Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Tuesday, October 18, 2011

NGUYỄN ĐỨC TÙNG - XANH XANH ĐỒNG CỎ




Nó đến vào buổi chiều, cuối mùa hè, khi tôi chơi thả diều trên cánh đồng gần sông với Hà và mấy đứa bạn. Tôi và Hà cùng mười tuổi, sắp vào lớp năm. Nó đến bất thần. Ngang thắt lưng.
Cánh diều lượn trên không. Suốt ngày nóng hầm hập, không gian đặc lại, lá rơi không chạm đất, nhưng về chiều mát dần; trên cao dọc bờ sông gió đổi chiều, con diều bay lên, đứng im. Bỗng nó liệng dữ dội, giãn ra, lao xuống, vọt lên. Cuối cùng lao xuống nữa nhưng không lên được, như một đứa trẻ ngoài khơi, mặt trời lặn, đuối sức, chìm dần.
Tôi nhớ cánh diều khi đang ngồi trong phòng làm việc, nhìn qua cửa sổ cỏ xanh mới cắt, lúc đến thực tập với giáo sư Upton, một chuyên gia thần kinh, sau khi tiếp một bệnh nhân đặc biệt. Laura không có gì giống Hà. Phụ nữ da trắng, bốn mươi bốn tuổi, được đẩy trên xe lăn vào phòng khám, dịu dàng, mắt xanh lơ, tóc vàng, nhìn mặt không biết người bị tật, liệt không đều, chân phải yếu hơn chân trái. Tôi không để ý lắm đến người đẩy xe, một người đàn ông trạc tuổi chị; những người thiện nguyện có nhiều trong bệnh viện. Mới đầu, tôi nghĩ anh là một người như thế, về sau mới biết đó là chồng của Laura.
Kết thúc buổi khám, tôi đưa họ ra; và vì cũng hết giờ làm việc nên ngồi nán lại chỗ gần cửa, trong khi hai vợ chồng chờ làm các thủ tục. Trong những tiếp xúc thân mật ngoài lề, tôi học thêm nhiều từ bệnh nhân. Chờ vợ, người chồng trò chuyện với tôi; anh có giọng của người Ăng-lê. Tôi chăm chú nghe. Có những ngày trí nhớ của bạn tươi như cánh cửa thêm dầu mỡ, như đám mây tích điện sắp tụ thành mưa; khi mưa, bạn đứng bên đường nhìn lá sen ngửa lên hứng nước, cúi xuống rót vào mặt hồ, hết, lại ngửng lên, tiếp tục như thế, chảy mãi vào kho tàng ký ức.
Những ngày như thế của một người dựng nên lịch sử tình yêu của một người khác. Chị lấy chồng, bạn cũ thời tiểu học, năm chị hai mươi hai tuổi. Anh hai mươi bốn, vừa ra trường kỹ sư điện, nhận việc làm phía bắc tỉnh Alberta, nơi tình cờ chị đi ngang qua trong buổi cắm trại hè của trường cao đẳng. Cưới nhau; chị nghỉ học về với anh. Dự định, sau đó sẽ theo học ở một trường gần chỗ anh làm. Tuần trăng mật kéo dài, sôi nổi.
Hai năm sau, chị mắc bệnh. Một năm hai tháng sau nữa, anh mất việc. Hai người dọn về cơ ngơi mà ông nội của anh để lại khi qua đời, một căn nhà gỗ lớn giữa khu vườn rộng, bỏ không, ngoại ô Edmonton. Có những ngày không có việc làm, họ không đủ tiền để mua cả bánh mì, nửa đồng một chiếc loại bánh mì Pháp, mười lăm cents một chiếc loại bánh tròn.
Trong khi anh lái chiếc xe pick-up đỏ đi nơi này qua nơi khác kiếm việc làm trong thời kỳ suy thoái kinh tế, chị ở nhà chất đầy bụng bởi những trái dâu đen blackberries, mọc đầy trong vườn, gần hàng rào, chỗ tiếp giáp cánh đồng, phía đêm đêm tiếng chó sói sủa trăng ngoài xa vẳng lại, mỗi mùa hè vẫn cứ đâm chồi trổ hoa kết trái, ngọt lịm. Đói quá, da xanh mét, chị xuống cân, rụng tóc, tắt kinh, không thể có con.
Rồi họ chuyển nhà về Edmonton, anh trở thành người dọn vệ sinh và bảo vệ cho tòa nhà nơi họ ở. Tiền lương trừ vào tiền thuê nhà. Từ đó trong hơn hai mươi năm, anh đẩy xe đưa chị đi nơi này nơi khác. Laura xong việc giấy tờ, lăn xe đến gần bàn cà phê nhỏ, chờ chúng tôi. Chị ngồi quay nửa mặt ra ánh sáng, mái tóc thả vai; có một điều gì ở chị khiến tôi bần thần như gặp lại người bạn cũ, như khi trong đám đông bạn đang im lặng nhìn lên sân khấu chuẩn bị đón một ngôi sao bỗng nhác thấy ở góc phòng, trong chiếc bàn cuối cùng nơi ánh sáng mờ ảo của nhà hát, hay quán cà phê, không đủ sức rọi tới, một khuôn mặt nghiêm nghị, thanh thản, chăm chú nhưng hững hờ, của một người phụ nữ không quen biết, anh quay mặt đi rồi quay lại, chỉ những người quen thưởng thức tác phẩm nghệ thuật mới biết rằng mình đang ngồi trước một bức tranh đẹp. Có cái gì hơn thế nữa, hơn cả cái đẹp, một thứ phong cách tâm hồn mà không phải đám đông nào cũng có, nhưng khi xuất hiện thì nó lập tức tiêu biểu cho một dân tộc, như trong đáy giếng, thời gian làm rơi chiếc nhẫn ngọc sáng ngời.
Nó đến cuối mùa hè, tháng tám, xế chiều. Thoạt tiên tôi nhận ra Hà nhăn mặt, nó đau đến nỗi nước mắt chảy ra. Ho từng tiếng khan, mặt đỏ, đầy nước mũi, mới đầu cúi người xuống rồi sau cong gập lại. Trước đó vài ngày Hà cũng đã ho húng hắng nhưng tôi nghĩ là nó bị cảm sổ mũi thường. Tôi tiến lại gần, luống cuống. Hà chỉ tay vào thắt lưng. Tôi quỳ xuống, lo lắng nhìn vào mắt, thấy một bóng chim bay vụt qua. Hai cánh mũi phập phồng. Tôi buông dây để mặc con diều lăn trên không, quay lại với bạn. Hà ráng sức gượng dậy, mồ hôi lấm tấm trên trán. Những đứa khác đều dừng cả lại vây quanh. Mày bị cái gì vậy, tôi hỏi. Không có chi, nó trả lời, giọng khản đặc.
Thuở ấy Hà mới lớn, mười tuổi nhưng đã trổ mã xinh đẹp, lông tơ lún phún trên mặt, tóc mai dài, bím tóc thắt đuôi gà lộ ra cái gáy có một chỗ lõm ngộ nghĩnh. Hà không có răng khểnh, nhưng có răng sún, vì vậy nó thường hay ngượng mỗi khi cười, thỉnh thoảng quay mặt đi. Hà nghịch như con trai, không sợ đánh lộn với chúng, nhưng không hiểu sao đối với tôi dịu dàng. Nói chuyện, hạ giọng xuống.
Giữa những ngày chúng tôi chạy trên đồng cỏ xanh, nơi chim chìa vôi trắng đậu xuống lưng trâu phảng phất mùi bùn khô, bệnh sốt bại liệt tới. Nó lan đi nhanh, như trận dịch suốt vùng quê oi ả, đe dọa mùa tựu trường, như mụ phù thủy mặc áo choàng đen bay ngang qua trời vần vũ, khát linh hồn con trẻ.
Bởi vì trẻ con là nạn nhân. Chưa có thuốc tiêm ngừa vào thời ấy ở quê tôi. Những đứa đáng thương nhất chết ngay sau trận sốt đầu tiên vì ngạt thở, những đứa khác sau khi lành bệnh để lại di chứng liệt một chân hay một tay, đôi khi cả hai bên, không đều.
Nhà nhà đóng kín cửa, những đứa trẻ hung hắng ho, lên ban đỏ, liền bị cấm ló mặt ra đường, người lớn trùm khăn kín đầu, tránh chợ búa, nơi đông đúc ồn ào. Người y tá duy nhất trong làng, ông chú họ của tôi, gầy đét, có mái tóc bạc như cước, đạp chiếc xe đạp bấm chuông leng keng suốt ngày đi chích thuốc từ đầu làng đến cuối xóm. Chúng tôi ngủ trong bóng tối, sợ hãi. Có lần tôi bị ốm nhẹ, cũng bị mẹ tôi bắt đắp mềm trùm kín đầu suốt mấy ngày. Nỗi sợ hãi cũng đến từ trong lòng tôi, như tia nắng le lói qua những sợi vải bông thưa của chiếc chăn cũ của ba tôi, có mùi sốt rét rừng. Nhưng những đứa trẻ nghịch như quỷ sứ dù bị cha mẹ cấm cách nào cũng tìm cách chạy ra ngoài đường. Trẻ con càng lớn, bệnh càng nặng. Vài ngày sau khi tiếp xúc là bệnh đã phát ngay. Đau họng, nhức đầu, nôn ói, cứng cổ.
Hà ngồi bệt xuống cỏ. Tôi sờ lên trán, nóng rang. Những đứa khác đã tản đi đâu cả.Tôi chạy xuống sông cởi áo nhúng nước rồi chạy lên đắp mặt cho Hà. Dễ chịu một chút. Từ chỗ ấy đến bờ sông khá xa. Tôi xốc nó lên vai nửa cõng nửa dìu đi từng bước, chậm chạp lê qua đám cỏ lau. Những bụi cỏ lau dại có nơi cao khuất đầu. Hà hỏi nhỏ sau vai tôi: mày có mệt lắm không. Tôi lắc đầu, an ủi. Đặt nó nằm gần bờ nước, hơi mát dịu phả lên người. Dòng sông bao quanh chợ Sãi một vòng xanh biếc. Bên bờ kia, thị xã đã lác đác lên đèn.
Buồn nôn, ho nhiều, buổi sáng khạc ra có đờm lẫn chút máu tươi như những mành chỉ đỏ, nhưng máu không lẫn vào đờm. Các dây tế bào thần kinh phồng lên, các tổn thương rộp bỏng ở vùng liên kết dưới kính hiển vi. Chúng cuộn lại vì đau, về sau teo nhỏ hóa thành những sợi xơ vô tích sự. Là những tế bào quý phái, thần kinh không tái sinh trở lại. Chúng chỉ sống một lần. Tôi dùng áo sơ mi làm khăn, thấm nước mát đắp lên trán và lau mặt cho Hà. Chiều xuống nhanh.
Tim tôi thắt lại vì cảm giác có thể mất bạn một lúc nào đó. Trong làng có sáu đứa mắc bệnh liệt phải chở lên bệnh viện tỉnh, một đứa chết trong bệnh viện, những đứa khác đều bị xuội chân khi trở về nhà. Tôi muốn mang Hà về nhà ngay nhưng nó không muốn. Nó ở với mẹ và người cha kế, nghiện rượu, suốt ngày trong quán, năm thì mười họa mới về nhà. Mẹ của Hà, một người đàn bà lam lũ, là bà con xa của tôi bên ngoại.
