậy mà đất đai nước mình đang bị thu hẹp. Vựa lúa chủ yếu của nước mình là đồng bằng Nam Bộ; đồng bằng này đã không còn phù sa mấy bồi lợp. Các nước thượng nguồn sông Mê-kông như Trung Quốc, Thái Lan, Lào xây đập thủy điện, thủy nông, đào kênh rạch chia nước khiến nước không về đều đặn; nước không về thì phù sa không có, mà xưa nay, phù sa đã mang lại nhiều lợi ích: trải màu mỡ lên ruộng đồng, bồi lấn biển dần mở rộng đất đai.
Cộng thêm đô thị hóa và hiện đại hóa đất nước đòi hỏi phải xây dựng cơ sở hạ tầng nhiều; một trong những vật liệu cần cho xây dựng là cát. Cát đang ngày đêm được nạo vét từ các dòng sông; dòng sông hẳm thì đất hai bờ phải lở xuống; lở đất thì mất đất.
Với lại khí hậu quả đất ấm lên do khí thải công nghiệp, do rừng bị tàn phá gây hiệu ứng nhà kính làm băng ở địa cực tan nâng nước các đại dương dâng cao tràn vào nhấn chìm những vùng đất thấp và nhiễm mặn những vùng có cao độ hơn. Đồng bằng Nam Bộ chịu tác hại nặng nhất.
Không những thế, nước ta, sau nhiều thế kỷ, nhắm mắt, không chịu phát triển, bây giờ, mở mắt ra, thấy thua kém quá nhiều nước, đặc biệt ở lãnh vực mở mang đô thị và công nghiệp hóa; hoảng hốt, muốn làm “bước nhảy vọt”, bằng cách mở thêm và mở rộng các đô thị, khu vui chơi giải trí, khu công nghiệp … Nhiều vùng đất trồng lúa bị thu hồi, san lấp để lập gia cư, cơ sở hạ tầng … Những diện tích tương đương mất theo để xả thải; đặc biệt các khu công nghiệp. Ôi thôi! Trong công nghiệp nặng, nước ta đang thu dung những công nghệ bẩn – làm ô nhiễm môi trường – mà các nước phát triển tìm cách đưa ra khỏi nước họ qua các dự án đầu tư (Formosa là một minh chứng); trong công nghiệp chế biến, các quy định bảo vệ môi trường không chặt chẽ khiến chủ doanh nghiệp lợi sụng kẽ hở xả thải bừa bãi để bớt chi phí sản xuất.
Diện tích trồng lúa đã không còn màu mỡ lại bị thu hẹp; sản lượng lúa gạo giảm trong khi dân số càng ngày càng đông. Dù thâm canh đến đâu, nông sản có ngày sẽ không đủ cho nhân dân dùng, trừ phi các thực phẩm hóa học: gạo hóa học, thịt hóa học, rau hóa học … được sử dụng.
Cơm thiếu; còn cá thì sao?
Môi trường cho cá sinh sống – nước - đang bị nhiễm bẩn – nhiễm bẩn do chất thải sinh hoạt và công nghiệp quá nhiều; người quá đông rồi mà! Nước đã nhiễm bẩn thì sự sinh sản và sinh trưởng của các loài thủy sản bị hạn chế, thậm chí bị hủy diệt hàng loạt. Điều đó đang xảy ra trên đất nước ta. Chỉ kể vài vụ trong riêng mấy tháng đầu năm 2016 thì rõ:
Đầu tháng 4/2016, nhà máy thép Formosa ở Vũng Áng Hà Tĩnh xả thải chứa nhiều độc chất ra biển làm cá chết khoảng mấy trăm tấn tràn vào bờ 4 tỉnh miền Trung: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế .
Đầu tháng 7/2016, các trại nuôi heo công nghiệp, các nhà máy chế biến mủ cao su, tinh bột sắn ….. ở thượng nguồn sông Sài Gòn xả thải xuống dòng sông; nguồn nước bị ô nhiễm khiến cá chết hàng loạt – nghe nói khoảng 2 tấn - nổi trắng mặt nước.
Đầu tháng 9/2016, dòng nước đen ngòm chảy ở sông Sa Lung huyện Vĩnh Linh tỉnh Quảng Trị làm cá chết hàng loạt nhiều ngày; màu đen ngòm ấy của nước cũng do nhà máy nào đó ??? – hình như nhà máy chế biến mủ cao su - xả thải, nhưng người ta không tìm ra và nắm được chứng cứ để quy tội!!!
