Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, February 4, 2015

CỚ GÌ? - thơ Trần Ngọc Hưởng




Cớ gì?

Cớ gì hẹn đến kiếp sau,
Sao mình chẳng nhận yêu nhau kiếp này!
Hai người cách một gang tay,
Bắc cầu dải yếm bao ngày hoài mong


Cớ gì đố lá diêu bông,
Xui anh vào cuộc sắc không kiếm tìm.
Mịt mờ điệu lý tầm duyên,
Tỏ mờ hư ảnh mấy miền nổi trôi.


Cớ gì một ánh nhìn thôi,
Một bàn tay, một bờ môi … thế mà
Người ta vẫn của người ta,
Và anh vẫn mãi mãi là … của anh


Cớ gì cây rút ruột xanh,
Hoa hồn nhiên vặn mãi mình mà tươi.
Hướng luôn về phía lứa đôi,
Mà ai ngày tháng mồ côi mỗi mình.


Cớ gì mà mãi nín thinh,
Cho gần gũi mấy cũng thành xa xôi.
Chuyến xe chỉ mỗi em ngồi,
Chỗ bên để trống lâu rồi đó em!

                          Trần Ngọc Hưởng


From:  <mrtranvansau@gmail.com>
READ MORE - CỚ GÌ? - thơ Trần Ngọc Hưởng

TÀ ÁO TRẮNG - Bích Long - Video: La Thụy

READ MORE - TÀ ÁO TRẮNG - Bích Long - Video: La Thụy

CHÙM THƠ VŨ MIÊN THẢO


                  Tác giả Vũ Miên Thảo


 RỪNG VÀ TA CUỐI NĂM                                                 

Hai tám
Tân Hòa đêm nhớ phố
mắt ướt sương
Nhỏ thui thủi một mình
đi chợ Tết, hẹn em giờ đã lỡ
giữa rừng già
ta chỉ biết…lặng thinh!

Bài tình ca
rừng đêm nghe ta hát
gió hòa âm, sol trưởng chợt trầm mê
Dầu Tiếng ơi! Xin đừng run sóng bạc
thôi thúc chi
ba mươi Tết Ta về!

Dù hai tám
đất vàng hoa Tết rụng
áo vàng em năm trước vẫn tươi màu
giao thừa phố
đêm cuối mùa tận hưởng
ngày còn duyên
ta cứ mãi còn nhau

Chiều ba mươi
chòi rừng ta thu xếp
ba lô. áo gió giày đi rừng
hai chậu lan rừng mang về hết
một tặng bạn thân, một gửi “người dưng”
  
Đã Tết năm lần
về chiều ba mươi
thắt thỏm ngóng chờ, mắt em ướt
hối hả gió dồn, hồn ta sướt mướt
em sẽ cười, đon đã dấu son môi

Nhớ nhà
nhớ phố
và nhớ em
cũng không thể bỏ rừng hiu quạnh
em thui thủi
nhưng có trường, có bạn
đêm một mình, rừng khóc!
chẳng người quen
  
Vậy nhé!
cứ chờ thêm hai tối
ta gặp khi đèn hội
phố hoa đăng
chợ Tết nhớ đừng mua hoa Tết
chẳng hoa nào …
đẹp nết như Phong Lan!   

                Vũ Miên Thảo


VIẾT VỀ DÒNG SÔNG HÒ HẸN

Vàm Cỏ của nhau tím màu hoa sông                                                 
dịu mát chiều hôm tình xanh ngọc                                                   
bờ Bắc nhớ bờ Nam áo hồng gội tóc                                                 
cho đôi bờ thơm ngan ngát hương lòng                          

Vàm Cỏ của nhau xanh trời hò hẹn                                               
bốn mùa lui tới chạm mùa thương                                               
bờ Bắc một ngày hoa thắm bến                                                   
bờ Nam trẫy hội đưa- đón má môi hường
đôi bờ chung con nước xanh trong                                                    
nhụy nở hoa khai chồi trổ mộng                                                        
cành thủy chung gió mùa reo với sóng                                               
khúc xuân nồng :                                                                         
Vàm Cò Đông ơi!                                                                              
Vàm Cỏ Đông!