Tôi loay hoay một lát, cuối cùng cõng nó về. Tôi đặt Hà xuống chiếc giường gần cửa, nhìn quanh, không một bóng người, mẹ nó chưa về nhà. Tôi chạy xuống bếp, tro than lạnh, con mèo ngồi trên cửa sổ giương cặp mắt tròn xoe chực nhảy xuống. Tôi rót cho Hà ly nước lạnh, chạy về nhà liếc nhìn nồi cơm, nhặt mấy củ khoai còn nóng bỏ vào vạt áo lén ra cửa sau. Mẹ tôi chưa kịp hỏi, đã vù đi.
Trời tối dần, tôi ngồi lặng lẽ nhìn Hà nóng hầm hập nằm trên phản gỗ. Tối quá chẳng thấy gì. Trên chiếc bàn nhỏ xiêu vẹo một chiếc đèn dầu Hoa Kỳ, cái bóng thủy tinh tuy mờ đục, chỉ còn cái tim bấc trơ trọi. Hà thiêm thiếp nhưng thỉnh thoảng tỉnh lại, mở mắt ra, thở mệt nhọc.
Chiếc giường tre tựa vào một cái cột nhà bằng gỗ đen bóng, phía trên gắn một chiếc sừng trâu làm chỗ mắc áo, treo lủng lẳng một cái sơ mi đàn ông màu cháo lòng, tôi tò mò cầm lên, mùi lạ vẫn còn thoảng bay, như người chủ vừa mới đi xa, mồ hôi còn để lại. Không khí hòa bình sau chín năm kháng chiến bàng bạc trong không trung, tạo cảm giác lười biếng rã rời hân hoan, nửa ngọt nửa đắng. Hà lớn lên nhanh, người nảy nở, tóc tỏa hương. Một con ruồi lớn bay rù rì ngoài cửa sổ. Buổi chiều mỗi lúc một dịu dàng, tôi ngồi trước mặt Hà, cúi xuống lau mặt cho nó bằng chiếc khăn tay nhỏ tôi vừa lục trong rương, ít khi dùng tới. Từ chỗ chúng tôi ra đến cổng, một dàn bầu sai trái buông xuống đất nặng trĩu làm oằn những thanh tre. Hà sốt cao một chập nữa rồi trán nó mát trở lại, tôi ra về.
Hà mảnh khảnh, cao, má lúm đồng tiền bên trái, mặt có vài chút tàn nhang, lúc nào cũng cười, nhẹ nhàng, đi học về là làm lụng suốt ngày, quét nhà, quét sân, đi nhặt củi dọc lũy tre quanh làng, bắc nồi cơm lên bếp khi chờ mẹ nó về nhà. Hai mẹ con ở bên nhau như hai cái bóng. Tuy e lệ nhưng vẻ tự tin ngấm ngầm của nó không phải của một đứa bé mười tuổi mà của một người phụ nữ đang đi trên đường bỗng bị một kẻ lạ mặt đẩy ngã xuống đường, lăn đi nhiều vòng, gượng lại được, đứng lên. Gã đàn ông lạ ấy là cái chết. Căn nhà của Hà trống trải, thật ra chỉ là một túp lều với khu vườn rộng. Dọc hàng rào có những cây ổi ra trái bằng đầu ngón tay, những trái dâu dại vàng óng lúc nào cũng nhiều vì không ai hái. Ngày nào tôi cũng ghé qua, xong, về nhà tắm rửa chuẩn bị cho bữa ăn gia đình đúng giờ. Tôi không hề biết rằng có nhiều ngày, những bữa ăn trên cỏ với những trái dâu vàng hay những trái mít non là bữa ăn tối của Hà, vì nhà không có gạo nấu cơm, mẹ đi đâu chưa về. Gia đình ly biệt, mỗi người tản mát một nơi, cha ruột của Hà cũng như những người đàn ông lớn lên làm lụng cày bừa, một hôm nghe tiếng gọi mơ hồ, bỏ ruộng vườn ra đi, để lại con trâu đen đứng với cái cày trên lớp đất nâu mới lật bốc hơi ấm, thở phì phò, chờ người chủ cũ không trở lại.
Nhiều lần nó run lên trong chăn. Lúc ấy mặt tái đi, xanh mét, hai gò má nhô cao, người rút lại như bộ xương. Có lúc nó mở mắt lớn, mặt bừng đỏ, môi tươi như thoa son.
Vài bữa sau Hà từ từ bình phục. Mẹ nó cũng hay vắng nhà như thường lệ, nhưng nấu sẵn một nồi cháo gạo đỏ để ở đầu giường. Những ngày này tôi trốn lớp học hè mà không báo cho ba mẹ tôi biết. Tôi dẫn Hà ra bờ sông. Buổi chiều rười rượi gió từ bên hữu ngạn thổi gợn sóng li ti. Một con cò bay vút qua chập chờn trên nước, vòng đi vòng lại rồi sà xuống bãi cát. Nó đứng im hồi lâu, bãi cát vàng, không vết bùn, hạt cát sạch mịn, lấm tấm mỗi khi tắm lên tôi chỉ cần rũ chân là sạch. Con cò đứng im phăng phắc giấu một chân vào trong cánh, đứng trên một chân. Hà bảo em cũng giống như nó, khi nào bay thì mới duỗi hai chân ra.
Mùa tựu trường tới, chúng tôi vào lớp năm. Cuối buổi học tôi vội vã chạy đi tìm, chẳng thấy Hà đâu. Hỏi không đứa nào biết. Về nhà tôi bỏ cặp chạy qua nhà Hà nhưng không có ai. Mấy ngày liên tiếp không tin tức gì. Sau mới biết mẹ dẫn nó đến chữa bệnh ở nhà một thầy pháp bên kia sông, vì người ta đồn bệnh sốt bại liệt là do ma nhập. Lên lớp mới việc học bận rộn, bệnh sốt vẫn hoành hành nhiều nơi, cha mẹ tôi cấm tôi ra khỏi nhà trừ những lúc đến trường. Trong xóm thêm ba đứa trẻ khác nữa mắc bệnh. Một tuần sau tựu trường, sinh viên Huế xuống đường biểu tình, họ chia nhau về các trường tiểu học hẻo lánh để hô hào phản đối chính phủ, kêu gọi làm cuộc cách mạng xã hội, đòi hòa bình. Tôi được nghỉ học sớm, thơ thới ra về, chẳng hề quan tâm việc chính phủ nào sắp đổ, đất nước rồi có hòa bình, thống nhất hay không, lẻn xuống bếp lục nồi cơm nguội chén đầy bụng, vội chạy qua nhà cô bé. Tôi đi khấp khởi trên đường làng, ráng chiều đỏ rực, tôi vừa đi vừa ngoái đầu lại, thỉnh thoảng vấp những bụi cỏ cú vướng chân suýt ngã.
Tôi dừng lại trước sân nhà Hà, đứng hồi lâu dưới giàn bầu. Hà đứng trong khung cửa dáng mềm mại, tựa người lên thành cửa, Hà nói: mẹ em không cho đi học nữa, mẹ chữa chạy cho em nên hết tiền, vả lại em cũng không đi lại được bình thường. Đó là lần đầu tiên trong đời tôi biết thế nào là sự buồn rầu, thất vọng. Trước mặt nhà, thửa ruộng vừa qua mùa bắp mùa đậu, rác và cỏ có ai đang dồn thành đống lớn, châm lửa đốt. Những ngày thơ ấu của tôi, cô bạn gái má lúm đồng tiền một bên, con diều, đồng cỏ xanh của tôi, thế là hết, đã cháy lên thành khói bay đi.
Thỉnh thoảng sau đó tôi vẫn gặp lại Hà nhưng nó trở nên buồn rầu tư lự, ít nói. Năm học qua đi, tôi thi đậu vào lớp Đệ thất trường trung học của tỉnh, đổi trường đổi lớp đổi bạn bè, xa dần cô bạn ngày xưa, bờ sông, con cò đứng một chân trên bãi cát, quên hẳn đi cho đến ngày gặp Laura. Người phụ nữ tóc vàng mắt xanh bị căn bệnh ác liệt đánh gục chỉ một năm sau tuần trăng mật, nửa chừng xuân thoắt gẫy nhưng còn phúc phận, có một người đàn ông đi theo bên mình suốt đời. Hà của tôi, đứng một mình trong khung cửa chiều hôm chập choạng, khập khiễng không thể đi cùng tôi trên con đường dằng dặc, nhưng có lần đã cất tiếng gọi tôi mà ngày ấy vừa quay mặt đi không nghe được, mãi đến bây giờ mới nhận ra, nghe ra, cái miệng xinh cười rực rỡ, mắt long lanh buồn rầu, lúm đồng tiền bên trái. Mỗi khi ngoái lại xa hút cuối đường tôi đều nhìn thấy hàng chè tàu, những trái bầu buông xuống đất, khung cửa, cái bóng của kí ức cắt lên ráng chiều, cánh đồng dọc bờ sông liễu rũ, đầu thu cỏ úa, lửa đốt cây bắp khô khói bay mờ tím. Tôi mơ thấy tôi và Hà đi dọc bờ sông, mùi hơi nước mát lạnh làm dịu đi hai tâm hồn bối rối, mang chúng xuống tận các chiều sâu mới.
Đôi khi Hà dừng lại ngửng đầu hất mái tóc ra sau, bất ngờ nhảy cẫng lên, quên bẵng mình đang bị bệnh, té xuống như một con hươu bị trúng tên vào bắp chân sau. Nó đau đến phát khóc, tôi dắt tay nó đứng lên, một giọt nước mắt làm tôi chững lại. Tôi còn nhỏ quá để biết đó là tình yêu, tình bạn hay một thứ tình nào khác. Đôi dép mỏng của tôi mòn vẹt đi một bên khi bước trên những hòn đá lởm chởm gần mép nước, lòng bàn chân đau nhói. Buổi chiều xuống nặng nề hơn như có ai vặn xiết cổ chân. Hà đưa dép của nó cho tôi đi. Gió vàng loang loáng trên mặt sông, muốn thổi Hà bay đi nhưng nó chẳng sợ hãi gì, dựa hẳn người vào tôi, đi bằng chân phải; chân trái kéo lê như một người bạn thân, cũ, thiệt thòi, ngập ngừng bên đường chờ hẹn.
Tôi ra tỉnh, rồi di chuyển nhiều lần theo công việc của ba tôi nay đây mai đó. Không còn gặp lại người bạn thơ ấu. Có lúc thất vọng về mình, tôi mong được như chồng của Laura có can đảm đẩy cô đi trên chiếc xe lăn, nơi này nơi khác, qua lần cửa nọ tới lần cửa kia, như một người mà kẻ khác có thể tin tưởng vào, một người mà cô bạn của tôi có thể mỉm cười nhắm mắt lại, thu nhỏ người như con chim chiền chiện đến giờ đi ngủ, thôi hót, nằm yên trong lòng tay, an tâm giao số phận của nó cho tình yêu, tình bạn, hay một thứ gì đó cao hơn các thứ khác; và bằng cách ấy mang lại sự bình an cho chính người săn sóc mình.

