Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, January 7, 2015

NGHỀ THẦY XƯA VÀ NAY - Hồ Ngọc Thanh


         


        NGHỀ THẦY XƯA VÀ NAY 
                                Hồ Ngọc Thanh                                  
        Sự nghiệp giáo dục nước Việt Nam ta bắt đầu hình thành và phát triển từ thời nhà Lý, khi việc học được coi trọng, được đặt làm nền tảng cho việc tuyển chọn nhân tài để kinh – bang – tế - thế. Triều đình đã cho lập Quốc tử giám để đào tạo, mở khoa thi tam trường để chọn người chăm lo việc nước, việc dân. Nối tiếp nhà Lý, các đời vua Trần, Lê, Nguyễn đã lập Văn Miếu, Văn Thánh,... ở kinh đô của các triều đại như Hà Nội, Huế để dựng bia đá khắc tên nhằm tôn vinh hiền tài, khuyến khích việc học và lưu danh hậu thế.
       Đã có thi cử, tuyển trạch thì phải có sĩ tử và phải có người làm công việc giảng dạy, truyền đạt kiến thức và đạo lý làm người cho học trò, đó là người Thầy – một vai trò quan trọng trong việc phát triển nhân cách và tương lai của một con người.                                     
     Tuy nhiên, cứu cánh của việc giáo huấn suốt cả thời kỳ Nho học, qua các triều đại phong kiến suốt gần một nghìn năm không chỉ là truyền đạt kiến thức chữ nghĩa Thánh hiền, mà cốt lõi là đạo lý sống của bậc tri giả: Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Người sở đắc chữ nghĩa của Thánh hiền là để tiến vi quan, thối vi sư. Làm quan là để phục vụ nước nhà, làm thầy là để đào tạo người khác phục vụ. Người dạy và người học không lệ thuộc hẳn về thứ lớp của tuổi tác hay trình độ tri thức mà bằng cái tâm, cái chí sở cầu. Thầy giáo được tôn xưng là bậc tri giả, đức độ cao dày. Người thầy không hẳn là người từng đỗ đạt ở chốn trường thi mà chính là tâm, trí và đức đã hấp thu từ chữ nghĩa của bậc trí nhân quân tử mà thành. Đệ tử cũng cầu tìm thầy bằng cái tâm quyết chí tầm sư học đạo. Thầy có sở học và tâm đạo đến đâu thì truyền cho môn sinh đến đó, nhưng tựu trưng vẫn là việc dạy học. Những sách Tam thiên tự, Tứ thư, Ngũ kinh, Luận ngữ, v.v... chỉ là phương tiện cho việc dạy và học. Sự thành đạt ở chốn quan trường thường tuỳ thuộc vào tâm và trí của thầy lẫn trò. Thầy truyền dạy chữ nghĩa và đạo lý Thánh hiền, trò học không chỉ để biết mà còn để sống theo khuôn mẫu Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Người có học được nể trọng, là giai cấp đứng đầu trong xã hội theo thứ tự: sĩ, nông, công, thương. Do đó, người thầy được tôn cao hơn cả đấng sinh thành – chỉ sau vua -  theo thứ bậc: Quân, sư, phụ. Trò tôn vinh thầy là sư phụ không hẳn vì thầy đã dạy trò thành đạt ở chốn trường thi, nên danh phận trong xã hội mà giản đơn chỉ vì thầy đã góp tâm sức khai trí, truyền đạt đạo lý làm người dù ít hay nhiều bởi cơ duyên thầy trò gặp gỡ. Tương quan thầy trò là tương quan sư đệ. Đạo lý sư đệ rất được coi trọng theo châm ngôn Nhất tự vi sư, bán tự vi sư – một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy – công ơn ấy trò luôn ghi tâm khắc cốt. Trò trở lại thăm viếng thầy khi thành đạt và có người còn để tang thầy khi thầy rời xa nhân thế. Ôi! Nghĩa thầy trò mới cao đẹp làm sao!
     Từ đầu thế kỷ thứ XX, phong trào tây học với chữ quốc ngữ bắt đầu đào tạo tầng lớp trí thức có cách tân, có sở học đa năng, đa dụng nhằm phục vụ guồng máy chính quyền thuộc địa và xây dựng xã hội mới. Cơ sở giáo dục được tổ chức có hệ thống từ thấp lên cao dù chưa rộng khắp. Người thầy bắt đầu được đào tạo có tính chuyên môn, nhưng cứu cánh của giáo dục vẫn là đào tạo con người có tri thức, có đạo đức để làm người, sống hữu ích và tốt đẹp hơn.

      
     Cảnh thầy Đồ ngày xưa dạy học trò tại làng

Nghề thầy vẫn tiếp tục được tôn vinh, việc học vẫn được coi trọng và truyền thống Tôn sư trọng đạo vẫn mãi là đạo lý của thầy trò. Dù là hương sư dạy bậc sơ học ở trường làng, dù là đốc học hay giáo sư dạy bậc trung học, đại học thì tất cả đều được tôn vinh là thầy giáo. Thầy giáo không chỉ được học trò mà cả xã hội đều kính trọng. Đầu thế kỷ XX, ít có phụ nữ làm nghề giáo mặc dù không thiếu bậc hiền mẫu dạy con nên người. Trong giai đoạn nầy, nghề thầy vẫn là nghề tự phát của một số người có học thức, có tâm chí muốn góp phần xây dựng xã hội. Số thầy giáo và học trò còn hạn chế, thầy không dạy vì đồng lương và trò không học bằng học phí. Mãi đến thập niên 1950 mới bắt đầu có các lớp sư phạm. Các trường sư phạm được mở ở các thành phố lớn của cả ba miền Nam – Trung – Bắc để đào tạo cán bộ ngành giáo dục ở các bậc tiểu học, trung học và đại học nhưng số lượng chính quy vẫn còn hạn chế và sự nghiệp giáo dục chưa mấy phổ cập.
      Người đi học vẫn là con cái của những gia đình khá giả ở thành thị hoặc những ai hiếu học, có chí tự vượt qua sự khó khăn trong cuộc sống. Thầy cô giáo là hình tượng để học sinh ngưỡng mộ về tư cách đạo đức, lương tâm nghề nghiệp, tri thức truyền giảng. Do đó thầy cô giáo luôn gương mẫu trong lời nói, cử chỉ; ngay thẳng trong việc làm;lịch sự trong trang phục; đạo đức trong quan hệ. Hầu như không có trường hợp tai tiếng về tư cách của người thầy trong các mối quan hệ từ gia đình, học đường đến xã hội.
      Nhưng từ khi nhu cầu học vấn bùng nổ và sở học là cứu cánh để tiến thân trong cuộc sống thì số lượng người học tăng lên; đội ngũ nghề thầy cũng đông hơn.  Cuộc sống phát triển nhiều mặt đến nổi mục đích giáo dục không đáp ứng kịp thời nhu cầu tri thức của con người trong cuộc sống. Do đó định hướng giáo dục đôi khi võ đoán phiến diện, kết quả là con người được đào tạo có tri thức nhưng đạo đức được un đúc một cách giáo điều. Hệ luỵ là xã hội đầy rẩy những tri thức rởm, lắm kẻ đạo đức giả, học đường mất đi nhân xưng cao quý là nơi sản sinh bậc hiền giả, tri thức như ngày xưa. Vì thế nghề thầy cũng bị đánh đồng như bao nghề khác trong xã hội, không còn đứng ở bậc cao địa vị hằng được tôn vinh như ngày trước. Thậm chí có nơi trường học hoặc cơ sở giáo dục đào tạo mang hình thái của chợ chữ; Nhà quản lý bán chữ của thầy cô giáo và học trò là người mua chữ. Thầy cô chỉ là người lao động chữ nghĩa nên không còn được trọng vọng như xưa. Trước thực trạng đau lòng ấy, có người đã lên tiếng kêu gọi đã đến lúc cần chấn hưng đạo đức và trách nhiệm giáo dục ở học đường.
                                                