                           Vũ Miên Thảo


CUNG MI THỨ MÙA ĐÔNG

Hết năm!
tờ thời gian ghi ngày tháng xa người
quặn niềm đau cát bụi
lốc lịch còn một tờ chờ đợi…
Hoạ Mi về rừng
bấc rung cành đơn côi

Hết năm!
những tàng cây quên mất tuổi tên
vườn ngậm sương mù
the thắt nhớ
mong người về
mai mùa xưa muộn nở
giao thừa
rượu nhạt
đắng môi quen

Hết năm!
ra phố
gặp nụ cười nhăn nhó
đối bóng gương đời
xin hỏi
phải là tôi?!
vài giờ cuối đông
hoa tàn
vung vãi phố
góc hẹp lặng lờ những đoá mồ côi

Hết năm!
phút cuối cùng bài hát mùa đông
cung mi thứ
trầm buồn theo tiếng lá
em không về
Hoạ Mi ơi!
xa lạ!
xuân sắc hương
vẫn ăm ắp nỗi se lòng!?

             Vũ Miên Thảo

THÁNG GIÊNG….MỘT MÌNH  


Đông đã cuối, khoe sắc hoa cười bướm
đêm  ba mươi, hương xuân tràn khắp chốn
hồn thanh tân rạo rực đón em về

Đông đã cuối, chiều nay mưa nuối tiếc
chuyện tình yêu dăm giọt nhớ mồ côi
sao người vẫn xa vời Mai đã Tết  

Đông đã hết, trời xanh trong sắc thắm
mùa nhân duyên oanh yến líu lo mừng
người không về ta và Tết cũng dững dưng

Đông từ giã, sao người không hội ngộ
vườn lạnh vắng, lá ru buồn với gió
chắc tại tháng giêng nên ta cứ một mình

                                      Vũ Miên Thảo


 CHỚM ĐÔNG NGHE BIỂN NHỚ ...

Im nghe một chút đông về
sương ru lá
nhớ sơn khê bóng người
mộng vừa đi đã chơi vơi
đêm chưa nửa
đã mẫn mùi hắt hiu
vừa xa
tay đếm mấy chiều
xứ người nghe biển hát liêu xiêu ngày
chớm mùa
năm ngón tay gầy
co ro lạnh
nắm không đầy dấu yêu!
gió xua hơi cũ lêu bêu
âm vang mùa nhớ về theo biển gào
xa trông loáng thoáng Hòn Khô (1)
hòn Chồng mất giữa chồm cao sóng vờn

Xa người
thêm nữa chon von
ngoài ta
đông, có ai còn nhớ ai?

                        Vũ Miên Thảo

(Nha Trang chớm đông 2004)
(10-2004 /10-2013)
(1) Núi Cô Tiên)

-----------------------------------
Tên  thật  VÕ TẤN LỘC – Hội VHNT Tây Ninh
Dđ: 01662408920
Đ/c : Hộp thư số 15/ Bưu điện huyện Hòa Thành Tây Ninh

READ MORE - CHÙM THƠ VŨ MIÊN THẢO

THẦY ĐỀ - Truyện ngắn của Tâm Giao Nguyễn Văn Tương






THẦY ĐỀ

Truyện ngắn của Tâm Giao Nguyễn Văn Tương
         
Dân gian hể thấy ai có máu dê thì gọi là thầy Đề. Bởi thế người ta gọi ông là thầy Đề riết rồi quen, quên luôn ông tên thật là gì. Riêng ông nghĩ thế nào thì chẳng ai biết, có điều ông không giận hay bực bội gì với cái tên ấy.
         
Dáng người khỏe, cao trung bình, tóc luôn luôn rẻ đường ngôi láng mượt với dầu brillantine, trán cao hơi trợt nhìn có vẽ lanh lợi nhưng lém lém một tí! Cằm vuông, miệng rộng và đặc biệt là cái môi không dày nhưng đều, không có khóe nên trông như một vòng tròn bị bóp dẹp lại một chút. Vợ đẹp con khôn bầy đàn, nhưng tại cái tính ưa léng phéng, đôi khi lại hại ông.Về phương diện tướng số nói rằng cái miệng ấy có tài ngoại giao.
         