NĐT 
Tạp chí Da Màu
 
READ MORE - NGUYỄN ĐỨC TÙNG - XANH XANH ĐỒNG CỎ

Monday, October 17, 2011

Nguyễn Đặng Mừng - TUỔI NHÂM THÌN - Truyện ngắn

Truyện ngắn


Chị Hà cùng tuổi với tôi, tuổi Thìn. Chị bảo nam Thìn nữ Tỵ nên đời chị sẽ lận đận long đong, đời tôi sẽ hanh thông. Mới mười hai tuổi mà chị như người lớn, lúc nào cũng gọi tôi bằng cậu, cậu em. Bên ngoại chị không còn ai, chỉ bà con xa. Bác Ca, cậu ruột chị là người cuối cùng trong chi, bị Tây bắn lúc mới mười tám tuổi. Mỗi lần ai nhắc đến Bác Ca là O (1) Hát mẹ chị Hà khóc tấm tức, bảo sao trời không cho O chết thay cậu ấy. Tuyệt tự! Điều đó khiến O Hát càng quý bên ngoại hơn. Mỗi năm đến ngày chạp mả O Hát dắt cả ba đứa con về. Anh Thổ là lực điền đúng nghĩa, cao to như Tây, da ngăm, mặt chữ điền. O Hát bảo giống dượng(2) như đúc. Dượng cũng bị Tây bắt đi rồi chết đâu mất xác năm sinh chị Hà. Anh Điền thư sinh hơn, da trắng như con gái. Chị Hà gầy nhom, vác cái cuốc chét chạy lăng quăng theo hai anh. O Hát chỉ cho các con đây là mộ ông ngoại bà ngoại, đây là ông bà cố…Biết bao nhiêu người đã khuất, từ ông nội O Hát trở xuống. Đến trước mộ Bác Ca o Hát khóc òa lên, quỳ xuống lạy. Cậu ơi răng (3) chết đi. Răng không nối dõi tông đường. Tuyệt tự rồi cậu ơi. Chị Hà quỳ bên cũng khóc. Hai anh trai vẫn thản nhiên dùng cuốc xẻng vun lại nấm mộ. Một lát ngôi mộ như được mặc áo mới, trắng toát cát rờn rợn bên tiếng khóc O Hát. 

O Hát thương tôi như cháu ruột, quý ba tôi như em ruột. O bảo phụ nữ chỉ một đời, vài đời sau con cháu sẽ kể nghe nói đời thứ mấy, thứ mấy có mệ(4) ni mệ tê lấy chồng đâu bên làng Đông làng Tây mô đó. . . 

