Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, March 10, 2015

Thơ Phạm Phan Hòa: ĐÂU RỒI TUỔI XUÂN / EM VỀ




Phạm Phan Hòa            
(Quảng Nam)

Đâu rồi tuổi xuân
                             
Tặng Thúy (TM) ngày xưa.

Trốn vào giữa tháng ngày xưa
Bao mùa lá đổ Thu mưa tuổi hồng
Lẫn xen cùng khoảng mênh mông
Chiều phai gió lặng buông dòng tóc bay
Ngủ vùi bên thủa
mê say
Bàn chân xa- lối hao gầy ngẫn ngơ!
Tuổi nào trong suốt màu thơ
... Còn chăng tiếc nhớ ngăn bờ khôn nguôi


Em về         
                   
Tặng Thúy (TM) ngày xưa
nhân ngày QTPN 8-3

Em về mùa lại đơm bông
Em về khơi chảy khúc sông cạn dòng
Em về mang nắng theo hong
Bao mùa Đông giá chỗ nằm... ấm êm
                    
6/3/2015


READ MORE - Thơ Phạm Phan Hòa: ĐÂU RỒI TUỔI XUÂN / EM VỀ

Cô giáo Hoàng giới thiệu sách của nhà thơ PHẠM NGỌC THÁI

Mời các bạn đặt mua sách: 

PHẠM NGỌC THÁI
CHÂN DUNG NHÀ THƠ LỚN THỜI ĐẠI
NXB Văn hóa Thông tin     

Sách dầy 372 trang, khổ 14,5x20,5cm,  bìa gập. Trình bày đẹp và trang nhả. Tác phẩm do Hội của một số trí thức Hà Nội, gồm các văn nghệ sĩ và nhà giáo kết hợp cùng với nhà thơ biên soạn cho xuất bản.
.
Tập sách gồm hai phần:

PHẦN 1-  Là tập thơ với nhan đề "Bầu trời thơ tình hay & lạ".
Gồm 119 bài thơ tình sâu sắc và hay nhất, được rút ra từ trong tuyển thơ của thi nhân. Thơ tình cũng như thơ đời của ông giàu cảm xúc máu tim, sâu xa tính nhân tình thế thái. Không ít những tình thơ súc tích hay vào hàng trác tuyệt của thi ca.

PHẦN 2-  PHÊ BÌNH & TIỂU LUẬN CHÂN DUNG.
Riêng phần này đã dầy trên 200 trang sách. Ngoài những tiểu luận, có tới trên 30 bài bình thơ hay, đa sắc, đa màu.

Độc giả có thể xem một số bài trích trong tác phẩm qua một trang web. theo link dưới đây:                  

Sau nữa mời bạn đọc thưởng lãm bài viết của anh Trần Tứ Đức, nguyên CB viện ngôn ngữ & Văn hoá dân gian giới thiệu tác phẩm - đã đăng trên nhiều trang mạng trong nước và thế giới.

Quí vị có thể mở đọc qua các link sau:

              

             ------------------------------                

Hiện sách có bán tại hai cửa hiệu lớn ở Hà Nội. Giá bìa sách 80.000 đ/q
1/. Cửa hàng số 44 phố Tràng Tiền HN của Tổng công ty phát hành sách VN. 
2/. Cửa hàng số 53-55 cùng phố Tràng Tiền - Hiệu sách Thăng Long.
Hoặc liên hệ trực tiếp với nhà thơ Phạm Ngọc Thái theo địa chỉ:
NR.       Ngõ 194/Nhà 34, phố Quàn Thánh, Hà Nội.
DĐ.       0168 302 4194
Email.   ngocthai1948@gmail.com           
                    . 
Có thể gửi tiền về nhà riêng với tên của nhà thơ hay gửi qua tài khoản của con trai:
Ngân hàng Vietin Bank
Chủ tài khoản:        Phạm Ngọc Bảo
Số tài khoản:         711A 2988 7485 (chuyển tiền qua ATM )
Nhận được tiền tác giả sẽ gửi sách đến Quí bạn đọc - Theo địa chỉ kèm với số ĐT mà bạn đọc thông báo.
Với các độc giả trong cộng đồng Việt ở hải ngoại, nếu có nhu cầu - Tác giả sẽ gửi tặng nguyên bản tác phẩm theo hộp thư điện tử.
.                        
Cô giáo Hoàng
cogiao.hoang61@gmail.com

READ MORE - Cô giáo Hoàng giới thiệu sách của nhà thơ PHẠM NGỌC THÁI

Thơ Chu Vương Miện: THI HÀO, YÊU



Tác giả Chu Vương Miện


thơ chu vương miện

thi hào

ngài đến ngài thăng ngài ngoái lại
dăm mẩu thơ thế thái nhân tình 
đọc một lúc hoa mờ cả mắt
ngán ngẫm cung đàn ngán ngẫm phù sinh 
ngài sinh ra vào thơì mạt Nguyễn
tây càlồ mũi lõ tóc quăn
ngài học toàn đầu gà đít vịt
hết Hán Nôm Quốc Ngữ La Tinh 
thơì thế nhố nhăng thầy dở thợ
gạo trong nồi dở cháo dở cơm
ngươì chả làm quan chê đầu gà đít vịt
ngài chỉ trà trưa rượu tối với đàn ....
ba thứ kể trên lăng nhăng thật
đời lăng nhăng toàn thứ lăng nhăng
ngài cũng phong lưu già đời ăn quịt
còn mắc mớ gì hỏi ông trăng?

yêu

yêu nhau đặng mấy năm? nhìn đặng mấy lần?
nói với nhau vài câu ân nghiã?
về quây quần cáo chết trong hang
mơí đó thì không sao 
bây giờ đầu em mọc một cái sừng
y sừng tê bằng nắm tay
gặp anh em húc liền 
em mọc thêm chiếc đuôi
y đuôi chồn để đuổi ruồi
đôi khi quất vào mặt anh 
bây giờ em có mùi chồn hôi
ngửi vào sao choáng váng?
bây giờ phôn cho anh [em xưng tôi] 

                             chuvươngmiện


READ MORE - Thơ Chu Vương Miện: THI HÀO, YÊU

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ THÀNH CỔ - Ghi chép: Nguyễn Thị Sáu - Kì 2

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ THÀNH CỔ
Ghi chép: Nguyễn Thị Sáu

Kì 2

Tôi hy vọng ở đâu đó, cô gái tên Thắm năm xưa, nay là bà Thắm sẽ đọc được dòng tâm sự này mà liên lạc với tôi. Đó là ước nguyện lớn của tôi và cả gia đình tôi. Kính mong bạn đọc gần xa nếu biết được thông tin gì về người con gái tên Thắm năm nào hoặc một ai trong đoàn nữ dân công hoả tuyến trên dòng sông Ba Lòng - Quảng Trị thời điểm vào khoảng cuối tháng 8 năm 1972, hãy làm ơn liên lạc giùm tới địa chỉ: Nguyễn Thanh Xuân, xóm Cây Bòng, xã La Hiên, huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên; Điện thoại: 0977.846. 573. Xin trân trọng cảm ơn!

