Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, September 16, 2015

ĐỌC BÀI THƠ "PHƯƠNG XA" BẰNG ĐÔI MẮT BÌNH PHẨM NGHIÊM TÚC - Phạm Đức Nhì


Tác giả Phạm Đức Nhì


Phạm Đức Nhì
ĐỌC BÀI THƠ "PHƯƠNG XA"
BẰNG ĐÔI MẮT BÌNH PHẨM NGHIÊM TÚC


Tính tính tính tình tang tang tang
Cuộc đời mình như chiếc thuyền nan
Trôi nó trôi bềnh bồng
Ði tới Tô-Ky-Ô
Mình xách tay chiếc dù
Mặc áo ki-mô-nô
Tô-Ky-Ô Tô-Ky-Ô
Dù là dù với ki-mô-nô.
……………………..

Trên đây là một đoạn của Chiếc Thuyền Nan, một bài hát vui mà các thành viên của Hướng Đạo, Gia Đình Phật Tử, Thiếu Nhi Thánh Thể … thường hát trong các buổi sinh hoạt. Bài hát diễn tả niềm hạnh phúc được đến các vùng đất lạ, học thêm được những kiến thức mới bổ ích cho cuộc đời. Khoảng cuối những năm 30s, đầu những năm 40s thế kỷ trước (1) có một thi sĩ cũng bước lên thuyền ra khơi nhưng với tâm trạng và mục đích hoàn toàn khác. Đó chính là thi sĩ Vũ Hoàng Chương trong thi phẩm Phương Xa.
        
Phương Xa

Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng
Xô về Đông hay giạt tới phương Đoài
Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng
Lòng cô đơn cay đắng, họa dần vơi.

Lũ chúng ta, lạc loài dăm bẩy đứa
Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh
Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

Lũ chúng ta, đầu thai lầm thế kỷ              
Một đôi người u uất nỗi trơ vơ
Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị
Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Men đã ngấm bọn ta chờ nắng tắt
Treo buồm cao cùng cao tiếng hò khoan
Gió đã nổi nhịp trăng chiều hiu hắt
Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy cho ngoan.

VŨ HOÀNG CHƯƠNG


Hai Khổ Thơ Tuyệt Vời 

  Người đọc dễ nhận thấy hồn cốt của bài thơ nằm ở 2 khổ giữa, gồm mấy ý chính như sau: có sự khác biệt quá lớn giữa thi sĩ và xã hội, khó có thể dung hợp nên ông muốn “bỏ đi thật xa” để khỏi phải sống, phải nghe, phải nhìn những cảnh đời ngang tai, trái mắt.

          Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
          Bị quê hương ruồng bỏ giống nỏi khinh

Dù thể xác vẫn là hình hài con người, hơn nữa, lại là con người Việt Nam máu đỏ da vàng, nhưng ông có cảm giác như một kẻ lạc loài, và vì thế nên bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh khi.

          Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
          Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh

do đó mới có tâm trạng chán chường đến cùng cực, chỉ muốn lênh đênh trên biển cả, chẳng cần biết đâu là bờ, đâu là bến hết.
Khổ thơ kế tiếp được nhìn dưới góc cạnh thời gian:

          Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ
          Một đôi người u uất nỗi trơ vơ

Người đời thường nói “sinh bất phùng thời”, câu nói đã cũ rich, khô cứng. Thi sĩ của chúng ta, cũng cái ý ấy, đã sáng tạo một câu thơ độc đáo, ngôn từ mới, hình ảnh mới, vóc dáng mới:

          Lũ chúng ta đầu thai lầm thế kỷ

phải nói là một câu thơ hay tuyệt. Ông (và một nhóm bạn nào đó) mang tâm trạng vừa cô độc, trơ trọi vừa bơ vơ, không có chỗ bám víu, nương tựa bởi vì:

          Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị

sự vận hành của cuộc đời hoàn toàn khác, không thể dung hợp với cách suy nghĩ, cách nhìn cuộc đời của ông. Và ông đã yêu cầu:

          Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ

để được thoát hẳn cái khung cảnh xã hội mà đối với nhịp suy tư của tâm hồn ông chỉ là “cung đàn lạc điệu”

Như vậy ý chính của bài thơ có thể tóm tắt như sau: tác giả và nhóm bạn của ông là những kẻ “lạc loài” lại “đầu thai lầm thế kỷ,” không hợp với xã hội đương thời nên bị ruồng rẫy, rẻ rúng, chỉ muốn lênh đênh trên biển cả, không cần biết phương hướng bến bờ, hoặc trôi giạt vào một hoang đảo nào đó để khỏi phải tiếp xúc với cuộc đời “kiêu bạc.”

Trên bề mặt chữ nghĩa là như vậy, nhưng thực tế thì hoàn toàn khác. Vũ Hoàng Chương la toáng lên là:

          Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
          Bị quê hương ruồng bỏ giống nòi khinh.