    Tôi may mắn được học với những vị thầy trong thập niên 1940 và suốt thập niên 1950. Dù họ là thầy giáo sơ học, tiểu học, trung học hay ở trường sư phạm, tất cả đều là những bậc thầy khả kính, đáng nể phục về tri thức lẫn đạo đức. Tôi luôn nhớ đến hình ảnh của các vị thầy đã dạy tôi ở bậc tiểu học thời đó. Quý thầy đều là người đứng tuổi, có phong cách của một công chức thời Pháp thuộc. Trang phục thầy luôn chỉnh tề: sơ - mi, cà - vạt và veston theo mùa, nghiêm chỉnh trong lời nói, cử chỉ; phong thái đĩnh đạc, đạo mạo, khả kính vô cùng. Quý thầy dạy tôi ở bậc trung học trẻ trung hơn nhưng vì tác phong nghề nghiệp nên trang phục, ngôn ngữ, cử chỉ cũng rất nghiêm chỉnh. Khi đứng lớp giảng bài, phong thái của quý thầy thật là uyên bác và sinh động. Đặc biệt quý thầy dạy ở trường sư phạm thì thật là mẫu mực trong mọi sự, vì thầy đang đứng trước giáo sinh – những người thầy tương lai. Do đó, tư cách của quý thầy đã ảnh hưởng đến giáo sinh không ít, trong đó có tôi và các bạn đồng môn, đồng nghiệp sau nầy.
     Suốt gần năm mươi năm, dù xã hội có nhiều chuyển biến nhưng đối với tôi nghề thầy vẫn là niềm vui, niềm tự hào suốt cuộc đời. Tôi luôn thể hiện tư cách tốt của một người thầy mà tôi đã hấp thụ được từ các bậc thầy khả kính của tôi. Bản chất nhà giáo từ khi còn trai trẻ cho đến nay vẫn không thay đổi. Tôi vui vì đã góp phần đào tạo cho xã hội những con người có ích, trong đó nhiều người đã tiếp bước vai trò thầy cô giáo có danh trong ngành giáo dục ngày nay. Với tôi, thầy trò vẫn giữ được tình nghĩa như thuở nào dù bây giờ đã ở vào tuổi hưu trí.
     Mong sao các nhà giáo dục hiện nay sớm có chương trình chấn hưng nền giáo dục nước nhà, phát huy đạo đức và trách nhiệm của người thầy đối với sự hưng vong của xã hội theo câu nói Lương sư hưng quốc để những nhân tài là sản phẩm của một nền giáo dục tốt.      
                Viết trong mùa khai trường                                                     Hồ Ngọc Thanh
Tổng Giám Thị Trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quảng Trị (1966 - 1973)
.....................................                                
       Địa chỉ:
       27A Quang Cư – Thọ Quang
      Quận Sơn Trà. TP. Đà Nẵng
      Tel:  05-11-384-8134


READ MORE - NGHỀ THẦY XƯA VÀ NAY - Hồ Ngọc Thanh

Sunday, January 4, 2015

HÀ-NỘI XUÂN ĐANG VỀ - thơ Huy Uyên



HÀ-NỘI XUÂN ĐANG VỀ     

Cơn gió hanh lạnh se đường phố
Hình như Hà-Nội mùa xuân đang về
gánh cốm, hàng trầu cau cuối chợ
đôi chim bay, tà áo phất phơ.

Người ơi xin ở đừng về
chuông gióng dã phía nhà thờ lớn
nước hồ Gươm biếc xanh, tím lòng tái tê
sáng chiều em đi lể sớm.

Giấc mơ thánh thần Hà-Nội ngàn năm
chim oanh xưa ở mãi vườn hồng
giọng ca Saint Joseph cất lên thánh thót
trên tầng cao thập-tự đá đợi mong.

Bốn mùa xanh, bốn mùa nắng
thu vàng theo đông về cho rụng lá
bổng nhớ nhà-thờ Đức-Bà Paris ngập sáng
Val-de-Grace sông Sein lặng buồn.

(Ngân nga chiều lên đầu hai tháp
Hà-Nội giờ này hương sấu sắc xanh).

Quỳnh hương đức mẹ Maria
suối nguồn xuân ngất ngây tinh khiết
buốt lạnh đêm ánh đèn sương pha
yêu người trọn đời
mà người nào biết.

Gởi em những chiều đông nhung nhớ
con đường xưa thôi em về thôi
nét hằn khuôn mặt ai xa lạ
vệt khói bay lên tận trời.

Hoa dạ-lý-hương tối nép mình
bóng ai sót trên sân ga hiu-quạnh
nước mắt đỏ màu chao nghiêng
hơi thở bơ vơ cùng lời-buồn-thánh  .

Hà nội cập kê tuổi mùa xuân đến
đốt trên môi khói thuốc cay se
mùa đông hãm vây nổi buồn dấu kín
trần thế đêm nay Chúa bỏ không về .

Căn nhà vắng treo lòng ai ngũ mê
em không còn ngồi bên cửa sổ
nắng tàn rồi thôi lặng lẻ đi về
dưới kia sông chảy hoài nổi nhớ.