Người con gái trên dòng sông Ba Lòng

Vào một đêm cuối tháng 8 - 1972, tôi mơ hồ nghe y tá truyền lệnh cấp trên: Tình hình chiến sự và thời tiết thuận lợi nên nội trong đêm phải di chuyển toàn bộ thương binh vượt dòng sông Ba Lòng về trạm phẫu phía sau an toàn. Lúc đó toàn thân tôi còn đang bất động, chỉ có hai tay có thể cử động chút ít. Tôi nằm trên cáng thương và được đưa đi, ra tới bờ sông họ đặt tôi lên chiếc thuyền cao su, chiếc thuyền chỉ có thể chở được hai người. Tôi được bàn giao cho một nữ dân công hoả tuyến (DCHT) người Quảng Bình. Đêm đó có rất nhiều thương binh được chuyển đi như tôi, những chiếc thuyền được dàn ra mặt sông để tránh sự chú ý của địch. Dưới ánh trăng mờ, không đủ để tôi nhìn rõ mặt người con gái đẩy thuyền cho tôi, nhưng chiếc áo tối màu của cô làm nền để lộ hai cổ tay tròn trắng và thân hình khá đầy đặn, tôi nghĩ cô ấy còn rất trẻ. Vì đang làm nhiệm vụ trong vùng chiến nên cả hai chúng tôi không ai nói với ai. Tôi im lặng nằm bất động trên thuyền, toàn thân đau nhức, mê man trong cơn sốt. Chợt một giọng nữ người Quảng Bình ngân lên từ khúc sông phía dưới: “Khoan khoan hò khoan…ơ…ơ…”. Giọng ca hồn nhiên, trong trẻo làm tôi bừng tỉnh, hé mắt nhìn bầu trời, trời đêm Quảng Trị hôm nay thật trong và cao, ánh trăng thật mơ mộng và yên bình, nơi đây như chưa từng có bom đạn điên cuồng tàn phá, như chưa từng có tang tóc đau thương. Tôi mơ màng như mình đang bơi giữa chốn yên bình, có trăng sao sông nước lung linh, có người con gái quê dịu dàng chèo đò bên tôi, có tiếng hò quê hương ngọt ngào bay bổng, tôi như đang dần được sống lại giữa tình quê rất gần. “Hậu phương đây rồi! Chiến thắng rồi!”- Tôi mỉm cười thốt lên trong lòng, chợt thầm nghĩ: “giữa chốn mưa bom bão đạn mà vẫn có tiếng hát lạc quan , hồn nhiên đến thế thì quân ta cầm phần thắng là chắc rồi!”. Đúng là những cô gái DCHT đã mang hơi thở quê hương đến tận chiến trường khói lửa, nhóm lên tràn ngập niềm tin chiến thắng, làm sống lại những thương binh tưởng chừng đã chết như chúng tôi. Tiếng trực thăng từ xa vọng lại, mỗi lúc một gần, đã cắt ngang dòng cảm xúc, kéo tôi trở về với thực tại. Cô gái DCHT vừa đẩy thuyền nhanh hơn vừa theo dõi máy bay địch. Chiếc trực thăng gầm rú lượn qua đầu chúng tôi rồi lại quẩn lại, nó tìm kiếm, soi mói mặt đất và dòng sông, thi thoảng lại bắn một hồi vu vơ. Chỉ cần một dấu hiệu khả nghi là nó nã đạn như mưa luôn. “Gần tới bờ chưa cô?”- Tôi lo lắng hỏi. “Gần tợi rôi, đồng chị cộ lên ha!”- Cô gái vừa an ủi tôi vừa liên tục khua chèo, chiếc mũ tai bèo lật về phía sau. Bỗng cô nhảy tùm xuống nước, cô nói phía trước có vật cản là một cành cây to chặn ngang khúc sông, hai tay cô vừa đẩy vừa lái thuyền về hướng khác, người cô ướt sũng, ánh trăng rọi vào mái tóc đen bị buột ra xõa xuống khuôn mặt còn rất trẻ. Cô lên thuyền và vội vã khua chèo. Lúc này, bỗng nhiên tôi không còn thấy đau đớn mà chỉ thấy ái ngại cho cô gái, sợ cô kiệt sức và quá mệt vì mình. Tiếng máy bay mỗi lúc gần hơn, nó đang trên đường quay trở lại. Hình như lúc này mọi thuyền khác cũng đều cập bờ như thuyền tôi. “Tợi bờ rôi, cộ lên nao cạc đông chị ơi!”. Vừa hô cô gái vừa nhảy ra khỏi thuyền, hai tay cô cố đẩy thuyền vào sát bờ. Chiếc trực thăng đang soi trên đầu chúng tôi, nó quạt rẽ những khóm cây bụi cỏ ven bờ, nó nhả đạn vu vơ vào những chỗ khả nghi, vừa đó thôi bầu trời còn yên bình thơ mộng là thế vậy mà giờ đây cả khúc sông lại cồn lên, nháo nhác như gà con gặp quạ. Tằng...tằng…tằng. Cát ở cạnh thuyền tôi tung lên, trong tích tắc cô gái chồm lên người tôi, cả thân thể cô với khuôn ngực ấm nóng đè lên người, lên cổ, lên mặt tôi. Tôi biết cô làm động tác che đạn cho tôi. Bất chợt, một cảm xúc lạ lùng trào lên trong tôi. Nỗi sợ bom đạn kinh hoàng trước sự sống và cái chết hòa lẫn cảm xúc đầu đời của một chàng trai tuổi 20 chưa một lần tiếp xúc thịt da người con gái. Lần đầu tiên trong đời tôi tiếp xúc con gái ở cự ly gần nhất, thật trớ trêu lại trong hoàn cảnh sự sống và cái chết cận kề với cô ấy và tôi. Trong giây phút ngắn ngủi đó tôi kịp nhận ra, khi phải đối mặt với kẻ thù, cái chết dẫu càng gần thì tinh thần đồng đội càng trở nên cao cả, sức mạnh lòng yêu nước càng trở nên cháy bỏng đến tột cùng, tình yêu thương và đức hy sinh càng dài càng rộng. Bởi vậy, cô gái đã không do dự ôm trọn cơ thể tôi, quên mình để che đạn cho tôi. Bỗng tôi giật mình khi thấy nóng nơi bả vai, tôi sờ tay lên vai. “Trời ơi, máu! Tôi bị thương rồi đồng chí ơi!”- tôi thốt lên, hai tay vừa lay gọi cô gái. Cô gái từ từ ngồi dậy, cô cũng đưa tay ôm lấy bả vai mình, không kịp nói gì, rồi cô gục xuống. Trên bầu trời tiếng trực thăng đã dần xa, đằng kia những thuyền khác cũng đang nháo nhác, di chuyển, tôi nghe một giọng nữ người Quảng Bình gọi to: “Chụng my ơi, cại Thặm nọ bị thương rôi!”. Mọi người đổ lại chỗ chúng tôi, họ gọi cô ấy là Thắm và rồi đưa cô ấy đi. Bàng hoàng như vừa trong cơn ác mộng, tôi lại tiếp tục sốt li bì, khi tỉnh dậy thấy mình nằm ở một trạm phẫu phía sau an toàn. Và cũng từ đó tôi không có tin tức gì về những cô gái dân công hỏa tuyến trên dòng Ba Lòng đêm ấy nữa. Sau này tôi có hỏi thăm một số nơi nhưng cũng không ai hay. Giờ đây họ ra sao? Ai còn ai mất? Và cô gái tên Thắm, người đã để lại một vạt máu nóng trên bờ vai tôi để giữ mạng sống cho thương binh, để hoàn thành nhiệm vụ, liệu bây giờ chị có còn hay đã hy sinh ngay từ đêm ấy? Mong rằng chị vẫn còn sống đến ngày hôm nay! Từ ngày đó trở đi tôi luôn thấy mình nợ người con gái tên Thắm trên dòng Ba Lòng năm xưa một món nợ mà không bao giờ trả được. Các chị đã góp những giọt máu của mình, viết lên những chiến công với tinh thần quyết tử làm nên chiến thắng Thành Cổ, xứng đáng là những nữ DCHT anh hùng của cách mạng Việt Nam. Qua bài viết này tôi muốn bày tỏ lòng tri ân tới tất cả các chị đã cứu và đưa những thương binh chúng tôi qua sông Ba Lòng đêm ấy.





