Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, July 4, 2015

MẠN ĐÀM VỀ "TAM NAM BẤT PHÚ" - Đặng Xuân Xuyến


             
             MẠN ĐÀM VỀ "TAM NAM BẤT PHÚ"
                                                                            Đặng Xuân Xuyến 


Ngạn ngữ người Việt có câu:
         “Tam nam bất phú
          Tứ nữ bất bần”

Hiểu đơn giản:
Gia đình nào sinh được (chỉ) 3 người con trai thì gia đình đó không thể giàu. Còn gia đình nào sinh được (chỉ) 4 người con gái thì gia đình đó không thể nghèo.
Lý do:
Con trai thường hay lêu lổng, không chí thú làm ăn, cha mẹ lại phải chi phí những việc lớn cho các “quý tử” như: Học hành, cưới vợ, làm nhà... nên tốn hết tiền bạc của cha mẹ đã kiến tạo, vì thế mới nghèo.
Con gái thường chịu thương chịu khó, cha mẹ không phải chi phí các việc lớn như gia đình có con trai nên tiền của tích góp được mà trở nên giàu. (Ngày xưa con gái không được đi học, khi lấy chồng thì cơ bản gia đình chồng lo cho đám cưới (thông qua thách cưới của họ nhà gái)
Đấy là hiểu đơn giản là sinh nhiều (3) con trai sẽ nghèo nhưng theo thiển nghĩ của tôi thì cổ nhân chỉ mượn câu “tam nam bất phú” để ám chỉ điều “huyền bí và tối kỵ” của con số 3 huyền cơ trong văn hóa tín ngưỡng của người Việt, nếu không đã không có câu “Tứ tử trình làng” để nói về sự vinh hoa phú quý của một gia đình khi sinh được bốn người con trai (?). Ngay trong câu “Tam nam bất phú / Tứ nữ bất bần” đã là một đôi câu đối hoàn chỉnh về sự huyền bí (sinh, tử, sang, hèn...) của các con số 3 và 4 trong tín điều của người Việt. Rất tiếc, tôi mò mẫm mà đoán vậy, chứ trình độ và sự hiểu biết của tôi chỉ a bờ tờ nên không thể hiểu để lý giải được ẩn ý của người xưa khi nhắc tới con số 3 trong “tam nam bất
 phú”, vì thế mới giãi bày lên đây để mong nhận được sự chỉ giáo quý báu của quý vị.
Trở lại với câu ngạn ngữ: Tam nam bất phú / Tứ nữ bât bần xem thực tế (chỉ có 3 trai hoặc 4 gái) có phải vậy không?
Thật sự rất khó đưa ra câu trả lời vì nếp sống bao đời của người Việt về đường con cái là phải “có nếp có tẻ”, phải có “thằng cu nối dõi” nên sẽ rất hiếm trường hợp nhà “chỉ có 3 thằng con trai” hoặc “chỉ có 4 đứa con gái”. Vì thế , “đối tượng” tra cứu cần được mở rộng: Nhà có 3 anh em trai + 1, 2 chị (em) gái và nhà có 4 chị em gái + 1, 2 anh (em) trai.
Vậy trong trường hợp: 3 TRAI + 1, 2 GÁI thì lời đúc kết của cổ nhân có đúng thế không?
Xin thưa: Không phải vậy! Thực tế, nhiều gia đình sinh 3 con trai mà kinh tế (bố mẹ) vẫn thuộc diện khá giả, có gia đình còn thuộc diện giàu “nứt đố đổ vách”, “tư sản hiện đại”. Sự giàu có đó còn kéo dài đến tận đời con, đời cháu sau này...
Vậy nên hiểu câu: “Tam nam bất phú” như thế nào? Theo thiển ý của người viết, chữ phú ở đây không nên hiểu theo nghĩa chỉ sự giàu có mà hiểu theo nghĩa chỉ sự phú quý thì mới thấy được “ẩn ý” mà cổ nhân đúc kết.
Qua kiểm chứng những gia đình có 3 anh em trai (chỉ 3 anh em trai rất hiếm gặp, mà cơ bản có thêm chị em gái) tôi thấy thường sảy ra (ít nhất là 2/3) các tình huống
- Bất hòa trong gia đình, kể cả sau này khi 3 anh em trai đã yên bề gia thất.
- Tai họa sảy ra cho 1 trong 3 người con trai: Nặng thì có người chết sớm (thường là chết trẻ, chưa có con cái), nhẹ thì bị tàn tật như thối tai, què chân hoặc những chứng bệnh nan y khó chữa..
- Đường hôn nhân của 1 trong 3 anh em trai gặp phải trắc trở, thiếu may mắn, không được trọn vẹn.
Có lẽ, đây mới là điều mà cổ nhân đúc kết: Nhà có 3 anh em trai thì khó có được sự phú quý, phúc thọ.
Tôi đã vào google để tra cứu những “liên quan” về câu ngạn ngữ TAM NAM BẤT PHÚ nhưng rất tiếc, kể cả làm thế nào để cải “tam nam bất phú” cũng không tìm được nên đành mạo muội đưa ra đề xuất như sau:
- Ba anh em trai nên sống xa nhau (về khoảng cách địa lý), càng xa càng tốt.
- Bố mẹ nên nhận một người con trai làm nghĩa tử, hoặc nếu bố mẹ khuất bóng rồi thì ba anh em cùng nhận thêm một anh hoặc em trai kết nghĩa.
- Nên làm con nuôi dòng họ khác (gia đình nghĩa phụ phải có con trai) để tránh cảnh huynh đệ tương tàn và đem lại may mắn cho bản thân.
- Lấy đức để cải số.
Vài dòng tản mạn về câu thành ngữ: TAM NAM BẤT PHÚ, hy vọng sẽ nhận được chỉ giáo của mọi người để câu thành ngữ TAM NAM BẤT PHÚ không còn là nỗi ám ảnh, hãi sợ của nhân gian...