Nhưng khi tự nhận là “lạc loài dăm bảy đứa” thì chính ông (và nhóm bạn nào đó) mới là những kẻ đã đoạn tuyệt với dòng giống, chối bỏ quê hương. Mẹ VN, thời nào cũng vậy, vẫn dang rộng vòng tay chứ nào có ruồng rẫy, rẻ rúng đứa con nào. Ông còn bù lu bù loa “Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị,” nhưng thật ra chính cái bản tính kiêu kỳ, cao ngạo của ông mới là thủ phạm của sự “bất dung hợp” với cuộc đời; ông không muốn “hạ cố” hòa nhập với cuộc đời chứ không phải cuộc đời không chấp nhận ông.

Đó là tâm trạng của ông, cái nhìn chủ quan của ông đối với cuộc sống. Đúng hay sai xin nhường cho bạn đọc tự phán xét. Đối với thái độ ngông nghênh, xa lánh cuộc đời của ông tôi chỉ “kính nhi viễn chi”. Nhưng trong thơ, đặc biệt là bài thơ Phương Xa, chữ How (thế nào) quan trọng hơn chữ What (cái gì) rất nhiều. Chắc một số bạn đọc cũng như tôi, không thể không khoái tài thơ của ông trong cách ông diễn tả tâm trạng và thái độ của mình. Một nhà thơ đã viết: “Nói là nói cái gì; làm thơ là nói để được cái thú nghe lời mình nói”. Đọc Phương Xa, cái thú “nghe” ông nói lớn hơn cái thú được biết ông nói gì rất nhiều. Điều thi sĩ nói có người đồng ý, có người không, nhưng cái cách ông nói thì hấp dẫn quá, ngôn ngữ của ông cao sang quá; qua tài thơ độc đáo của mình ông đã đưa ý tưởng vào 2 khổ chính của bài thơ, tạo nên một khung cảnh thơ rất đẹp, hình ảnh lãng mạn, nên thơ, gây ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc.

Cấu Trúc Thơ hay Trận Địa Chữ Nghĩa của Phương Xa

Về hình thức, đây là bài thơ bát ngôn (8 chữ) trường thiên gồm 16 câu được chia làm 4 khổ, mỗi khổ 4 câu. Vần gieo gián cách (1/3, 2/4) rất chân phương, nghĩa là tác giả áp dụng cách gieo phần của thơ mới (ảnh hưởng Pháp) rất đúng nguyên tắc, rất cứng:

Khổ 1: sóng rộng, Đoài vơi.
Khổ 2: đứa nữa, khinh đênh.
Khổ 3: kỷ dị, vơ sơ.
Khổ 4: tắt hắt, khoan ngoan.

Có thể nói món chè Phương Xa được nêm hơi nhiều đường; bài thơ có vần khá đậm. 

Khuyết điểm chính của bài thơ là Phân Bổ Lực Lượng Không Cân Xứng. Tứ thơ được gói ghém, cô đọng ở khổ 2 và khổ 3. Khổ đầu và khổ cuối chỉ làm nhiệm vụ mở đề và kết luận. Như vậy mở đề và kết luận hơi dài, không cân xứng so với phần chính của bài thơ. Và vì hơi dài nên đã sinh ra môt số khuyết điểm khác:

* Khổ thơ đầu tiên có đoạn:
       Nhổ neo rồi thuyền ơi! Xin mặc sóng
       Xô về Đông hay dạt tới phương Đoài.          
ý trùng lặp với khổ thơ thứ 2:
      Bể vô tận sá gì phương hướng nữa
      Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy lênh đênh.

* Khổ đầu có hai câu thơ hơi khó hiểu:
      Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng,
      Lòng cô đơn cay đắng họa dần vơi.

Tại sao lại họa dần vơi? Nếu cho rằng chung đụng với xã hội là một tai họa thì khi đã ở trên thuyền “Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng” thì tai họa sẽ tự động biến mất chứ làm sao mà “dần vơi” được? Theo tôi, đọc đến “họa dần vơi” người đọc hơi bối rối, không biết tác giả muốn nói gì. Nhóm chữ ấy đã tạo một khoảng tối trong khung cảnh thơ trong sáng.

•      Khổ cuối chỉ có câu “Thuyền ơi thuyền! Theo gió hãy cho ngoan” là cần thiết (ý nói thuyền vẫn tiếp tục trôi); ba câu trước được đưa vào, theo tôi, chỉ để cho đủ số câu, số chữ, cho đủ một khổ thơ của thể thơ bát ngôn trường thiên, không giúp ích gì nhiều cho bài thơ.

