Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, August 25, 2011

NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - VỀ LÀNG



Những người thắt đáy lưng ong
Vừa khéo chiều chồng lại khéo nuôi con
(Tục ngữ)

Hàng năm cứ vào tháng chín âm lịch, bà con ở xa thường về làng chạp mả. Nhiều khi ở cả tháng trời cũng chưa chạp xong mộ bên nội bên ngoại. Làng có tám họ tộc, mấy chục đời gả qua lấy lại gần như bà con cả. Nhớ cho ra bà con thế nào, nội ngoại ra sao, ai anh ai chị, ai chú ai bác, ai o ai dì là một chuyện không dễ. Có những trường hợp tôi vừa là ông vừa là cháu của một người nào đó, nếu theo giai bậc của cách gọi bên này và ngược lại bên kia. Phải nhớ để khỏi bị trách là điều thiệt khó đối với những người ở xa về. Từ ngày xa quê tôi thường ghi chép để khỏi bị các chú bác cô dì trách: “ Ơn say chưa ” (1)

Nghĩa địa gọi là rú, là những đồi cát thấp có nhiều cây dại. Hồi còn nhỏ, rú là nơi bí ẩn linh thiêng đối với chúng tôi. Năm lên mười, lần đầu được vác cuốc đi chạp mả ngoại, được các cậu chỉ bày đâu là mộ ngài nhất thế tổ, đường kính cả hàng chục mét, đâu là ngài khai khẩn, khai canh. Khi cuốc phải một cái om đất nào các cậu bảo đó là của người Hời để lại. Người Hời đối với chúng tôi như là người âm phủ. Chuyện về ma Hời một lần nghe ai kể là đêm ngủ đứa nào cũng tranh nhau nằm giữa. Lòng vòng một chặp chẳng nhớ ngôi nào là thế nào, chỉ trông mau nghe tiếng phèn la giục để kéo về nhà thờ họ ăn xôi thịt. Trời cuối thu, mưa lay phay lành lạnh mà ăn xôi thịt là nhất. Một mâm gồm xôi một bên, thịt một bên, gọi là tả xôi hữu thịt. Có ít chuối chát, khế và nhất là nước mắm mụ Cung nữa thì phải biết.
Lần này nhân khánh thành đình làng mới xây hàng tỷ đồng, phần lớn của những đại gia xa xứ đóng góp, bà con trong Nam về nhiều, tôi cũng thế. Lâu rồi mới được một lần sum họp bà con vui thế này. Đúng mùa chạp mả nên trên rú đông như ngày hội. Mồ mả không còn phải chạp như xưa. Không ai cần mang cuốc, chỉ thắp nhang. Nghĩa địa được xây như một “ thành phố âm phủ ”. Họ ni phái tê ganh đua xây dựng. Những lăng mộ “ hoành tráng ” thi nhau mọc lên. Đứa ở Mỹ phải hơn đứa ở Pháp. Con nông dân mới phất phải hơn con địa chủ ngày xưa. Thế là… ông bà được một phen… hãnh diện, “ nở mặt nở mày ”. Thằng Thỉ hướng dẫn tôi đi thắp nhang mộ chú Gàn, chú Rìu và các ngôi mộ của nhũng người ngày xưa cùng đội sản xuất.

Nổi bật lên trong đám phụ nữ là một bà quý phái, tay che dù, có vài “ tiểu đồng ” đi theo. Tôi hỏi thằng Thỉ “ Ai đó ”, hắn cười, “ Con mụ Nị chớ ai, nghe nói nó ở trong Sài gòn, giàu lắm ”, “ Nhớ rồi, con Nhan phải không ”, “ Chớ ai nữa. Hôm ni khánh thành lăng mụ Nị ”.

***
Tên tuổi có khi cũng vận vào đời người, không số phận thì cũng hình dạng bên ngoài. Ví dụ làng tôi có chú tên Rìu thì cả đời làm thợ cội. Chú đẽo cột tròn nổi tiếng cả một vùng. Những cột mít cong qua tay chú cũng trở thành… thẳng. Hay chú Gàn thì… gàn không chịu nổi. Nghe nói trào Ngô Đình Diệm, thôn trưởng, xã trưởng nghiêm lắm. Thế mà có lần chú dám cãi với cả cấp quận. Số là làng tôi có con hói mới đào để chống úng, nước lụt lên cá nhiều lắm. Lúc nước rút chú Gàn đem dạ ra đơm làm cản dòng nước chảy. Quan huyện đòi phạt, chú trả lời tỉnh bơ: “ Nước chảy thì con đơm, con không đơm nước cũng chảy ”. Mạ tôi kể có ông Chậm một đời chưa đi mòn đôi guốc Mức, nơi xa nhất ông đã từng đi là chợ Kẻ Diên cách làng bảy cây số. Đi đâu ông cũng chân đất, kể cả đi ăn kỵ (2), ông treo đôi guốc trước móc dù, đến trước cổng nhà người ta rồi mới mang vào. Nghe nói khi chết đôi guốc của ông vẫn còn mới.