Đầu tháng 10/2016, nước thải dân cư ở thủ đô Hà Nội trút xuống Hồ Tây, nước hồ thiếu oxy, cá chết ngạt khoảng 200 tấn.
Đó là cá tự nhiên, còn cá nuôi cũng không thoát khỏi tác hại của nguồn nước ô nhiễm. Mới ngày 13/10/2016, cá nuôi bè tại làng bè Long Sơn, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu cũng chết hàng loạt; cuộc sống của dân nuôi cá khốn đốn.
Cứ đà này, cá có ngày chẳng còn để ăn. Như thế, cơm sẽ thiếu, cá cũng sẽ thiếu.
                                                             
Thời bình, sự trao đổi từ miền này qua miền khác, từ nước này qua nước khác đang trôi chảy thì vấn đề cơm cá cho mọi người dân chưa phải khó giải quyết. Tuy nhiên, “cư an tư nguy” (lúc bình yên phải lo lúc nguy biến); lỡ chiến tranh xảy ra, thì sao?
Nhớ lại nạn đói cuối năm 1944 và năm 1945 làm dân ta chết 2 triệu người ở Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (lúc đó dân số cả nước chỉ khoảng 20 triệu người) mà rùng mình! Ngoài thời tiết không thuận lợi khiến mùa màng thất bát, hai nguyên do chính của nạn đói là chiến tranh và chính sách thời chiến của nhà cầm quyền. Chiến tranh cắt đứt giao thông, miền Nam dư gạo mà không chở ra Bắc được; chính quyền Nhật và Pháp đã thu mua hết lúa gạo trong dân để phục vụ chiến tranh, lại bắt nông dân chuyển ruộng trồng lúa sang trồng đay, ngoa ngoạnh tuyên truyền đay có giá cao hơn lúa. Thế là hết gạo trong nhà, hết thóc ngoài đồng, gạo không còn bán ở chợ, người dân chỉ còn con đường chết đói.
Hiện tại, chúng ta đang sống trong hòa bình; nhưng nguy cơ chiến tranh đang rình rập; không phải chiến tranh giữa dân ta với dân ta mà chiến tranh giữa các siêu cường có thể lôi cuốn nước ta vào vòng xoáy và có thể dùng nước ta làm bãi chiến trường do tầm quan trọng của vị thế địa chiến lược. Khi ấy, nguồn lương thực, thực phẩm không có tại chỗ, dân ta sống sao đây!
Nông nghiệp có 2 loại: nông nghiệp sản xuất để dùng (subsistence crop) và nông nghiệp sản xuất để bán (cash crop); ngày xưa, nền nông nghiệp sản xuất để dùng được chú trọng, nó không làm cho nông dân giàu, nhưng nó đem đến cuộc sống bền vững, ổn định cho nông dân từ đời này qua đời khác, nhà minh triết Lê Quý Đôn đã viết: “Phi nông bất ổn” (Không có nông nghiệp thì không ổn), và người xưa dù quan niệm “phi thương bất phú” (không có thương mãi thì không giàu), vẫn cho rằng “dĩ nông vi bổn” (lấy nông nghiệp làm gốc). Thành thử, đừng bỏ rơi nông nghiệp sản xuất để dùng mà chú trọng quá mức vào nông nghiệp sản xuất để bán. Giá nông sản trên thị trường không ổn định, lúc lên lúc xuống, làm cho nông dân, ngay ở thời bình, khi thì hồ hỡi phấn khởi khi thì lao đao lận đận.
Hiện nay, chạy theo nền  nông nghiệp sản xuất để bán, người ta đang muốn ruộng đồng tập trung lại giao cho một ít doanh nghiệp; với kỹ thuật canh tác hiện đại: chọn giống, chọn phân, dùng máy móc trong các khâu gieo trồng, bón phân, thu hoạch …, nông sản sẽ tăng vừa về chất vừa về lượng mà lao động sử dụng ít. Đỡ công mà lời nhiều! Nghe thì sướng tai! Tuy nhiên, mấy chục triệu nông dân sẽ làm gì? Xuất khẩu lao động ư! Những nước nào nhận được hết? Biến nông dân thành công nhân ư! Nhà máy đâu để thu dung được hết! Chỉ còn viễn cảnh trong cộng đồng số “thợ đụng” – gặp việc gì làm việc ấy – đông thêm, ngoài đường phố, số người lang thang không nghề nghiệp ổn định hoặc làm những việc phi pháp nhiều lên. Tình trạng xã hội sẽ rối rắm, lộn xộn ngoài sức kiểm soát.