"Đình tiền hạc dạ nhất chi mai (*)
xuân và nụ hoa vàng đời
tình chưa tỏ
em bên tôi những tiếng thở dài
đêm xuân Hà-Nội đầy sương và gió.

Huy Uyên

(*) Ngoài sân vẫn nguyên vẹn một cành mai.
Thiền-sư Mãn-Giác



READ MORE - HÀ-NỘI XUÂN ĐANG VỀ - thơ Huy Uyên

TRƯỚC CỔNG THÀNH NHÀ MẠC - thơ Trần Ngọc Hưởng





Trước cổng thành nhà Mạc
  
Cội sanh ngàn tuổi xòe trăm rễ,
Trấn cổng thành xưa họ Mạc đây
Ta đến Tuyên Quang chiều đọng lắng
Đâu dòng xúc cảm cứ vơi đầy

Đâu tiếng tung hê lời xiểm nịnh,
Rượu nồng gái đẹp mấy đời vua
Cung son điện ngọc rồi đâu nhỉ?
Sương khói rụi tàn với nắng mưa

Nhìn đây, chợt hiểu đời suy thịnh,
Mà chạnh lòng thương đống gạch tàn
Muôn kẻ qua đường ai thấu được
Nỗi niềm vạn thuở: kiếp dân oan

Cổng thành nhà Mạc cho ta nhớ,
Buổi ấy dân đen sống đọa đày
Chúa tối, quan tham, dân khốn khó,
Đắm chìm thán oán mấy ai hay

Cha con vua Mạc vì ngôi báu,
Tự trói mình ra lạy giặc Tàu
Tuân lệ hàng năm lo nạp cống
Nhục này chẳng biết cất vào đâu?

Thành cao lũy lớn mà chi nhỉ?
Thế trận lòng dân nếu vỡ rồi.
Nước mất, đâu còn ngôi báu nữa,
Vua quan gì sống … cũng thừa thôi!

Tuyên Quang 3 - 2007

Trần Ngọc Hưởng
READ MORE - TRƯỚC CỔNG THÀNH NHÀ MẠC - thơ Trần Ngọc Hưởng

Thơ Hồng Tâm - ĐƠN PHƯƠNG (2), HÃY VỀ BÊN EM


HỒNG TÂM



Đơn Phương (2)

Tôi yêu người mà người chẳng yêu tôi
Tình yêu ấy tôi giấu trong khoảng lặng
Tôi yêu người mà không giành giật
Chỉ đơn phương lặng lẽ yêu người

Từng đêm về nỗi nhớ đầy vơi
Đời trêu tôi bao lần thử thách
Nhưng yêu thương chảy tràn trong huyết mạch
Lỡ yêu ròi tôi chẳng sợ nữa đâu !

Nỗi lòng này chỉ một mình tôi hiểu thôi
Dù tôi biết mang nhiều cay đắng
Dù mang dấu tình thầm lặng
Vẫn âm thầm dõi bước anh đi

 
Hãy Về Bên Em

Xuân về rồi ! Cây nảy lộc nở hoa
Đôi trai gái thì thầm hẹn ước
Bao bè bạn xum vầy hạnh phúc
Sao chúng mình chịu cảnh lẻ đôi?

Xuân về, em chỉ ước một điều thôi
Dưới mái nhà đầy ắp tiếng cười con trẻ
Tâm hồn em tựa như chiếc lá
Vì có anh sưởi ấm lòng mình

Kìa anh ơi ! Xuân đã đến bên thềm
Én bay về có đôi có bạn
Hãy về bên em ! Cho đời tươi sáng
Thắm môi cười mùa xuân sẽ đẹp hơn

Hồng Tâm ( Lý Thị Minh Tâm - Bến Cầu - Tây Ninh )
Email: lyminhly 456@gmail.com

Điện thoại:01285990757
READ MORE - Thơ Hồng Tâm - ĐƠN PHƯƠNG (2), HÃY VỀ BÊN EM

MÙA ĐÔNG - thơ Chu Vương Miện






chu vương miện
mùa đông

ờ mà mùa đông đã tới
cái ấm cái nóng đi chỗ khác chơi
toàn là mây đen mây chì bám mãi chân trời
đầu chân núi vùi trong tuyết trắng
con chó con mèo mặc thêm áo ấm
còn con người ta trùm kín từ cẳng tới đầu
cái thân già không bệnh mà đau
từ chân tới lưng từ bụng tới đầu
không đi ra đường mà chỗ nào cũng nhức
cây trụi lá hai bên đường ngủ gục
lá vàng rơi mưa cuốn hết đi rồi
ta ở nơi vườn nhìn cánh chim côi
đậu một lúc rồi bay đi mất
cành không lá cỏ khộng còn mọc
lan rừng đất phong lan quỳnh lan Úc
gốc thêm chồi đang đơm những nụ bông
vừa mầu nâu tim lẫn hồng
thôi đủ thứ giữa cảnh tươi cảnh chết
mùa đông xua ba cái thừa đi hết
để đầu xuân mầm mới lại bắt đầu
giữa đất trời còn mất trộn vào nhau
giữa cũ mới cái chìm vào quá khứ
ôi núi tuyết cả một trời tâm sự
bên bếp hồng củi tí tách reo vui
Giáng Sinh qua một năm mới tới rồi.

                                              cvm






READ MORE - MÙA ĐÔNG - thơ Chu Vương Miện

Saturday, January 3, 2015

VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng




VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN.
                                                                                         
(Nhân đọc cuốn sách  "Đối ngọn đèn khuya" - Tập nghiên cứu và phê bình văn học của Võ Văn Luyến, NXB Thuận Hóa, Huế 2014)
 