Nhan cũng thế, “ Hồng nhan đa truân ”.

Ngày đầu về làng “tham gia sản xuất”, tôi đứng gần bên Nhan để thi cuốc đất thải giữa các thanh niên của các đội sản xuất trong làng. “ Đấu trường ” là ruộng “ Quá Giang ”, một dãy ruộng có bờ thửa rộng và dài. Đích đến là lá cờ, sau lưng là loa phát thanh hát bài “ Tiến về Sài Gòn ”. Chúng tôi dàn hàng ngang. “ Một hai ba …cuốc ”. Anh chi hội trưởng phất cờ, thế là cúi đầu cuốc. Tôi cuốc đúng kỹ thuật nên cùng bề ngang năm lát cuốc, càng lúc tôi lại càng bị lùi về phía sau. Nhan kêu lên “ Chú cứ cuốc một lát, thả một lát, nhanh lên ”, tôi làm theo trong hăng say phải thắng. Cuối cùng đội chúng tôi về nhất. Báo hại mùa trái đó, đám ruộng chúng tôi lập “ thành tích ” khỏi gặt, vì chẳng có chẹn lúa nào. Cờ thi đua của thanh niên đội tôi vẫn “ khí thế ” treo lên trên “ văn phòng ” thanh niên phân chi hội.

Văn phòng phân chi hội là nhà của mạ con Nhan, cô làm phân chi hội trưởng. Chồng chị Nị (Ba của Nhan) là hạ sĩ quan tiếp liệu (chế độ cũ), những năm sau bảy lăm còn ít vải vóc, áo quần. Nhan lúc nào cũng sạch sẽ gọn gàng, áo lụa hoa, quần Mỹ Á, Xa Tanh. Ba Nhan chết lúc xuống tàu ở cửa Thuận An, do mang nhiều tiền nên bị cướp giết chết.
Mạ Nhan hay bệnh, những chiếc áo hoa, quần Mỹ Á, Xa Tanh của Nhan cũng phải bán đến cái cuối cùng, mỗi cái được tính bằng lúa, cái cao nhất là cái quần Xa Tanh được ba thùng lúa, ngày bán cái quần Xa Tanh, gánh lúa về, Nhan vừa chạy vừa khóc.

Nhan hòa đồng với những cô gái quê mười tám đôi mươi thiếu ăn rách rưới. Mới mấy năm mà trông xác xơ đi, nhưng vẫn đẹp. Suốt ngày ngoài ruộng đồng. Mỗi lần xắn quần bước xuống ruộng làm cỏ, đôi chân thon hồng làm chạnh lòng bao chàng trai, cũng làm khó chịu những bà sồn sồn trong đội.

Một chiều trời mưa lớn, Nhan đứng ngoài ngõ nói với vào: “ Chú Bình ơi, khoai sau rú ngập hết rồi, mai sớm chú cháu mình đi lặn, được củ mô hay củ nấy chớ nhà cháu hết gạo rồi ”. Tôi hơn Nhan bốn tuổi, không biết bà con thế nào mà gọi tôi bằng chú. Thấy tôi thân thiện với Nhan ba tôi nghiêm giọng, “ Coi chừng ba không làm thông gia với con Nị mô nghe ”.

Cơn lụt cuối tháng ba gọi là tiểu mãn, khoai đất cát mới hai tháng bị ngập trong nước. Cả làng già trẻ lớn nhỏ lặn nước moi khoai. Nước ngang ngực, ngang cổ. Mỗi lần lặn xuống kéo lên một vài dây khoai có dính vài ba củ bé tẹo như trứng gà so. Mấy ngày mưa hôm nay lại có nắng. Tôi và Nhan lội cả cây số mới tới nơi những vồng khoai hai chú cháu trồng hôm đầu tháng hai.

*
Tháng hai, mùa giáp hạt.

Nhan qua nhà tôi thật sớm, để gánh phân chuồng có cột cái cuốc răng (3) trước sân. Cả nhà đang ăn cơm độn khoai, mạ tôi xới cho Nhan một chén, rưới lên một chút nước ruốc. Nhan ăn ngon lành, tự nhiên, xong gom hết chén bát đi rửa. Nhan nói “Hôm qua đội chia rồi, chú cháu mình được chia lô trồng khoai sau đôộng Mai Đường, chú chưa lấy phân phải không, để cháu lấy cho”, đoạn ra chuồng lấy đầy hai thúng phân, một ngàn ngọn để lên trên. Mạ tôi đưa Nhan gói khoai khô nấu, bảo để chú cháu ăn bữa lợ.