Nhà tôi ở làng Tây gần quận lỵ, cách làng Đông khoảng năm cây số. Thường hàng năm O Hát nói với ba tôi nghỉ hè cho cháu về ở với O, cho có bạn với chị Hà. Tôi cũng thích rong chơi ở vùng quê, nhất là được cởi trâu ra đồng cùng chị Hà. Tôi ngồi sau lưng chị, ôm eo chị trên lưng con trâu to béo đi qua những cánh đồng sau mùa gặt thích lắm. Lúc trâu lội qua sông chị Hà cười sang sảng, bảo tụi mình đi xe lội nước. Chị còn giải thích: “ Cậu biết Hà là chi không, là sông đó. Anh Thổ là đất, anh Điền là ruộng”. Tôi bảo: “Ruộng đất không có nước thì không có khoai lúa, chị Hà là quan trọng nhất”. Chị cười thích thú. Suốt mùa hè chúng tôi ở ngoài đồng, bên dòng sông nhỏ. Ăn cơm trưa trong cái mo cau với cá kho ngon tuyệt. Ăn rồi tắm, tắm rồi ăn. 

Lũ trẻ nhà quê tinh nghịch cặp đôi tôi với chị, tôi bảo bà con, đừng nói bậy O Hát đánh chết. Tụi trẻ nhảy tưng tưng hát vè tục tằn, “bà con hai họ, lọ mọ cả đêm, chị trống em kèn, tùng xèng tùng xèng…” Chị Hà cầm roi tre rượt đuổi đám trẻ. Áo chị bị gai tre móc rách tơi tả chị vẫn rượt. Ngã lăn xuống ruộng lại bò đứng lên rượt đuổi đến cùng. Tụi nhỏ sợ chị chạy tán loạn. Chị ngồi bệt bên giường ruộng khóc rống riết. Tôi run rẩy đến gần, cầm tay kéo chị đứng lên, chị dằn tay lại trừng mắt kêu: “Đồ hèn, con trai mà hèn”. Tôi ngồi trên giường ruộng nhìn mặt trời lặn. Gió Nam (5) giật từng cơn, rặng tre lào xào lao xao. Tôi cúi mặt trên hai đầu gối khóc thút thít. Ngửng lên thấy bóng chị xấp xãi trên đường bạn, tôi vội vã chạy lúc thúc theo về. O Hát hỏi chuyện chi rứa, chị bảo tụi nhỏ cặp đôi con với cậu Thìn. O Hát cười, “ Cặp đôi có chết ai mô (6). Bên ngoại bốn đời là lấy chắc (7) được. O sẽ gả con Hà về bên ngoại để lo hương khói mả mồ”. Chị Hà đấm thùm thụp vào lưng mẹ, kêu lên “ Bà con mà, bà con mà…, con không chịu mô”. 

Suốt buổi sáng hôm sau chị Hà không thèm nói chuyện với tôi. Buồn. Buổi chiều tôi theo anh Điền đi bừa ruộng. Anh Điền hiền như ruộng, cho tôi đứng lên chiếc bừa gỗ thích lắm. Dù vậy tôi cứ mong trời chiều để về gặp chị Hà. Chị đứng chờ tôi trước ngõ, bảo vô tắm rồi ăn cơm học bài. Chị cầm tay tôi dắt ra giếng, cởi áo cho tôi rồi bảo ngồi xuống. Chị dội nước lên đầu tôi kỳ cọ. Lúc chị toan đụng phía dưới tôi hất tay chị ra. Chị cười khúc khích bảo thôi tự tắm đi, không sạch là ăn roi nghe chưa. 

Một tối Chị Hà kêu Thìn ơi ra đây chơi. Chị ngồi dưới bụi tre trước sân nhà, dưới am thờ, bên cạnh cái cối đá. Cái cối để dưới am thờ nhỏ, chị đã thắp lên đó ba cây nhang. Tôi toan ngồi lên cối thì chị kéo tay bảo không nên. Cái cối này là kỷ vật của ông ngoại, linh lắm. Cái cối đá sứt tai đen thủi nằm dưới am thờ thì linh nỗi gì, tôi thắc mắc trong lòng. Chị kéo tay tôi ngồi gần, thì thào: “ Cậu có tin không, cối đá cũng có linh hồn. Cái chi cũng có linh hồn hết, mụ Thà nói rứa (8)”. Mụ Thà là cô đồng bóng, mỗi lần vong nhập vào mụ nói giọng lơ lớ kiểu người âm phủ. Bọn trẻ chúng tôi thường tụm lại xem mỗi lần mụ lên đồng. Tôi hỏi mụ Thà nói chi. Chị Hà giọng nghiêm trọng kể: “ Cái cối này là hồi môn của ngoại. Mạ (9) kể Tây đốt nhà cả thảy mười ba lần, cái chi cũng cháy, chỉ còn cái cối này, nó bị bom phạt sứt tai”. Chị đưa tay xoa rờ lên chỗ sứt rồi tiếp: “ Mạ kể Mệ ngoại mất lúc sinh cậu Ca.

Ông ngoại mất mạ mười sáu tuổi, cậu Ca mười bốn. Ông ngoại trối lại rằng, con trâu và hai sào ruộng để lại cho cậu Ca sinh sống và lập gia đình nối dõi tông đường. Nhà cửa chẳng còn chi để hồi môn cho con gái. Chỉ còn chiếc cối đá cha tặng con làm kỷ niệm. Nó không đáng giá nhưng có linh hồn của cha mạ trong đó. Rồi ông nhắm mắt ra đi. Mạ còn kể cái cối là chứng tích ghi lại mối tình của ngoại. Hai người tỏ tình với nhau bên chiếc cối này sau khi giả gạo và hò đối đáp. Một lần đến làng mệ ngoại hò giả gạo, ông hò:
Hơ hơ…Anh ngồi bên ni tai cối/Em ngồi bên tê tai cối/ Tôi thấy em mặc áo nối vải đà tóc búi vải bao. Tôi không phải là phường vô phương tắc đạo mà băng hói lội rào tới đây”
. Mệ “ bí” không “đối đặng” bèn hò: hơ hơ…Đến đây thì ở lại đây, khi mô tốt rể xanh cây thì về”. Ông ở lại “mần (10) rể” ba năm thì cưới. Mệ ngoại theo chồng mang theo chiếc cối đá này làm kỷ niệm, lại đặt tên con là Ca Hát”. 

Trăng hạ tuần. Dập dờn gió Nam từng đợt. Tre pheo cúi xuống vờn lên, chiếu bóng những hình thù ma quái vật vã trên am thờ, lên cối đá. Nhang cháy nhòe lay động. Nhìn chiếc cối đá đen đủi chỉa ba cái tai nhọn hoắt như nhúc nhích, tôi lạnh toát người. O Hát ngủ sớm. Anh Điền đi đâu từ sẩm tối chưa về.Trong nhà còn ngọn đèn dầu lấp loáng trên bàn thờ chực tắt. Xóm làng im ắng, chỉ còn tiếng lào rào trên ngọn tre. Chị Hà cầm tay , níu đầu tôi nói nhỏ: “ Anh Thổ gửi thư về nói mạ nên cho anh Điền ra tỉnh làm chi cũng được, đừng ở nhà, bất trắc lắm. Anh nói anh đi lính Cộng Hòa trong Nam sình lầy cực khổ lắm. Sang năm anh mới có phép về thăm. Chị đọc thư cho mạ nghe, xong mạ bảo đốt đi. Hôm qua chị nghe anh Điền nói với mạ là đừng để cậu ở đây nữa, không hay”. Chị ghé sát tai tôi thì thào, “Anh Điền theo du kích, có súng. Cậu đừng nói với ai nghe chưa. Mai chắc chị em mình không còn gần nhau nữa, Thìn buồn không”. Chị quàng vai tôi thút thít, bập bệu, “ Cậu về trên đó đừng nói chi với ai về chuyện anh Điền nghe. Khi nào chị đi chợ Huyện sẽ ghé thăm cậu”. 

Tôi và chị vào nhà sửa soạn đồ đạc để mai cùng chị về nhà. Cả đêm đó tôi không ngủ được. Nằm trên tấm phản nghe gió xào xạc trên mái tranh. Anh Điền vẫn chưa về. Gà gáy canh ba chị Hà đã dậy nấu cơm. Ánh lửa rơm chập chờn bóng chị trên vách, lòng tôi đau thắt, nằm khóc thầm. 