                                                                 Đặng Xuân Xuyến

                                               Hà Nội, ngày 07 tháng 12 năm 2012

READ MORE - MẠN ĐÀM VỀ "TAM NAM BẤT PHÚ" - Đặng Xuân Xuyến

Chiều Trên Sông Thạch Hãn - Ảnh Văn Kế Thế

(Bấm chuột vào ảnh để xem to hơn)


READ MORE - Chiều Trên Sông Thạch Hãn - Ảnh Văn Kế Thế

TIẾNG GÀ TRƯA & NỖI NHỚ THƯƠNG HOÀI NIỆM MỘT ĐỜI - Tạp bút Mang Viên Long





Mang Viên Long    

TIẾNG GÀ TRƯA

& NỖI NHỚ THƯƠNG HOÀI NIỆM MỘT ĐỜI

Tạp bút

          
       Ở đâu đó trong các làng quê, ngỏ hẻm hay phố thị Việt Nam ngày xưa, tiếng gà gáy trưa vẫn thỉnh thoảng vang lên, rời rạc, đơn độc, giữa trưa hè oi nồng im vắng, nhưng âm thanh ấy lại có sức cuốn hút thật lâu dài trong lòng người như điệp khúc quen thuộc mà thật da diết của Quê Nhà…

       Tiếng gà vang lên trong nắng trưa hanh vàng, trong nỗi lặng lẽ của đời sống tạm ngưng nghỉ sau một buổi quần quật bươn chải vì cơm áo.

       Âm thanh ấy, có lắm người nghe quen đến nỗi chằng hề để ý, thậm chí không lưu lại chút cảm xúc nào. Cứ mặc cho tiếng gà eo óc cô đơn… Cho đến một ngày, chợt nghe tiếng gà trưa vọng lại, và lòng bỗng rộn lên một niềm hoải cảm mênh mông…

       Tiếng gà gáy trưa khác hơn tiếng gà gáy buổi sáng: Âm thanh khô khốc bất chợt vang lên, lẻ loi, rồi lặng im ngay sau đó! Lặng im cùng cái nắng oi bức nặng trĩu. Âm thầm cùng cõi vô cùng của đất trời hiu quạnh chung quanh! Nếu là người đang xa quê – tha hương, thì âm thanh đơn điệu cũ càng ấy sẽ trổi dậy, ray rức, thôi thúc, mãnh liệt hơn - một nỗi niềm diệu vợi xa xôi chẳng bao giờ dứt. Tiếng gà trưa âm vang mãi mãi trong nỗi nhớ thương hoài niệm một đời biển dâu, chìm nổi!

        Nhà thơ Hoàng Lộc đã bắt gặp “tiếng gà trưa”  nơi phố người hoa lệ từ bên kia đại tây dương và đã thao thức, đã dằn vặt với bao nỗi nhớ Quê tha thiết không cùng trong một trưa khó ngủ nơi xứ người theo tiếng gà xao xác vọng lại từ nhà một hàng xóm:

            
“ông bạn Mễ xứ người kiếm sống              
còn mang theo trưa những tiếng gà              
ta nhiều năm nỗi đời nỗi mộng              
ơn láng giềng thêm nỗi quê xa...”                
                                 (Qua Vườn Nhà Một Hàng Xóm Mễ Tây Cơ, Nghe Tiếng Gà Trưa)

           Sự nhạy cảm quá đổi tinh tế của nhà thơ làm sống dậy nỗi xúc dộng dịu dàng mà sâu thẳm vì “tiếng gà trưa” lạ lẫm trong thinh vắng của cõi người đã khiến nhà thơ chợt nhận ra cái tầm thường - rất tầm thường của đời sống quanh anh, mà bấy lâu chưa nhận thấy:
           
“ông bạn Mễ xứ người kiếm sống              
còn mang theo trưa những tiếng gà”