Nhan gánh phân chạy trước, đòn gánh nhịp nhàng, chơi vơi dáng người thon thả. Nhan chạy chân trần (cả làng ai cũng thế), gót chân nứt nẻ, áo bộ đội ngắn ngang thắt lưng, lộ mông tròn lắc qua lắc lại, hơi tóp so với mấy năm trước, lần làm cỏ lúa mùa hè thu tháng bảy năm bảy lăm.

Khi làm cỏ lúa mấy đứa con trai cố tình làm chậm lại để lén nhìn mông Nhan chổng lên, tròn lẳn như hai trái bưởi ghép lại, đen óng, căng láng trong chiếc quần Mỹ Á. Thằng Thỉ hôm đó mang quần xà lỏn vải mỏng làm cỏ lúa sau lưng Nhan, khi hết lối đụng bờ không đứng lên được, nó giả đò đau bụng ngồi bệt xuống bùn. Chú Gàn biết tỏng nó đang thế nào, kêu lên: “Bà con ơi, tới bắt cá tràu…” (4). Thằng Thỉ đứng dậy bụm “cá tràu” chạy về, không làm cỏ được nữa. Cả đội cười bò lăn trên bờ ruộng, các cô gái chưa chồng đỏ mặt thẹn thò… Chú Gàn lại hò: “Bởi em thương ruộng thương đồng, mặt úp xuống lúa chổng mông lên trời”. Ngày đầu tôi thấy hình ảnh này, vừa tội nghiệp vừa thương xót các cô. Tham gia một ngày làm cỏ, tối về chân tay muốn rớt.

*
Buổi sáng bà con vừa gánh phân vừa khoe với nhau là trồng được mấy ngàn ngọn rồi. Đất cát vùng trũng còn nhiều, chưa vô hợp tác nên mạnh ai nấy trồng. Khoai là lương thực chính, lại còn “sản xuất cá thể ” nên bà con dồn hết tâm sức vào chuyện chăm bón. Muốn trồng nhiều khoai phải nuôi heo để có phân, có nhà dùng cả phân người. Đất cát trắng tinh (sau này tôi đi nhiều nơi chưa thấy cát ở đâu trắng như thế. Bạn tôi ở Bắc Mỹ có lần viết thư bảo tuyết ở đây trắng như cát quê mình.), dùng cuốc răng cào lên một mái, rải phân chuồng dọc theo luống, cào mái còn lại để lấp phân, rồi trồng ngọn lên. Ngọn khoai gục xuống mấy ngày, nhờ ăn gió ăn sương đến ngày thứ ba thì ngóc đầu dậy…sống. Một tháng sau khoai bỏ vòi gọi là “xây bàng thang”, thường rất ít cỏ, chỉ cào lại một lần cho tơi đất rồi chờ ngày thu hoạch. Khoai đất cát củ nhỏ, lớn nhất chỉ bằng cái trứng ngỗng, vỏ mỏng, ăn rất bùi, không khi nào bị sâu.

Khu vực tôi và Nhan cào khoai là một miếng đất trũng, bốn phía cao lên những nổng cát. Đứng cào khoai chỉ thấy trời xanh và cát trắng. Trời càng trưa càng nóng. Nhan cởi cái áo bộ đội khoác ngoài, bên trong là chíếc áo cánh bằng lụa màu hồng cài nút bóp. Chiếc quần vải chéo màu đen bạc phếch, có vá một miếng sau mông. Hồi trước ngực Nhan lớn, giờ thấy nhỏ lại, có lẽ tại không mặc áo ngực. Đồ lót phụ nữ khan hiếm, trong cửa hàng hợp tác không có, ngoài thị trường thì quá đắt đỏ. Mỗi cô thường để dành một bộ quần đen áo trắng, may ra thì có áo ngực và quần lót để đi đám cưới, hoặc dự những ngày lễ hội.