Ông không làm ngoại giao mà chỉ là một viên chức nhỏ, thư kí văn phòng của một huyện. Cái tướng tốt ấy phát triển khá lắm.  Miệng mồm ông dẽo quẹo. Trong mọi câu chuyện tranh luận giữa bạn bè, ông luôn chuyển bại thành thắng. Phải chi ông dùng tài nầy đúng chỗ thì đường công danh ông chắc có thơm hơn để vợ con ông nhờ. Ông lại dùng tài nầy vào việc dê gái, mà gái của ông là mấy bà quá lứa lỡ thì hay góa chồng lúc còn xuân sắc. Ông ghẹo hay đáo để. Đã ra đòn là thắng, địch thủ chắc chắn ngã đo ván … trên giường!
          
Chuyện kể rằng: có lần đi công tác xa bằng một chuyến đò dọc, con đò đi mất một ngày một đêm mới đến chợ Phiên ở Cam Lộ. Khách đi đò đủ tầng lớp, đặc biệt là khách hàng buôn bán đường dài. Già có mà trẻ cũng có, sồn sồn thì nhiều nhất. Suốt ngày, ăn nghỉ, ngủ tại chỗ, lúng túng đủ điều, bởi thế người đem mọi chuyện đông tây nam bắc ra kể. Cái việc nầy thì thầy Đề tài tình lắm. Ông kể hay và có duyên, cái duyên “gù” gái mà, nên được nhiều người nể phục. Trong khi nói, ông để ý một cô mặt hoa da phấn nhưng tuổi đời như đã xế. Ông chép miệng nhủ thầm: Cái ngữ ấy mà đổi con mụ nhà quê của mình rồi thêm đôi trâu cày ông cũng khoái, người gì láng mượt. Có chồng con hay không có ngốc mà hỏi, ông đâu quan tâm việc ấy. Ông lân la lại gần để săn bắt đối tượng y như con cọp đã để ý con hoẳng béo tốt đang trong tầm vồ của nó.
         
Trời tối dần, ông càng lân la lại gần sát bên, Ôi con mẹ trông mát rượi, êm đáo để! Mọi người chuyện trò về khuya mệt mỏi lăn ra ngủ tay cứ lùa, chân cứ gạt qua lại làm sao kiếm ra được cái đằm đủ rộng để ngã cái thân mình là tốt rồi, không cần biết ngủ kế bên mình là ai. Bởi thế người xưa có câu hò: 
         -Trồng trầu trồng lộn dây tiêu,
         Con đi đò dọc mẹ liều con hư…
Hay:
        -Mẹ già cuốc đất trồng khoai
        Con đi mua ngọn nghe ai không về.
Thì có nghe những miệng mồm như ông Đề chắc quên đường về!
         
Ngọ nguậy làm sao như vô tình nhưng mang đầy chủ ý, ông thầy Đề lại ngủ kế bên người đẹp cả ngày ông hâm mộ. Càng về khuya, chỉ có hai người chèo đò mũi và lái là còn thức và hai tay đua nhịp nhàng cùng mái chèo.Trăng thanh gió mát, không khí yên ắng, chỉ còn tiếng róc rách xé nước của mái chèo. Âm thanh nhè nhẹ và đều đều làm cho ai nấy cũng trĩu nặng bờ mi và khép dần, chìm sâu vào giấc ngủ ngon lành, say sưa cùng tiếng hò lãnh lót đối đáp của các chủ đò ngược xuôi. Bỗng một người trở mình và có tiếng la hốt hoảng của một phụ nữ.
          -Tay ai? Ai có máy lửa kẹc lên coi, mau lên, tui bắt được tay người mô đang mò tui.
          - Ừ mau lên kẹc máy lên coi tay ai. Ông Đề cũng hùa la theo.
Khi sáng đèn lên mọi người nhao nhao:
          -Tay ai, tay ai…? Đêm khuya đi mò bậy bạ!
Mọi người tò mò hỏi :
          -Tay ai … tay ai…?
Cô gái cầm bàn tay lạ đưa lên.
          -Tay ai ?...Ủa, té ra là tay tui. Ông Đề nói tỉnh queo.
 
