TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Monday, June 22, 2015
LỤC BÁT 4 CÂU - chùm thơ Đặng Xuân Xuyến
chùm thơ Đặng Xuân Xuyến
Ừ THÌ
Ừ thì ngưng nửa cuộc chơi
Ừ thì chấp chới nửa vời chữ yêu
Ừ thì quánh đặc cô liêu
Ừ thì chát mặn niềm đau... Ừ
thì...
Hà Nội, 23 tháng 06 năm 2013
TỰ TÌNH
Và em ngúng nguẩy dưới thềm
Và lim dim mắt để đêm phập phồng
Và mênh mông gió ven đồng
Và tôi cùng với bến sông chòng
chành.
Hà Nội, 05 tháng 01 năm 2015
VẪN LÀ
Vẫn là em, của ngày xưa
Vẫn là thề thốt em chưa bao giờ
Vẫn là em, cứ hững hờ
Vẫn là muôn sóng nghiền bờ, nghiến
anh.
Hà Nội, 07 tháng 11 năm 3014
SÔNG TRĂNG
Vâng, từ độ ấy đến giờ
Sông trăng dẫu cạn vẫn chờ đò xưa
Cầu trời đổ một trận mưa
Cho sông trắng nước đò xưa trở về.
Hà Nội, 26 tháng 06 năm 2013
Đặng Xuân Xuyến
Sunday, June 21, 2015
HỌA HìNH NGƯỜi TìNH - thơ Phạm Phan Hòa
*Tặng TM
Anh pha mùa ở lại
Nụ đơm Xuân nào đi,
Đất trời ươm lộc biếc
Em chín mọng xuân thì
Anh vẽ ngời đôi mắt
Hồn em trong - thoát thai
Hào quang như toả chiếu
Soi sáng xua đêm dài.
Tóc thề ướp bờ vai
Ngày em còn đi học
Ôm thiên đường ngà ngọc
Ủ mãi thơm một thời,
Bờ môi phai sắc hồng
Anh điểm ngày còn không
Thương em thời con gái
Em! Em đi lấy chồng.
Anh vẽ đường rêu phong
Xanh tuổi nào ngày mộng
Họa hình em, mầu tranh
Sắc hòa tình khơi động.
PPH.
CHO NGÀY SINH NHẬT
* Sinh nhật Thúy.
Ngày ta nhận ra nhau
Vào hôm sinh nhật đầu.
Mấy mươi năm nào biết
Tuổi tình buồn in sâu?
Mai lại ngày kỉ niệm
Sãi bước... qua mỏi sầu
Hát - reo đường lá đổ
Rắc - lối chân nhiệm mầu.
Phạm Phan Hòa
Quảng Nam.
16/6/2015
BÀI HỌC CUỘC SỐNG - thơ Trúc Thanh Tâm
Anh còn sống máu tim anh chưa cạn
Nên vẫn còn ý thức sự diệt vong
Đời còn lắm trò đùa gian dối
Nên chúng ta, ai cũng có sai lầm
Nên vẫn còn ý thức sự diệt vong
Đời còn lắm trò đùa gian dối
Nên chúng ta, ai cũng có sai lầm
Em đừng buồn khi đi mua chữ nghĩa
Những con người mang trí thức cho em
Họ đem bán đời mình qua kinh nghiệm
Xã hội nầy, một hình thức kiếm cơm
Những con người mang trí thức cho em
Họ đem bán đời mình qua kinh nghiệm
Xã hội nầy, một hình thức kiếm cơm
Em ráng học vì thời gian quá ít
Học và hành trên mặt phẳng phân vân
Không tự chủ sao mở mang kiến thức
Dạy bây giờ chạy theo cấp số nhân
Học và hành trên mặt phẳng phân vân
Không tự chủ sao mở mang kiến thức
Dạy bây giờ chạy theo cấp số nhân
Thời nguyên tử để rồi thêm bừa bãi
Một cái gì gọi tiến bộ hơn xưa
Chắc những thứ giết người ghê gớm nhất
Ra ngoài đường toàn thấy chuyện mây mưa
Một cái gì gọi tiến bộ hơn xưa
Chắc những thứ giết người ghê gớm nhất
Ra ngoài đường toàn thấy chuyện mây mưa
Anh nhận ra những ngày mơ khanh tướng
Đã cho anh một hiện tại không gì
Những thân thích rồi cũng dần xa mãi
Người quay về, người bỏ xứ ra đi
Đã cho anh một hiện tại không gì
Những thân thích rồi cũng dần xa mãi
Người quay về, người bỏ xứ ra đi
Hãy thương người và đùm bọc lẫn nhau
Nhưng cuộc sống đã dạy anh nên biết
Học tranh giành và học những giết nhau!