           Dù đã lưu lạc xứ người vì cơm áo nhưng ông bạn làng giềng không hề quên quê hương, kỷ niệm, người thân yêu của mình nơi một làng quê xa xôi cách biệt nào đó tận xứ Mễ Tây Cơ! Vẫn còn “mang theo trưa những tiếng gà” bên đời sống lận đận viễn xứ bao năm! Biết người, nghĩ lại mình:

           
“ta nhiều năm nỗi đời nỗi mộng             
ơn láng giềng thêm nỗi quê xa…”

           Nhiêu năm tháng thăng trầm vì “nỗi đời/ nỗi mộng”. Nhiều năm tháng biền biệt quê xa. Bao lần khắc khoải nhớ thương “thực/mộng”. Và ngay lúc nầy đây, “qua vườn nhà một hàng xóm Mễ Tây Cơ”, nhà thơ đã thêm vào “cõi đời/ cõi mộng”  nỗi nhớ “quê xa” ngày càng quặn thắt, tràn đầy. Nếu không đáu đáu bên lòng một nỗi nhớ quê son sắt, nếu không tiềm ẩn một tình thương yêu quê nhà thường trực thôi thúc réo gọi bên đời thì làm sao một “tiếng gà trưa” đã khơi dậy một trời đau xót nhớ nhung?

         Tôi bỗng nhớ đến nhạc sĩ – nhà thơ Văn Cao trong “Mùa Xuân Đầu Tiên” đã không “vô tình” khi đưa “tiếng gà trưa” vào đoạn cuối của ca khúc để bật lên tiếng lòng chân thật nhất, thiết tha nhât, bi thương nhất, và cũng dào dạt cảm xúc nhất dành cho “mùa xuân đầu tiên” sau 75 còn bỏ ngỏ:

           
“…Giờ dặt dìu mùa xuân theo én về              
Mùa bình thường, mùa vui nay đã về.             
Mùa xuân mơ ước ấy xưa có về đâu            
Với khói bay trên sông, gà đang gáy trưa bên sông
Một trưa nắng thu hôm nay mênh mông.”

            Vậy mà  - một thời ca khúc tâm huyết tuyệt vời nầy của Văn Cao đã “bị cấm phổ biến” vì sự trung thực, vì lòng bi thương hoài niệm, vì “những mùa xuân không là mùa xuân” đã được nhắc nhở như một nỗi đau chung của dân tộc (?) nhưng rồi, hôm nay, nó đã được vang lên trong mọi nhà trong mỗi dịp Xuân về; bởi  một diều giản dị: đó là tình cảm, là tiếng lòng của tất cả mọi trái tim Việt Nam yêu Quê Hương chân chính! Khúc ca là tiếng thổn thức của niềm vui và nỗi buồn…

         Chỉ một tiếng gà trưa bình thường thôi. Nhưng âm vang quê mùa chơn chất ấy đã lôi cuốn, đã lay động bao trái tim nhớ thương Quê Nhà đến vô cùng… Thật tuyệt vời, tiếng gà trưa vẫn còn vang mãi cho đến hôm nay và cả mai sau…

                                         Quê nhà, tháng 6 năm 2012

                                               MANG VIÊN LONG

**********************
Đã đăng trên mangvienlong.blogspot.com

READ MORE - TIẾNG GÀ TRƯA & NỖI NHỚ THƯƠNG HOÀI NIỆM MỘT ĐỜI - Tạp bút Mang Viên Long

Friday, July 3, 2015

ĐÊM - Thơ Đặng Xuân Xuyến


       Tác giả Đặng Xuân Xuyến


ĐÊM
(Tặng V yêu)

Đêm bức bối
Em đè ta nghiến ngấu
Đêm chuyển màu
Cắn rách toác bờ môi.


Em ưỡn người
          Rướn ngực
                        Hé môi
Ta lách lưỡi lựa chiều yêu khớp nhịp.


Bấu chặt tay
           Em đẩy ta bắt nhịp
Đêm lõa lồ
         Rần rật
                  Đốt thịt da.


ĐẶNG XUÂN XUYẾN
Hà Nội, đêm 26 tháng 06 năm 2015


READ MORE - ĐÊM - Thơ Đặng Xuân Xuyến

CHUYỆN NGƯỜI KHIẾM THỊ - Thế Lộc đọc thơ Nguyễn Miên Thượng



Nguyến Miên Thượng

Thế Lộc

ĐỌC THƠ NGUYỄN MIÊN THƯỢNG

CHUYỆN NGƯỜI KHIẾM THỊ

Kể từ bửa đôi mắt xa nguồn sáng
Ta không còn nhận diện được người thân
Trái tim yêu vẫn nồng cháy cuộc trần
Nghe thánh thót họa mi êm lồng ngực

Nhờ có em nên đất trời tỉnh thức
Gió đầu mùa thơm phức nụ tầm xuân
Hoa cỏ xôn xao chim chóc reo mừng
Ta cảm nhận bằng trái tim hạnh phúc

Có người nói trần gian là địa ngục
Bởi mắt nhìn đầy phản trắc điêu ngoa
Nhưng cuộc đời mãi đẹp với riêng ta
Bởi còn đó những tấm lòng nhân ái

Cảm ơn đời đã cho ta tự tại
Dù đôi khi cũng chạnh nỗi niềm riêng
Cửa sổ tâm hồn ... vốn cõi thiêng liêng
Ta cam phận trời hành ... khung cửa khép!.