Tóm lại, Phương Xa là một bài thơ hay, được đông đảo những người ham chuộng văn chương (đặc biệt là ở miền nam, trong đó có tôi) yêu thích. Thuở còn học Đệ Nhị (lớp 11 bậc trung học) tôi đã có lần làm một bài nghị luận văn chương trong kỳ thi lục cá nguyệt (nửa niên học) mà đề tài liên quan đến bài thơ Phương Xa. Lúc ấy tôi đã nổi hứng luận bàn, lý giải và đã được thầy giáo cho điểm cao nhất lớp. Nhắc đến tâm trạng chán chường, lánh xa nhân thế người ta thường trích những câu trong khổ 2 hoặc khổ 3 của bài thơ, coi như là những chứng cớ hùng hồn, đắt giá. Tôi chợt liên tưởng đến một đội banh có một nửa là những cầu thủ siêu sao, kỹ thuật cá nhân điêu luyện, lối chơi hấp dẫn. Hễ banh đến chân họ là khán giả reo hò vang dậy, cổ vũ nhiệt liệt; hình như khán giả không để tâm lắm đến các cầu thủ khác trong đội. Nhưng dưới con mắt của người am tường túc cầu thì đội banh ấy có đội hình vá víu, phân bổ lực lượng không hợp lý, đấu pháp toàn đội không chặt chẽ, bộc lộ nhiều sơ hở, nếu so sánh với những đội banh cùng đẳng cấp khác chắc chắn sẽ không được đánh giá cao. Bài thơ Phương Xa cũng thế. Hai khổ thơ chính gồm những câu thơ gây ấn tượng mạnh mẽ, đọc rồi sẽ rất khó quên. Đó là những câu thơ hay tuyệt, có khả năng hớp hồn độc giả. Nhưng nếu xét bài thơ một cách tổng thể, toàn diện thì thế trận chữ nghĩa của bài thơ còn lỏng lẻo, ý trùng lặp, có nhiều câu chữ dư thừa.

Nhà văn Mai Tú Ân trong bài Phương Xa – Thơ Vũ Hoàng Chương (2)  - Giới Thiệu Những Bài Thơ Việt Nam Hay Nhất đã mạnh miệng khen rằng: “Và bài thơ này cũng là bài thơ ‘Tổ’ được đọc nhiều nhất, được thuộc nhiều nhất trong cộng đồng oversea hải ngoại.” (sic) Theo tôi, Mai Tú Ân, với cảm xúc chủ quan của mình, không phân tích kỹ lưỡng, cho Phương Xa là “bài thơ Tổ”, là đã tán dương bài thơ quá lố.

Trong một bài khác, Giới Thiệu Bài Thơ Phương Xa Của Vũ Hoàng Chương (3), Mai Tú Ân còn viết:

 "Bài thơ được viết theo thể thơ mới 8 chữ, và cũng trở thành một bài thơ kinh điển của thể thơ này. Với chỉ 16 câu bình dị, đậm đà luyến lái (4) nhưng lại thống thiết làm sao với các vần điệu cứ đưa cao cao (TRẮC TRẮC) lên mãi. Những câu thơ không gọt rũa (4), bình thường nhưng lại đắc địa đến từng chữ một."

Như tôi đã phân tích ở trên, Phương Xa ở khổ đầu tiên có đến 11 chữ trùng lặp ý với khổ 2, ở khổ cuối thì 3 câu (24 chữ) được đưa vào chỉ để “đứng chơi” chứ không có đóng góp gì đáng kể cho tứ thơ. Bởi vậy khi nhà văn Mai Tú Ân phán một câu xanh rờn: “Những câu thơ không gọt rũa (4), bình thường nhưng lại đắc địa đến từng chữ một” thì tôi chỉ còn biết cúi đầu thán phục, bởi đó là một lời bình “quá ư liều mạng.”

Kết Luận

Vũ Hoàng Chương di cư vào nam nên mặc dù “đa mang nghiện ngập” lại có cái nhìn về xã hội, con người rất “ngược đời”, có thể là chướng ngại vật cho sự đào tạo thế hệ trẻ trong xu hướng phát triển mới, nhưng vì thi tài của ông, vì vẻ đẹp cao sang, lộng lẫy của thơ ca, vì giá trị nghệ thuật tự thân của tác phẩm, thơ của ông vẫn được Bộ Giáo Dục xếp vào chương trình giảng dạy ở bậc trung học. Ông từng là Chủ Tịch Trung Tâm Văn Bút Việt Nam, mấy lần được trao giải thưởng Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc, được đại diện các thi sĩ Việt Nam tham dự Hội Nghị Thi Ca Quốc Tế, được đại diện Văn Bút Việt Nam tham dự Văn Bút Quốc Tế, được vinh danh là Thi Bá Việt Nam và được văn thi sĩ và những người yêu chuộng văn chương hết mực quý mến, thương yêu. Ngoài việc dạy Việt Văn ở Chu Văn An (một trường trung học công lập danh giá ở Sài Gòn) ông còn dạy thêm ở vài trường tư thục khác. Tôi có cơ may được nghe “ké” ông giảng văn mấy buổi ở trường Hồng Lạc (đường Trần Quốc Toản) và được trò chuyện với ông. Nhưng phải đến lúc qua cái tuổi “tri thiên mệnh” tôi mới thực sự cảm và “thấy” được cái hay, cái đẹp, cái độc đáo, cái hồn trong một số bài thơ của ông. Bài thơ hay nhất của ông, theo tôi, rất xứng đáng với danh hiệu “tuyệt tác thơ ca”, đã đưa ông vào vị trí của vì sao chói sáng nhất giữa vùng trời thơ mới. Có điều Phương Xa không phải là bài thơ đó.