Người thứ mười một...

Cuối tháng 5 - 1973 tôi được đưa về trị thương tại bệnh viện Quân Y 112 - tỉnh Quảng Bình. Vì sợ địch ném bom tập trung vào bệnh viện nên những thương binh chúng tôi được sơ tán vào các nhà dân gần đó. Chúng tôi gồm bốn thương binh sơ tán vào một gia đình có hai vợ chồng và năm người con. Tôi không nhớ được tên người chủ nhà, chỉ nhớ đó là xã Hoa Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình. ở được bốn ngày, hôm ấy vào khoảng 4 giờ sáng, khi đoàn xe ta chở thương binh từ chiến trường ra, để địch khó phát hiện đoàn xe phải đi bằng đèn gầm, ở đoạn lên dốc ánh đèn xe ghếch lên gây ánh phản quang trên bầu trời làm máy bay địch phát hiện, nó lập tức thả pháo sáng và ném bom sát thương xuống khu vực làng Hoa Thuỷ. Đã thành nếp, mọi người mau chóng di chuyển vào hầm. Bác chủ nhà thúc giục và dìu từng thương binh, tôi là người sau cùng được bác dìu vào hầm an toàn. Đây là một ngôi nhà hầm có chiều dài khoảng 5m, rộng 3m, bên trong có cả ván kê làm giường, sau khi cả gia đình và bốn thương binh chúng tôi đều đã vào trong hầm, bác chủ nhà hỏi: “đủ mười một người chưa?” tiếng đồng thanh “đủ rồi ”! Tôi đứng ở bậc cuối cùng phía cửa hầm, vừa dứt lời thì đoa…oa…oành. Lửa lóe lên, tiếng nổ rung trời, bật tung người tôi lên rồi quật tôi xuống, hai chân tôi bị đất vùi đến đầu gối, toàn bộ cơ thể phần còn lại của tôi bị lửa trùm lên. Tôi đau đớn trong kinh hoàng, chỉ một loáng mà lửa đã liếm sạch quần áo trên người tôi, tôi đưa mắt nhìn về phía ngôi nhà đang cháy, thoáng nghĩ: “Vậy là tất cả đã không còn gì, cả giấy tờ của anh em chúng tôi ở đó, có lẽ nào tôi lại chết trong lần trúng bom này chăng?''. Tôi đưa mắt nhìn vào trong, giữa nền hầm bị bom dội xoáy thành một cái hố to, nóc hầm sập xuống, cây đòn nóc đè ngang cổ ông chủ nhà, ông cố hết sức giẫy giụa, tiếng è…è…è… phát ra từ cổ ông mỗi lúc một nhỏ dần. Tôi cố nhoài người về phía ông, hy vọng giúp ông nâng cây kèo ra khỏi cổ, nhưng cố nhoài … cố nhoài, cũng chỉ là bất lực. Một thương binh mặt đầy máu đang cố lết trong đống đổ nát, còn tôi cứ lịm dần…lịm dần. Tiếng gọi í ới làm tôi cứ mơ hồ… thấp thoáng tôi nhận ra chiếc áo blue trắng, chợt thấy nhói đau như cắt nơi thắt lưng, hình như ai đó đã cắt cái chun quần lót dính vào eo lưng của tôi, rồi tôi không nhớ gì nữa. Tỉnh dậy thấy mình nằm trên chiếc giường phao bơm hơi, toàn thân được băng kín như bức tượng trắng toát, muốn nói nhưng miệng và mặt căng không thể cử động. Hằng ngày bác sĩ Liên ân cần chăm sóc và kể lại chuyện cho tôi nghe. Hơn mười ngày liên tục tôi được tiêm thuốc ngủ an thần, bởi, mỗi khi nửa tỉnh nửa mơ tôi lại thấy mình lăn lộn trong lửa. Sau đó tôi mới biết mình bị bỏng đến khoảng 80% diện tích cơ thể, phải lột toàn bộ da phần thân và hai cánh tay, cũng may là độ sâu của bỏng chỉ độ 10%. May cho tôi, lại đúng dịp đoàn bác sỹ ở Hà Nội vào và viện trợ thuốc kịp thời nên tôi là người may mắn được cứu sống. Bệnh viện 112 được khen thưởng vì thành tích lần đầu tiên cứu được bệnh nhân bỏng nặng như tôi. Đến ngày thứ 18, khi đã tỉnh táo hơn nhiều, tôi đề nghị với các bác sỹ cho tôi trở lại thăm ngôi nhà và căn hầm nơi tôi bị trúng bom, vì tôi chưa biết mọi người cùng ở với tôi khi đó thế nào? Tôi như một bức tượng trắng ngồi trên xe lăn, hai cô y tá cùng đẩy xe đi. Từ xa tôi nhìn thấy cảnh làng mạc bị bom tàn phá hiện ra. Mảnh vườn vừa hôm nào tôi đến còn sức xanh là thế, vậy mà giờ đây điêu tàn đến xót xa. Cây mít góc vườn vỡ toác, cành lá bay đâu hết, mấy khóm chuối xác xơ cháy xém vì khói bom, ngôi nhà cháy nham nhở, mấy cái cột đen thui đổ xuống, vô hồn. Căn hầm bị cày xới tan nát. Nhìn thấy chúng tôi, một người đàn ông bước ra giọng run run, nói: “Đây là nhà em chú của tôi, trong trận bom vừa qua cả gia đình chú ấy đã mất”. Ông lau nước mắt rồi cúi đầu mời khách vào nhà, chúng tôi lặng lẽ cúi đầu bước theo. Một y tá cất tiếng nghèn nghẹn: “Thưa bác và gia đình, người ngồi trên xe lăn này là thương binh Nguyễn Thanh Xuân, người duy nhất còn sống trong ngôi nhà hầm hôm đó đấy ạ!”. Nghe vậy mọi người xúm lại hỏi chuyện, nhưng lúc này tôi không thể nói được gì, ngực tức nghẹn, cổ cứng lại vì quá xúc động, xe của tôi lăn vào trước sân nhà. Bảy ngôi mộ nằm xếp hàng trên nền nhà cũ, chiếc bàn thờ bị bom làm cháy nham nhở, đen thui. Trên bàn thờ có một nải chuối xanh với quả bòng và mấy nén hương đang cháy dở. Nghe người bác trong nhà kể lại thì sáu mẹ con chết ngay tại chỗ, còn người bố bị cây kèo hầm đè làm gãy cổ, được bệnh viện 112 cấp cứu và chín ngày sau ông tỉnh lại. Nhưng khi biết tin vợ và các con đã chết hết, nỗi tang thương lớn ấy làm ông không chịu được, nên ông cũng qua đời. Trước khi chết ông có nguyện vọng được chôn cất cả gia đình trên chính nền nhà ông. Ba người thương binh còn lại, thì hai người đã chết tại căn hầm, còn một người vào viện được bốn ngày sau thì cũng không còn. Vậy là, mười một người trong căn hầm hôm ấy - mười người đã chết, chỉ còn lại một mình tôi, người thứ mười một, còn sống. Tôi bàng hoàng và chết lặng trước sự thật phũ phàng, một nỗi đau tột cùng của nỗi đau. Tôi trở lại bệnh viện 112 tiếp tục điều trị thương, thấy lòng như nát tan và buồn đau vô hạn . Ba tháng sau tôi được chuyển ra Bắc và cũng từ đó cứ những đêm trái gió trở trời, đồng hành cùng những cơn đau của thân thể là nỗi đau trong tâm hồn. Tôi vô cùng biết ơn những người đồng chí đồng đội, biết ơn bệnh viện 112 khi xưa ở xã Hoa Thuỷ, huyện Lệ Thuỷ, tỉnh Quảng Bình, tôi ước một ngày gần đây, khi còn đủ sức khỏe sẽ được đưa cả gia đình về thăm lại những nơi xưa, mong gặp lại những người còn sống và thắp nén nhang xin được cảm tạ những linh hồn đã khuất. Những đồng chí đồng đội, những người dân chân chất thân thương hơn ruột thịt, dù họ còn sống hay đã mất thì hình ảnh họ vẫn luôn đi theo tôi đến hết cuộc đời này. Tôi biết, cả đời tôi còn mắc nợ với họ…
                                                                                                                   