                                                                       Phạm Xuân Dũng


    Bên cạnh chân dung con người sáng tác với diện mạo của một nhà thơ, Võ Văn Luyến còn có gương mặt thứ hai của một người làm khoa học: nghiên cứu và phê bình văn chương.
    Phần đầu cuốn sách, tác giả nghiên cứu về "Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại". Đề tài mang tính học thuật này cũng là một thử thách không nhỏ đối với những ai lao tâm khổ tứ từ góc nhìn thể loại. Hơn nữa thơ tứ tuyệt tuy là thể thơ truyền thống có tuổi đời ngang ngửa ông Bành Tổ, nhưng lại không phải nhất thành bất biến hoặc ít thay đổi trong nội dung và hình thức biểu hiện. Thể loại "bé hạt tiêu" này vận động liên tục và ngày càng tung hoành, thể hiện một nội lực ghê gớm và không ngừng biến hóa trong đời sống văn học hiện đại  Đây là địa hạt  thú vị nhưng lại không hề đơn giản, nó đòi hỏi sức đọc, sức nghĩ và sức viết của người làm khoa học. Chính vì thế, người viết đã dành nhiều tâm can và bút lực cho những trang viết giàu chất lý luận nghiên cứu phê bình.
   Ngay trong lời nói đầu của công trình khoa học công trình khoa học về thơ tứ tuyệt, nhà nghiên cứu Võ Văn Luyến đã nhìn nhận sức sống mãnh liệt và sự bùng nổ của thể loại này trong văn chương Việt ngày nay. Theo đó, tác giả đã chỉ ra "Thơ tứ tuyệt là hiện tượng độc đáo của đời sống văn học. Sự quay trở lại rầm rộ với thể thơ tứ tuyệt (sáng tác, vận động dư thi, in tập của từng tac giả, in tuyển...) là dấu hiệu của sự thích ứng, phù hợp tâm lý sáng tiếp nhận của thời hiện đại." ( Đối ngọn đèn khuya, trang 8)
   Chương một " Thơ tứ tuyệt-cổ điền và hiện đại" đã khái quát  một số quan niệm về thơ tứ tuyệt. Trong phần này, tác giả đưa ra một cách nhìn về thể loại không nên quá câu nệ vào hình thức tứ tuyệt theo cách hiểu truyền thống, vì như vậy nó vừa gò bó, máy móc "họa bì" chưa "họa cốt" dễ dẫn đến nguy cơ đẽo chân cho vừa giày, lại vừa không bao quát hết những sáng tác hiện đại với những tìm tòi thể hiện vượt thoát khỏi những "khuôn vàng thước ngọc" cổ điển. Cũng bởi  Nàng Thơ Tứ Tuyệt bây giờ: "em hát khác xưa rồi, khóc cũng khác xưa"  như tác giả lý giải một cách xác đáng:" Qủa thực, văn hóa tri thức ngày càng đóng vai trò biểu cảm. Thơ suy tưởng mỗi một ngày nhiều hơn, biểu hiện thơ đa phức, đa tầng hơn. Tính triết lý là dấu hiệu nổi trội trong thơ, nhưng nhìn toàn cục thì độ đậm đăc triết lý trong thơ tứ tuyệt thấy rõ hơn, dường như tứ tuyệt là một thể thơ đắc địa, một mô hình cho tư tưởng giãi bày. Có phải vì thế mà thơ tứ tuyệt đang có chiều hướng gia tăng và ra đời với một gia tốc đáng được chú ý vào cuối thế kỷ XX này" ( tr 17, sđd ).
   Từ đó, nhà nghiên cứu đề xuất một quan niệm tương đối mới về thơ tứ tuyệt:"  Theo chúng tôi, tứ tuyệt là một thể thơ bốn câu bao gồm nhiều dạng (ngoài năm, bảy chữ còn có cả bốn, sáu, tám, lục bát, tự do) ôm chứa nhiều vấn đề nhưng trong mỗi vấn đề chỉ chọn ra một khoảnh khắc bất ngờ, đầy tính khám phá phát hiện, tính triết lý bằng việc đặt đối tượng phản ánh trong các mối quan hệ để bật ra một khía cạnh nào đó thuộc về bản chất." (tr 18,  sđd)
   Trong chương hai:"Diện mạo thơ tứ tuyệt Việt Nam hiện đại qua các chặng đường văn học"  tác giả bằng thao tác khoa học đã đưa ra bảng thống kê về sự thay đổi của các thể tứ tuyệt, từ năm chữ, bảy chữ, bốn chữ, sáu chữ, tám chữ, lục bát, thơ tự do qua các giai đoạn : 1900-1945, 1945-1975, 1975 đến nay. Sự thắng thế của thể thơ bốn chữ, sáu chữ, tám chữ và thơ tự do từ năm 1975 về sau đã cho thấy xu hướng tự hóa trong hình thức thể hiện ngày càng rõ nét trong thơ nói chúng và trong thơ tứ tuyệt nói riêng. Phần này cũng đã phân tích và khẳng định sự đóng góp về phương diện sáng tác của các nhà thơ Việt Nam sau năm 1975 như Trần Mạnh Hảo và đặc biệt là Chế Lan Viên. Sự nở rộ của thể thơ cô đọng, hàm súc này chứng tỏ sức sống lâu bền và sự nở rộ của thơ tứ tuyệt trong quá trình cách tân. Nhận xét của Võ Văn Luyến cũng rất đáng lưu ý:" Chủ thể trữ tình được ẩn giấu (do hạn chế ngôn từ) trong thơ tứ tuyệt nhưng lại tỏa ra từ nhiều cái tôi (lemoi) khác nhau nên người ta tìm đến tứ tuyệt, ở phương diện thưởng thức, như tìm tới sự thức nhận cuộc sống giàu trí tuệ, tình cảm cho mình. Rút cục tính triết lý của tứ tuyệt dù ở giai đoạn nào cũng cần điều bổ ích mà lý thú đó." (tr 60, sđd)
   Chương ba và cũng là chương trọng tâm :" Đặc điểm nghệ thuật thơ tứ tuyệt"  đã có những đóng góp khá quan trọng trong việc nghiên cứu hình thức biểu hiện của thể thơ này. Võ Văn Luyến đã minh định về cấu trúc thơ tứ tuyệt với những đặc điểm như : một cấu trúc nhỏ nhìn ra thế giới rộng lớn khi phân tích những bài thơ của Chế Lan Viên, Vũ Hoàng Chương, Yến Lan, Nguyễn Bính, Nguyễn Đức Mậu, Vũ Quần Phương, Nguyễn Trung Thu...để thấy được quan hệ ánh xạ đặc biệt giữa nghệ thuật và thế giới khách quan, giữa thơ và hiện thực cuộc sống; hay sự tìm tòi vai trò, ý nghĩa của mỗi đơn vị câu thơ trong một bài thơ chỉ có bốn câu trong cấu trúc tứ tuyệt. Sự tháo dỡ "ngôi nhà thơ" tứ tuyệt để tìm ra đặc điểm của từng câu chính là sự tìm tòi về hình thức mang tính nội dung, giúp người đọc hiểu sâu hơn "thiết kế" của thể loại này. Tác giả thông qua phân tích dẫn chứng sáng tác cũng đã có những tiểu kết khoa học cần thiết về ngôn ngữ thơ :" Tứ tuyệt hiện đại giải phóng ngôn từ ra khỏi các công thức khô cứng để hướng tới cái đẹp khác, cái đẹp của giọng điệu, của tình cảm tự nhiên, của sắc thái, cá tính, của sự miêu tả cụ thể, tinh tế." (tr 87, sđd)
   Kết luận công trình nghiên cứu này, tác giả khẳng định và dự báo lạc quan về sứ mệnh thể thơ vi diệu:" Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thơ tứ tuyệt nhất định sẽ không ngừng phát triển trên cả hai phương diện; chất và lượng. Cũng như đời sống vật chất-tinh thần ngày cang cao, người ta cần chất hơn lượng mà ở tứ tuyệt "chất thống trị lượng" . Điều này cho thấy "ai không biết tự hạn chế mình thì không bao giờ biết viết văn" (Boileau). Tứ tuyệt là một cách biết hạn chế đúng mực vậy." (tr 104, sđd)
   Phần hai cuốn sách  phê bình giới thiệu tác phẩm thơ văn. Có thể nhận ra ở đây những cây bút từng sống và viết ở Quảng Trị như Nguyễn Văn Đắc, Nguyễn Văn Chức, Trần Đình Thành, Lê Văn Hoan, Minh Tứ, Đức Tiên, Nguyễn Văn Trình, Nguyễn Tài Mỵ, Võ Văn Hoa...  hay đã xa quê như Trần Xuân An, Võ Thị Như Mai...
   Thi sĩ Nguyễn Văn Đắc từng nổi tiếng với bài thơ "Cái rốn" đầy cảm hứng nhân sinh đọng lại trong mắt nhìn của cây bút phê bình Võ Văn Luyến: " Tác giả biết dựng dậy cơn ngái ngủ đời người trên trò chơi bập bênh con chữ bởi sứ mệnh thi ca đòi hỏi sự trầm tư trong hồn nhiên, sự cay đắng trong ngọt ngào ..." (tr 116, sđd)  Còn nhà thơ Trần Xuân An nhớ về cố hương bằng tâm cảm :" Nơi cho giọng nói chưa pha phách. Chốn yêu thương, về bỗng khóc ròng" (Tặng một người...) được đánh giá "Dù đi xa nhưng lòng vẫn hướng về nơi chôn nhau cắt rốn. Đấy là lúc tình cảm câu thúc để có được những câu thơ dung dị, thật lòng mà thấm thía, cảm động." (tr 187, sđd)  Con mắt phê bình của Võ Văn Luyến đã tinh tế nhận ra một Lê Thị Mây đầy nữ tính trong "Đám cỏ xanh" khi người yêu lỡ hẹn:"Qúa trình từ vô thức "bứt cỏ" đến hữu thức "đau cây" hóa ra có ngọn nguồn cơn nhói của tim. Đấy là nỗi thất vọng  có cái gì đe dọa hơn cả sự thất tín, bởi linh giác đánh động sự mất yên tĩnh (phụ nữ thường sợ những  biểu hiện gơi cái mong manh, dễ vỡ)..." (tr 203, sđd)
   Cảm nhận  tập bút ký, phóng sự "Dòng sông ký ức" Võ Văn Luyến luận bình:" Có thể nói, Minh Tứ là cây ký có khả năng thâu tóm, lật xới sự kiện, làm nổi bật những vấn đề nóng hổi, xã hội quan tâm hay vấn đề xưa cũ nhưng tươi nguyên "chất sống" và lay thức tâm cảm người đọc." (tr 122, sđ d). Còn khi chiêm nghiệm truyện ngắn Hòa Vang, tác giả phê bình gọi tên lối viết đó là "dòng ý thức phản huyền thoại". Và truyên ngắn" Sự tích  ngày đẹp trời" viết lại câu chuyện truyền thuyết Sơn Tinh, Thủy Tinh thực ra là một phản đề văn chương, vì thế Võ Văn Luyến   đã có lý khi  viết: "Thông điệp mà Hòa Vang muốn gửi tới  độc giả không như ngọn gió đi tìm sự đồng cảm mà là lời khẩn cầu về một lẽ công bằng cho cuộc sống, tình yêu và hạnh phúc. Hơn cả chiêu tuyết, minh oan cho Thủy Tinh, nhà văn cố gắng làm thay đổi cái nhìn đơn giản một chiều, duy lý về nhân vật luôn bị xem là tội đồ đáng nguyền rủa." (tr 109, sđd)
   Dù còn đôi điều có thể cần phải bàn thêm về thơ tứ tuyệt; hay góp ý  nên chọn lọc hơn đối với tác giả thơ, để tránh sự ôm đồm  trong một tập sách phê bình đúng nghĩa, thì người đọc tựu trung, vẫn đồng cảm nhiều và trân trọng lao động của cây bút Võ Văn Luyến. Trong tình hình viết lách hiện nay, độc giả thêm trân trọng một cây bút nghiên cứu phê bình lặng lẽ và nghiêm túc, một mình đối ngọn đèn khuya, thức cùng trang văn để góp nhặt những gì đồng điệu.