TEXAS 09/2015
Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com



CHÚ THÍCH:
1/ Tập Thơ Say (có bài Phương Xa) được xuất bản năm 1940.
4/ luyến lái: đúng ra phải là luyến láy. Gọt rũa: đúng ra phải là gọt dũa hay gọt giũa
THAM KHẢO:



READ MORE - ĐỌC BÀI THƠ "PHƯƠNG XA" BẰNG ĐÔI MẮT BÌNH PHẨM NGHIÊM TÚC - Phạm Đức Nhì

HẢI LĂNG ĐẤT MẸ NGỌT NGÀO - thơ Mai Thanh Tịnh - nhạc Quỳnh Hợp - trình bày Y Jang Tuyn

READ MORE - HẢI LĂNG ĐẤT MẸ NGỌT NGÀO - thơ Mai Thanh Tịnh - nhạc Quỳnh Hợp - trình bày Y Jang Tuyn

Tuesday, September 15, 2015

SÓNG VỖ MẠN THUYỀN - thơ Phan Nam

Tác giả Phan Nam










SÓNG VỖ MẠN THUYỀN

Lá cờ phấp phới tung bay
Trên những chuyến vươn xa ngàn khơi Tổ Quốc
Có vị mặn đầy ắp trên môi
Nghe tin cơn bão xẹt ngang bầu trời

Những dáng người vời vợi ngóng trông

Biển thầm thì bao hồi chuông linh thiêng
Của bốn bề cuồn cuộn yêu thương
Tất tả ngược xuôi góp những điều bé nhỏ
Và đất nước lớn lên như thế

Thuở ấu thơ nhìn những chuyến tàu ra khơi
Chở ước mơ của niềm tin và hạnh phúc
Chở hương biển thì thầm lời mẹ ru
Cơn mơ nào ròng rã mùa bão xa

Vượt trùng khơi theo muôn ngàn sóng vỗ
Con thuyền vững chãi giữa đại dương
Nuôi trái tim lớn lên cùng đất nước
Mạn thuyền thúng in hình bố mỉm cười…

Đà Nẵng, 14.9.2015

PHAN NAM
READ MORE - SÓNG VỖ MẠN THUYỀN - thơ Phan Nam

Monday, September 14, 2015

ĐỌC “TỐNG BIỆT HÀNH” THƠ THÂM TÂM - Châu Thạch



Hình từ trang sachvatranh.com


Châu Thạch
ĐỌC “TỐNG BIỆT HÀNH” THƠ THÂM TÂM
                                              

 TỐNG BIỆT HÀNH

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng…
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay…

Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như hơi rượu cay ./.
                          Thâm Tâm

Lời Bình: Châu Thạch

Bài thơ “Tống Biệt Hành” được nhà thơ Thâm Tâm sáng tác vào khoảng năm 1940. Kể từ khi ra đời đến nay đã trên 75 năm bài thơ luôn luôn được yêu thích và đã được đưa vào sách giáo khoa của học đường. Hành là một thể thơ cổ, thường được xử dụng để diễn tả một tâm trạng bi phẩn, bi hùng. Bài thơ “Tống Biệt Hành” của Thanh Tâm có hai nhân vật, người đưa tiễn và người ra đi. Tâm trạng của người ra đi được biểu hiện qua lời của người đưa tiễn và ngược lại, tâm trạng của người đưa tiễn cũng là tình cảm của người ra đi.
Vào đề với bốn câu thơ, tác giả đã cho ta nghe sự va đập dồn dập của nhiều âm thanh:

Đưa người, ta không đưa qua sông
Sao có tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?