Tác giả:  Nguyễn Thị Sáu                                                   
Đ/C: Tổ 6 – phường Ga Sàng –thành phố Thái Nguyên,  tỉnh Thái Nguyên    -                                ĐT: 01697. 584 . 906
READ MORE - CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ THÀNH CỔ - Ghi chép: Nguyễn Thị Sáu - Kì 2

Monday, March 9, 2015

VỀ SÔNG TÂM TÌNH VỚI PHỐ - thơ Vũ Miên Thảo




VỀ SÔNG TÂM TÌNH VỚI PHỐ

Giã từ kẻ chợ
đôi khi
sông đêm về với thầm thì
sóng ru
ngã ba sông nhớ giọng hò
tan vào âm sóng hòa thơ
ru tình
sông đêm
sóng vỡ màu trăng
sao trời ngụp lặn vớt hằng hà thương
Giã từ
góc phố tha phương
về sông lại gặp vô cùng nỗi vui
đường xưa
ở lại phố ơi
dấu xưa
tìm lại khoảng trời ta yêu
phố người!
thôi!
Giã từ nhau
hai quê
thương nhớ
trắng màu hoa niên.


VMT
READ MORE - VỀ SÔNG TÂM TÌNH VỚI PHỐ - thơ Vũ Miên Thảo

VIẾT CHO MỘT LOÀI HOA KHÔNG BIẾT TÊN - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân




VIẾT CHO MỘT LOÀI HOA KHÔNG BIẾT TÊN

*Mỗi sáng anh thường qua nhà em, có giàn hoa tím không biết tên, những chùm hoa vươn dài hương kẹo ngọt. Ta gởi trong hoa niềm mơ ước, ửng hồng trong nắng mai lên. Buổi sáng trong veo, hoa và em một lần hóa kiếp, hiền ngoan như giọt sương sớm đầu cành.

*Buổi chiều anh cũng thường hay qua đó, hương hoa giờ đã nhạt rồi. Có người con gái môi hồng tươi, chúm chím khoe duyên với sắc trời. Tôi cũng không biết tên em như loài hoa vươn dài hương kẹo ngọt. Có một điều mà tôi biết được: tôi, loài hồ điệp đa tình với hoa

*Một lần sắp sửa đi xa, lang thang qua từng nẻo phố, lòng buồn như câu chuyện cuộc đời. Đi qua nhà em đêm ấy mưa rơi, mưa dài không tưởng nổi. Trước cửa nhà em im lìm, một người đứng yên đêm dài mưa lạnh. Chạnh lòng ngỏ với hoa đêm. Ừ thì hoa với em chưa một lần biết tên, sẽ theo ta mãi mãi…

*Xa quê mấy năm trời, nay lại tìm về nơi chốn cũ. Nhà của em ở gần đầu phố, đã mấy mùa đổi thay, hoa xưa vẫn còn đó nhưng đã khô gầy. Bỗng nhà em vang tiếng trẻ khóc, có thể là em… đã thật rồi(!) Nhưng còn lại mùi hương hoa kẹo ngọt, hoa ấy không biết tên mà gợi lại một nỗi buồn có thật. Nỗi buồn như rượu ngấm, một đời say mãi không thôi.

                                        Nguyễn Hữu Minh Quân
                                                     (1993)


READ MORE - VIẾT CHO MỘT LOÀI HOA KHÔNG BIẾT TÊN - thơ Nguyễn Hữu Minh Quân

Sunday, March 8, 2015

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ THÀNH CỔ- Ghi chép: Nguyễn Thị Sáu - Kì 1

CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ THÀNH CỔ
Ghi chép: Nguyễn Thị Sáu

Kì 1

Cả thế giới biết đến 81 ngày đêm chiến đấu ngoan cường của quân và dân ta bảo vệ Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè đổ lửa năm 1972. Thời gian qua đi đã hơn 40 năm, độ lùi của năm tháng đã đưa những nhân chứng sống ngày đó tới tuổi lục thập, thất thập. Nhưng, có những sự việc, chi tiết... tưởng như nhỏ nhặt mà vẫn còn rưng rưng, găm mãi trong ký ức họ và vẫn còn tươi rói cho tới tận hôm nay.