Chị Hà lại bới cơm vào mo cau như thường lệ, nói với O Hát: “Con đưa cậu Thìn về nghe mạ, chiều con mới về. Hôm qua con đã cắt cỏ đủ trâu ăn rồi”. Tôi chào O Hát. O xoa đầu tôi khuyên ngoan và học giỏi, xứng đáng với dòng họ nhà mình. 

Chúng tôi men theo đường trâu đi hàng ngày. Những ô ruộng vừa vào nước phở (10) sủi bọt. Mùi đất thơm vấn vương trong gió Nam lào thổi nhẹ. Chị Hà bảo, “ Ngày ni mình chơi đến xế chiều rồi chia tay”. Tôi không trả lời, tha thủi đi theo chị. Dừng ở bến sông vắng, nơi có bụi la ngà vươn ra giữa dòng, chị Hà soạn cơm ra cùng tôi ăn. Cơm còn nóng trong mo cau ăn với muối sả. 

Mặt trời đỏ lựng cao dần phía lũy tre nhà O Hát. Ở đó tôi tin là O đang nhìn với theo, hướng về phía ngoại, nơi có mồ mả mười mấy đời, và gửi vào chúng tôi một niềm tin xót xa mơ hồ nào đó.

Chị Hà rủ tôi tắm. Chúng tôi ngập lặn thỏa thích. Thường ngày đi chăn trâu chị mặc áo nâu hoặc đen. Hôm nay chị lại mặc áo quần mỏng màu sáng. Áo quần dính sát vào da thịt. Lần đầu tôi thấy rõ hai núm cau trên ngực chị, lòng bứt rứt một cảm giác khó tả. Chị quay mặt đi, hai tay ôm ngực, giọng như lạc đi: “ Cậu Thìn sinh tháng giêng, chị tháng tư. Hai chị em mình mười hai tuổi rồi đó. Mới đó...”. Bất chợt chị Hà ôm riết tôi, hai núm cau ép vào ngực trần tôi nóng hổi. Chị thì thào: “ Khi mô hết chiến tranh cậu lại về đi chăn trâu với chị nghe”. 

Chiều xế bên kia sông. Chúng tôi ngồi nhìn xuống những bóng tre in lên dòng nước trong xanh. Không ai nói chi. Chị Hà cúi đầu bứt những cọng cỏ đưa lên nhìn chăm chú, nhăn trán ưu tư, rồi nhìn về hướng mặt trời lặn chớp mắt buồn bạn (buồn bã) , hai giọt nước mắt run rẩy lăn xuống hai gò má gầy sạm nắng . Chị không nhìn tôi, bảo: “ Chiều rồi, cậu về đi”. “Chị về trước đi”. Chúng tôi cứ nài nhau. Cuối cùng chị Hà xử: “Oăn tù tì, ai thua về trước” . Chị Hà thua. Chị nhìn sững tôi, cũng lại lần đầu tôi thấy má chị ửng hồng. Đi một đoạn chị lại ngoái nhìn lui. Bóng chị nhỏ dần, nhỏ dần thành một cánh cò lẻ loi giữa cánh đồng mông quạnh.




Mấy đứa bạn kháo nhau sắp có đụng trận ở làng Đông. Thằng Chinh Quắn rủ tôi đi coi đánh trận. Qua cánh đồng, làng Đông khói lửa ngút trời. Mỗi lần đụn lửa cuộn lên, sau đó là tiếng nổ lớn, thằng Chinh nhảy cẩng lên, múa tay la: “chết bây nì, chết bây nì…”, tim tôi lại thót đau, lòng ran như lửa cháy. Nhà chị Hà có cháy không. Hầm trú ẩn có chịu nỗi những quả bom không. 

Cách năm cây số mà làng Đông với làng Tây là hai thế giới đối nghịch. Suốt mấy tháng tôi không nghe tin gì về gia đình O Hát. 


Một năm rồi hai năm. Một sáng tháng giêng tôi gặp chị Hà. Chị quấn khăn tang đi theo chiếc xe kéo, trên đó là quan tài có phủ lá cờ vàng ba sọc đỏ. Chị Hà gục vào vai tôi khóc òa lên. “ Thìn ơi, O Hát của Thìn mất rồi, Anh Thổ cũng chết rồi đây nì. Thìn về làng với chị đi, để thắp nhang cho O, để an táng cho anh Thổ, Thìn nghe. Đừng sợ ai cả, không sợ ai nữa cả. Cái tuổi chi chị mà khổ ri hè (11), Thìn ơi là Thìn, hu hu…”. Sau một tiếng khóc là chị vổ lên vai tôi, vừa đi vừa kể lể. Tôi bước theo chị trong mưa bấc. Đến bến sông hồi mùa hè tôi và chị tắm. Trước khi đưa quan tài qua sông, hai người kéo xe lột lá cờ vàng trên quan tài dấu vào bụi la ngà, lấm lét nhìn quanh. 

Quan tài đưa thẳng lên huyệt. Anh Điền mang súng đứng lặng, mắt đỏ hoe nhưng không khóc. Những nhát cuốc cuối cùng vun cát thành một ụ trắng toát, trong tiếng kêu gào của mỗi mình chị Hà. Chị lại níu vai tôi ngất đi.

Chị Hà bưng di ảnh anh Thổ cùng tôi về nhà. Chị đặt lên bàn thờ bên bài vị O Dượng, thắp nhang và cùng tôi lạy. Xong chị giục: “Về đi kẻo tối, cậu Thìn. Máu loảng hơn nước lạnh. Tôi nhớ ơn cậu suốt đời”. Tôi ôm chầm chị run rẩy: “Chị Hà ơi, răng đời chị khổ rứa…” . Tôi không biết nói gì thêm, buông chị quay đi như chạy. Tôi tha thủi theo đường bạn. Tôi chạy trong gió bấc. Tôi bơi qua sông. Lại chạy. Vấp té xuống ruộng. Lại chạy… 


Càng ngày tôi càng đi xa quê mình. Mỗi lần ngang cánh đồng, có dòng sông tôi lại nhớ thương chị Hà da diết. Chị Hà có sống nổi không trong bom đạn quê tôi. 






Mười mấy năm sau tôi mới có dịp về quê, ngang cánh đồng xưa tìm về nhà chị Hà. Đến bên bến sông, gặp người làng Đông tôi hỏi thăm về chị. Họ bảo chị Hà lấy chồng bên làng Tây, làng ngoại của chị ấy rồi. Tội nghiệp, cả hai vợ chồng đều tật nguyền.

Tôi không kịp hỏi thêm, nhắm hướng làng Tây mà chạy. Chị Hà ngồi ru con bằng một tay, tay còn lại cụt tới nách. Chị nhìn sửng tôi rồi khóc òa: “Cậu Thìn còn sống đó à. Tưởng cậu đi luôn không thèm về quê. Cháu cậu đây nì, kêu bằng cậu hay ông trẻ cũng được”. Đôi mắt đẩm nước của chị ngời hạnh phúc khi nựng thằng con trai kháu khỉnh của mình. Tôi hỏi tới: “Răng kêu cậu và ông”. Sau khi rót nước mời , chị bình thản: “ Cậu không vui à. Ngồi xuống đây tôi sẽ kể cậu nghe: Chồng tôi là cháu gọi cậu bằng chú họ. Anh ấy đi lính Cộng Hòa cùng lứa cậu. Số phận khắc nghiệt thiệt. Đến ngày cuối cùng của cuộc chiến anh ấy lại bị thương, cụt cả hai chân. Mà cũng may, rứa mới gặp tôi. Còn tôi từ ngày nhà cửa cháy hết anh Điền đem tôi theo lên rừng. Năm sáu chín anh Điền cũng mất sau một trận sốt rét rừng. Tôi lại vào bộ đội rồi bị thương mùa hè năm 1972. Về làng tôi đi học sư phạm mẫu giáo. Năm nào tôi cũng về ngoại chạp mả. Bà con bên ngoại cứ cặp đôi tôi với “anh thương binh Ngụy”, anh Chinh, chồng tôi hiện chừ đó. Ban đầu tổ chức cũng can ngăn, sau vì chúng tôi quyết tâm nên họ cũng chịu. Vậy là chúng tôi làm đám cưới. Vui nhất là ngày thương binh liệt sĩ nào tôi cũng đẩy xe chồng tôi theo, vì sợ anh ấy buồn. Phái đoàn nào tặng quà anh ấy cũng có một phần. Ai cũng tưởng vợ chồng tôi là đồng đội. Ông bà linh lắm, cột hai đứa lại với nhau”. 