Vế thơ có nhiều chữ “không” và lạ thay, nội chứa trong chữ “không” đó nẩy sinh chữ “có”: Không sông thì lại có tiếng sóng, không thắm thì có mắt trong, không vàng vọt thì có hoàng hôn. “Không” và “có” là hai từ đối lập nhau, lại hoà hợp trong vế thơ nầy, tạo thành âm thanh biểu hiện nỗi ấm ức trong lòng. Đọc vế thơ ta thấy ngay nhiều nghịch lý xảy ra giử cảnh và người đưa tiễn cũng như người ra đi. “Đưa người, ta không đưa qua sông/ Sao có tiếng sóng ở trong lòng?” là nghịch lý xảy ra đối với người đưa tiễn, và “Bóng chiều không thắm, không vàng vọt/ Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?” là nghịch lý xảy ra đối với người ra đi. Khung cảnh bên ngoài đối chọi với tình cảm trong lòng là một nghệ thuật điêu luyên trong sáng tác. Tác giả dùng phương pháp “tá khách hình chủ” nghĩa là mượn cái nầy để làm nổi bậc cái kia giống như Nguyễn Du đã dùng cái đẹp của Thuý Vân để gần cái đẹp của Thuý Kiều, làm cho Thuý kiều nổi bậc thêm lên. Ở đây Thâm Tâm đã dùng hai sự kiện “không” và “có”, mục đích dùng cái không của không gian để làm nổi cộm lên cái có trong tâm hồn. Cái có ở đây là nỗi buồn ly biệt.
Qua vế thứ hai của bài thơ:

Đưa người, ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình một dửng dưng...
Li khách! Li khách! Con đường nhỏ
Chí lớn chưa về bàn tay không
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong

Đoạn nầy ý nói người ra đi sẽ không quay về khi chí lớn chưa thành, dầu mẹ có chết ba năm sau ngày giáp cử cũng không về để tang mẹ được. Những câu thơ ở vế thơ nầy thật rắn rỏi nêu lên sự quyết tâm của người ra đi vì chí lớn. Lời thơ như hịch xuất quân, như lời thề non nước.
Qua hai vế thơ kế tiếp như sau:

Ta biết người buồn chiều hôm trước
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót

Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...

Đoạn nầy có tác giả bình thơ nhận xét rằng “Không những tầm thường mà còn hơi “sến” nữa”. Thật ra nhà thơ Thâm Tâm rất rành tâm lý. Ở hai vế thơ trên biểu hiện niềm đau quặn thắt trong lòng người đưa tiễn, sự xúc động đã dâng lên cao độ khi thốt lên tiếng kêu đau thương “Li khách! li khách!”. Qua hai vế thơ nầylời thơ trở nên kể lể vì niềm đau đã được nén xuống, hơi thở nhẹ đi, con tim bình tịnh lại.Nỗi đau không còn là ngọn lửa bùng lên nữa mà bây giờ nó là ngọn lửa âm ỉ đốt cháy trong lòng. Lời thơ kể lể ở đây không phải là “tầm thường”, không phải là “sến” mà nó là dàn nhạc trầm lặng da diết, sau khúc nhạc gầm thét diễn tả nỗi đau trong lòng nhân vật.

Vế chót của bài thơ như sau:

Người đi:? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay
Chị thà coi như là hạt bụi
Em thà coi như ly rượu cay

Có người cho rằng vế thơ nầy “Quá cứng cỏi. lạnh lùng và vô tình”. Thật ra đây là một vế thơ rất hay, nó cho thấy bút pháp tài hoa của tác giả. Những điều mà người ra đi phủ nhận trong vế thơ nầy chính là những điều mà người ra đi canh cánh bên lòng.Chữ “thà” ở đây không có nghĩa là “ xem như không có” mà chữ “thà” ở đây có nghĩa là “không bỏ đi được”. Nếu người ra đi ngày ấy xem mẹ như lá, chị như bụi và em như ly rượu cay thì người đó không đáng để đưa vào thơ. Ta hãy đọc một đoạn thơ có chữ “thà” trong bài “Khúc Tình Buồn” của Nguyễn tất Nhiên để hiểu thêm về chữ “thà’ của Thâm Tâm: “ Người từ trăm năm/ về qua sông rộng/ ta ngoắc mòn tay/ trùng trùng gió lộng/ thà như giọt mưa/ vỡ trên tượng đá/ thà như giọt mưa/ khô trên tượng đá/ có còn hơn không...”. Ta thấy rằng, khi người yêu qua sông, Nguyễn Tất Nhiên ngoắc mòn tay gọi người yêu trong vô vọng. Lúc đó nhà thơ càng dùng chữ “thà” thì càng đau đớn gấp bội. Tình yêu lúc đó càng mảnh liệt đến nỗi nhà thơ muốn “Thà như giọt mưa” thì vẫn còn có để đến với em hơn là không chi hết. “Thà” của Nguyễn tất Nhiên và Thâm Tâm là từ ngữ đã vượt ra ngoài nghĩa của cái chữ thường tình. Nó khẳng định một tình yêu mảnh liệt với người yêu trong thơ Nguyễn Tất Nhiên và nó cũng khẳng định một tình yêu mảnh liết với mẹ, với chị, với em trong thơ Thâm Tâm. 