Người ta đang nôn nóng làm sao tỉ trọng công nghiệp trong nền kinh tế nâng lên mà tỉ trọng nông nghiệp giảm xuống. Các nước hiện đại đều như thế cả. Nhưng hoàn cảnh và điều kiện nước ta không như các nước ấy. Về công nghiệp và dịch vụ, họ đi trước ta hàng trăm năm; muốn kịp họ, nước ta chỉ “nhảy vọt” mà nhảy vọt thì ngã, thêm đau xác! Còn “đi tắt đón đầu” thì e rằng càng đi tắt để đón đầu càng lạc đường!
Mỗi nước phải chọn con đường riêng để đi, để phát triển tuỳ điều kiện, hoàn cảnh và nguồn nhân vật lực của mình. Phát hiện con đường đó là trách nhiệm của những nhà lãnh đạo - những nhà lập chính sách! Chỉ có điều là mọi người “tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân” có xem đất nước này là thật sự của mình không hay chỉ là nơi kinh doanh để làm giàu, giàu rồi tìm nước khác để sinh sống!!!
Có đọc sử thì mọi người tin rằng người Việt đủ khôn khéo để tìm được cách phát triển đất nước hài hoà, nước ngoài phải kính nể, chỉ sợ thiếu cái tinh thần “chí công vô tư”.
Viết đến đây, tôi nhớ giai thoại “chọi trâu” (1) do nhà nghiên cứu lịch sử Trương Thái Du kể trong bài “Tiếng trống đồng Mê Linh” (tháng 4 năm 2005):
Tàn quân của Hai Bà Trưng trốn quân Nam Hán, lưu lạc đến tận eo biển Malacca, cập bờ Tây đảo Sumatra, định cư và trở thành một bộ tộc. Bộ tộc này có tranh chấp đất đai với một bộ tộc kế cận. Muốn tránh đổ máu, bộ tộc gốc Việt đề nghị hai bên chọn hai con trâu để đấu, trâu bên nào thắng thì bên ấy thắng. Bộ tộc kia chọn một con trâu đực “nổi”, sừng dài nhọn hoắt, cổ bự to; trong khi đó, bộ tộc gốc Việt tìm một con trâu nghé mới nhú sừng. Con trâu nghé bị cách ly mẹ và bỏ đói nhiều ngày. Trận đấu mở màn, con trâu nghé tưởng con trâu đực “nổi” kia là mẹ, rúc đầu vào giữa hai chân sau trâu đực tìm vú bú; hai sừng mới nhú đâm vào bụng và dái trâu đực “nổi”; con trâu đực vừa nhột vừa đau, vọt chạy. Thế là trâu của bộ tộc gốc Việt thắng; theo giao ước ban đầu, phần đất tranh chấp thuộc về bộ tộc gốc Việt. Do vậy, bộ tộc gốc Việt ở địa phương có tên là Minangkabau – Minang là chiến thắng, kabau là con trâu.
Đọc chuyện xưa mà ngẫm việc nay! Lẽ dĩ nhiên, chuyện xưa ấy không áp dụng vào thời nay được. Người thời nay chỉ thừa kế, vận dụng cái khôn của người xưa, phát huy sáng kiến mà giải quyết việc hiện tại, phóng tầm nhìn về tương lai, làm sao nước ta trở nên tươi đẹp, dân ta trở nên yên vui. Người viết bài này, trước mắt, không thích mục tiêu “nước mạnh, dân giàu” mà giàu và mạnh có được bằng cách kết bè, lập nhóm giành giật quyền và lợi, tạo ra bất công, bất bình. Hãy nhớ lời dạy của cố chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không sợ thiếu mà chỉ sợ không công bằng; không sợ nghèo mà chỉ sợ lòng dân không an

                                                                            Hoàng Đằng
                                                                            13/10/2016 
.......................

1) Chuyện này có người kể là Trạng Quỳnh đem trâu nghé chọi trâu “nổi” của sứ thần Tàu.

READ MORE - CƠM VÀ CÁ - Tùy bút của Hoàng Đằng