tháng 4. 2015
TRÚC THANH TÂM
(Châu Đốc)
PHÂN ƯU
PHÂN ƯU
Nhận được tin buồn:
Cụ Bà PHAN ĐÔNG SANH
Nhủ danh NGÔ THỊ CÚC
Tên thường gọi ở Quảng Trị: Bà QUẢNG TƯỜNG
Đã từ trần vào ngày 16 tháng 6 năm 2015
tại San Jose, CA
HƯỞNG THỌ 90 TUỔI
Xin thành kính chia buồn cùng bạn
PHAN NGỌC BÍCH và GIA QUYẾN
Nguyện cầu hương linh Cụ Bà sớm tiêu diêu miền cực lạc.
*
Bạn cùng lớp Tam, Nhị C Nguyễn Hoàng Quảng Trị (63-65)
Hiện cư ngụ tại Hoa Kỳ
Lê Văn Thiệu
Lê Thị Lan
Vương Lệ Hằng
Lê Văn Trạch
Hồ Sỹ Kỹ
Hoàng Mỹ
Trần Quốc Phiệt
ĐỒNG KÍNH BÁI
*
TQP gởi đăng
NGỌN CỎ! MỘT BÀI THƠ HAY? - Phạm Đức Nhì
Phạm Đức Nhì
NGỌN CỎ! MỘT BÀI THƠ HAY?
Trong Thơ
Đến Từ Đâu của Nguyễn Đức Tùng, do tên ở vần B, Nguyễn Thị Hoàng Bắc được xuất
hiện ngay ở phần đầu cuốn sách. Khi được hỏi “cái gì là quan trọng nhất trong
thơ?” Câu trả lời của chị dứt khoát và gây ấn tượng:“ Sự tự khai….. Lúc nào tôi nói thật,
nói thẳng được, nổi điên lên mà nói, nói mặc kệ thiên hạ sự, nói cóc sợ ai,
không ‘quan trên ngó xuống người ta trông vào’ thì tôi viết được mấy lời kha
khá.”
Bài Ngọn Cỏ
được chị viết ra trong tinh thần đó. Một số người bảo thủ thì mỉa mai là chị đã
“đái ra thơ”. Nhưng cũng có nhiều người khen, trong đó có Đinh Linh (đã dịch
bài thơ sang tiếng Anh) và nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc. Tôi cũng
thích Ngọn Cỏ và hôm nay có hứng đưa ra mấy lời bình phẩm.
Ngọn Cỏ
tiếng nước đái
nhỏ giọt
trong bồn cầu tí tách
thứ nước ấm sóng sánh vàng
hổ phách
trong người tôi tuôn ra
phải rồi
tôi là đàn bà
hạng đàn bà đái không qua ngọn cỏ
bây giờ
được ngồi rồi trên bồn cầu chễm chệ
tương lai không chừng tôi sẽ
to con mập phệ
tí tách như mưa
ngọn cỏ gió đùa.