Thằng Chinh tóc quắn, tôi nhớ ra rồi, thằng Chinh tóc quắn, cháu họ tôi. 


Chị cùng tôi ra sân, dưới am thờ, chiếc cối đá sứt tai được đặt lên cái bệ ốp gạch trang trọng. Chị thắp nhang vái rồi quay sang tôi: “Trễ tràng hết rồi cậu ơi. Số phận ông bà sắp đặt rồi. Chiếc cối đá dù sứt tai lại được trở về với họ ngoại đây nì.Từ nay tôi sẽ gọi cậu bằng chú, Chú Thìn”.


_________________________________________

(1) O: Cô. Ở Trị thiên, em hoặc anh của cha đều được gọi bằng O.
(2) Dượng: chồng của O hoặc dì. Chị của mẹ cũng được gọi bằng
(3) Răng: sao. Ra răng: thế nào.
(4) Mệ: Bà nội, ngoại. Những bà ngang hàng với ông lại gọi bằng Mụ.
(5) Gió Nam: Gió Nam Lào, thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 7 từ đèo Ngang đến đèo Hải Vân. Gió từ biển vào gọi là gió Nồm.
(6) Mô: đâu.
(7) Chắc: Nhau, với nhau. Ví dụ hôn nhau người Quảng Trị gọi là hun chắc . Nhưng một mình (alone) lại gọi một chắc.
(8) Rứa: thế.
(9) Mạ: mẹ.
(10) Nước phở: Đất cày ải, phơi cho khén rồi vào nước.
(11) Ri hè: Thế này.
Nguyễn Đặng Mừng
mungrathue@gmail.com
  Nguồn: newvietart.com
READ MORE - Nguyễn Đặng Mừng - TUỔI NHÂM THÌN - Truyện ngắn

Chùm thơ tặng thầy cô giáo cũ - Võ Văn Hoa


MINH TRIẾT VÕ THỊ HỒNG

Xa rồi ! Bốn thập kỷ
Một vòng xoáy mênh mông
Thi ca từ dạo ấy
Minh triết Võ Thị Hồng


Cô nhen từng câu chữ
Phản biện giờ thuyết trình
Hàn lâm văn học sử
Yêu thương đất nước mình...


Học trò bao thế hệ
Tung cánh đi muôn nơi !
Nhớ lời cô truyền giảng
Trang văn mãi để đời!


Qua rồi bốn thập kỷ
Trải nghiệm cùng núi sông
Vẫn còn trong tâm thức
Minh triết  Võ Thị Hồng !

          Khuya 18/10/2011



KÍNH TẶNG THẦY TRẦN NGỌC CƯ

 Rũ bỏ phù du bụi bặm
Thoáng trông một chút bất cần
Tiếng Anh không còn xa lắm
Thầy gieo từng hạt trong tôi !


Trò xưa bao người kế nghiệp
Sáng trong đạo lý cội nguồn !
Nhớ thầy nghe, đọc, nói, viết
Tung hoành trong cõi càn khôn...


                  Khuya 18/10/2011
                   VÕ VĂN HOA
READ MORE - Chùm thơ tặng thầy cô giáo cũ - Võ Văn Hoa

Sunday, October 16, 2011

Chùm thơ chào mừng ngày thành lập hội LHPNVN 20-10 - Võ Làng Trâm




     
PHỤ NỮ NGÀY NAY

Vinh dự được đời ví tựa hoa
Chị em trang điểm càng xinh ra
Bình dân kín cạnh ưa đơn giản
Phú quý khoe khoang chuộng điệu đà
TRUNG HẬU bao thời tươi nghĩa nước
ĐẢM ĐANG muôn thuở đẹp tình nhà
ANH HÙNG nay lại trong xây dựng
BẤT KHUẤT đi đầu đáng ngợi ca.




                                   


GÁI  NGOAN

Tròn câu hiếu đạo thuộc nằm lòng
Tiết hạnh lắm người được sắc phong
Buổi loạn xung phong đi mở lối
Thời bình hăng hái lại cày đồng
CÔNG - DUNG nhớ dạ lời cha dạy
NGÔN - HẠNH ghi lòng chữ mẹ mong
Dâu thảo, con hiền trong ngoài mến
Trung trinh thề quyết vẹn cùng chồng.

                                        Võ Làng Trâm
READ MORE - Chùm thơ chào mừng ngày thành lập hội LHPNVN 20-10 - Võ Làng Trâm

CHÂU THẠCH - VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ BỒ ĐỀ QUẢNG TRỊ



Một ngày nắng ta trở về Quảng Trị
Nhìn lại ngôi trường di tích chiến tranh
Hàng chữ đúc tên trường ngày xưa ấy
Nay chỉ còn một chữ ê nghiêng nghiêng.
Trường loang lổ điêu tàn như cổ tháp
Thoi thóp hồn thơ của Chế lan Viên.
Ta đứng lặng mơ về trong dĩ vãng
Nhớ trống trường lay động những hàng cây
Nhớ sân trường tấp nập áo hoa bay
Nhớ bóng dáng thầy cô vào bục giảng
Và tha thiết trong lòng ta nhớ bạn
Những người xưa nay phiêu dạt nơi đâu?
Tóc xanh xưa nay chắc đã bạc màu
Mắt thơ ấy có còn lưu cảnh cũ?
Thời xưa ấy trường ta còn rất trẻ
Mới vừa xây gạch ngói vẫn đang tươi
Nay thời gian chỉ quá độ vài mươi
Mà trường đã như ngàn năm cô tịch
Vết lở loét hằn sâu bom đạn xới
Dấu thời gian bạc thếch lớp rêu phong
Nào đâu một thời mái đỏ vòm cong
Trống trường điểm người ùa ra ong vở
Tiếng cười nói xôn xao ngàn hớn hở
Những cô nàng, cậu ấm sáng như sao
Nay ta trở về trường đứng tựa chiêm bao
Trơ xương cốt phơi gan cùng tuế nguyệt
Đầu chữ ê bị thương thành dấu ngã
Để ngạo đời ngôn ngữ triết sâu xa.
Bạn bè ơi cuộc chiến đã trôi qua
Trường ở lại gục đầu trong tang chế
Đứng làm chứng cho đau buồn thế hệ
Mang nỗi sầu phân cách ở trên lưng.

Ai trở về xin bước nhẹ đôi chân
Chớ làm động thêm đau lòng ngói vụn ./.

Châu Thạch

READ MORE - CHÂU THẠCH - VỀ THĂM TRƯỜNG CŨ BỒ ĐỀ QUẢNG TRỊ

NGUYỄN BÁ VĂN - BA BÀI THƠ THANH BẰNG



VỀ
Người từ miền buồn phiền về đồng bằng tìm tình đầu
Người còn gì là vì đường dài mòn lòng thầm sầu
Nghe đâu đây bao vây cơn mê man nơi thung sâu
Nghe hoang vu âm u trong con tim thênh thang đau



M Y  H O A 
tặng Võ Thị Mỹ Hòa
M ưa xuyên chiêm bao - đêm vong thân thêm lao đao
Y ên trong thâm sâu – nghe hoang vu dâng lên cao
H ôn môi hư hao – trong cơn mê tim xôn xao
O an khiên năm nao – hôm nay xin yêu thương trao
A i qua thương đau -  ru câu ca lên nghêu ngao 





MỘNG THU
tặng Nguyễn Thị Mộng Thu
M ùa vàng rơi em nghe không
Ô i sầu dâng lên mênh mông
N ghe vàng ru thu mơ mòng
G ần sang đông trăng xanh trong

T ình em xưa chưa phai nồng
H ình như thu chưa sang đông
U  mê ta nghe hư không...




Nguyễn Bá Văn

Hình trên trang này: Thiếu nữ và chim, phù điêu của Nguyễn Bá Văn
READ MORE - NGUYỄN BÁ VĂN - BA BÀI THƠ THANH BẰNG

Saturday, October 15, 2011

NGUYỄN HỒNG TRÂN - DÒNG SÔNG QUÊ MẸ






Sông Nhồng ơi ! chảy về đâu mãi ?
Ta nhìn hoài muốn ngả trôi theo.
Lúc dịu dàng trong xanh êm ả ;
Lúc vội vàng hối hả tải phù sa.
Sông ơi có hiểu lòng ta,
Tuổi thơ in bóng đậm đà tình quê ...