Xuân nở rộ những đóa hồng xinh đẹp
Ta nhận biết từng giọng nói người thân
Bên cạnh em hiền dịu sẵn chia phần
Đời vẫn sáng trong mắt người khiếm thị.

NGUYỄN MIÊN THƯỢNG

Và lần nữa tôi lại ghé về Quán Trọ, một Quán Trọ đầy ắp tình người của kẻ tài hoa khiếm thị, bằng những xót xa ray rức, bằng những cung bậc nhẹ tênh như cánh Thiên nga giữa trời cao rộng, của người bên này ngóng đợi cái bên kia, sự ngóng đợi dài theo năm tháng của một đời người, chắt chiu từng hơi thở muộn phiền, và ... lung linh từng tia sáng, tia sáng của ký ức, của sự đợi chờ vô vọng ngày qua.

     Ta bàng hoàng thương tiếc không nguôi giữa lúc bình minh, ai đã vô tình đóng chót cài then khung cửa sổ, khi lòng đang ngọt ngào dâng hiến, Nguyễn Miên Thượng xót xa thì thầm trong bóng tối mông lung dày đặc. Ta sẽ chẳng còn một ngày mới bắt đầu bằng giọt nắng trong vắt của buổi bình minh.

          Kể từ bửa đôi mắt xa nguồn sáng
          Ta không còn nhận diện được người thân

Anh buồn, buồn lắm, buồn đến mềm người trên Quán Trọ trăm năm, Tuyên ơi, Lộc ơi, râu anh đã cạo chưa? tóc anh còn bồng bềnh sương khói hay đã cắt ngắn như ngày chúng mình còn ngồi quán cà phê để " Nghe chiều xuống bên đời cơn bảo loạn " (Chiều ở quán cà phê, trang 5 ). Tim Nguyễn Miên Thượng vẫn đập đều và rung thành những cung bậc, máu vẫn luân lưu nuôi cơ thể nhọc nhằn , lòng Nguyễn Miên Thượng dạt dào yêu thương. Tiếng người vợ hiền âm vang trong tiềm thức như tiếng hót của loài chim họa mi trong khu vườn đầy hoa thơm cỏ lạ, anh buâng khuâng mỉm cười nhận ra.

          Trái tim yêu vẫn nồng cháy cuộc trần
          Nghe thánh thót họa mi êm lồng ngực

Rồi sớm mai thức dậy nghe chim hót trên cành. lá reo đưa mùa tới Nguyễn Miên Thượng thì thầm__Tạ ơn em, tạ ơn đất trời, ta còn chỗ dung thân sau ánh hồng khép lại, thương chồng , nuôi con lúc nào cũng tràn đầy như giòng nước Hoài giang ầm ào ra biển lớn, em nguyện nắm tay ta đi dài theo năm tháng, cái tinh túy của mùi thơm chung thủy đã làm ta ngây ngất trong hạnh phúc đời người, sau khi mất đi nguồn ánh sáng thiêng liêng.

           Nhờ em nên đất trời tỉnh thức
           Gió đầu mùa thơm phức nụ tầm xuân
           Hoa cỏ xôn xao chim chóc reo mừng
           Ta cảm nhận bằng trái tim hạnh phúc

Thể nào rồi ta cũng biết, cũng hiểu, trần gian là thế đó, là địa ngục, là thiên đường, là phản trắc và điêu ngoa. Nhưng ta tin ta đang sống trong những ngày hoa mộng nhất, vì quanh ta và trong em không có chỗ cho phản trắc điêu ngoa, bởi tình em chan hòa trong cuộc sống, đã vực dậy trong ta tình người và lòng nhân ái.

           Có người nói trần gian là địa ngục
           Bởi mắt em đầy phản trắc điêu ngoa
           Nhưng cuộc đời vẫn đẹp với riêng ta
           Bởi còn đó những tấm lòng nhân ái

Và thuở ấy, khi mở mắt chào đời cái đầu tiên nhìn thấy là ánh sáng, thứ ánh sáng chói chan nhưng huyền diệu, đã trở thành một phần của cuộc sống, ở đó Nguyễn Miên Thượng nhìn thấy đời qua ánh mắt loài Nai trên thảo nguyên mượt mà ngút ngát. Ánh sáng đã soi rọi từng ngăn tim luống phổi để Nguyễn miên Thượng viết lên những bài tình ca đem tưới mát cuộc đời.

     Nhưng cái nghiệp đeo bám đã lấy đi của Nguyễn Miên Thượng nguồn ánh sáng mà anh vô cùng trân quý, để đẩy đưa anh về nơi tận cùng hố đen sâu thẳm..