           Tình huống mang đầy kịch tính khiến mọi người nín chẳng được, bèn cười xòa sảng khoái. Thế là ông Đề gở được một bàn thua trông thấy.
          
Về văn thơ, thầy Đề cũng xứng đáng là một văn nhân. Chỉ mới tốt nghiệp pờ-ri-me nhưng ông nói tiếng Phờ-răng-xe ngọt xớt, đúng sai gì thì chẳng ai biết. Nhưng ông làm thơ cổ hay câu đối thì có tiếng trong vùng, người ta thường nhờ thầy Đề viết câu đối. Có lần một người bạn đồng liêu bị bạo bệnh qua đời, để lại bà vợ mơn mởn xuân xanh với vài mụn con nhỏ. Ngày đi đám ma bạn mình, thầy Đề điếu hai câu đối bằng chữ nho chính tay ông viết, nét chữ rồng bay phượng múa, chủ nhà rất quý và treo trang trọng ngay căn giữa cho oai, dẫu rằng bà mù tịt cán mai, chữ Việt còn đọc chưa thông nói gì chữ nho! Đối rằng:
"Sống gởi nạc, thác gởi xương, cám cảnh thương anh thiên cổ trước!
Trẻ chưa qua, già chưa tới, vãng lai thăm chị bách niên sau".
          
Một hôm có người bà con xa về ghé thăm, đọc hai câu đối của ông Đề thì giật mình thấy nội dung đen tối, hoảng hốt bảo bà chủ nhà gở ra đốt đi. Ông giải thích đó là hai câu đối ghẹo bà chủ … Đại khái như sau: “Sống chết thì nương nhau, thương anh đã chết trước, chị nhà còn trẻ, tui vãng lai thăm chị nối lại phần đời còn lại”, nghĩa là muốn phần đời còn lại –từ khi anh bạn chết- ông sẽ đi lại chung sống với bà đến bạc đầu! Thế nầy thì thầy Đề quá đáng lắm rồi.
          
Cũng bởi cái tội thấy mồi là đi không đứt, chẳng phân biệt phải quấy gì cả, con thú thì mắc bẩy, người thì mang họa vào thân.
          
Số là trong huyện có một ông nghè rất tiếng tăm. Ông Nghè làm sui với ông Bố chánh Quảng Điền. Nhưng không may người con trai xấu số của ông Nghè đã ra đi sớm, để lại cô con dâu mượt mà dễ thương, chỉ mới sinh một đứa con. Của ngon, gái một con trông mòn con mắt là thế nhưng trong vùng, chẳng ai dám léng phéng vì cái uy ghê gớm của ông nghè. Ông nghè là anh ruột của ông huyện. Ông Đề biết thế nhưng cầm lòng không được. Ngày ngày, cô con dâu của ông nghè đi chợ ngang cơ quan là ông Đề lân la làm quen, khi thì gởi mua giúp gói thuốc, khi thì chai rượu… Không biết ông Đề nói gì, riết rồi cá cắn câu nhờ cái miệng dẻo quẹo, và kết quả cuối cùng là ông đã gởi cho bà một cái bầu! Ông nghè phát điên vì mất mặt với bà con, tức giận vì thầy Đề đã dám giởn mặt ông. Bạn đồng liêu ai cũng ngán, thấp thỏm lo cho ông Đề. Chuyến nầy chết là cái chắc! Nhưng ông thì vẫn chiếc kính trắng tinh nghịch nhếch mép cười cười như chẳng có gì xảy ra. Ông chỉ nói đơn giản rằng bụng làm dạ chịu chớ phàn nàn chi ai.
          
Bẳng đi chừng nửa tháng sau, bạn bè thấy ông Đề sửa soan hành trang lên vùng sâu nước độc Ba Lòng, trên tay cầm sứ vụ lệnh thuyên chuyển nhiệm sở với lý do kỉ luật để ngày ngày vui với khỉ gió… Từ đấy không biết ông Đề đã tởn cái tội ăn trái cấm hay chưa?