Gần đây có ý kiến cho rằng “Mức độ nổi tiếng của Tống Biệt Hành không tương xứng với giá trị nghệ thuật của nó vì các lý do sau:

-           Được Hoài Thanh là nhà phê bình danh tiếng ưu ái giới thiệu trong Thi Nhân Việt Nam. Do đó người sau vì uy tín của Hoài Thanh và Thi Nhân Việt nam cứ thế ca ngợi, tán dương theo.

-           Được cả chính quyền miền Bắc và miền Nam Việt Nam cần người lên đường phục vụ cho chế độ nên giúp sức phổ biến vì lý do chính trị.

-           Được đưa vào nhà trường giảng dạy nên thầy giáo, học sinh cứ tán tụng, không dám bày tỏ ý kiến đối nghịch vì sợ bị trù dập.”
Nhận xét như thế tôi cho là quá bất công với Tống Biệt Hành vì:

-           Hoài Thanh không ưu ái với nhà thơ Thâm Tâm mà Hoài Thanh chọn Tống Biệt Hành để đưa vào Thi Nhân Việt Nam với sự công tâm đánh giá nghệ thuật như bao bài thơ của các tác giả khác thời bấy giờ. Uy tín của Hoài Thanh đủ khẳng định cho Tống Biệt hành có giá trị nghề thuật cao. Truyện Kiều của Nguyễn Du mà còn có người dám chỉnh sửa lại thì Tống Biệt Hành là cái gì mà 75 năm qua mọi người nhắm mắt tán tụng nó theo Hoài Thanh. Điều đó không thể nếu tự Tống Biệt Hành không có giá trị ngang tầm với danh của nó.

-           Chình quyền miền Bắc và miền Nam trước 1975 có hàng vạn bài thơ phục vụ cho chế độ mình trực tiếp và cụ thể, đâu cần chi một bài thơ Tống Biệt Hành nói về một sự ra đi vu vơ không mục đích rỏ ràng.

-           Bài thơ được đưa vào nhà trường tức là được chọn lọc. Thêm một lần nữa khẳng định giá trị nghệ thuật cao của bài thơ. Nhiều năm qua kể từ khi bài thơ được giảng dạy đến nay, không có dư luận nào chê trách việc giảng dạy Tống Biệt Hành. Điều đó chứng tỏ giá trị nghệ thuật của  Tống Biệt Hành được đánh giá đúng nên không có sự phản hồi, phản bác, đối nghịch trong công luận.

Thật ra với thời gian 75 năm, kịnh nghiệm cho ta thấy có nhiều tác phẩm hời hợt, được vinh danh gượng ép vì một lý do nào đó đã lần lược mai mọt hết với thời gian rồi. Riêng Tống Biệt Hành của Thâm Tâm, nó vẫn còn sống thắm tươi trên diễn đàn văn học và trong lòng nhiều thế hệ. Nó không chết đâu, và mức độ nổi tiếng của nó rất tương xứng với giá trị nghệ thuật của chính nó vì Tống Biệt Hành là khúc ca tiễn biệt rất hay mà tiễn biệt thì ở thời đại nào cũng có xảy ra ./.

                                                                Châu Thạch
READ MORE - ĐỌC “TỐNG BIỆT HÀNH” THƠ THÂM TÂM - Châu Thạch

BIỆT HỒ CHIỀU - KHÚC BÊN ĐỒI - thơ Huy Uyên

Ảnh: Nguyễn Đăng Đệ


BIỆT HỒ CHIỀU

Rồi dòng nước xưa cũng chia hai
bên hồ mịt mù hơi thở
về đâu nỗi nhớ
hồ chiều ngậm sương.

Em đi lâu rồi phải không
bỏ chiếc bóng cô-đơn ở lại .

Còn có ai trong chiều
đứng ngậm ngùi mong đợi
mưa cũng không buồn tới
nằm ngũ dưới chân đồi.

Đám con gái cuối dốc xa lạ
tiếc chi một giọng cười
dỗ mãi thu vàng màu lá.

Phải chi rồi có lúc em quay về
đất trời bão dông trùng điệp
tiếng ai gọi chiều tha thiết.

Biệt hồ chiều ..
.
(Đà-lạt 1992)
Huy Uyên


         KHÚC BÊN ĐỒI

Bỏ lại nổi buồn trên đồi
nên chiều không về kịp
sương đêm ngủ màu trăng non.

Hôn môi lần cuối
đâu rồi kỷ-niệm
nửa đời mê đắm cuồng điên
người xưa ơi tội nghiệp
giữ hoài chi quá-khứ bầm đen .