     Nhưng vẫn còn đó một tâm hồn cao đẹp qua thơ ca lãng mạn, qua công việc thiện nguyện, giúp người cơ nhỡ, trẻ em nghèo khó không nơi nương tựa. Đôi khi anh cũng chạnh lòng cho bản thân, nhưng anh không tiêu cực,  không than thở và anh cũng không cho rằng mình " Sinh ra đời dưới một ngôi sao xấu " mà anh phấn đấu vương lên bằng việc làm, bằng trí óc, hơn 20 tác phẩm thơ, truyện dài, truyện ngắn đã xuất bản cùng những giải thưởng Văn  học Nghệ thuật được trao, anh nhận lấy số phận an nhiên yêu đời và sống như loài Sơn Dương trên núi đá cằn khô.

           Cảm ơn đời đã cho ta tự tại
           Dù đôi khi cũng chạnh nỗi niềm riêng
           Cửa sổ tâm hồn ... vốn cõi thiêng liêng
           Ta cam phận trời hành ... khung cửa khép!.

Nhưng dù gì, thế nào thì tạo hóa cũng rất mực công bằng,  đã trả lại anh một trí nhớ siêu nhiên và sự nhạy cảm hơn người, để anh nhận biết được sự việc chung quanh.

     Sự thế đã an bày và Nguyễn Miên Thượng chấp nhận không bâng khuâng, dày vò vì " Bên cạnh em hiền dịu sẵn chia phần " Nguyễn Miên Thượng được tiếp sức bằng tình yêu trọn vẹn như thuở ban đầu của người vợ thủy chung, anh không còn ưu tư dằn vặt vì " Đời vẫn sáng trong mắt người khiếm thị " Nguyễn Miên Thượng an nhiên tự tại sống và viết như mùa " Xuân nở rộ những đóa hồng xinh đẹp" . Để tôi,  một lữ khách yêu thơ rời Quán Trọ trong an binh và thanh thản của buổi chiều có ráng hồng chói lọi phía chân trời của Người Khiếm Thị.

           Xuân nở rộ những đóa hồng xinh đẹp
           Ta nhận biết từng giọng nói người thân
           Bên cạnh em hiền dìu sẵn chia phần
           Đời vẫn sáng trong mắt người khiếm thị.

     Sông Hoài phố Hội đã nuôi dưỡng một tâm hồn thơ đầy sức sống, vượt lên mọi khắc nghiệt đời thường để trưởng thành trong muôn ngàn gian lao thử thách.

     Cảm ơn thi sĩ Nguyễn Miên Thượng đã cho đời những vần thơ yêu thương lãng mạn và êm ái như giòng nước Hoài giang quê nhà.


                         Đà Nẵng, 01.07.2015
                                    TL
READ MORE - CHUYỆN NGƯỜI KHIẾM THỊ - Thế Lộc đọc thơ Nguyễn Miên Thượng

THEO DẤU CHÂN XA - chùm thơ Phạm Phan Hòa


Tác giả Phạm Phan  Hòa


THEO DẤU CHÂN XA

Ta men lối em về
Mưa theo chân não nề
Bước chiều đâu vội vã
Mà ngày sao lê thê

Em lẫn hoài xa vắng
Ta về mùa mới qua
Người- rồi trăm năm cũ
Bỏ..ngậm ngùi, xót xa

Cũng đành thôi về hẹn
Bến sông xưa- con đò
Thương lời yêu thèn thẹn,
... Anh có tình để cho!

- Rồi chạy xa cuối bờ
... Yêu chi mà dại khờ!
Ta giữ hòai trong mắt
Xanh thẳm một trời thơ,

Dần qua ngày tháng ấy
... Em đi rồi lại về,
Nhưng sao mùa mãi rụng
Theo bước thời đê mê.

PPH


HẠ CUỐI

           *tặng B.

Có còn sót lại
Chút nắng thơm nào
Của mùa hạ cũ không em?
Có còn lời chia tay nào buồn hơn
Mỗi khi phượng hồng rơi
Thắm nhuộm sân trường
... Có lần anh về ngang ngôi trường xưa
Vắng lặng
Cùng mùa hạ nào ngủ im
Dưới nắng trưa hè
Với giọng ve thân quen đâu đây khàn sầu
Anh cúi nhặt một cánh phượng vừa rụng rơi
Và vội vàng quay đi
Và Hạ như cứ mãi buồn thời
Chia tay- biệt li...
Cô ơi- trường lớp ơi!
Ngày xưa đâu rồi.

Phạm Phan Hoà
Tháng sáu 2015.
READ MORE - THEO DẤU CHÂN XA - chùm thơ Phạm Phan Hòa

Đà Lạt Thành Phố Tôi Yêu - Thơ: Tuyền Linh - Nhạc: Nguyễn Văn Thơ - Trình bày: Minh Xuân

READ MORE - Đà Lạt Thành Phố Tôi Yêu - Thơ: Tuyền Linh - Nhạc: Nguyễn Văn Thơ - Trình bày: Minh Xuân

MƯỜI NĂM CUỘC TÌNH - thơ Trúc Thanh Tâm




MƯỜI NĂM CUỘC TÌNH

Về ngang trường đại học
Vời vợi mắt buồn xưa
Tóc em dài còn để
Lợp bờ vai, nắng thưa !