Ông Trịnh Mạnh Hùng, Bí thư Chi bộ xóm Cây Bòng, xã La Hiên, huyện Võ Nhai dẫn chúng tôi đến nhà ông Nguyễn Thanh Xuân, 64 tuổi - nhân vật chính trong phóng sự nói về một thương binh đã vượt khó vươn lên làm kinh tế giỏi bằng cây na, do Đài Truyền thanh - truyền hình Võ Nhai thực hiện tháng 7 năm 2013. Ông Hùng kể thêm với chúng tôi: "Anh Xuân được trực tiếp tham gia chiến đấu nhiều trận ác liệt ở Thành cổ Quảng Trị vào mùa hè đổ lửa 1972, từng tham gia trọn vẹn trận Đường Chín - Nam Lào năm 1971. Anh là thương binh, mất đi 35% sức khoẻ, nhưng sau khi chiến tranh kết thúc anh tiếp tục học đại học rồi trở về quê nhà làm thầy giáo dạy văn. Anh có 16 năm đứng lớp tại trường cấp III Võ Nhai. Do ảnh hưởng vết thương cũ, anh về nghỉ hưu sớm. Hiện tại anh Xuân là Chi hội trưởng Cựu chiến binh xóm Cây Bòng. Là người yêu văn nghệ, tính tình vui vẻ, thích giúp đỡ người khác, anh luôn đi đầu trong các phong trào văn hoá văn nghệ ở địa phương. Hiện tại anh tham gia hoạt động trong năm tổ chức xã hội ở xóm, xã và huyện, ở cương vị nào anh cũng hết lòng vì công việc nên anh được mọi người tin và quý. Anh chị có một mái ấm hạnh phúc cùng bố mẹ già và ba đứa con đang học phổ thông đều chăm ngoan, học giỏi…".

Chúng tôi chăm chú nghe ông Bí thư Chi bộ kể về ông Xuân, còn ông Xuân thì chỉ cười và khiêm tốn: “Tôi nghỉ hưu rồi, ở nhà vườn tược mãi cũng buồn cô ạ. Được mọi người tín nhiệm, tôi cũng cố gắng tham gia hoạt động xã hội, mong góp chút sức lực cho quê hương để thấy đời vui hơn. Ông cười mãn nguyện khi nói về những công việc ông đang làm. Đang vui là thế, nhưng khi chúng tôi hỏi chuyện về cuộc đời người lính và những trận chiến đấu ở Thành Cổ thì nét mặt ông chùng hẳn xuống. Một lát, ông run run lấy khăn tay lau nước mắt, nghẹn ngào: “Chuyện chiến trường thì nhiều, với tôi, mỗi câu chuyện là một nỗi niềm sâu nặng, đau đáu đến tận bây giờ, và chắc sẽ theo tôi đến hết đời! Hiện tại điều kiện cuộc sống chưa thể cho phép nhưng tôi vẫn hy vọng một ngày gần nhất được trở lại chiến trường xưa, thăm lại nơi đã gắn những kỷ niệm sâu nặng với cuộc đời tôi. Tôi muốn tìm gặp những đồng đội, những ân nhân của tôi”.




Nhấp ngụm trà nóng như để nén lại lòng mình, ông Xuân bắt đầu kể.

Đường dây hữu tuyến và người thứ ba còn lại

Tân Lâm là một trong những căn cứ lớn, có hỏa lực mạnh nhất của địch ở vùng giới tuyến. Bấy giờ tôi là tiểu đội trưởng, dưới sự chỉ huy của đại đội trưởng Quang, thuộc đại đội 1, tiểu đoàn 4, trung đoàn 24, sư đoàn 304 (C1-D4-E24-F304), kết hợp với sự yểm trợ của trung đoàn pháo, trung đoàn phòng không, đơn vị chiến xa, bộ đội hoả tuyến, công binh… Nhiệm vụ của chúng tôi là mai phục, tấn công phía tây Thành Quảng Trị. Quân ta dàn quân mai phục, đào hầm vây lấn ngày đêm ăn ngủ tại trận địa, mục đích câu dầm đợi quân địch mệt mỏi thừa cơ ta tấn công. Địa điểm mai phục của quân ta được chia làm hai vòng. Vòng một cách căn cứ của địch là 80m, vòng hai mai phục bên ngoài cách vòng một là 120m. Tôi thuộc Sở Chỉ huy đại đội được đóng chốt tại vòng hai, cách căn cứ của địch là 200m, tư thế luôn sẵn sàng xông lên yểm trợ cho vòng một khi cần thiết. Địch dùng đại liên xối xả bắn ra, quân ta ở vòng hai dùng B41 bắn vào. Tình hình chiến sự rất nóng bỏng, chốt điểm vòng một của ta vì đang mai phục bí mật nên có lệnh tuyệt đối không được nổ súng, tránh bị lộ. Hai bên đang kiềm chế nhau từng phút từng giây thì bỗng nhiên chúng tôi mất liên lạc với chốt điểm vòng một phía trước. Đại đội trưởng Quang dáng người rất thư sinh nhưng khi chiến đấu thì rất tháo vát và anh dũng. Tôi vẫn còn nhớ tiếng hô to của Đại đội trưởng Quang lúc bấy giờ: “Đồng chí Xuân!”, “Có tôi!” - tôi tức thì đáp lời. Anh ra lệnh: “Đồng chí lần theo đường dây liên lạc bị đứt, xử lý cho thông suốt liên lạc và về báo cáo lại tình hình!” .“Tuân lệnh!”. Tôi xách AK nhảy khỏi hầm, vẫy tay hô: “Đồng chí Đệ và đồng chí Tuyến theo tôi!”. Ba chúng tôi lập tức lao lên theo đường dây hữu tuyến. Tằng… - tằng… - tằng…, tiếng súng địch bắn xối xả liên hồi, khói mù mịt trời đất. Chúng tôi vẫn lao về phía trước, được khoảng 50m thì thấy đường dây liên lạc bị đứt cuốn thành cuộn xoăn tít. Tuyến xông vào nắm lấy đầu dây, tôi ôm súng lăn một vòng tròn về phía trước, vừa chạy vừa tìm đầu dây đứt còn lại, hai thằng tôi bò nghiêng trên mặt đất. Lúc này địch tăng cường bằng hai khẩu đại liên bắn chéo nhau, tôi tìm được đầu dây đứt bên kia nhưng quay lại thì Tuyến đã trúng đạn ngã lăn ra đất. Đệ vừa tới kịp lao vào ôm lấy Tuyến. Tuyến đưa mắt nhìn Đệ rồi nhìn tôi, tiếng của Tuyến yếu ớt trong tiếng súng đạn mịt trời. “A…nh… ph…ải …là… li…ên…l…ạc…số…ng!”. Tôi không đủ thời gian nghĩ gì ngoài nhiệm vụ được giao chưa hoàn thành. Tôi nhìn Tuyến lần cuối cùng rồi lệnh cho Đệ ở lại lo cho Tuyến, cắn chặt nỗi đau mất bạn trên vành môi, một mình tôi tiếp tục xông lên. Tôi cắm đầu chạy về phía trước, dưới làn đạn của địch nã như mưa. Cách chốt điểm vòng một của ta chừng 70m, vì sợ địch phát hiện chúng tôi đã chớp nhoáng làm tín hiệu riêng như đã thống nhất theo kiểu mã hoá hình ảnh, động tác. Các đồng chí bên chốt sử dụng một cái que bất kỳ, giơ lên, nếu que đứng thẳng là đồng đội an toàn, nếu que nằm nghiêng thì có sự tổn thất, que càng nghiêng nhiều thì quân mình tổn thất càng lớn. Tôi thở phào vì thấy chiếc que giơ lên vẫn thẳng đứng, biết được đồng đội mình ở đó vẫn an toàn. Đáp lại tín hiệu từ chốt điểm vòng một, tôi đưa hai ngón tay trỏ bắt chéo, nghĩa là tôi ra lệnh cho đồng đội phải bám trụ đến cùng, khi nào trời tối hẳn, chờ lệnh mới được rút quân.