Giải thích-(nhận biết
tứ thơ): nghe tiếng nước đái của mình tí tách, tác giả nhớ đến thân phận người
phụ nữ (ngày xưa) “đái không qua ngọn cỏ”. Nay được ngồi chễm chệ trên bồn cầu,
chị nghĩ đến ngày được đứng hiên ngang như các nam tử hán mà “tí tách như mưa”.
Diễn dịch-(qua tứ tìm
ý của tác giả): Nguyễn Thị Hoàng Bắc cho rằng tư thế đứng đái như nam giới là
biểu hiện tinh thần cách mạng, đấu tranh đòi nam nữ bình quyền, chấm dứt thái
độ cam tâm chấp nhận thân phận mỏng hèn của phụ nữ.
Phân tích và
nhận định nghệ thuật
Về
hình thức, Ngọn Cỏ không theo một thể thơ truyền thống nào. Số chữ trong câu
biến đổi tùy theo dòng cảm xúc của tác giả. Vần bắt với nhau thật tự nhiên (tí
tách-hổ phách, tuôn ra-đàn bà, chễm chệ-sẽ-mập phệ, như mưa-gió đùa ).
Tứ và ý thơ
táo bạo, độc đáo - chỉ thay đổi tư thế đái là có thể khởi xướng một cuộc cách
mạng nữ quyền. Có thể nói cảm xúc trong bài thơ rất thật và đầy ắp, không mạnh
bạo nhưng có thể chảy thành dòng rõ ràng, với tốc độ vừa phải, phù hợp với tứ
thơ. Đây đó cũng có cánh hoa héo, ngọn cỏ úa làm giảm giá trị của bài thơ.
1/ Từ nhỏ giọt hình như không phù hợp với thực
tế. Chỉ có những người mắc bệnh gì đó về đường tiểu mới đái nhỏ giọt, còn bình
thường thì đều để nó chảy thành dòng. (Dĩ nhiên khi nước đái cạn hết sẽ có vài
giọt cuối cùng). Hơn nữa, nếu dùng từ nhỏ
giọt sẽ mâu thuẫn với từ tuôn ra ở đoạn kế tiếp.
2/ Chữ rồi trong “được ngồi rồi trên bồn cầu chễm
chệ” không cần thiết, có thể bỏ đi.
3/ “To con
mập phệ” có thể bỏ đi mà không ảnh hưởng đến dòng chảy của thơ. Còn nếu giữ lại:
a/ Dư thừa
vần: chễm chệ- tôi sẽ (không cần mập phệ).
b/ Mạch suy
luận không hợp lý: ngồi trên bồn cầu không phải là lý do dẫn đến to con mập phệ.
c/ Làm giảm
nét đẹp của người phụ nữ vùng lên: phụ nữ đâu cần to con mập phệ mới đứng đái
được. Dáng thon thon hoặc mảnh khảnh đứng đái trông còn đẹp hơn
4/ Câu kết
“Ngọn cỏ gió đùa” của bài thơ hoàn toàn “trật bàn đạp”
Đang
biểu lộ thái độ hùng dũng, vùng lên “đứng đái đàng hoàng” như các đấng nam nhi mà lại kết
thúc bằng “ngọn cỏ gió đùa”- chấp nhận thân phận đàn bà như ngọn cỏ, gió muốn
đùa hướng nào cũng phải chịu, thì đúng là cung đàn lạc điệu. Nguyễn Đúc Tùng vì
đang phỏng vấn Nguyễn Thị Hoàng Bắc nên chỉ lịch sự cho rằng câu cuối bài thơ
gây cảm giác mơ hồ (ambiguous).
Nguyễn Thị
Hoàng Bắc sau đó bật mí:
Nếu
tường minh hàm ý mấy chữ ấy bằng ngôn ngữ bình thường thì đại khái có thể diễn
đạt là “ngọn cỏ gió đùa? xin lỗi nghen!” hoặc “ngọn cỏ gió đùa? không dám đâu!”
Ô! Thật lạ!