*
Mỗi lần có vải phân phối về là vui lắm, hy vọng ngời lên trong mắt bà con, nhất là các cô các chị. Áo quần vải vóc được chia thành từng phần, rồi bốc thăm như xổ số. Trước khi bốc thăm thường có cán bộ ban ngành nào đó phổ biến “chủ trương đường lối”. Hôm đó chị Mịn hội trưởng phụ nữ thôn nói về kế hoạch hóa gia đình, sau khi “kính thưa ”, chị bắt đầu “ đi vào vấn đề”. (Chị có thói quen nói dai, bà con thì nóng ruột trông mau hết để bắt thăm). Chị thường “ triển khai ” bằng câu “Một là…”, rồi hai là., ba là… rồi trở lại “Một là… hai là…”. Lần này bà con tưởng xong chờ đợi, chị lại tiếp “ Bốn là…”. Bà con ồ lên, chú Gàn đưa tay có ý kiến, chị Mịn trịnh trọng: “Mời chú Gàn”. Chú đứng dậy nói cộc lốc: “Bốn là bá L…”. Cả đội cười nghiêng ngả. Chị Mịn khóc tấm tức. Chú Gàn không cười, tỉnh bơ. Chị Mịn góa chồng, bà con hay “cặp đôi” với chú Gàn.

Oái oăm là các cô ít khi được trúng quần vải chéo đen, có khi lại bắt trúng quần xà lỏn. Có lần con Bê con mụ Nậy không trúng được quần đen khóc tức tưởi. Thằng Thỉ lại trúng luôn hai cái. Tối hai đứa về cùng đường, thằng Thỉ đề nghị: “Cho tau rờ một cái tau đổi quần đen cho”. Con Bê “Xí” một cái, sau đó nghĩ lại, tiếc, bước lên chận thằng Thỉ lại, nói “Đó, mần chi đó thì mần”, thằng Thỉ không làm chi cả. Rứa là con Bê giật cái quần chéo đen trên tay thằng Thỉ. Thằng nhỏ mất tiêu cái quần trị giá hai thùng lúa.

*
Mồ hôi làm áo dính vào lưng của Nhan, thấy rõ cả đường ao. Mạ tôi hay bảo những đứa “thắt đáy lưng ong” như con Nhan hiếm lắm, thế nào cũng làm mệnh phụ. Tôi ngừng cào ngắm xem cái lưng ong nó làm sao. Nhan không để ý, hỏi:

 – Chú có ý định hỏi vợ mô chưa.

 – Ai ưng mà hỏi.

 – Cháu có người sắp đi hỏi rồi đó.

– Ai rứa.

– Ông Thệ.

– Ông Thệ lùn bên làng Q. phải không.

– Dạ. Cháu không ưng mà mạ cháu cứ ép hoài, cháu khổ lắm. Mạ cháu nói ông Thệ hiền, lại làm phó chủ nhiệm hợp tác, khỏi lo đói.

Tôi biết lão Thệ. Hắn mập, lùn tịt, da trắng bệch, đội chiếc mũ cối, mang cái đài mở oang oang, hay đạp xe qua làng tôi. Hình như hắn có bà con nội ngoại với ai đó ở xóm Tả. Mặt hắn gầm gầm mỗi lần chạm mặt tôi. Vợ hắn chết, có hai đứa con gái đã học cấp hai.

Đến lúc này mới hiểu lòng mình, tôi dừng cào loạng quạng ngồi xuống trên vồng khoai. Nhan chống cuốc, khom người nhìn tôi, mồ hôi lấm tấm trên má trên cằm, đôi mắt mở to dưới vành nón lá, ái ngại : “ Chú mệt à, nghỉ một chút nói chuyện rồi cào tiếp, chắc trưa cũng được vài ngàn ngọn ”. 

Tôi chậm rãi:

– Cháu biết chú thương ai không.

– Chắc mấy cô giáo trong trường chớ chi, cô mô nói cho cháu biết với.

– ….
– Hay là chị Kiều y sĩ trên huyện hay về thăm chú.

– …

– Nhan thân thiện ngồi xuống bên, tôi nhìn sâu vào mắt Nhan, ngập ngừng:

– Tôi thương Nhan.

– Chú thương hại cháu.

– Chú thề …

Lưỡng lự một chút, Nhan ôm chầm lấy tôi khóc hu hu. Nhan khóc cho thỏa, rồi thút thít: “Ông (ba tôi) không cho mô, ông chê nhà cháu không xứng.”

Nhan nằm lên đùi tôi, hàng nút bóp trật ra lồ lộ ngực trần trắng ngần, loang loáng cát. Tôi hôn lên đó. Tôi hôn lên những nổng cát hoang hoải quê nhà.