Không còn ai
chỉ một mình với Đà-lạt
nghiêng trời treo ngang tâm-sự
chém vết thương sâu tim người.

(Nàng thản nhiên đứng nhìn
rõ ràng giấc mơ của quỷ).

Ta bỏ quên bản thảo đời quá sớm
rao bán linh-hồn đi hoang
chùm tulip bỗng thở dài ngao ngán
hỏi người nuối tiếc điều gì .

Ngọn đồi nào em ơi
chỉ cho ta ngực trần thiếu-phụ
dịu dàng chôn.

Đâu đó phía ngã tư, ngã năm
bên hồ chỉ còn lại gió
chỉ có gió thôi và tiếng thở dài.

(Đà-lạt 1992)
Huy Uyên


READ MORE - BIỆT HỒ CHIỀU - KHÚC BÊN ĐỒI - thơ Huy Uyên

NHÌN - BƯỚC THU VỀ - thơ Trường Hải Lê Văn Đông



Ảnh: Mai Lĩnh


NHÌN

            Nhìn lên thấy trời cao
            Nhìn xuống thấy đất thấp
            Nhìn ngang thấy tất bật
            Cuộc sống chảy đêm ngày.
            Trời chứa gì chẳng biết
            Đất chứa gì không hay
            Chỉ biết cuộc sống này
            Chứa bao điều bề bộn.
            Trái đất này thì lớn
            Chiến tranh và hòa bình
            Chủ quyền và tranh chấp
            Chưa bao giờ bình yên.
            Mặt đất này cao thấp
            Giàu nghèo còn bất cân
            Cao sang và lấm láp
            Nhấp nhô những kiếp người.                                        
            Ước đất bằng, trời rộng
            Mở tấm lòng bao dung
            Nhìn ngang ta được thấy
            Nhân loại gặt mùa vui.

                                
Đỉnh Sơn , 3/5/2015                                         

TH LVĐ


BƯỚC THU VỀ 
                     
Gió nhè nhẹ rung rinh vờn hoa lá      
Mây mỏng tang lơ lửng giữa bầu không        
Nắng vàng nhạt nhuộm đất trời dịu ngọt      
Cơn mưa ngâu bất chợt ghé đôi lần.  
Ngào ngạt tỏa không gian mùi hoa sữa         
Đóa quỳnh hương khắc khoải đợi trăng lên  
Ngoài ngõ nhỏ khóm cúc vàng khoe sắc       
Lá rời cành hướng mặt đất chao nghiêng.     
Không ồn ã nồng nàn như hạ đến      
Thu đã về êm ả bước thần tiên.
           
Đỉnh Sơn, 6/9/2015   
Trường Hải Lê Văn Đông
READ MORE - NHÌN - BƯỚC THU VỀ - thơ Trường Hải Lê Văn Đông

48 NĂM XƯA - thơ Chu Vương Miện

48 NĂM XƯA

em con cháu đầy đàn
xưong bọc lấy da gầy ngang que củi
chân anh bị gout
đi cà nhắc
đi xa chả nổi
cũng may chả sống với nhau
cũng không gì tiếc hối
48 năm thoáng như cơn gió thổi

*
con vịt đẻ trứng
để cho gà ấp và nuôi
lớn lên vẫn là con vịt
con chim tu hú đẻ nhờ
vào tổ con chim dòng dọc
lớn lên vẫn là con tu hú
con tôm nhện ký cư trong vỏ ốc
vẫn là con tôm mượn hồn

*
vết chàm trên mõm chó mực
y chang em
háo danh bon chen
ké vào người khác
vài sợi tóc đen
vài sợi lưa thưa bạc
em rúc trong lồng
giống y con kéc


chết rồi chả biết gì
sống thì biết nhiều thứ
làm dân cũng khổ
làm tù khổ hơn nhiều
đi tu khoẻ một chút
có vợ khổ theo vợ
có con khổ theo con
sống độc thân
ốm đau không ai săn sóc
nằm chèo queo chờ chết
không ai chôn
và cũng không ai cất?

chu vuơng miện





READ MORE - 48 NĂM XƯA - thơ Chu Vương Miện

LỜI NGUYỆN CẦU - MẸ - thơ Trần Đức Trí

Sông Ô Giang, Hải Lăng, Quảng Trị. Ảnh Nguyễn Vỹ.


Chùm thơ Trần Đức Trí

LỜI NGUYỆN CẦU

Tôi trở về Quảng Trị
Trong đoàn người hành hương
Thắp nén nhang tôi khấn:
Siêu sinh nơi vô thường!

Ơi bao nhiêu đồng đội
Hóa thân làm Cổ Thành!
Những bát hương đỏ máu
Cháy ngút trời biếc xanh.