Tôi đưa tay sờ nắn khắp cơ thể thấy mình không bị trúng đạn, kiểm tra lại trang bị thì thấy cái quai súng của mình bị xiên thủng hai lỗ, quay lại tìm đồng đội nhưng không thấy Đệ và Tuyến đâu nữa. Trở lại Sở Chỉ huy, tôi báo cáo tình hình và nhận lệnh tiếp của Đại đội trưởng Quang. Hôm đó đại đội tôi đã hy sinh khá nhiều, hai thằng trong nhóm bộ tam cùng xông lên nối đường dây liên lạc với tôi còn rất trẻ, cả ba chúng tôi đều mới vừa bổ sung về Đại đội 1 nên chưa kịp hỏi về hoàn cảnh của nhau. Tôi chưa biết gia đình tụi nó thế nào. Riêng có điều này thì tôi hiểu rất rõ, hành trang của tôi, của Đệ và Tuyến, khi xông pha ra chiến trường chỉ có trái tim nóng bỏng tuổi hai mươi, cứ hồn nhiên dâng hiến cho Tổ quốc và cũng thản nhiên nhận về mình cái chết nhẹ như lông hồng. Tôi thấy mình còn may mắn hơn nhiều so với những đồng đội đã phải nằm lại chiến trường. Đến tận giờ tôi vẫn chẳng lý giải được, dưới làn mưa đạn của địch như vậy mà tôi vẫn còn sống sót? Có lẽ, tôi chỉ còn biết cảm ơn cái quai súng đã hứng những viên đạn để cho tôi được bình an. Nhưng… Tuyến ơi! Đệ ơi!...

Bỗng nhiên ông Xuân bật khóc, nấc nghẹn!

… Ngày 1/5/1972, quân ta hoàn toàn làm chủ được cứ điểm ái Tử, cứ điểm Tân Lâm… và giải phóng Quảng Trị. Quân địch bỏ chạy khỏi các căn cứ và rút về phía nam sông Thạch Hãn phòng thủ, chắc rằng chúng tổ chức lại lực lượng, chuẩn bị cho đợt tái chiếm? Chúng tôi tiếp tục về chốt và bảo vệ ở Thành cổ. Lúc này, bọn Mỹ Ngụy giống như con thú bị thương, xù lông nổi giận và rắp tâm quay lại phục thù. Lần này chiến thuật của chúng quy mô hơn. Ngày 28/6/1972, chúng đổ thêm quân và huênh hoang gào thét "tràn ngập lãnh thổ", hòng tái chiếm Quảng Trị. Để uy hiếp một địa danh nhỏ bé chưa đầy 4,7km2 Thành cổ, chúng liên tục bắn pháo, dội bom suốt đêm ngày, trong đó có loại bom bi, mà thế giới liệt vào loại vũ khí phi nhân tính. Những quả bom mẹ rơi đến lưng chừng không rồi tách ra như vỏ quả đỗ. Những vỏ quả bom bi mẹ rơi lả tả trên bầu trời như lá tre gặp bão và tung ra những quả bom con như cơn mưa sắt rơi xuống mặt đất vô vàn những viên bi gây chết người. Mặt đất Thành cổ Quảng Trị đổi từ màu xanh thành màu đỏ do bom đạn địch cày xới đêm ngày. Ngày 12/7/1972 là ngày thứ 15 trong 81 ngày đêm rung chuyển Thành cổ Quảng Trị, rung động toàn cầu. Hãng UPI đưa tin, có tuần lễ Hoa Kỳ đã huy động máy bay chiến đấu của ba quân chủng lục quân, không quân, thủy quân ném tới 7 nghìn tấn bom và bắn tới 10 vạn quả đại pháo vào thị xã Quảng Trị. Nhưng tinh thần của quân và dân ta vẫn bất khuất kiên cường. Bộ đội ta bấy giờ hăng lắm, không phải thấy lực lượng nó lớn mà sợ đâu. Ngày nào cũng có rất nhiều đồng đội, đồng bào bị thương vong, có những đại đội hy sinh không còn ai, nhưng cứ hy sinh một người lại bổ sung thêm một người, hy sinh một đại đội lại bổ sung một đại đội. Không hiểu sao lúc đó không đứa nào trong bọn tôi biết sợ chết cả, tài sản thường trực trên người là bình toong, dao găm và súng đạn, lúc nào cũng ở tư thế sẵn sàng xông lên, sẵn sàng chết, quyết tâm bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc.