                                            Tâm Giao Nguyễn Văn Tương


READ MORE - THẦY ĐỀ - Truyện ngắn của Tâm Giao Nguyễn Văn Tương

PHAN PHỤNG THẠCH - thơ Chu Vương Miện






PHAN PHỤNG THẠCH
[1942 - 1973]

tuổi già sao giống những ngày mưa
gió lốc xôn xao mấy xóm dừa
chữ nghĩa mấy rầy sao loạng quạng
lâu rồi xa lắm chả còn thư 
bạn nằm ngơi nghỉ 42 năm
ta sống lao đao cả miền nam
bây giờ xô dạt sang Mỹ quốc
nhìn lên vẫn một mẩu trăng rằm 
sống thác chả qua là cái số
ngắn dài đêm vẫn đủ năm canh
số bạn ở gần nơi nguyên quán
số ta thì loạn chốn dừng chân
trên 40 năm chả gặp nhau 
bạn nơi nghĩa địa làng Đạo Đầu
cây mận năm xưa còn hoa trái
hay cũng cùng người thoát khổ đau?
lấu quá không làm thơ làng xã
Ngô Xá Trung An lại Xóm Bầu
ta đi từ lúc 13 tuổi
ngoảnh nơi Hồng Quảng thấy gì đâu?
có buổi qua Hành Hoa ba bến
đồng lúa trời cao lẫn mấy mầu 
bao nhiêu kỷ niệm theo chiến nạn
chả còn gì? còn những đẩu đâu?
một bữa dừng chân nơi Chợ Cạn
nhìn qua Mỵ Thủy sóng bạc đầu
ngược lên chợ Sải về Thạch Hãn
nơi quê nghèo vẫn muôn thủa còn nhau
                                               
                                      chu vương miện

READ MORE - PHAN PHỤNG THẠCH - thơ Chu Vương Miện

Tuesday, February 3, 2015

GIẤC MƠ MÙA ĐÔNG - Nhật Quang


     Tác giả Nhật Quang

  

GIẤC MƠ MÙA ĐÔNG

Giấc mơ... lãng đãng phiêu bồng
Sa chân lạc giữa mùa Đông lạnh sầu
Gọi em chạm tới canh thâu
Ngàn sao giăng mắc, im sâu lặng tàn

Tìm em lay ánh nắng vàng
Hong mùa Xuân ấm, rộn ràng hương hoa
Ngỡ ngàng, giấc mộng bay xa
Giật mình, Xuân đã vỡ òa trong mơ.


NẮNG XUÂN

Long lanh sương đẫm Xuân mềm
Lộc non e ấp bên thềm nắng mai
Xuân mơ trở giấc canh dài
Bừng hương ngan ngát, Đào ,Mai rực hồng.

HƯƠNG XUÂN

Hương Xuân thoang thoảng dịu dàng
Hây hây trong gió, mai vàng ngủ mơ
Vườn Xuân ong bướm ngẩn ngơ
Rong chơi lạc bước, nhởn nhơ lối về.

                                  Nhật Quang
                                  (TP. HCM )

READ MORE - GIẤC MƠ MÙA ĐÔNG - Nhật Quang

HOA NỞ SAU GIAO THỪA - truyện ngắn Trạch An-Trần Hữu Hội






HOA NỞ SAU GIAO THỪA
Trạch An – Trần Hữu Hội

Khi hai đứa con gái cho nổ máy chiếc xe tay ga, ông Hoán còn dặn với theo:

-Mấy ngày trước thì chậu vừa vừa khoảng ba, bốn trăm, giờ này chắc chỉ một trăm, trăm rưởi thôi con nhé. Nhớ lựa búp có chớm vàng mới kịp.

Tiếng “da” thật to của hai cô con gái làm ông Hoán yên tâm, ông kéo cái bàn xa cầu thang thêm một chút, nơi ông định sẽ đặt cây mai chưng mấy ngày tết.

Từ ngày bán cái nhà ở quê, cơ ngơi mà vợ chồng ông tằn tiện dựng gầy hơn nữa đời mới có. Ông vào Sài gòn mua một căn nhà, không to, nó chỉ dài hơn cái phòng ăn ở nhà ông một chút, dược cái là có thêm lửng và lầu, cũng tạm đủ cho cả gia đình ông ta túc, ông thì cho là chật, nhưng các con ông thì cho là thoải mái vì bấy lâu chúng ở nhà thuê, cứ chung nhau trên cái nệm mỏng. Ba đứa con gái và một thằng con trai. Năm ngoái có thêm thằng rễ rồi đứa cháu ngoại ra đời, lại chuyển nhà, cũng được hai phòng. Gọi là phòng nhưng chỉ đủ cho hai cái nệm thước tư, ở giữa có cái ngăn bằng gỗ.