Chị viết “ngọn cỏ gió đùa” mà lại muốn người đọc hiểu là “ngọn cỏ gió đùa?
không dám đâu!”,
nghĩa hoàn toàn trái ngược, thì đúng là làm khó người đọc quá.
5/ Sự diễn
dịch từ TỨ qua Ý có khe hở; phép ẩn dụ không che phủ hết mọi khía cạnh. Muốn khuyên
người dân xài hàng nội hoá, một cô khá đẹp, giữ chức vụ cao trong chính phủ, khi
trả lời phỏng vấn đã viện dẫn hai câu ca dao:
“Ta về ta tắm ao ta
Dù trong, dù đục ao nhà vẫn hơn”
Cô này liền
bị một đấng mày râu chơi xỏ: “Xin
nghiêng mình kính phục cái tinh thần tự lực cánh sinh, độc lập tự chủ của cô.
Chỉ tiếc rằng một người đẹp như cô lại chấp nhận.. ở dơ.”
Câu ca dao
trên đã có lỗ hở - không kín kẽ, không che chắn được hết mọi bề - nên nàng yểu
điệu thục nữ kia đành phải ngậm bồ hòn làm ngọt.
Bài thơ Ngọn
Cỏ cũng thế. Chọn cái tư thế đứng đái của phụ nữ để ngụ ý rằng phụ nữ có thể
sánh vai cùng nam giới, bình đẳng với nam giới, phép ẩn dụ đó rất hay, rất ý
nhị nhưng không kín kẽ, giống như thuốc chữa được bệnh nhưng lại có phản ứng
phụ.
Trời sinh ra
đàn ông có cái “củ lẳng”. Dù có bị hao mòn theo năm tháng cỡ nào đi nữa cũng
còn ít nhất 2 hoặc 3 phân (cm). Khi tiểu tiện chỉ cần đưa tay nâng nhẹ nó lên
thì điểm rơi của dòng nước có thể cách xa bàn chân đến hơn nửa mét. Không sợ
vương quần. Không sợ rơi trúng bàn chân.
Nhưng
than ôi! Phụ nữ thì lại khác. “Cái
ấy” trời sinh nó dính sát vào da. Muốn kéo ra thì không có chỗ nào cầm để kéo.
Mà có chịu đau cố kéo thì nó cũng chẳng ló ra được bao nhiêu. Cho nên cái tư
thế “đái không qua ngọn cỏ” (đái ngồi) là thích hợp nhất, là hợp với thiên lý
nhất.
Nguyễn Thị
Hoàng Bắc lại muốn làm cuộc cách mạng-muốn đứng đái như các đấng nam nhi thì …
hơi kẹt. Đến đây, chắc Nguyễn Thị Hoàng Bắc sẽ lên tiếng:“Thì ngày
xưa mấy bả cũng đứng đái hà rầm đó, có sao đâu?”
Tôi đã lần
mò ra tận miền Bắc - nơi hiện tượng đứng đái của phụ nữ phổ biến hơn ở trong
Nam - để phỏng vấn các cụ bà. Một bà cụ thẳng thắn nói với tôi:
Đúng thế!
Ngày xưa chúng tao cũng có đái đứng nhưng chỉ ở những nơi cỏ cao, cỏ sắc; ngồi
xuống không khéo nó đâm vào thì hỏng mất của quý. Hơn nữa, chúng tao mặc váy,
mà nếu có mặc quần thì cũng là quần ống rộng, vén lên, thả xuống dễ dàng, lại
không mặc quần lót nên chỉ vén quần lên là “con bé” nó chìa mặt ra rồi. Nhưng không
phải dễ đâu. Cái thế đái đứng cũng phải học mãi mới được. Lấy chân trái làm trụ
thì phải nghiêng mặt “con bé” về bên phải. Khi nước ra thì phải liệu thế nhấc
chân phải lên. Mới đầu nước đái cũng bắn đầy vào chân, nhưng dần dần mình biết
ý, điều chỉnh dòng nước ra từ từ, nhấc cao chân lên một tý và rồi mọi chuyện
đều tốt đẹp.