*
Nước ngập ngang ngực, trong đến độ thấy những lá khoai xanh tái rung rinh. Hai chú cháu bắt đầu thấy lạnh. Môi Nhan tái đi. Nhan bưng cái rá còn tôi lặn. Lặn một hơi kéo lên được vài ba dây có dính những củ khoai màu trắng ngà, nhỏ như trứng chim trứng gà. Nhan lảy cho vào cái rá, đầy rá thì bưng lên nổng cát đổ vào bao. Đến gần trưa được hai bao 50 ký. Tôi lặn một hơi dài, khi trồi lên thấy Nhan té ngồi xuống, nước ngập đầu, tóc lòa xòa lao chao trong sóng nước. Tôi hốt hoảng bế Nhan lên khô. Nhan ọc ra một búng nước, mặt tái mét, môi run run : “Cháu đói, sáng ni chưa ăn chi hết, nhà cháu hết khoai rồi...”. Tôi chao mấy củ khoai bảo “Cháu nhai đi cho đỡ đói ”. Nhan nhai khoai ngon lành. Tôi bảo cháu cởi áo ra đi, mặc áo khoác khô vào cho đỡ lạnh. Nhan ngoan ngoãn quay lưng cởi cái áo cánh, dưới nắng trưa, tấm lưng gầy màu trắng xanh như dài ra tội nghiệp. Đường ao cạn đi trơ những đốt xương sống. Lưng ong, mệnh phụ gì ở cái xứ này!

Để hai bao khoai lại, cõng Nhan về, tôi cũng đói rồi, chân run từng bước. Tôi cõng Nhan đi liêu xiêu men theo bờ nước, có lúc mắt hoa lên. Ngoài xa những cái đầu người moi khoai nhập nhòe trong ánh nước loang loáng. Nhan nói thủ thỉ “ Chú thương cháu ri mai mốt lấy chi mà đền cho chú ”.

*
Lụt ngập trắng đồng không biết làm chi, ngồi nhà thì xót bụng.

Một buổi văn nghệ gọi là “tự biên tự diễn” được tổ chức trên sân phơi của đội. Chú Gàn bảo phải thêm câu ‘tiếng hát át cơn đói”. Bà con vây quanh lại, “sân khấu” nằm giữa như kiểu sinh hoạt lửa trại. Ánh sáng mập mờ phát ra từ một gốc dương liễu đang cháy, bập bùng. Thanh niên hát nhiều bài cách mạng: Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Tiếng đàn Ta Lư… Vui lắm. Nhan mặc đồ người dân tộc Pa Cô, cái mông lép kẹp có dịp “ lắc qua lắc lại” trong bộ cánh người dân tộc “ Ơi… người con gái Pa Cô, con cháu… ”. Bà con vỗ tay quá chừng ... chừng.

Chú Gàn và chú Rìu cũng có một tiết mục, do chú Kha bí thư chi bộ yêu cầu. Tôi làm xướng ngôn viên, trân trọng giới thiệu: “Kính thưa bà con, trở về thời kháng chiến xa xưa, mời quý đồng chí (sau này tôi bị nhắc nhở), bà con nghe lại, thấy lại những hình ảnh nên thơ của thời hào hùng chống Pháp. Hãy sống lại hình ảnh cha chú của chúng ta, họ đã từng yêu thương, lạc quan như thế nào trong lúc đối mặt với kẻ thù. Mời bà con xem lại điệu nhảy “ Đây gió đây trong rừng ”, điệu nhảy một thời các Vệ quốc quân giao lưu với các O thôn nữ quê mình. Kính thưa bà con đó là vũ điệu : “ Đây gió - đây… trong… rừng ” do Anh Gàn và O Rìu diểu diễn…” Tôi hét to lên, âm vang như tiếng xuất quân thời ấy. Chú Gàn mặc áo trấn thủ, chú Rìu mặc áo bà ba giả làm thôn nữ. Hai người nhảy như những vũ công thứ thiệt. Điệu nhảy mang dáng dấp khiêu vũ hiện đại, cộng theo một vài động tác múa dân dã, có nét như nhảy “cha cha cha”, lại có chút gì như “bebop”. Cũng nam tiến nữ lùi, cũng nam chân trái đối với nữ chân phải, nhịp nhàng. Lòng bàn tay nam và nữ có lúc vỗ vào nhau. Lòng bàn chân cũng thế, đá lòng bàn chân vào nhau, lúc trước lúc sau. Khi quay phải khi quay trái, lúc đối mặt lúc đối lưng thật đẹp mắt. Đặc biệt là những đôi mắt cũng lúng liếng đưa tình nhưng ngây thơ và trong sáng, không tình tứ như hát quan họ.