   Căn hầm và người sống sót

   Tối 23/7/1972, tức ngày thứ 26 trong 81 ngày đêm, khi trời tối hẳn, anh em chúng tôi nhận được lệnh rút quân về tuyến sau để nhận nhiệm vụ mới. Lúc này trong căn hầm trực chiến của chúng tôi chỉ còn lại ba người. ở cái khoảng lặng giữa những trận đánh, ba thằng tôi lại có những phút giây ít ỏi để nhớ nhà. Thằng Dũng quê Thanh Hóa, cái thằng gan lì mà thật hóm hỉnh, nó hớn hở khoe với chúng tôi: “Thông bạo, thông bạo đây, tin vui nì anh em ơi! Bửa ni đơn vị cọ quà hậu phương gựi vô đó! Mổi đồng chị một điểu Tam Đão đầu đọ và hai chiệc kẹo Hại Châu, thông báo hết!”. Vừa nói Dũng vừa tung gói quà vào tay Lâm. Lâm là người dân tộc Tày quê ở Bắc Kạn, người to béo ít nói. Lâm lặng lẽ bóc gói quà rồi chia cho tôi và Dũng, nó giữ lại một phần cho mình, Lâm cất hai chiếc kẹo để dành, và bảo: “Ây dà, quà hậu phương nó gửi là quý lắm vớ! Quà đến được tận nơi cũng như người nó đến tận nơi rồi à!”. Rồi nó tìm một góc ngồi châm lửa hút thuốc. Bên này Dũng hỏi tôi: “Anh Xuân đã có tình yêu chưa?”. Nghe Dũng hỏi tôi mới nhớ, quả thật, từ lúc rời ghế nhà trường vào bộ đội chỉ toàn luyện tập đánh đấm, súng đạn chứ chưa hề có cảm xúc và không có thời gian nghĩ về chuyện yêu đương. Tôi chưa kịp trả lời thì Dũng lại hỏi vui tiếp: “Sao như anh đang nhớ ai?!”. Tôi cười đáp: “Nhớ bố mẹ, gia đình, nhớ làng xóm quê hương chứ còn nhớ ai!”. Giọng Dũng trầm xuống: “Tui cũng thế, ở nhà bây giờ đang mùa chanh đó, vườn chanh không biết mùa ni trái đậu sai không? Mẹ tui ngày nào cũng dậy sớm mang chanh đi chợ, tui thương mẹ quá!”. Tôi hỏi Dũng: “Vậy còn cậu thì sao, đã yêu chưa?”. Dũng hào hứng kể: “Một cô bé hàng xóm dễ thương lắm! Chiều nào cô ấy cũng sang phụ mẹ tui hái chanh, hôm nào cũng vậy trước khi về không quên đun cho mẹ và tui một nồi nước lá chanh thơm nóng để gội đầu”. Tôi vỗ vai Dũng, nói tếu: “Vậy là ông tướng hơn bọn tôi rồi!”. Dũng tâm sự: “Tui thương và nhợ cô ậy, nhưng đện giờ tui vận chưa kịp nọi gì”. Tôi trách Dũng: “Sao giờ vẫn chưa nói?”. Dũng trả lời: “Chiện tranh mà, tui định bụng khi nào thộng nhất đật nước sẹ trở về nọi vợi cô ấy”. Tôi nhìn về phía cuối hầm, ở đó có tiếng sụt sịt, hình như thằng Lâm nó đang khóc?! Bỏ nốt chiếc kẹo vào mồm, Dũng kéo tay tôi, cả hai cùng đứng bật dậy, chưa kịp an ủi Lâm thì ...ù…ù…ùng…, bất ngờ một tiếng nổ lớn vang lên. Bỗng ngực tôi tức nghẹn, tôi cố vùng vẫy nhưng mỗi lúc càng khó thở hơn, muốn kêu lên nhưng không thể mở miệng. Cảm giác tôi sắp chết đến nơi rồi, đầu ngón chân đau buốt, tôi mơ hồ  nghe có tiếng gọi ới ới, rồi tôi không biết gì nữa. Sau này được nghe kể lại mới hay là một quả bom đã độn thổ chính giữa căn hầm chúng tôi, trong lúc đào bới, đồng đội đã vấp vào bàn chân thò nhô lên mặt đất của tôi, khi họ lôi tôi lên thì máu trong miệng tôi ộc ra. Tôi được đưa về điều trị ở trạm phẫu phía sau. Sau này tôi mới biết tôi bị ngạt do sức ép của bom và bị đất vùi làm vẹo và chấn thương cột sống. Ngay đêm hôm đó cả đại đội tôi tìm kiếm, đào tung cả khu hầm nhưng chỉ thấy thi thể của Hoàng Văn Lâm, quê ở Bắc Kạn. Cái thằng to khoẻ là thế, chiến đấu gan lì là thế, vậy mà, có lúc cũng khóc sụt sùi vì nhớ nhà, nhớ mẹ. Cái thằng còn không ăn hai cái kẹo, giữ làm tín vật hậu phương, cái thằng thật là! Vậy mà Lâm không còn nữa. Còn Nguyễn Văn Dũng, quê Nông Cống - Thanh Hoá thì mọi người đã không tìm thấy. Lâm và Dũng mãi ở lại đất Thành Cổ! Để rồi đêm đêm cỏ cây vẫn thì thầm kể chuyện cho đồng đội tôi nghe về mẹ, về gia đình, làng bản ,về mối tình đầu trong vắt, nưng nức hương hoa chanh vườn nhà. Còn tôi...

Ông Xuân lại sụt sùi khóc.

                                                                                Nguyễn Thị Sáu
                                                                                nguyensau.1205@gmail.com

READ MORE - CHUYỆN KỂ CỦA NGƯỜI LÍNH TRỞ VỀ TỪ THÀNH CỔ- Ghi chép: Nguyễn Thị Sáu - Kì 1

TRĂNG RU ĐIỆU NHỚ - thơ Trúc Thanh Tâm


READ MORE - TRĂNG RU ĐIỆU NHỚ - thơ Trúc Thanh Tâm

Thơ Đan Thụy: DÒNG ĐỜI ... VÀ NHỮNG RIÊNG MANG / THUỞ NÀO / ĐẮNG LÒNG

Tác giả Đan Thụy


DÒNG ĐỜI ... VÀ NHỮNG RIÊNG MANG

Ta nhẹ bước trong dòng đời hối hả
Nghe lòng mình tràn ngập những đam mê
Những bất chợt ... hay tình cờ... ngày ấy
Như khói như sương đan kín lối đi về

***
Ta lặng bước trong mùa Thu thơ mộng
Lá vàng bay quyện hương cốm vỡ oà
Anh có nhớ ... tay đan tay hè phố?
Nắng hanh vàng em áo lụa thướt tha!

***
Ta dạo bước dưới thềm đời rất thật
Nghe thanh âm đường phố rộn người xe
Anh phương ấy có nghe... chiều chật vật
Có thấy chênh vênh ... giọt nắng Thu vàng?