Tự cho mình là tằn tiện là vì khi vợ chồng ông lấy nhau, hai người không có lấy một đôi nhẫn cưới. Gia đình hai bên thì có đó nhưng không còn gì mà cho, Những đứa con ra đời trong thiếu thốn, xoay chạy cũng chỉ sữa “ông Thọ” pha thêm chút đường, đứa nhỏ thì thế, mấy đứa lớn ăn thịt nhưng là thịt “bàng nhạng”. không mỡ mà không nạc, tội chúng nó, nhai mãi mà không nhuyễn được đành phải nuốt chứ nhổ thì uổng ! Cũng may là ông bỏ dạy sớm, ra làm nghề chụp ảnh. Lương của vợ ông một tháng không bằng ông chụp một cuộn phim đen - trắng. Bù qua sớt lại gọi là đủ ăn, có dư ra đôi chục ngàn chơi cái huê cái hụi, để dành khi ốm đau!

Nhớ cái ngày chia tay bà con láng giềng, ai cũng bịn rịn bởi ông là người hiền lành tử tế. Nghèo thì nghèo thiệt, nhưng có chút gì cũng sẻ chia.Mười tám năm trước,ông mua được cái xe máy, cả xóm nhờ chiếc xe. Đi đâu xa chút thì mượn, có trở ngại công chuyên về trể thì ông cứ chiếc xe đạp, đạp đi chụp hình dạo. Đi bệnh viên Huyện, Tỉnh thì ông chở đi, nhiều lần ông phải bỏ tiền nộp phạt cho Công an giao thông vì chở ba người. “Vậy thôi, người ta đi bệnh viên chưa có tiền thuốc lấy đâu mà nộp phạt!” Ông thường nói với vợ như vậy. Ông san sẻ cái khó của mọi người nhưng với bản thân thì tiện tặn lắm. Ông thường dạy con như cách ông sống “ Mình ăn thì hết chớ người ta ăn thì còn…”

Ông càng mạnh miệng hơn khi cách nay bốn năm, một cơn đột quy đến với ông, tưởng khó qua khỏi, vậy mà đưa vào tới Sài gòn, hai ba người hàng xóm lên xe theo ông, ông trở về yên ổn, ca phẫu thuật đặt cái “ Xì Ten” gọi là thành công. Lúc lên xe, vợ ông lưng lối chỉ chín triệu bạc, cầm cái “lắc” vàng mới mua được nhờ tiền hưu. Khi bệnh viên dòi đóng chín chục triệu cho ca phẫu thuật thì cái chết cầm chắc trong tay. Tiên đâu có mà mổ. Hàng xóm, bạn bè… thông báo cho nhau, tin bay tới bên Mỹ, bên Canada… Rồi như có phép lạ, đứa con lên phòng dịch vụ bệnh viên đóng cái rụp! Hai mươi ngày nằm lại, lúc về, con ông nói còn thừa cả chục triệu, sữa và quà không tính! Toàn tiền giúp của bà con bạn bè, không nợ ai một đồng.

Giờ thì ông đang chuẩn bị đón cái tết nơi cái chốn gọi là đắt đỏ nhì thế giới, sau Hà Nội! Đó là người ta nói vậy chứ ông mới vào chưa tới hai tháng nên cũng chưa biết gì!

Đắt đỏ thì ông tính theo cái chuyện đắt đỏ, mua cây mai chưng tết thì vội gì mà dè mấy ngày gần tết mà mua, cứ chiều ba mươi ê hề mà chọn, không bán rẻ thì chở về Miền Tây, Quảng Ngãi, Bình Định…à, lỗ tiền xe!

oOo

Hai đứa con trở về, khi nó thắng xe trước ngỏ, nụ cười trên môi ông Hoán tắt hẳn. Hai chậu mai chúng mua về làm ông thất vọng, không có một búp nào ra hồn, búp lá cũng chỉ lèo tèo:

-Hết rồi hay sao con mua mai gì kỳ vậy ? xấu thế này mà rước tới hai chậu!
Hai cô con cùng trả lời:

-Hết rồi ba, con có mua bông giả về gắn thêm!