Bà con, nhất là những Chú những O đã trải qua thời kỳ chống Pháp vỗ tay nhiệt tình. Họ hát theo nhịp nhàng say sưa. Nhiều cặp nhảy với nhau như một dạ hội khiêu vũ. Có mệ nằm lăn giữa sân hát theo, xúc động sùi bọt mép…
Những năm cuối 1950, lúc mới lớn tôi cũng đã từng thấy các cô chú hát và nhảy bài này. Nghe kể lại trước năm 1954 các anh Vệ Quốc Đoàn đã từng hát và nhảy với các cô thôn nữ trong làng. Những người đã từng tham gia hai trung đoàn 101 và 95 đều hát và nhảy được bài này. Đến giờ tôi cũng chưa biết bài hát xuất xứ từ đâu, lời truyền khẩu có đúng không. Xin chép ra một đoạn như sau:

Đây gió, đây trong rừng, đây cánh đồng bao phóng khoáng, nầy cô em muôn vàn thân yêu có sầu nhớ chi trong lòng.
Tay ngắt bông hoa hồng, hoa với cành cùng đua sức thắm, kìa chim non muôn vàn,hoa tươi trên cành líu lo muôn đời Chiều dâng lên tiếng ca tiếng đàn, chiều bâng khuâng nhắc lòng em buồn. Gió mát nhắc rằng cô em muôn vàn thân yêu có sầu nhớ chi trong lòng...” Được viết theo điệu cha- cha- cha, cung ré trưởng.

Mạ tôi kể rằng làng tôi thuộc vùng kháng chiến. Ban ngày lính Tây đi lùng. Mạ gánh chị em tôi hai đứa hai đầu thúng, chạy băng qua cánh đồng về bên ngoại gần đồn Thi Ông tránh bom đạn. Các chị lớn chạy lúc thúc theo sau. Rất nhiều lần nhà cửa trong làng bị đốt cháy.

Gian nan vất vả là thế nhưng đêm về các cô thôn nữ vẫn quay lại làng cùng… hát và nhảy bài “ Đây gió ” với bộ đội. Các sân phơi lúa biến thành sàn nhảy. Các “ vũ công ” say sưa từng đôi một. Biết bao mối tình lãng mạn và đau thương đã xảy ra trong thời kỳ đó. Nghe nói có hôm liên hoan và nhảy “ Đây gió ” trước khi công đồn, rồi bao người không về nữa. Những lễ truy điệu trong đêm thật buồn đau nhưng sa đó cũng lạc quan, yêu đời, lại nhảy “ Đây gió ”. Có hôm đang gặt lúa ngoài đồng, nghe tin bộ đội về, các cô thôn nữ liếc mắt ra hiệu cho nhau về sớm để nhảy “ Đây gió ”. Bài hát và điệu nhảy đó là món ăn tinh thần không thể thiếu của dân quân Trị Thiên vào những năm chiến tranh khốc liệt. Năm 1954 phần lớn các anh Vệ Quốc Đoàn tập kết ra Bắc. Có những o thôn nữ buồn nhớ các anh, đêm về trốn ra vườn nhảy “Đây gió” với… bụi chuối. Sáng ra bụi chuối xác xơ như qua một trận bão.

Về sau này không biết lý do gì mà không nghe ai nhắc đến bài hát và điệu nhảy đó nữa.

Xong buổi văn nghệ, ai về nhà nấy. Nhan đi bên tôi, đường xóm tối thui, không nói với nhau một lời. Tôi vào nhà moi nắm khoai khô ra chia cho Nhan một nửa, cùng nhai, cùng uống một gáo nước để quên cái đói cồn cào.
*
Mùa màng năm đó thất bát, cánh đồng đến mùa gặt bạc phếch, “ chuột chạy không bén lông ”, lo lắng lộ rõ trên khuôn mặt những người lớn tuổi. Người ta bàn tán, kể lại chuyện đói năm Thân Dậu. Mạ tôi xay lúa, hò ư ử: “ Ạ… ơ… ờ, được mùa chớ phụ môn khoai, hà ơ..i …đến năm rồi… Thân Dậu, …À ơi… biết lấy ai … bạn cùng”.. Tiếng hò nghẹn lại trong tiếng lào xào của cối xay. Trong làng chẳng ai còn môn còn khoai để làm bạn. Năm này năm Thân, sang năm là năm Dậu.

Chú Gàn đôi mắt lim dim ngâm nga “ Thân Dậu niên lai kiến thái bình. Thái bình chết đói thấy mà kinh, chẳng thà chinh chiến mà sung túc, chết đói nhục hơn chết đạn mìn ”. Chú Rìu thất nghiệp dọn quán hớt tóc, từ sáng đến chiều không có khách nào, chú nhắp kéo nghĩ lại cái thời cầm rìu ngang dọc, được ăn ba bữa còn chè cháo hai bữa lỡ, rứa mà …chừ đói thắt ruột gan.

Tháng mười. Qua bốn trận lụt làng xóm xơ rơ, không còn tiếng chó sủa, heo kêu, gà gáy. Những cây đu đủ, cây chuối gục xuống vàng khè. Trong làng chỉ còn cây tre là sống nổi. Bùn đóng váng lên cây cỏ màu phù sa tái nhách.