Hàng cây xanh kỷ niệm
Người cũ đã xa trường
Mười năm, anh trôi nổi
Mười năm, em nhớ thương !

Con đường dài hun hút
Quán cà phê ngày nào
Cô bé mười năm cũ
Giờ đã biết yêu nhau !

Mười năm, anh có lẽ
Hạnh phúc cũng no lòng
Mười năm, em biết khổ
Tình đầu sông, cuối sông !

Xa nhau mười năm đó
Những bão giông cuộc đời
Những đam mê, nông nổi
Nên tình là gương soi !

Biết còn gì để nói
Cho cuộc tình đôi ta
Những ngày xưa hờn dỗi
Những bây giờ xót xa !

Mười năm dài vô tận
Anh treo hoài ước mơ
Mười năm, em chờ đợi
Cùng nhau chung chuyến đò !

Về ngang trường đại học
Anh thấy buồn hơn xưa
Mỗi người đi mỗi ngã
Cuộc đời và cơn mưa !

Ôi, mười năm để nhớ
Hay mười năm để quên
Làm người đâu phải dễ
Dù rằng còn con tim !

Hãy bay đi nỗi nhớ
Trong phấn son cuộc đời
Thương một màu mắt cũ
Cơn mưa đời phôi phai !

TRÚC THANH TÂM

( Châu Đốc )
READ MORE - MƯỜI NĂM CUỘC TÌNH - thơ Trúc Thanh Tâm

EM NHẮN TIN RẰNG - Chùm thơ vui của Đặng Xuân Xuyến





Chùm thơ vui của Đặng Xuân Xuyến


EM NHẮN TIN RẰNG

Em nhắn tin rằng: Thương anh ghê
Gà trống nuôi con lắm vụng về
Nghe chuyện rầu lòng, thương anh quá
Sợ lắm miệng đời, chẳng dám qua.


Em nhắn tin rằng: Ở quá xa
Nên chỉ loanh quanh giúp gọi là
Chén bát lâu ngày ai giúp rửa?
Sân vườn ai dọn lúc nắng mưa?


Em nhắn tin rằng: Đã yêu chưa
Thấy bé hôm xưa cũng chẳng vừa
Người đâu tí tuổi mà ghê gớm
Xóm dưới làng trên lắm kẻ gờm.


Em nhắn tin rằng: Chớ bờm xơm
Người ta nào phải cá trong nơm
Thiên hạ bây giờ chiêu trò lắm
Thôi, vì con cái, “nhịn” vài năm.


Em nhắn tin rằng: Nghĩ mà căm
Oan gia ngõ hẹp, muốn băm vằm
Mẹ cha cái lũ ham tình ái!
Sư bố cái đồ chẳng giống ai!
*.
Hà Nội, đêm 04 tháng 05 năm 2014
           
ĐXX




CHẲNG CẦN CHỒNG
- Với người mẹ đơn thân -


Chỉ muốn con thôi. Chẳng muốn chồng
Phải thằng cờ bạc thế là xong
Nay nó gá đề mai gá bạc
Chiếu đất màn trời... Chịu nổi không?


Chỉ muốn con thôi. Chẳng muốn chồng
Quơ nhầm thằng nghiện thế là xong
Chổi cùn rế rách đem cầm cố
Sớm thành góa phụ... Có cực không?


Chỉ muốn con thôi. Chẳng muốn chồng
Vướng thằng mê rượu thế là xong
Nay nó chửi thề mai nó đập
Sống thừa như thế... Có đáng không?


Chỉ muốn con thôi. Chẳng muốn chồng
Vớ thằng say gái thế là xong
Loan phòng vò võ thân đơn chiếc
Nuốt lệ thành dòng... Có tủi không?


Chỉ muốn con thôi. Chẳng muốn chồng
Nhầm thằng sợ gái thế là xong
Chăn xô gối lệch hồn đơn chiếc
Héo hắt cuộc đời... Đắng cay không?


Chỉ muốn con thôi. Chẳng muốn chồng
Hỏi người quân tử sẵn lòng không
Một vốn bốn lời xin gửi đủ
Đây chỉ cần con! Chẳng cần chồng!

*
Hà Nội, ngày 28 tháng 11 năm 2013
ĐXX



NỠ NÀO THẾ EM

Nỡ nào gọi anh bằng chú
Để anh nói chuyện không vào
Nhìn nhau có chiều gượng gạo
Chuyện trò cứ nhạt làm sao


Nỡ nào gọi anh bằng chú
Để anh nhanh bạc mái đầu
Hơn chừng đôi ba chục tuổi
Có nhiều xa cách lắm đâu


Nỡ nào gọi anh bằng chú
Em nghe có thấy nặng nề
Đâu phải vì anh thích trẻ
Chỉ là xưng chú không quen


Nỡ nào gọi anh bằng chú
Quen rồi khó đổi lắm em
Anh vầy nhưng còn xuân lắm
Nỡ nào cứ chú thế em.