Và những hồn bối rối
Sáng tối giữa âm dương
Không tượng đài bia đá
Có về trong khói hương?

Phiêu diêu trên mặt đất
Áng mây chiều ngẩn ngơ
Hay nông sâu chìm nổi
Sông trăng giăng sương mờ...

Trên đôi bờ Thạch Hãn
Núi sông tươi một màu
Có hai bờ hư thực:
Hạnh phúc và thương đau!

Độc lập và thống nhất
Tự do và hòa bình
Hoa nở trong nước mắt
Từ xương máu hy sinh.

Hỡi những linh hồn Việt
Hãy quây quần bên nhau!
Trong thẳm sâu Hồn Nước         
Chắp tay tôi nguyện cầu.

Quảng Trị, ngày 30/04/2015.
TĐT


MẸ

Con hạnh phúc được làm con của mẹ!
Giọt máu hồng lòng mẹ nở hoa
Hồn con đẫm lời ru từ tấm bé
Những cánh cò bay lả bay la…

Chúng con bay qua những dòng sông mẹ
Những cánh đồng ngô lúa xanh tươi
Ánh mắt mẹ hiền như trái đất
Dõi theo con như­ biển như trời.

Mẹ kết tinh trong từng hạt gạo
Nuôi chúng con lớp lớp nên người
Tấm lư­ng còng cõng trời bão tố
Mặn mòi hạt muối chứa trùng khơi.

Ngọn lửa thiêng truyền từ tim mẹ
Sang tim con thành ánh mặt trời
Dòng suối nguồn từ bầu sữa mẹ
Sang hổn con tưới mát muôn nơi.

Con sợ lắm ngày mai vắng mẹ
Tình mẹ con là máu trong người
Dòng máu đỏ thấm vui buồn dâu bể
Đến bạc đầu con vẫn sợ mồ côi!

Mẹ trường tồn nh­ư dân tộc Việt
Tiếng đàn bầu vút dậy ngàn khơi
Chúng con nâng tà áo dài đất nướíc
Ca ngàn năm: Tổ Quốc Mẹ hiền ơi!

Thái Bình, ngày 31/10/2011.

TĐT
tranductrihp@gmail.com
READ MORE - LỜI NGUYỆN CẦU - MẸ - thơ Trần Đức Trí

MẸ LÀ TẤT CẢ - thơ Dương Thị Tuệ




MẸ LÀ TẤT CẢ

Mẹ ơi! Gọi mẹ không thưa
Hỡi ôi! Mẹ đã cùng mưa đi rồi
Mẹ đi, con trẻ bùi ngùi
                      Khóc than thương mẹ một đời vì con                   
Thân gầy lòng mẹ héo hon
    Chắt từng dòng sữa cho con ngày ngày.
Cuối thu, ngày tháng năm đầy
Nén nhang dâng mẹ ơn dày mẹ ơi!

                    Tháng 7- 2015

DƯƠNG THỊ TUỆ
Sinh năm: 1936
Thái Hòa-Hòa Mạc
Duy Tiên- Hà Nam


READ MORE - MẸ LÀ TẤT CẢ - thơ Dương Thị Tuệ

CHỐN PHIÊU BỒNG - TIỀU PHU - thơ Vũ mạnh Quang


Ảnh Cao Hữu Điền


CHỐN PHIÊU BỒNG

Sa Pa lại rủ ta rồi
Hút hồn nhau thế nhận lời là đi
Đêm huyền ảo ngắm trăng khuya
Từng đàn cò trắng bay đi không về

Bình minh đẹp đến diệu kỳ
Mặt trời đỏ rực rỡ về tắm sông
Mượn chiều một ánh hoàng hôn
Cho em lưu giữ đường cong ảnh hình

Bơi theo sóng lúa dập dềnh
Ruộng bậc thang uốn lượn mình trong mây
Trời không uống rượu mà say
Suối sông đồi núi hây hây má hồng

Em là tiên nữ phải không?
Để anh lạc chốn phiêu bồng Sa Pa 

VMQ

Tác giả Vũ Mạnh Quang


TIỀU PHU

Tiều phu
Kiếm đủ củi rồi
Chờ em gió thổi
Nguội Trời mới đi
Cà tàng
Cưỡi một con xe
Tối về
Ôm cái đài rè rè sôi...

Họa hoằn
Được cốc bia hơi
Nướng con rắn mối
Làm mồi ngất ngư
Đêm đêm
Nhờ sóng biển ru
Ánh Trăng xoa mắt
Tiều phu ngủ rồi...

Sớm mai
Dậy trước Mặt Trời
Lao vào ngày mới
Cho đời cũ thêm...


                       Vũ Mạnh Quang
READ MORE - CHỐN PHIÊU BỒNG - TIỀU PHU - thơ Vũ mạnh Quang