Sông Nhồng ơi ! ta cứ say mê.
Dòng nước ôm ta những tháng hè.
Chiều chiều bơi lội bến Cầu Rộc.
Lặn đuổi tìm nhau dưới bóng tre.
Bao nhiêu hình ảnh từ thuở nhỏ
Lưu giữ trong ta mãi quay về…

Sông ơi ta muốn được nghe,
Âm thanh kỷ niệm tràn trề thân thương ...




Kính tặng quê mẹ 
- Thượng Xá, Hải Lăng, Q.Trị
N.H.T 
READ MORE - NGUYỄN HỒNG TRÂN - DÒNG SÔNG QUÊ MẸ

Wednesday, October 12, 2011

LƯU QUANG MINH - PHÁ LẤU VỈA HÈ



Truyện ngắn


“Con trai gì lại thích ăn hàng?” – Lâu lâu cùng ngồi nhâm nhi chén phá lấu, nàng lại tủm tỉm ghẹo tôi.
“Món khoái khẩu của anh mà…” – Tôi chống chế.
“Ừ, thì giống em thôi!”
Nói rồi nàng cười roi rói, tươi hơn ánh nắng chiều đang phủ xuống không khí ngập đầy ngột ngạt của khói xe, bụi đường.
“Lấy con thêm chén nữa, dì Tư!”
Hai chúng tôi vốn đều là “mối ruột” của dì Tư “phá lấu”. Gánh hàng của dì bán cố định trước cổng ngôi trường cấp hai thân quen này từ lâu lắm rồi. Ngồi một chốc, nghe tiếng trống đánh thùng thùng là biết đã tới giờ tan học. Liền sau đó, lũ học trò áo trắng quần xanh nhộn nhạo ùa ra khỏi cổng, từng nhóm tụm năm tụm ba đứng ngồi ngóng người nhà tới rước. Và rồi chỉ độ dăm ba phút nữa, chung quanh tôi đã túm tụm những đôi mắt tròn xoe chực chờ dì Tư đưa từng chén phá lấu nóng hổi thơm phức tha hồ thưởng thức, không phải nuốt nước miếng thèm thuồng lâu thêm nữa.
“Bán cho con một chén đầy đủ với bánh mì đi dì…”
Cô bé đeo kính cận vừa ngồi xuống bên cạnh, tôi nhận ra ngay, vì em cũng là một “khách hàng thân thiết”. Thấy hai chúng tôi, bé reo lên:
“Hôm nay mới thấy anh chị ghé đó nha!”
Phải rồi, hễ hôm nào thấy nhớ nhớ thèm thèm là tôi và nàng lại đèo nhau ra đây, dẫu cho tiết trời có nắng nôi nực nội. Quên hết, quên sạch, chỉ còn biết đến chén phá lấu béo ngậy nước dừa, thơm thơm ngũ vị hương.
“Con trai gì mà khoái ăn phá lấu?”
            Mỗi lần nàng chọc ghẹo, bỗng dưng cảm thấy mình bé lại, tôi hay bồi hồi nhớ.
Thằng nhóc con mười hai tuổi xưa kia mê ăn phá lấu từ thuở nào?
Ngày ấy nó mê bơi lắm. Hè nóng bức nực nội, chẳng ngày nào hai anh em nó không lặn ngụp trong nước hồ mát lạnh đến đen thủi đen thui. Lúc lên bờ lạnh run, nghe anh hai nó rủ đã thấy thòm thèm:
“Ăn phá lấu, Bo ơi!”
Trước cổng hồ bơi lúc nào cũng có từ hai hàng phá lấu trở lên. Bơi xong đứa nào đứa nấy mệt lả, bụng đang đói cồn cào, nhâm nhi một chén phá lấu chấm bánh mì thì còn gì tuyệt bằng. Hai anh em thường xuyên ăn ở chỗ hàng của bà lão đội nón lá. Phá lấu của bà ăn rất vừa miệng, bà lại hào phóng nước hầm, hai anh em muốn xin thêm bao nhiêu cũng không bao giờ phàn nàn. Ăn phá lấu đúng điệu phải xiên bằng que, chấm nước mắm me chua chua ngọt ngọt, thêm miếng ớt xắt cay cay với vài lá rau răm điểm xuyết. Cắn một miếng lòng nóng giòn sần sật, lại húp thêm nước hầm chan sâm sấp trong chén, nó như quên hết cả trời chiều như thiêu như đốt.
“Anh đang nghĩ gì đó?”
“Đâu có…”
Thằng bé hôm nao nay ra dáng cậu sinh viên trưởng thành, cũng biết thương biết nhớ ai rồi. Từ dạo mới quen, hai chúng tôi chuyên đèo nhau trên chiếc xe đạp cọc cạch, cứ thế rong ruổi khắp mọi nẻo đường thành phố dẫu phải hứng đầy khói xe bụi bặm, chỉ để ghé thăm một địa điểm hàng quán nào đó “ưng ý” mà ngồi nhâm nhi cùng nhau toàn là đồ ăn vặt.
“Em biết không, hồi còn học cấp hai, ngày nào tan trường anh cũng phải ăn một chén phá lấu của dì Tư rồi mới đi bộ về nhà nổi…”
Vừa đạp xe về tôi vừa kể nàng nghe sự tích thằng bé con mê ăn vặt, nàng ngồi sau khúc khích mãi không thôi. Chắc bởi cùng giàu chung một “tâm hồn ăn uống” nên tôi và nàng mới hợp nhau đến thế. Ai đó bảo: “tình yêu phải đi qua bao tử rồi mới đến trái tim” thì phải. Nghĩ thế, vừa đạp xe tôi vừa tủm tỉm cười.
* * *
Hôm nay thòm thèm như mọi bận, vậy mà hì hục chở nàng đến nơi chẳng thấy xô phá lấu nóng hổi, cũng không thấy bóng dáng dì Tư đâu, nàng và tôi cùng một phen tiu nghỉu.
“Dì nghỉ bán hả anh? Thèm quá trời nè…”
“Lâu lâu cũng có bữa nghỉ, mình qua chỗ khác ăn vậy.”
Tôi lại đạp xe một đoạn dài qua hồ bơi gần nhà. Thêm một dịp ký ức được ùa về…
Thằng bé con nhanh nhảu húp xì xụp nước hầm vừa cạn chén đã đưa ngay bà lão:
“Châm thêm cho con miếng nước, bà ơi…”
Bà già cười hiền hậu, múc một muỗng nóng hổi đầy nước chan vào chén cho nó.
“Đây, ăn đi cháu!”
“Bo chấm bánh mì mà ăn, ăn không về khát nước cho coi!”
Mặc thằng anh nói gì, nó cứ húp lấy húp để say sưa.
Rồi cũng đến những ngày chuyển mùa, trời mưa như trút nước, nhiều khi to ơi là to. Thế mà thằng bé con vẫn nằng nặc đòi anh hai dắt đến bể bơi cho bằng được. Bơi được chút xíu đã lạnh tím người, nhảy ngay lên bờ tay chân đứa nào đứa nấy run lẩy bẩy. Hai thằng nhóc con tắm sơ mặc lại quần áo tươm tất xong là chạy ù thật nhanh ra cổng. Có ai đi ngang hẳn sẽ ngạc nhiên lắm khi bắt gặp hai thằng bé con dù áo có lấm mưa lạnh tanh vẫn nhe răng cười toe toét ra chiều đầy “mãn nguyện”.
Vì rằng trời mưa hay nắng, hàng phá lấu của bà lão vẫn ở nguyên đó, nép vào mái hiên nhỏ nhắn nơi bức tường phủ đầy rêu xanh trước cánh cổng hồ bơi quen thuộc, chờ đón chúng nó đấy thôi.
“Mình ngồi đây đi anh…”
Bây giờ thì trước cổng hồ bơi vẫn đầy rẫy những hàng phá lấu, nhưng tuyệt nhiên chẳng thấy bóng dáng bà lão khi xưa đâu. Thay vào đó là người đàn bà với gương mặt bệt bạt đen sạm của nắng gió trao cho tôi hai chén phá lấu nóng bỏng tay thơm mùi nước dừa thoang thoảng ngồi xa xa đã khó cầm lòng, phải bấm bụng nuốt nước miếng ừng ực.
Muốn hỏi thăm người bán nay thế chỗ nhưng tôi chợt nhớ bà lão không tên. Hoàn toàn tôi nào có hay biết gì về bà. May thay nụ cười hiền hậu vẫn ở đó trong nỗi nhớ, cùng với chén phá lấu được bà yêu thương luôn châm thêm nước hầm mỗi khi thằng con nít ranh mở miệng mè nheo “xin xỏ”.
Nàng cầm que xiên một miếng gan chấm nước mắm me xong bỏ vào miệng, cắn thêm mẩu bánh mì, lại bưng chén kề miệng húp nước cái “rột”. Tôi cũng húp, húp lấy húp để dù nóng muốn bỏng lưỡi.
Nhanh quá, mau quá, thời gian ơi…
* * *
Con trai gì lại mê ăn phá lấu?
Thì cũng giống em thôi!
Tình đầu thường dễ vỡ, ai cũng bảo vậy. Tôi và nàng chia tay. Những buổi chiều còn lại một mình, bàn chân tôi đạp từng vòng xe rong ruổi mãi vẫn nhẹ tênh. Nàng giờ đã ngồi sau lưng ai đó, ung dung trên xe tay ga bóng loáng, vi vu chốn nhà hàng quán xá sang trọng nào thật ư?
“Dì Tư, lấy con thêm chén nữa…”
Tôi vẫn đều đặn ghé trường cấp hai, dưới nắng chiều nóng bức giờ tan học. Là tôi - cứ thế ngồi bệt xuống vỉa hè chẳng nề hà, nhâm nhi cái món phá lấu vốn đầy bụi bặm, và không ít người chê mất vệ sinh.
Dơ lắm đó anh, em đọc báo xong hết dám ăn luôn! Thôi, anh đi đi.
Nàng chẳng còn mê phá lấu nữa, không muốn đi cùng, cũng đâu mong gặp tôi nữa.
Chỉ riêng tôi tuần nào cũng ghé cổng hồ bơi, tay đón lấy chén phá lấu nóng bỏng lưỡi xuýt xoa, dù cho trời có đang chuyển mưa tầm tã. Một mình say sưa xùy xụp. Một mình nhai miếng lòng ngọt giòn, cắn thêm miếng gan thơm bùi, chấm với mắm me chua chua xen ớt cay xè.
Cứ thế hết hồ bơi lại đến trường học, ngày nào tôi cũng ghé, chiều nào tôi cũng ăn những hai ba chén cho thật đã mới thôi.
 “Sao anh đi có một mình, chị đâu rồi?”
Tôi rụt rè trước câu hỏi, cố tránh ánh mắt đầy thắc mắc của cô nhóc kính cận ngồi kề bên. À, chị bận nên nhờ anh mua về. Dì Tư ơi, làm cho con một ổ bánh mì mang về, đầy đủ nha dì.
Từng vòng xe mỗi lúc thêm nặng trĩu. Tôi loay hoay với ổ bánh mì phá lấu còn nóng hổi dắt trên xe - mua về cho nàng. Cứ thế tôi đi, rong ruổi vô định. Những con đường, quán xá thân quen dần hiển hiện. Kỷ niệm của hai “tâm hồn ăn uống” đâu đâu cũng thấy, nơi nào cũng từng một lần qua.
            Con trai gì mà “ghiền” ăn phá lấu?
            Bao nhiêu món ngon trên đời, sao lại thích có phá lấu vậy kìa…
            Đỗ “xịch” lại nơi góc đường, tôi dắt xe lên lề, ngồi phệt luôn xuống vỉa hè.
            Đố em biết vì sao phá lấu chỉ chuyên bán ở vỉa hè lề đường?
            Không biết nữa. Vì sao vậy anh?
Tôi giở khúc bánh mì lúc này nguội ngắt: bên trong chan ngập nước hầm, nhét đầy phá lấu. Trầm ngâm một hồi đưa lên miệng cứ thế ngấu nghiến ngon lành.
            Tại sao vậy? Nói em biết đi!
            Phá lấu làm sao bán ở chỗ nhà hàng quán xá sạch sẽ sang trọng được. Làm sao thấy ngon được, em ơi…
            Những tia nắng cuối cùng trong ngày thi nhau ùa theo mặt trời dần khuất lấp sau đám mây mờ. Một chốc lát, cả thành phố ngập chìm trong ánh đèn đường vàng vọt. Những xô phá lấu hẳn giờ cũng đã hết sạch sành sanh. Tôi mường tượng trong tâm trí: những bà lão, những cô dì ngày ngày tảo tần với món khoái khẩu của bao nhiêu lứa học trò nhỏ đang thu dọn trở về nhà sau một ngày vất vả. Một thằng bé con nào đó sẽ reo lên mừng rỡ: A má về, má về! Nghe tiếng nó từ xa, tự dưng bao nhiêu nhọc mệt bon chen đang hằn in trên gương mặt phờ phạc kia tan đi đâu mất.  Chỉ còn riêng mỗi nụ cười là đọng lại mãi thật lâu trên môi cả hai má con.
            Ngày mai, chắc tôi sẽ lại đi ăn phá lấu.
            Đứng dậy, phủi bụi, leo lên xe, bất giác tôi thở dài buồn bã. Giá mà mọi xô phá lấu trên đời đều luôn hợp vệ sinh - dẫu có bán nơi vỉa hè bụi bặm. Có lẽ… ./.