                                                                    Phạm Xuân Dũng
READ MORE - VÕ VĂN LUYẾN THỨC CÙNG TRANG VĂN - Phạm Xuân Dũng

SẤP, NGỮA - Tuyền Linh




SẤP, NGỮA

Khi bàn tay chạm đến một bàn tay
Mới chợt thấy lòng mình bốn bề hoang vắng
Những ân cần dần trở nên lạ lẫm
Và tin yêu vỡ vụn cuối mùa trăng

Ký ức lại dày thêm tủi, hận, hờn, ghen
Và hạnh phúc cũng chập chờn ngoài tầm với
Em đã đến từ một nơi nào xa lắm
Mà duyên đời ngỡ nặng nghĩa tao khang
Thế tại sao tơ phím lạc cung đàn
Tình dần chết theo giấc mơ chìm nổi

Ta vẫn là ta qua mấy mùa giông bão
Ao ước một lần…để lặn ngụp cả đời…
Những ước mơ nào có quá xa xôi
Vẫn giản đơn như mặt trời buổi sáng
Như cây cỏ chờ bình minh hé rạng
Tiếp chút ánh hồng dẫn dắt nụ mầm xanh
Ta nhìn cuộc đời Yến Yến…Oanh Oanh…
Thèm ứa lệ đôi bờ vai phu phụ

Ai sẽ vuốt mắt ta khi ta nằm xuống
Giọt lệ nào đúng nghĩa lệ phu thê
Hỡi những ai từng má áp môi kề !
Sao bỏ mặc ta trong mù sương huyễn ảo
Chẳng lẽ đây là cuộc chơi sấp ngữa ?