Nghe
chuyện mấy bà cụ Bắc Kỳ rồi nghĩ đến Nguyễn Thị Hoàng Bắc tôi lại thấy ái ngại
cho chị. Ống quần thì không được rộng như các cụ ngày xưa, lại còn thêm cái
quần “xì” cản đường, muốn hùng dũng đứng đái trên đầu ngọn cỏ như chị quả thật
thiên nan, vạn nan. Mà dù có cố gắng làm cho kỳ được thì cái hình ảnh ấy cũng
không được “nên thơ” cho lắm.
Dẫu có một
chút hoa héo, cỏ úa Ngọn Cỏ vẫn là một bài thơ hay, có khả năng hấp dẫn người
đọc. Nguyễn Thị Hoàng Bắc qua bài thơ này đã thể hiện một ngòi bút vững vàng.
Về hình thức, chị đã thoát ra khỏi vòng ảnh hưởng của thơ truyền thống, đã vượt
qua thơ mới. Bài thơ có số chữ trong câu tự do biến đổi. Vần nối kết tự nhiên.
Vị ngọt của thơ ca khá đậm đà.
Về nội dung,
chị không đi quá đà như một số nhà thơ đương đại, biến bài thơ thành những câu
đố tối mù khó hiểu, hoặc những bài học triết lý siêu hình làm nhức đầu người
đọc. Tứ thơ lạ và thú vị. Đặc biệt, cảm xúc trong thơ đầy ắp, trải xuống trang
giấy thành dòng chảy lai láng.
Con đường
chị tạo ra để dẫn đưa người đọc đến với trái tim mình có nhiều hoa thơm cỏ lạ
và cũng không tránh khỏi có một hai cánh hoa héo hoặc một hai cọng cỏ úa mà nếu
chị muốn, có thể tỉa bỏ dễ dàng.
Riêng
phép ẩn dụ của chị có kẽ hở nhưng vì là cái tứ chủ đạo của bài thơ nên đành
chịu. Nhưng có sao đâu! Nó lại là cái duyên của bài thơ, đem đến cho người đọc
những nụ cười vui vẻ.
Viết xong
đầu xuân năm Tân Mão (2011)
PĐN
Wednesday, June 17, 2015
CHUYỆN THƯỜNG - thơ Chu Vương Miện
chu vương miện
chuyện thường
ngày trước lạc hậu y tế chưa phát
triển
con người thọ đến "thất thập
cổ lai hy "
là rất hiếm rất quí
ngày nay văn minh tiến bộ
y tế đầy đủ
nào Đông y Tây y Nam y Bắc y
nào noni nhầu, sữa ong chúa, lô
hội
nấm linh chi, đông trùng hạ thảo
bạch liên trà, sữa tắm dê, trà
dưỡng sinh
hà thủ ô, yến sào, tế bào gốc
sống trên 7 bó là chuyện bình
thường
ngày trước 20-30 lập gia đình
nay 60-70-80
còn mò về Việt Nam
lập gia đình lấy vợ nhí
cũng đẻ con sinh cái
chuyện bình thường
y như cinema hát bộ mần tuồng
y như chèo cổ Bắc Việt
sướng y tiên?
thủ tục đầu tiên
tiền?
cvm
CHẠM & MẤY LỜI BÌNH - Phạm Đức Nhì
CHẠM & MẤY LỜI BÌNH
Vùi vào tóc anh
Chạm
rong rêu đại dương , ẩm mục rừng
già
ngai ngái phù sa cánh đồng rơm rạ
Chạm sợi đa đoan
nhuộm màu dâu bể
Chạm sợi muộn phiền
ẩn mình lặng lẽ
Vùi vào môi anh
Chạm thềm mê man, chạm bờ mộng mị
Chạm lời chối bỏ trong lời thầm
thì
Dâng bời bời nhớ
Chạm bời bời quên
Vùi vào tay anh
Chạm đường vân quen mịt mùng lạc
lối
Chạm vết thương sâu dấu chai cằn
cỗi
Hôn ngón yêu thương
Chạm ngón lạnh lùng
Vùi sâu vào anh
Vùi vào giấc mơ
Vào đêm
Không anh.