*
Hà Nội, ngày 29 tháng 10 năm 2013

ĐẶNG XUÂN XUYẾN
READ MORE - EM NHẮN TIN RẰNG - Chùm thơ vui của Đặng Xuân Xuyến

TRƯỚC NÚI MỸ NHÂN - Trương Vũ Tiến đọc thơ Phạm Ngọc Thái




                TRƯỚC NÚI MỸ NHÂN  
      
Núi Mỹ Nhân nằm giữa biển Nha Trang gần Hòn Chồng. Truyền kể: Nàng Mỹ Nhân nằm ở đó nhiều năm tháng, chung thuỷ chờ chồng. Chồng nàng là một tướng cướp trẻ, dẫn theo một đạo quân cướp bể. Thuyền bè của họ bị bão biển đánh đắm, đi đã không về.         

Bờ Hòn Chồng, quán gió, một trưa chiều
Anh đứng dưới bóng dừa xứ sở
Nghe cả biển, tình yêu và đời vỗ...
Nhúm cỏ lòng xé rách bụi thơ bay.

Em nằm đây, em hỡi! Em nằm đây
Làm núi đợi ngàn năm cùng với bể
Tình yêu vỗ muôn đời trong sóng vỗ
Không vấn vương bụi bặm cõi trần đời.

Cho anh hôn lên đôi vú đá tơi bời
Dầm dãi nắng mưa ru em trong giấc ngủ
Xin lỗi những mảng đời ta đang có
Đôi lúc thèm được bám rêu xanh.

Gió hút Hòn Chồng, bể sóng mênh mông
Ta, con chim đã trúng bao vết đạn
Dừng chân nghỉ bên bờ xanh hữu hạn
Chốn vô cùng ta muốn hỏi Mỹ Nhân?

Bóng nàng nằm trơ mãi cái nước non
Lòng nguyệt tỏ tháng năm mòn đá sỏi
Niềm vĩ đại lại vô cùng man dại
Cây-thánh-giá-cuộc-đời anh đặt dưới chân em!

Nếu có thể sống chung đầu bạc răng long
Anh nguyện với nàng cả đời vui thú
Hồ yêu tinh và đàn bà nơi trần thế
Vừa là tiên vừa là quỉ, nàng ơi!

Cô gái bán hàng trong quán gió chơi vơi
Cứ nhìn khách đôi mắt tròn đen láy
Đã kể tôi nghe chuyện về nàng Mỹ Nhân thuở ấy!
Nghe trong chiều gió cuốn bụi đường bay...