                                   Tuyền Linh

READ MORE - SẤP, NGỮA - Tuyền Linh

THIÊN NHIÊN - MÙA XUÂN - Thơ Phương Hà





NẨY CHỒI

Quắt queo trong đất, đợi chờ
Mưa xuân thấm xuống, hạt khô nhú mấm
Chồi non vươn cánh tay trần
Vén màn tăm tối, khoe thân giữa trời.


CÂY XANH

Lá gom nắng gió tự trời
Tinh hoa từ đất, ngời ngời sắc xanh
Nhựa luân lưu khắp ngọn cành
Trổ hoa tạo quả đem dâng cho đời.


THỤ PHẤN

Anh như ngọn gió thổi qua
Em là vòi nhụy giữa hoa, đợi chờ...
Rào rào hạt phấn như mưa
Nhụy vươn vòi đón trong mùa ái ân.

                             Phương Hà


READ MORE - THIÊN NHIÊN - MÙA XUÂN - Thơ Phương Hà

EM VỀ TRỜI CŨNG VÀO XUÂN - Hoàng Anh 79




EM VỀ TRỜI CŨNG VÀO XUÂN

Em về trời cũng vào xuân
Có con én mộng qua lưng chừng chiều
Tầm xuân ngát nụ thương yêu
Môi  hồng ngày cũ còn nhiều ước mơ

Thời gian kéo lại nẻo chờ
Cánh chim đổi xứ hẹn hò đường mây
Em về thả ngọn tóc bay
Hương đồng cỏ nội đong đầy tình quê.

Cho nhau một lối đi về
Đời chia muôn ngã giấc mê còn dài
Mùa vàng em đếm trên tay
Nắng mưa mấy thuở vòng quay đất trời.

Gió ngàn xa hát bên đồi
Sao đêm lấp lánh len đôi mắt huyền
Xuân nồng anh tặng riêng em
Mưa thơm lất phất ướt thềm lá hoa!

                        Hoàng Anh 79
                        23/12/2014

READ MORE - EM VỀ TRỜI CŨNG VÀO XUÂN - Hoàng Anh 79

CHÙM THƠ TRÚC THANH TÂM





VIỆT NAM MẾN YÊU

Muôn đời đẹp mãi Thăng Long
Tháp Rùa trầm mặc sông Hồng êm trôi
Nam Quan biên ải đâu rồi
Lên trời ngọn khói hồn chơi vơi hồn .

Vọng từ Thiên Mụ tiếng chuông
Tràng Tiền nhớ áo tím buồn phượng bay
Sông Hương ai đợi chờ ai
Trăng yêu thả mộng xuống bài thơ yêu .

Còn nhau ánh mắt trông theo
Nhớ xưa nhạc ngựa lá reo bên đường
Xa người để nhớ để thương
Sài gòn muôn thuở tình vương vấn tình.

MỘNG PHÙ DU

Ta về phố cũ vời vợi phố
Hàng cây đợi gió gió lặng im
Từng mùa khắc khoải trong luyến tiếc
Đêm cũng tàn đêm ánh trăng chìm

Qua bến sông buồn sông dậy sóng
Một người đưa tiễn một người đi
Sương khói hồn nhau mờ nhân ảnh
Phơ phất ngàn sau áo xuân thì

Mộng phù du gởi sầu viễn xứ
Mắt biếc ngày xưa mắt lệ nhòa
Mưa cũng vỡ òa mưa bong bóng
Một thời hoa mộng áo hoàng hoa

Quên đi hết chuyện đời bạc bẽo
Một ngày hạnh phúc nhớ trong tim
Thư tình ngày đó bao kỷ niệm
Đốt chắc gì quên hay nhớ thêm !

TRÚC THANH TÂM
 (Châu Đốc, 1 / 2015)

READ MORE - CHÙM THƠ TRÚC THANH TÂM

Friday, January 2, 2015

VỀ ĐÌNH BẢNG ẨM TỬU - Thơ Nguyễn Khôi



com-img


VỀ ĐÌNH BẢNG ẨM TỬU
   (Tặng : Lê Xuân Quang)
                   -----
"Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh" 
Thánh Hiền tên tuổi bặt đi
Chỉ phường Thánh Rượu tiếng ghi muôn đời.
                     - Lý Bạch
Rượu Đình Bảng (rượu chui : Quốc lủi)
đến Nguyễn Tuân, Lê Đạt còn thèm ? (1)
Chỉ một giọt rơi vào cổ họng
đã thấy mùi, hồn bốc lên Tiên...
                       
Tất niên, lượn về thăm vườn cũ
Ba anh em ngất ngưởng nâng ly
-Nào cạn chén, bõ thời gian khổ
Chú đi B, mất cẳng ,còn về ! (2)
-Nào cạn chén,chú Ba -Ải Bắc
đánh Tàu xong, xuất khẩu làm thuê !
-Nào chén này, rửa đời cơ cực
Ngâm câu thơ lấp lánh Sao Khuê !
                        
Rượu làng mình đời đời "Quốc lủi"
Chẳng Vua nào cho phép kinh doanh ! ?
"Đi săn Chuột" chẳng ai quản lý
"Món Gà đồng" còn "sạch" ...yên tâm !
Rượu Đình Bảng lâng lâng khí phách (3)
"Quốc túy" đây - Trai Đình Bảng anh hùng
Tổ Quốc gọi : ta lên đường đánh giặc
Hòa bình rồi về xóm làm dân.
                         
-Ừ, ta lập Công ty, xưởng máy
Kẻ Báng đây, buôn bán kỳ tài
"Đại gia" lắm nhưng không tham nhũng
Làng anh hùng, rất quý con trai.
                          
-Ừ, xây đời xông pha tiến tới
Nghỉ về làng : Quốc lủi- Cầy tơ
Nào ta cứ nhâm nhi ngất ngưởng
sảng khoái
nào 
cùng đọc "Chiếu dời Đô".

               NGUYỄN KHÔI
Quê Đình Bảng, Từ Sơn, Bắc Ninh
                   30-12-2014

.................................

(1) Nhà thơ Lê Đạt : quê mẹ Đình Bảng, quê cha Á Lữ.
(2) đi B = đi đánh nhau ở Miền Nam 1956 -1975
(3) Mượn ý thơ Kha Tiệm Ly.
    