-Thì thôi, về mua hoa tươi cắm cũng đẹp mà. Mai thế này thì chưng làm gì! Bao nhiêu vậy?

-Dạ…ba trăm.

Ông Hoán buồn rười rượi, giận nữa, nhưng ví cận tết cận nhất, ông im lăng. Ngồi xuống xoay xoay xem kỷ hết cây mai này tới cây mai kia, Ông tính chuyện ghép cả hai cây làm một chậu!

Từ cái ngày các con ông lớn lên, học ra trường rồi đi làm, gia đình ông cũng qua cái túng thiếu, khỏi nuôi chúng cái ăn cái ở, ông cho chúng tự chi tiêu, nhiều khi ông giật mình vì chúng tiêu pha khá rộng! Có hôm vào thăm, chúng chở ông đi ăn nhà hàng Hàn Quốc, trả một triệu ba cho bữa ăn làm ông choáng váng! Khi chúng hỏi “ ngon không ba?” . Ông cười:

-Nhiều tiền quá, cho ba tô phở thì ngon hơn!

-Ba, ăn cho biết thôi mà, mai ăn mì tôm với tụi con ba ạ.

Ông biết con ông rất thương cha thương mẹ. Nhưng từ cái bữa ăn đó, ông hơi lo vì chúng tiêu pha không như ý ông, không như ông muốn ! Vợ ông cũng như ông, nhưng thấy ông không vui an ủi:

-Con nó làm được thì cứ cho nó tiêu pha, ngày còn nhỏ tụi nó khổ rồi!

Có một đều an ủi ông, ngày ông vào thăm con nơi xóm trọ, người ta ai cũng chào ông thân tình, ông thấy lạ, hỏi các con:

-Sao họ biết ba mà chào hỏi thế, nghe nói “dân Sài gòn” không ai quan tâm tới ai mà…

Chúng cười:

-Tụi con cũng sống như ba vậy, quan tâm họ thì họ thương mình. “Mình ăn thì hết, người ta ăn thì còn.” Chúng lại nhắc cái câu ông thường nói.

Gặng hỏi ông mới biết. Tháng lương đầu tiên của mỗi đứa, chúng mua sữa hết, đem biếu cho người già nghèo khổ trong xóm, rồi sau này thỉnh thoảng chúng mua quà cho họ, ai ốm đau thì cho tiền mua thuốc…Ông thích lắm, nhưng lâu rồi ông cũng quên. Giờ nhìn hai chậu mai, ý nghỉ “xem nhẹ đồng tiền” lại lẩn quẩn trong tâm trí ông!

Thường thì khi nào thấy ông buồn hay có đều gi phật ý là các con hoặc vợ ông an ủi, lần này cả mẹ lẫn con im re, có phần vui hơn nên ông càng buồn ! “Thôi thì tết nhất, cứ có hoa là đẹp rồi”. Ông cho cả hai gốc vào một chậu rồi đứng ngắm nghía, gắn thêm vài cái bông , lá, búp giả…Chậu mai tươi lên. Đứa gái út đi chơi về lôi trong túi ra một nắm những trái cầu xanh .đỏ .vàng…Phúc, Lộc, Thọ với tua tua…gắn lên trông cũng rực rỡ tết nhất, tuy có hơi màu mè !

Thấy cả nhà vui ông cũng vơi buồn.

oOo

Nhà có lệ thường là sau khi cúng giao thừa, thắp nhang bàn thờ…thì ông lì xì cho các con gọi là tài lộc đầu năm. Năm nay, vợ ông không chuẩn bị gì cả. ông hỏi thì bà nói:

-Mình lớn tuổi rồi, cứ để con cái nó mừng tuổi mình thôi.

Có lẽ dã chuẩn bị sẵn, sau giao thừa chúng kéo nhau trên lầu xuống, đứa nào phong bì đó, đến trước ông và vợ:

-Chúng con mừng tuổi ba mẹ.