***
Ta dấn bước bên cuộc người tất bật
Nghe thời gian gõ nhịp đập hồn nhiên
Gánh mùa qua trên đôi vai đầy nắng
Bất chợt ... ngày nào thôi tím muộn phiền 

                                                    ĐT


THUỞ NÀO 

Em ngơ ngác
nhặt vần thơ cất giữ
Thả tình buồn
theo bóng nắng ... nhạt phai

***
Thu xào xạc
tim buồn, đau lá rụng
Thả hương bay ...
gợi nỗi nhớ tình xa

***
Bóng trăng Thu
hờn cúc vàng khóm lá
Dấu yêu ơi!
Thu vời vợi nơi nào?

***
Em thao thức
nghe nỗi buồn tím cháy
Trái tim yêu
rưng rức nhớ ... thuở nào!

                                  ĐT


ĐẮNG LÒNG 

Anh đốt cháy tình em
sao đành thế?
Xuân vội tàn
thương dáng ngọc phôi pha

***
Anh dan dối ...
hay vô tình lừa dối?
Nỡ để em buồn
phai sắc thắm môi hoa

***
Đóa cúc tàn
hờn Thu sao qua vội
Bấc vô tình
heo hút lạnh lòng Đông

***
Em vẫn hiểu
tình mong manh dễ vỡ
Nhưng vẫn đắng lòng
thương chiếc là thu phai

                                 Đan Thuỵ


Đàm Thị Hải
Công ty Tây Ninh Cosinco
Hoà Thành - Tây Ninh
Điện thoại : 0918266282

Email : damhaitn@gmail.com
READ MORE - Thơ Đan Thụy: DÒNG ĐỜI ... VÀ NHỮNG RIÊNG MANG / THUỞ NÀO / ĐẮNG LÒNG

Vĩnh Thông và 3 tác phẩm mới trong dịp Tết 2015


Vĩnh Thông và 3 tác phẩm mới trong dịp Tết 2015

Trong dịp Tết Ất Mùi 2015, Vĩnh Thông cùng lúc ra mắt 3 tác phẩm mới, đó là tập thơ “Trạng thái yêu”, tập truyện ngắn “Trở về và chào nhau” và tập sách du lịch “An Giang núi rộng sông dài”.

"Trạng thái yêu" là tập thơ thứ hai của Vĩnh Thông, dày 80 trang, khổ 12x19 cm, do NXB Hội Nhà văn liên kết cùng Cty CP Văn hóa Đất Việt xuất bản. Đây là tập thơ mà Vĩnh Thông đã ấp ủ và lên kế hoạch từ khá lâu và cũng rất tâm huyết, cả về nội dung lẫn hình thức. “Trạng thái yêu” có 40 bài, không phải toàn là thơ tình, nhưng tác giả đã cố gắng - cố tình chọn nhiều bài thơ tình làm mảng chủ đạo, buồn buồn vui vui và nhẹ nhàng. Bìa sách và trình bày ruột cũng do chính tác giả thực hiện.



Tập truyện ngắn "Trở về và chào nhau" khổ 12x20 cm, nằm trong Tủ sách Văn học 9x NXB Văn hóa Văn nghệ phát hành nhân dịp Đường sách Xuân 2015. Tập truyện gồm 10 truyện ngắn đã được đăng trên các báo, tạp chí. "Trở về và chào nhau" chủ yếu tập hợp những truyện ngắn về đề tài cuộc sống, nhẹ nhàng. Đặc biệt, có những truyện viết về đề tài đồng tính nữ - một đề tài mà Vĩnh Thông rất tâm đắc.

“An Giang núi rộng sông dài” là một dạng sổ tay du lịch vòng quanh An Giang, góp phần giới thiệu một cách tổng quan, cung cấp một số thông tin bổ ích cho bạn đọc - nhất là khách du lịch đến An Giang. Đây là thành quả sau một tháng ròng rã vào mùa hè năm Vĩnh Thông học lớp 11 (2013) nhưng đến đầu năm 2015 mới được chính thức ấn hành. Một món quà dành cho những người yêu du lịch đầu năm mới.

Tập thơ “Trạng thái yêu” giá 48.000 đồng, tập truyện ngắn “Trở về và chào nhau” giá 44.000 đồng và tập sách du lịch “An Giang núi rộng sông dài” giá 48.000 đồng. Tác giả rất mong các tác phẩm mới này sẽ được bạn đọc nhiệt tình đón nhận. Mọi nhu cầu tìm đọc, ủng hộ,  xin liên hệ qua email: vinhthongts@gmail.com, tài khoản ngân hàng số 0151000544834 - Vietcombank chi nhánh An Giang.

                                                                                                  VĨNH THÔNG

READ MORE - Vĩnh Thông và 3 tác phẩm mới trong dịp Tết 2015

CHÀO MỪNG NGÀY KỶ NIỆM PNQT 8-3 - Nguyễn Hồng Trân


CHÀO MỪNG NGÀY KỶ NIỆM PNQT 8-3
                                
Nhân dịp kỷ niệm 105 ngày PNQT 8-3 năm nay 2015, tôi xin nhắc nhắc lại một câu chuyện xưa về một tấm gương của người phụ nữ Việt Nam con nhà danh gia vọng tộc đã rất đầy lòng hiếu nghĩa, nhân ái hiếm có. Đó là chuyện công chúa Trần Huyền Trân. Một cô gái rất trẻ, mới quá tuổi trăng tròn đã tuân theo lời hứa hẹn của vua cha và lời khuyên của vua anh cùng quần thần dân chúng để đất nước được an bình, quan hệ hữu hảo với ngoại bang mà phải chịu đành lòng xuất giá lấy chồng xa, nơi xứ lạ nước người. Nhưng rồi số phận của nàng đã tiêu tan hy vọng. Tôi cảm động trước tình cảnh của Huyền Trân công chúa và làm mấy câu thơ để chia sẻ…


         TÌNH SỬ HUYỀN TRÂN
            
Mối tình lịch sử khó ai quên,
Công chúa Huyền Trân giữ lời nguyền.
Phải lấy Chế Mân làm vợ  kế.
Tăng phần quan hệ Việt và Chiêm.
Châu Ô, Châu Rý về Thuận Hóa.
Thỏa lòng mong ước cả đôi bên.
Nhưng phận của nàng thật xấu số.
Lấy chồng, chồng vội bỏ quy tiên.(1307)
Mang thân góa bụa đời dang dở .
Để lại ngàn năm một sử tình ...

                  Nguyễn Hồng Trân

Ghi chú: Công chúa Huyền Trân(1287-1312) là con gái của Vua Trần Nhân Tông(1258- 1293), em gái vua Trần Anh Tông. Để thực hiện lời hứa của vua cha sẽ gả con gái Huyền Trân cho vua Chăm để hai nước Việt -Chăm an bình hữu hảo.Vua con Trần Anh Tông đã chấp thuận cho vua Chế Mân nước Champa (Chiêm Thành) sính lễ giao hai châu Ô và châu Rí(Lý) về cho nước Việt và rước công chúa Huyền Trân về làm hoàng hậu.

          Ngày xưa nước Việt chúng ta ranh giới phía Nam chỉ đến Đèo Ngang mà thôi. Sau đó hai nước Việt và Chiêm cứ xung đột nhau bao nhiều lần. Vua Việt cho quân đánh đuổi quân Chiêm Thành lùi vào đến vùng Ma Linh Cửa Việt (thuộc tỉnh Quảng Trị bây giờ). Qua nhiều lần giao tranh rồi hòa hoãn, về sau được kết nối với nhau trong hòa bình thân thiện nhờ sự chuyển biến tình cảm bang giao giữa hai đức vua Việt và Chiêm trở thành thông gia với một chuyện tình đặc biệt.

                                                                     Nguyễn Hồng Trân
READ MORE - CHÀO MỪNG NGÀY KỶ NIỆM PNQT 8-3 - Nguyễn Hồng Trân