Ngày đưa đám chú Gàn cả làng ai cũng khóc. Chị Mịn đại diện hội phụ nữ môi giật giật nói trong tiếng hức… hức… “ Chú ơi bỏ qua cho cháu mọi chuyện nghe chú, cũng vì công việc “ trên giao ” chớ cháu có giận chi chú mô, chú ơi…”. Chú Kha bí thư chi bộ đọc lời chia buồn, xong kéo cái khăn màu cháo lòng vắt vai lên lau nước mắt. Ông kể lại cái đói năm Ất Dậu 1945, những ngày cùng chú Gàn, chú Rìu ở trần xoa mỡ vào người ôm Tây vật dưới nương mụ Giành năm Quý Tỵ 1953. Ông đi tập kết mấy chục năm về những tưởng bà con no ấm, ai ngờ… Người ta quên hết những lời gàn bướng “ nổi tiếng ” của chú: “ Gà ai tới nương Gàn thì Gàn mần thịt, còn gà Gàn tới nhà ai thì ai cứ mần thịt ”, mà chú Gàn có nuôi nổi con gà nào đâu. Một mình không con không vợ, khi chết gia tài lớn nhất là bộ phản được ghép làm hòm. Trong nhà không còn một lát khoai khô. Âm công chạy trong tiếng sanh cóc… cóc… như gõ vào lòng mọi người những tiếng kêu cảnh báo khô khốc. Chú Rìu làm chấp lệnh thường nghiêm lắm mà hôm nay nước mắt chảy ròng, mặt chú đỏ lên như bao nhiêu huyết khí còn lại trong người dồn vào đó. Nghe kể vợ chú bị Tây hiếp nhiều lần đến chết. Chú ở vậy nuôi con. Ngày tập kết ra Bắc, các con còn dại chú không nỡ bỏ đi, gạt nước mắt chia tay đồng đội.
Khi hạ huyệt trời mưa xối xả. Quan tài phủ giấy đỏ có dòng chữ Hán màu vàng, hai người cầm hai đầu tấm sớ lật qua lật lại trên nắp. Những nắm cát bà con quăng xuống, màu đỏ chìm trong cát, trắng đến rợn người. Nhan ngồi bên đôi thùng nước chè không ai buồn uống. Nhan đổ hai thùng nước rồi nhìn tôi, mắt đỏ hoe.

*
Buổi trưa đang lơ mơ ngủ nghe Nhan gọi: “ Chú Bình ơi, đi chia thịt trâu ” “ Trâu mô rứa ”, “ Con Ve lọi cẳng (5) rồi.
Con Ve cày hay nhất đội bốn chân chổng lên trời, bà con vây xung quanh, mặt ai cũng ngời lên sung sướng. Máu Ve hoen đỏ cả mảng cát, như tấm bản đồ châu Á: Bên trắng, bên đỏ. Màu đỏ nơi ranh giới oan nghiệt đó đậm hơn - sẫm màu tủi nhục. Ve nhìn bà con hiền hòa như lúc cày bừa bụng đói, đêm về Ve nhai lại lòng mình. Ve cũng như bà con nhai lại chính mình, thông cảm với bà con bằng những tiếng ọ… ọ ọ. Vĩnh biệt! Ọ… Ọ.

Nhan thút thít, đến bên cái đầu Ve vừa bị cắt ra vuốt mắt. Nhan cũng nhắm mắt, lơ mơ như Ve. Có lẽ Nhan đang nhớ lại mùa lụt năm ngoái, Ve bơi qua sông còn Nhan đứng khóc, Ve nhìn lui như hiểu được lòng Nhan, bơi trở lại. Ngày Ve còn sung sức đánh nhau với con Nậm bên đội ba, chiều về mình đầy thương tích, Nhan vừa cho ăn vừa bảo “Đã nói rồi mà, không được đánh nhau mà. Hư lắm!”. Ve lim dim mắt như nhận lỗi.

Một cơn gió mạnh thổi qua, hàng tre cong mình xuống. mọi người nhìn nhau, mơ hồ sợ sệt. Im lặng. Tôi nghĩ đến linh hồn chú Gàn. Những đêm mùa đông chú thường lặng lẽ un khói cho trâu, chú nói “nó làm cho mình ăn, không được vô tình”.

Bà con xách về từng xâu, có đủ thịt xương lòng, bàn tán thịt sẽ ăn với chi. Người bảo nấu cháo, người bảo làm bún xáo…, họ khéo tưởng tượng, chẳng có nhà nào còn gạo. Chú Gàn chết rồi, không lại có một… câu vè.