READ MORE - VỀ ĐÌNH BẢNG ẨM TỬU - Thơ Nguyễn Khôi

HAI ĐẦU NỖI NHỚ - Thuý Ngân





                  HAI ĐẦU NỖI NHỚ

                                                         Nguyễn Thị Thuý Ngân


      Tiếng chuông đổ dồn dập từ chiếc điện thoại di động làm Ý An giật mình. Liếc nhìn thấy số máy của Bảo Nam, cô vội vàng bấm máy:
- Dạ, em nghe.
- Anh đây - chiều, tối nay ta gặp nhau nhé, được không em? Bảo Nam hỏi.
- Thiệt không anh, anh tới hồi nào sao không báo em trước? Ý An lo lắng hỏi lại.
-  Thì bây giờ anh báo nè. Anh đang trên đường tới em…Gần tới nơi anh sẽ điện một lần nữa em đón anh nhen…? Bảo Nam thông báo.
- Anh được nghỉ mấy ngày, xa quá mà anh, sao…! Cô định nói tiếp, nhưng đầu dây bên kia đã chen ngang: “ Anh không đợi được nữa. Ồ! Không sao - có xa, ba sông anh cũng lội, bảy đèo anh cũng leo…hiihi…đón anh nhé”. Rồi cúp máy.

   Ý An nhìn chiếc di động một lát, rồi như chợt tỉnh, la lên: “ Thôi chết rồi, bây giờ làm sao đây?” Tiếng la của cô làm chị Hồng cùng phòng đang làm việc, ngẩng lên hỏi:
- Có chuyện gì vậy em?-
- Dạ, dạ hổng có gì đâu chị. Cô mắc cỡ trả lời tay gãi gãi đầu, sơ ý cô làm đổ ống đựng viết làm chúng rơi tung tóe. Cô cúi xuống nhặt. Chị Hồng nhìn cô cười tủm tỉm làm An càng thẹn hơn. Chỉ còn vài tiếng nữa … cô lo lắng thật sự, nên chốc chốc lại nhìn đồng hồ. Miệng lẩm bẩm: “ Làm sao đây…làm sao đây”. Hay về nói thiệt với nhỏ Út, nhờ nhỏ ấy…”. Ai biểu mi chơi trò cút bắt làm chi. Lòng cô đang rối bời vì chưa tìm ra cách giải quyết. Cô đành xin phép chị Hồng cho về sớm một chút. Khi ra đến cửa, chị Hồng nói với theo: “ Gặp người yêu chứ có phải gặp mẹ chồng lần đầu mà lo dữ vậy em…”. Cô quay chào chị lần nữa nở nụ cười  lấy lệ, khỏa lấp.

    Ra lấy xe xong, cô phóng thẳng một mạch về nhà. Vừà
dựng chân chống xuống, cô leo hai bậc cầu thang một lúc, lao thẳng vào phòng cô em gái
- Út ơi! Giúp chị với – Cô rối rít làm nhỏ em hoảng hốt.
-  Chị Hai, chuyện gì mà giúp. Chị tông phải ai hả, người ta có   sao không? Chị có bị gì không? Quay qua em coi - Con Út nắm tay cô xoay một vòng rồi nói: “… Chị hổng có sao hết là mừng rồi!”
- Út à - Út.. tối, tối nay em đi thay chị … Cô ấp úng không biết mở lời từ đâu. Chuyện là.. là.. trời ơi..!! Cô vò đầu.
- Gì mà như gà mắc tóc vậy chị Hai, bộ chị biểu em đi gặp người yêu thay chị hả. Đâu có được – Nó nói bâng quơ làm cô giật mình. Hổng lẽ con nhỏ này biết hết chuyện rồi. Thấy bà chị lúng túng nó trêu tới.
- Anh Hai dễ thương không chị? Lỡ anh ấy già em gọi bằng chú sao đặng…mà biết đâu, em gặp rồi em cũng tương tư thì là m sao? Hổng lẽ cả hai chị em mình…Nó nói xong dợm quay đi.
- Nhưng…chị Hai lấy thơ và hình của Út gởi cho người ta… Chưa nói hết câu con nhỏ la làng
- Thôi chết con rồi ba má ơi. Ba ơi cứu con với…Nhỏ Út la toáng lên làm ông Bảy ngồi uống trà ở hàng ba, rầy: “ Có gì mà chị em bây rộn lên dzậy, lớn cái đầu  mà hơi chút là ba ơi…thiệt tình!” Ý An đành nói thật sự việc cho nhỏ em nghe. Nhỏ nhe răng cười thấy ghét: “ Kệ bà, bà làm bà chịu, tui hổng biết dzụ này à nha…” Cô dành xuống nước năn nỉ. “ Thôi được thế này nhé...nha.. Chị cứ nói vầy hé…”. Nó miễn cưỡng dàn sếp. Hổng biết nó nghĩ gì lại lăng xăng chuẩn bị quần áo cho cô. Nó bắt cô thử cái này không ưng ý lại thay cái kia. Cô chẳng còn đầu óc đâu để mà ngắm. Thôi phó thác cho nhỏ vậy.

   Tiếng chuông lại đổ dồn làm cô giật bắn người. Nó đẩy cô ra cửa. Cô sợ,  quay lại nhìn vào gương lần nữa nói: “ Thôi, chị không đi gặp đâu Út ơi…”. Nhỏ em  trấn an: “ Em thấy chị như vầy là xinh nhất rồi. Giản dị nhưng thanh lịch. Không sao đâu, chị đi đi em theo sau có gì em cứu hộ cho” - Nó khích lệ.