(Đậu Thị Thương)
TỨ CŨNG LÀ Ý:
Tác giả kể lại cái cảm giác sung sướng, hạnh phúc của mình
trong một đêm được đắm đuối mê say dâng trọn cả linh hồn lẫn thể xác cho người
yêu, nhưng bừng tỉnh mới biết đó chỉ là giấc mơ.
Với tôi, cách cấu tứ cuả Chạm có thể coi như là biến thể của
phép ẩn dụ. Tác giả diễn tả sự việc cứ như đang thực sự xảy ra với tất cả háo
hức, cuồng nhiệt của mình. Chỉ đến giây phút cuối mới bất ngờ hé lộ: “Đấy chỉ
là tưởng tượng, chỉ là mơ.” Người đọc cảm được ý của tác giả trong sự ngạc
nhiên thích thú.
Weldon Kees (1914 –
1955) đã dùng thủ thuật này từ rất lâu trong bài For My Daughter (Cho Con Gái
Tôi) trong đó ông kể con gái ông đã phải chịu đủ mọi khổ đau do cuộc đời khắc
nghiệt đem đến; nhưng câu thơ cuối cùng rất bất ngờ:
I have no
daughter. I desire none. (1)
Tôi không
có con gái. Và cũng không muốn có.
Weldon Kees mượn đứa con gái tưởng tượng để diễn tả sự khổ
cực của kiếp người, cũng giống như Đậu Thị Thương mượn người tình trong mộng để
bày tỏ nỗi khát khao nhục dục của mình.
Hình Thức:
Bài thơ được chia làm 4 phần.
1/ Vùi vào
tóc anh
Chạm
rong
rêu đại dương , ẩm mục rừng già
ngai
ngái phù sa cánh đồng rơm rạ
Chạm
sợi đa đoan
nhuộm
màu dâu bể
Chạm
sợi muộn phiền
ẩn mình
lặng lẽ
Tác giả chọn mái tóc để thể hiện những bước đầu tiên cho vũ
điệu yêu đương của cô với người tình.
2/ Vùi vào
môi anh
Chạm
thềm mê man, chạm bờ mộng mị
Chạm
lời chối bỏ trong lời thầm thì
Dâng
bời bời nhớ
Chạm
bời bời quên
Kế tiếp là bờ môi
3/ Vùi vào
tay anh
Chạm
đường vân quen mịt mùng lạc lối
Chạm
vết thương sâu dấu chai cằn cỗi
Hôn
ngón yêu thương
Chạm
ngón lạnh lùng
và vòng tay.
4/ Vùi sâu
vào anh
Vùi vào
giấc mơ
Vào đêm
Không
anh
Đoạn cuối (4) “Vùi sâu vào anh” để đi đến tận cùng của lạc
thú ái ân nhưng đúng lúc ấy choàng tỉnh dậy mới biết chỉ là … mơ. Người tình đã
biến mất và mình vẫn lẻ loi trong đêm vắng.
Ngoại trừ chữ Chạm đứng lẻ loi ở câu thứ 2, bài thơ đọc lên
có nhịp ngắt như loại thơ 4 chữ. Độ ngọt của thơ chỉ thoang thoảng, vần thì
đoạn có đoạn không nhưng nhịp điệu thì khá rõ, như ngựa phi nước kiệu, dẫn tứ
thơ đi bon bon trên đường.