Ông cảm động lắm, quên hết muộn phiền. Người ta nói: “nước mắt chảy xuống”. Ông chưa hề đòi hỏi gì các con, cũng chưa khi nào chúng đem tiền về cho ông bà, mặc dù chúng làm ra khá tiền…Nhưng mua chiếc xe, cái máy tính, ông nói với bà : “ Cứ cho con đi em…”

Xong thủ tục mừng tuổi, đứa con gái lớn nói:

-Ba, hai chậu mai không phải giá ba trăm đâu ba!

Ông nhăn mặt hỏi:

-Vậy chớ bao nhiêu?

-Dạ… bảy trăm!

Ông muốn lớn tiếng la con, nhưng:

-Khoan đã ba, nếu là ba, ba cũng mua giá đó mà có khi hơn, nếu trong túi ba có nhiều tiền…Mai thì vô số chậu đẹp, chỉ giá hai, ba trăm, búp nhiều…nhưng có bà già ngồi với hai cây mai này, bên cạnh là đứa cháu đang vốc cơm ăn, Hai bà cháu ở Tây Ninh, hai gốc mai này là mai nhà, nghe người ta kháo nhau đem mai lên Sài Gòn bán được nhiều tiên nên nhờ người bứng hộ, đem lên bán kiếm tiên về mua thuốc cho ba đứa bé bị bệnh. Không biết chăm nên không ra búp ra hoa chi cả, bốn ngày rồi không ai mua! Khi con thấy đứa bé vốc nắm cơm đã khô trong cái hộp xốp, con quyết định mua hai gốc mai, hỏi giá, bà nói:

-Một trăm ngàn củng được, đủ tiền xe cho nội về Tây Ninh thôi! nội lỡ dại nghe người ta nói mà tham…

-Con gởi bà hai trăm cho hai cây mai, xì xì đứa bé năm trăm. Hai đứa con biết là có thể bị lừa, nhưng nếu không thế thì chắc chắn là mấy ngày tết cứ ray rứt không yên!

Ông lặng người, mắt ông đỏ lên rồi bên khóe lăn xuống môt giọt nước mắt, Giọng ông nghèn nghẹn:

-Ba cảm ơn các con, là ba, ba cũng sẽ như thế, có bị lừa cũng được!

Ông hạnh phúc lắm, trong ông như vừa rộ lên một rừng hoa! Những gì ông dạy con cái bấy lâu nay đã đơm hoa và nỡ rộ. Ông nhìn chậu mai, nó như đã nỡ hoa thật, ông lại lẩm bẩm: “Ba…ba cảm ơn các con!”.

Trạch An – Trần Hữu Hội.



(Đăng trong TÌNH QUÊ 15 của Hội đồng hương Quảng Trị,
tại Đà Nẵng xuân Ất Mùi 2015)

Nguồn: FaceBook của Lê Hùng
READ MORE - HOA NỞ SAU GIAO THỪA - truyện ngắn Trạch An-Trần Hữu Hội

Monday, February 2, 2015

TÌM EM TRONG NGUYÊN TIÊU - thơ Mai Thanh





TÌM EM TRONG NGUYÊN TIÊU

Tìm em trong Nguyên Tiêu
Nghe hồn reo rạo rực
Nghe hổn hà lồng ngực
Nghe con tim phập phồng

Tìm em trong phiêu bồng
Nghe lời thơ bay bổng
Nghe lòng mình thấp thỏm
Nghe bước chân rộn ràng

Em hướng Tây đi sang
Anh hướng Đông vòng lại
Từ Khuê Môn em tới
Từ Giếng Thơ anh vào

Tìm nhau trong thanh cao
Tìm nhau trong nguyên khí
Tìm nhau trong thi trí
Tìm nhau trong thi tình

Đây rồi, anh đã gặp mình
Yếm âu đôi mắt, bồng bềnh thi nhân
Cầm tay em, dạ lâng lâng
Cùng nhau nhập bước – bàn chân gọi mời
Ngắm em, say… ánh mắt cười.

                                       MAI THANH



From:  maithanh01.52@gmail.com


READ MORE - TÌM EM TRONG NGUYÊN TIÊU - thơ Mai Thanh