    Cô hòa vào dòng người. Tối nay cô thấy thành phố của cô thật lạ. Hàng cây hai bên hè phố vui hơn mà chúng đang thầm thì với nhau chuyện gì đó. Cả ánh đường dường như cũng sáng hơn. Cả ánh mắt mọi người cũng như đang chăm chú nhìn cô tò mò, tìm hiểu, vừa  giễu cợt vừa thích thú. Lòng cô lâng lâng thật khó tả. Anh ấy thấy mình bình thường như vầy có thất vọng không? Anh có vui khi gặp cô không? Lát nữa mình sẽ nói gì nhỉ(!).Lạy trời cho anh đừng có hỏi tới mấy bài thơ của nhỏ Út.  Chắc lúc đó cô chỉ mong đất nứt ra làm hai cho cô chui xuống. Sao mà mi quê thế - Cô nói thầm trong bụng. Bởi Cô chưa chuẩn bị gì cho cuộc gặp gỡ vô tình này. Cô cứ nghĩ chuyện trao đổi thư từ, thơ thẩn theo phong trào: “ Cả nước hướng về Trường Sa thân yêu” do đoàn thanh niên tổ chức. Thư thì cô viết thật lòng. Còn những bài thơ thì lại của nhỏ em lanh chanh. Rồi một thời gian quen nhau, thư qua thư lại tình cảm cũng theo đó nảy mầm một tình yêu thật trong sáng. Bảo Nam nói  vậy. Anh đã bày tỏ: “ Vẫn thường giở những bức thư của cô ra đọc đến thuộc làu mỗi khi rảnh rỗi, hay những lúc nhớ cô quay quắt. Những chiều hoàng hôn anh hay ra biển trèo lên mỏm đá lớn dõi mắt về đất liền. Nhớ nhất là những đêm trăng sáng vằng vặc giữa bốn bề sóng nước mênh mông. Biển như hát, như ru lòng người: “ Không xa đâu Trường Sa ơi…Không xa đâu Trường Sa ơi… Vẫn gần bên em vì Trường sa luôn bên anh…”.Lời bài hát đã nói lên tất cả nỗi nhớ của những người đang làm nhiệm vụ xa nhà. Tình yêu cuả người lính biển thật khoáng đạt và cũng vô cùng ấm áp. Cứ mỗi lần nhận được thư Bảo Nam cô vừa mừng vừa lo. Cô mừng cho cả hai người đã có một tình cảm đẹp. Nhưng cô cũng lo lắng sợ anh sẽ phát hiện cô nói dối về những bài thơ: “ Mi nên thật thà nói cho người  ta biết đi, chứ để lúc anh ấy  phát hiện ra thì lòng tin sẽ giảm, đôi khi còn làm người khác bị tổn thương. Mà tình cảm của anh ấy quá chân thành. Cô thấy hối hận là đã không nói rõ từ ban đầu. Thôi để lát nữa ta nói cho anh biết luôn, rồi tùy anh hiểu. Bên cạnh đó cô cũng đắn đo - nếu nói ra anh cho cô là người dối trá rồi chia tay thiệt thì sao. Bởi Bảo Nam yêu người trong ảnh và yêu luôn những bài thơ chân chất lẫn lãng mạn của nhỏ Út. Đến lúc này cô lại sợ mất anh. Ôi! Cô không thể nghĩ mọi việc lại khó xử như thế này:” Em xin lỗi” – cô nói thầm.

    Cô dừng xe cách nơi hẹn một đoạn để lấy tinh thần. Bảo Nam đi tới đi lui nôn nóng, đôi khi lại nhìn theo một cô gái nào đó đưa tay vẫy vẫy. Có lẽ Bảo Nam sợ cô không nhận ra anh. Anh đứng quay lưng lại nên không biết cô đã tới.
-  Bảo Nam - Cô gọi nhỏ.
-  Ý An, là em sao.  Anh đang lo em không nhận ra anh, hay thấy anh rồi làm ngơ đi luôn.” Anh mừng rỡ nói luôn một hơi. “ Anh không có nhiều thời gian, mình vào quán nước ngồi nói chuyện được không em? Anh dắt xe và nắm tay cô vào quán. Gọi thức uống xong anh nói tiếp: “ Anh đi công tác đột xuất. Sáng mai 6 giờ anh phải lên tàu về lại đơn vị. Anh chỉ có mấy tiếng đồng hồ thăm em. Em khỏe không, hình như em gầy hơn và…Hai bác thế nào?
- Dạ, em khỏe, công việc cũng bận rộn – Cô giải thích vội vàng để anh không nhận ra sự khác biệt giữa người thực và ảnh. Đúng là cô gầy hơn và già hơn- Ý An đâm lo.
- Anh dặn em rồi, làm gì cũng phải giữ gìn sức khỏe để yêu anh và đợi anh, vì cuộc chiến còn kéo dài mà – Anh cười nửa đùa nửa thật. Thấy cô im lặng anh lo lắng hỏi: “ Em không vui khi gặp anh sao? Hay anh không giống như em tưởng tượng…” Anh nhìn sâu vào mắt cô, có điều gì đó vừa thoáng qua.
 - Đâu có, em bất ngờ quá nên… Cô bối rồi cúi đầu ấp úng - Em.. muốn nói với anh một chuyện. “ Nếu em không giống người trong ảnh, hay..hay… anh có yêu em không? - Cô ướm lời dò hỏi.
- Vậy em có thật sự yêu anh không? Anh hỏi lại rồi nhìn cô chăm chú, chờ đợi.
- Em yêu anh Bảo Nam – Cô trả lời thật lòng
- Anh cũng nghĩ vậy. Em có nhớ đã viết cho anh bài thơ: Biển và anh: “…Anh là đại dương. Bao la nỗi nhớ. Em con thuyền nhỏ. Bơi trong anh mênh mang…” Giờ thì anh biết con thuyền nhỏ của anh rồi, và em vẫn mãi như thế nhé Ý An? Anh mạnh dạn tìm tay cô nắm chặt.

     Cô để yên tay mình trong tay anh. Bàn tay chai sạn và tin tưởng. Cô lý nhí: “ Em nhớ anh.” Anh nghe được cô nói nhưng lại giả bộ hỏi. Ánh mắt nồng nàn.
- Em mới nói gì đó, anh nghe không rõ.
- Em nhớ anh – Cô ghé tai anh nói nhỏ thẹn thùng.
- Ôi tuyệt quá. Bảo Nam ôm chầm lấy cô. Môi hai người vô tình chạm nhau dừng lại, ngỡ ngàng, say sưa.

    Anh đưa cô về trước cổng. Hai người bịn rịn chia tay. Anh dúi vào tay cô gói quà. Đó là một cây san hô đỏ.Món quà của người lính biển.  Đêm đã khuya. Bảo Nam đón chuyến xe sớm trở lại thành phố khác để tiếp tục cuộc hành trình. Anh đã vượt mấy trăm cây số để gặp cô vỏn vẹn có mấy giờ đồng hồ. Cô thấy lòng mình rưng rưng. Bóng đêm như thông cảm và đồng lõa với tình yêu. Anh kéo cô vào vòng tay, ôm cô thật chặt. Nụ hôn như không muốn rời. Xe đến đón, anh mới buông cô ra: “ Em sẽ mãi mãi đợi anh…”. Cô nói với theo.

                                                                  Nguyễn Thị Thuý Ngân

READ MORE - HAI ĐẦU NỖI NHỚ - Thuý Ngân