                                   Thơ  Phạm Ngọc Thái


                                
      Lời bình:    Đứng trên Hòn Chồng vào buổi sớm mai, khi mặt trời lan toả những ánh nắng vàng rực rỡ. Nhìn ra một dải núi nằm giữa biển Nha Trang người ta thấy nổi lên đôi gò núi, trông giống như đôi gò vú của một nàng thiếu nữ. Nàng đang ngả mình phơi nắng. Triền núi xanh thoai thoải làm nên thân thể nàng. Khe núi xanh chạy dài xuống mặt sóng như mái tóc nàng xoã ra biển. Người Sài Gòn lên chiêm ngưỡng cảnh đẹp, gọi là Núi Mỹ Nhân! Nàng Mỹ Nhân đã nằm ở đó chung thuỷ chờ chồng. Chồng nàng là một tướng cướp trẻ của đạo quân cướp bể. Trong một chuyến đi xa, thuyền bè của họ đã bị bão biển đánh đắm. Xác dạt vào bờ hoá thành bãi sỏi đá, hiện vẫn còn dấu tích tại đó:
                    Bờ Hòn Chồng, quán gió, một trưa chiều
                    Anh đứng dưới bóng dừa xứ sở
                    Nghe cả biển, tình yêu và đời vỗ...
                    Nhúm cỏ lòng xé rách bụi thơ bay.
      Cái bóng nàng Mỹ Nhân vẫn nằm ở đó để làm một tượng thần trong trắng, giữa chốn đời thường xô bồ mà tạc vào năm tháng:
                    Tình yêu vỗ muôn đời trong sóng vỗ
                    Không vấn vương bụi bặm cõi trần đời
      Những ngày sau chiến tranh nhà thơ đã lên đây. Anh còn là một người lính trong những năm chiến trận đầy máu lửa. Bài thơ đã được anh nhớ lại để viết vào gần 20 năm sau đó. Đứng trước tượng thần Mỹ Nhân trong trắng kia, anh chính là sự minh chứng của lịch sử. Những thương tích chiến tranh, dù bao bom đạn đã bắn vào thân thể anh cũng chỉ là nỗi đau thể xác, nhưng nỗi đau nơi nhân tình thế thái này đã bắn vào cả trái tim, tâm hồn anh còn đau đớn nặng nề hơn. Đó mới chính là vết đạn ngàn thu bao giờ lành lại được? Cho nên dừng chân nghỉ lại trước bờ biển đầy sóng gió mênh mang, ngước nhìn nàng Mỹ Nhân anh mới thốt lên rằng:
                    Ta, con chim đã trúng bao vết đạn
                    Dừng chân nghỉ bên bờ xanh hữu hạn
                    Chốn vô cùng ta muốn hỏi Mỹ Nhân?
      Anh muốn ngả vào lòng nàng, trong vòng tay êm ái của tình yêu nàng. Phải! Chỉ có nàng, chỉ có tình yêu của người đàn bà mới xoa bớt được vết thương sâu nhói tận trái tim anh:
                    Cho anh hôn lên đôi vú đá tơi bời
                    Dầm dãi nắng mưa ru em trong giấc ngủ.
     Nhưng trong cuộc đời thực này, tình yêu của nàng Mỹ Nhân âu lại cũng chỉ là mộng ảo? Dẫu vậy, anh vẫn muốn ngủ trong tình yêu ấy để quên đi chốn nhân tình thế thái, quên hết đi cái cõi đời mệt mỏi, hỗn loạn và đầy rẫy những lo âu:
                    Xin lỗi những mảng đời ta đang có
                    Đôi lúc thèm được bám rêu xanh...
    Tôi xin đi sâu phân tích vào đoạn thơ thứ năm của bài:
                    Bóng nàng nằm trơ mãi cái nước non
                    Lòng nguyệt tỏ tháng năm mòn đá sỏi
                    Niềm vĩ đại lại vô cùng man dại...
      Hình ảnh của đỉnh núi Mỹ Nhân nằm giữa biển khơi xanh, chờ người chồng đi xa mãi mà không trở về? Tình của nàng chỉ có vầng nguyệt tháng năm soi tỏ. Dù sông cạn đá mòn nàng vẫn thuỷ chung. Ôi, sự hoang dại tạo hoá chẳng phải là đỉnh cao hùng vĩ muôn đời, trong thế giới hỗn mang mà chúng ta đang sống hay sao? Đó cũng là chính kiến của nhà thơ trứơc thần tượng vĩnh hằng! Sự thần tượng tình yêu với người đàn bà đã được tác giả dồn nén vào trong câu thơ cuối đoạn:
                    Cây-thánh-giá-cuộc-đời anh đặt dưới chân em!
      Người Nhật thì đặt thanh gươm trên đầu người đàn bà. Người Pháp lại đặt thanh gươm dưới chân người đàn bà. Cho nên, nhà thơ mới phát biểu quan niệm, chính kiến của mình về sự tồn tại trong thế giới này: Cây-thánh-giá-cuộc-đời anh đặt dưới chân em!/- Đến đây tình thơ đã được đẩy cao lên ý nghĩa thời đại, hình ảnh thơ bốc lửa và cháy sáng. Cùng với đoạn thơ thứ sáu, làm thành hai đoạn thơ trung tâm cốt lõi nhất của bài. Tôi phân tích tiếp về đoạn thơ thứ sáu ấy:
                    Hồ yêu tinh và đàn bà nơi trần thế
                    Vừa là tiên vừa là quỉ, nàng ơi!
      Đàn bà, đúng là cuộc sống không thể thiếu được họ. Thiếu họ, cuộc đời ta sẽ trở nên hoang tàn, vô nghĩa. Nhưng chính đàn bà cũng đem đến cho ta bao mệt mỏi. Có nhiều khi ta chỉ muốn vào quách trong chùa để đi tu, để sống yên. Có họ và không có họ đều dở cả. Họ là thiên đường trong cuộc đời ta, nhưng cũng là âm phủ. Họ vừa là tiên nữ, lại vừa là quỉ dạ xoa. Chả trách, thi sĩ Tản Đà đã từng một thời tìm đường lên núi định tu tiên, định dứt bỏ chốn hồng trần, nhưng rồi ông vẫn lại phải quay về với cõi đời thường để sống tiếp cuộc đời với bao nỗi đoạ đầy. Vì lẽ đó, đứng trước đỉnh núi Mỹ Nhân thanh cao, nhà thơ mới thốt lên:
                    Nếu có thể sống chung đầu bạc răng long
                    Anh nguyện với nàng cả đời vui thú
      Tình chan chứa, hình ảnh sinh động làm cho bài thơ sâu sắc nghĩa đời,  gắn liền vào cuộc sống. Trước Núi Mỹ Nhân thật sự là một bích phẩm, tình thơ cũng rất viên mãn.


                                                                                               Trương Vũ Tiến
READ MORE - TRƯỚC NÚI MỸ NHÂN - Trương Vũ Tiến đọc thơ Phạm Ngọc Thái