Lưu Quang Minh – 7/2010



Lưu Quang Minh
Sinh 18/05/1988 tại TP.HCM
Hiện là sinh viên ngành Đồ họa - Mỹ thuật công nghiệp
Đã có truyện ngắn đăng trên các báo: 
Văn nghệ, Văn nghệ trẻ, Văn nghệ quân đội, 
Lao Động, Tiền Phong, Sài gòn giải phóng, Phụ nữ chủ nhật…
Thành viên bút nhóm thiếu nhi Nhiệt Đới
Giải nhì cuộc thi truyện cực ngắn Web Hội ngộ văn chương 
với truyện “Già trước tuổi”
Đã in: tập truyện ngắn đầu tay Gia tài tuổi 20 (NXB Văn Học – 3/2010)
Đc: 63/14/4 Lê Văn Sỹ, F 13,  Q Phú Nhuận TP HCM. Đt: 0908018518 – 0822110885
Mail: lqmproduction@gmail.com



Bài do tác giả gởi tặng
READ MORE - LƯU QUANG MINH - PHÁ LẤU VỈA HÈ

VÕ LÀNG TRÂM - CÒN TRONG KỶ NIỆM




Bài họa
NHÌN DÒNG THẠCH HÃN
                         Thơ NHT


 


Chinh chiến nên đành biệt cố hương!

Nhiều khi thao thức suốt đêm trường .

Người xưa đâu nữa - đi kinh tế,

Bạn cũ còn đây - bám ruộng nương .

Sông Hãn nhớ hoài thời lửa đạn ,

Cổ Thành in mãi buổi tang thương .

Nguyễn Hoàng dấu ái ngày ôm cặp ,

Tình cảm bên nhau chốn học đường . . .
                                    

VLT
READ MORE - VÕ LÀNG TRÂM - CÒN TRONG KỶ NIỆM

Tuesday, October 11, 2011

TRẦN TRÌNH LÃM - QUÁN CHỈ CÓ MÌNH MÌNH

Trần Trình Lãm, ký họa của Diệp Chí Huy



Quán chỉ có mình mình
Thong thả đếm lá vàng rơi từng lá
Mình mình nhặt
Mình mình nhâm nhi sắc tàn cuối hạ
Giọt cà phê hồn hậu
thủy chung

Mình mình đọc mùa đi vô tình
Nắng lướt qua vòm cây rất nhạt
Không ai thèm để ý
Chí có mình mình vơ vào giấc tàn phai
Mình mình cũng có nhiều cái hay
Bút mực đút vào trong túi
Thi ca vẽ vời chân dung thiếu nữ
Ôm đồm rung cảm phiêu diêu
Chủ quán ngồi ngáp ruồi chỉ có mình biết thôi
Chỉ mình mình nhận ra con người kia đích thực
Nào chân dài váy ngắn son môi
Tất cả đều vứt
Ngày mai, biết đâu lát nữa đây rồi
Quán không chỉ có mình mình nữa
Cuộc sống bắt đầu chộn rộn
Mình mới quý hôm nay chỉ có mình mình.

Trần Trình Lãm
trantrinhlam.vnweblogs
READ MORE - TRẦN TRÌNH LÃM - QUÁN CHỈ CÓ MÌNH MÌNH