Ngôn ngữ: Ngôn ngữ của bài thơ chắt lọc, cô đọng nhưng minh
bạch đến độ khó có thể giải thích, bàn tán gì thêm nữa. Tất cà đều rõ như ban
ngày. Rất nhiều cụm từ 4 chữ, cụm nào của người đời đã thành thành ngữ, cụm nào
do chính cô giáo dạy văn nghĩ ra, thú thật, cũng khó mà phân biệt rạch ròi.
Nhưng một điều tôi biết chắc là cô đã sử dụng chúng nhuần nhuyễn như đồ dùng
trong túi mình. Cô chỉ nói bóng gió rất xa nhưng do sức gợi cảm, sức khêu gợi
tưởng tượng mạnh mẽ của ngôn ngữ khiến một người đọc tuổi xuân không còn phơi
phới như tôi cũng hối hả chạy “đến bến” trước khi cô bừng tỉnh giấc mộng tình.
Tứ thơ táo bạo: Đã là con người ai cũng có quyền sống và
quyền mưu cầu hạnh phúc. Hạnh phúc không phải chỉ là vấn đề ăn mặc, chỗ ở an
toàn ấm cúng, nghề nghiệp ổn định mà còn là những nhu cầu khác. Đó là yêu
thương, được yêu thương và thỏa mãn nhu cầu sinh lý. Đối với xã hội còn nặng nề
nếp Nho giáo như Việt Nam, việc phụ nữ đề cập hay bàn luận chuyện phòng the, về
mặt đạo đức, xã hội tuy không phải là điều tuyệt đối cấm kỵ nhưng vẫn còn bị
nhìn với đôi mắt khá khắt khe, Cô giáo Đậu Thị Thương đã viết và phổ biến bài
thơ Chạm với tên thật của mình thì phải
nói cô vô cùng can đảm.
Cảm xúc trong thơ: Do thành công ở cách sử dụng ngôn ngữ nên
bài thơ có cảm xúc ở tầng một khá mạnh. Đấu pháp toàn đội hay trận đồ chữ nghĩa
của bài thơ - được thể hiện qua phép ẩn dụ biến thể - cũng góp phần tạo nên một
lượng cảm xúc lớn ở tầng hai. Cảm xúc ở tầng ba (hồn thơ) có xuất hiện nhưng
yếu. Cũng dễ hiểu. Là phụ nữ, lại là giáo viên dạy văn, tác giả đã không dám
cho phép chữ Dâm – dù được viết hoa, rất đẹp, rất trong sáng và nhân bản - độc
chiếm tâm hồn mình.
Cái sung sướng nhất
của người đàn ông trong chuyện gối chăn là được người phụ nữ mình yêu cũng hết
mực yêu mình, đang lúc cơn thèm khát nhục tình lên đến cực điểm, đã với cung
cách tận tụy ân cần, đem trọn vẹn thể xác và linh hồn đắm say cuồng nhiệt hiến
dâng. Đó chính là cung cách của Đậu Thị Thương khi bước vào cuộc chơi ân ái. Cô
đã thi vị hóa chữ dâm dung tục của người đời. Qua ngôn ngữ thơ của cô – như đã
nói ở phần trước - chữ Dâm (viết hoa) rất đẹp, rất trong sáng và nhân bản.
Có lẽ vì thế mà cô đã trở thành người tình lý tưởng của
nhiều chàng trai chưa vướng bận. Cùng ngày mấy bài thơ của Đậu Thị Thương được
post lên trang Nhà Thơ Nguyễn Trọng Tạo cô nhận ngay được một comment rất tình,
trong có đoạn: “Thương! Really I am falling in love with your poems and You
yourself as well.” Tạm dịch: “Thương! Anh thật đã yêu mấy bài thơ của em và cả
em nữa.” Nếu chữ really được đặt lùi ra phía sau một tý thì comment đã thành
một lá thư tỏ tình thật dễ thương. Riêng tôi, bây giờ cũng chưa biết cô còn tự
do hay đã là hoa có chủ, nhưng điều ấy đâu có gì quan trọng. Tôi chỉ là một con
bướm thơ đa tình, thấy vườn thơ cô hay hay, là lạ bay đến lượn chơi đôi vòng để
thưởng thức hương thơm, vẻ đẹp. Giờ đây xin gởi đến cô chủ vườn lời cám ơn chân
thành và xin được vẫy tay từ biệt để bay đến những vườn thơ mới.
Chú thích:
1/
http://www.poetryfoundation.org/poem/177037.
Galveston, Texas những ngày đầu tháng 6/2015.
Phạm Đức Nhì
nhidpham@gmail.com
Tuesday, June 16, 2015
LỤC BÁT BỐN CÂU - Thơ Đoàn Thuận

Tác giả Đoàn Thuận
LỤC BÁT BỐN CÂU
TỊCH LIÊU
Ta ra kênh ngắm mây trời.
Hoa lục bình tím như trôi chậm chiều.
Trong vô cùng cõi tịch liêu.
Nghe tan vỡ mộng mùa phiêu du rồi.
QUẠNH HIU
Hơi mây hư ảo hiên trời
Chợt buông theo tiếng hoa rơi xuống chiều.
Âm thừa chạm đáy cô liêu.
Tưởng đâu hạt lệ khô nhiều tháng năm
YÊN TĨNH ĐÊM
Trăng thượng tuần rất mênh mông.
Con sông lặng lẽ một dòng về xuôi.
Thuyền ai gác mái đêm khơi.
Tiếng chuông chùa cổ chơi vơi núi rừng
Trăng thượng tuần rất mênh mông.
Con sông lặng lẽ một dòng về xuôi.
Thuyền ai gác mái đêm khơi.
Tiếng chuông chùa cổ chơi vơi núi rừng
THINH LẶNG
Biết trăng rồi có lúc già.
Ngày trôi còn lại bóng tà dương thôi.
Biết người có lúc xa xôi.
Bổng dưng có lúc ta ngồi lặng thinh
ĐOÀN THUẬN
Biết trăng rồi có lúc già.
Ngày trôi còn lại bóng tà dương thôi.
Biết người có lúc xa xôi.
Bổng dưng có lúc ta ngồi lặng thinh
ĐOÀN THUẬN
Monday, June 15, 2015
ĐỜI KHÙNG - thơ Bình Địa Mộc
đời khùng
đập tét đít con đề ra trật lất
chị buông chiều xỏa biếc giấc mơ xanh
má hồng ném thững thừ qua ngõ gạch
rêu đa tình xăm thủng gót chân sen
trưa kẽo kẹt cơ hồ tre nhún nhẩy
gió chùng chình là lụa lướt trời mây
chim quyên đổ não nùng đồng khô hạn
cạch lăn đùng lũ trẻ chạy lông nhông
thằng rể cộc nhát gừng con vợ dại
đất bán rồi cạy cục gốc mù u
nhét hạt đậu chẻ đôi vầng trăng khuyết
đợi giao mùa biến tấu khúc đồng dao
em bỏ học nửa chừng đi làm mướn
chiều quay đầu chạm cuộc rượu liêu xiêu
mảnh vườn nhỏ đẫy đùn bao số phận
vốn quê nghèo nợ khoét lỗ chân trâu
người xa xứ lâu ngày về làng cũ
giẫm tan tành bóng nắng ngã rưng rưng
tiếng tu hú nửa chừng vang đứt quãng
vắt bên đường vỡ vụn ánh tà huy
đêm lạch tạch côn trùng hoang tặc lưỡi
gốc rạ đồng ếch nhái nhảy loanh quanh
câu thơ cũ chong đèn soi tóc bạc
chổng mông lên viết tiếp chữ đời khùng!
bđm
Subscribe to:
Posts (Atom)