Chia thịt trâu về xong Nhan lại kêu: “Chú Bình ơi đi chia bo bo”. Bà con nháo nhác bên chiếc xe vận tải chở đầy bo bo. Chú Kha bí thư chi bộ trịnh trọng “kính thưa bà con, Đảng ta luôn quan tâm tới bà con, anh em các nước XHCN không quên chúng ta, Liên Xô vừa viện trợ cho chúng ta hằng triệu tấn bo bo, đây là loại lương thực rất bổ dưỡng…”. Bà con vỗ tay quá chừng. Xong chú Kha đi vòng vòng nhìn bà con chia bo bo, khuôn mặt gầy đanh lại khắc khổ. Chú là cán bộ liêm khiết nên rất nghèo. Nghe nói gia đình chú cũng đói cả tháng nay, ăn tới củ chuối sứ rồi.

Cả đội được một ngày vui vẻ, hạnh phúc, ấm no. Đêm đó có rất nhiều sáng chế từ món thịt trâu già dai nhách nấu với bo bo. Sáng mai có hàng chục người được gánh ra trạm xá vì bội thực.

*
Tháng chạp trời rét cắt da, mặt ai cũng vàng đi vì đói. Riêng mạ con Nhan thì không, Nhan phổng phao lên thấy rõ. Chị Nị đã đi lại được, bắt đầu đỏ da thắm thịt. Lão Thệ buổi tối thường ghé nhà Nhan, chở sau xe đạp khi thì túm gạo, khi thì cân thịt. Có lần tôi qua nhà Nhan mượn mấy lon gạo về cho mạ nấu cơm tối, Nhan đang phơi áo, tấm lưng ong nuột nà trong chiếc áo lụa mỏng, phơn phởn đường cong. Khi cúi đong gạo, tôi liếc thấy hai bầu vú Nhan căng hồng, lớn hơn hồi tháng hai nhiều. Nhan đong thêm một lon, gói riêng trong tờ báo cũ, bảo “khuya chú nấu riêng một lon gạo không độn khoai sắn mà ăn, lâu rồi chú chưa được ăn một bữa cơm không độn, gạo ni ngọt lắm”. Về, tôi nói với mạ ý con Nhan, mạ nhìn tôi ứa nước mắt.

Có lần đi họp chi hội sớm tôi hỏi Nhan: “cháu tính sao”, Nhan thản nhiên: “Ăn no rồi tính, chú có tính chi được cho cháu mô”. Nghe Nhan nói tôi the thắt trong lòng, đúng rồi, tôi có tính gì được đâu. Tôi không trách Nhan, cũng không trách tôi. Khi đói con người ta chỉ còn nghĩ đến chén cơm.
Đám cưới Nhan và Lão Thệ sẽ được chi hội thanh niên tổ chức vào ngày chủ nhật hạ tuần tháng chạp. Chiều thứ bảy phân chi hội lo làm rạp, cắt khẩu hiệu, cờ xí. Hôn trường loè loẹt nhiều màu. Chiều xong việc đám thanh niên ai về nhà nấy. Đến gần tôi, Nhan nói nhỏ, “Tối ni khoảng mười một giờ chú ra ngoài ngõ cháu có chuyện ni nói với chú, nhớ nghe, nửa đêm”. Tôi hỏi “Chuyện chi rứa”, Nhan nghiêm mặt: “ Bí mật ”.

Nhà tôi còn vài thùng lúa, mạ tôi mỗi bữa nấu một lon sữa bò, còn bao nhiêu là độn sắn lát. Những hạt cơm dính trên những lát sắn thưa như lúa giống lúc vãi mạ. Mỗi người chỉ được hơn chén. Thức khuya cơn đói cồn cào. Mười giờ đêm cả xóm chìm đi trong bóng tối mùa đông. Tôi đi tha thẩn trước sân, trùm cái mền dạ mà cứ run cầm cập. Lạnh từ trong ra ngoài, từ trên xuống dưới. Chưa bao giờ tôi đói như thế này. Cơn đói hồi chiều còn hy vọng vào bữa ăn tối, cái đói trong đêm không còn hy vọng được ăn, quay quắt làm sao. Nhà Nhan leo lét tí ánh sáng. Tôi cứ nhắm hướng nhà Nhan mà bước. Nhìn qua khe cửa sổ thấy Nhan đang xếp quần áo, mắt liếc chừng về phòng chị Nị. Tôi gọi khẽ “Nhan”, cô giật mình nhẹ rồi cúi sát vào cửa sổ thì thào “Đã dặn mười một giờ mà”, “Nhưng chú đói quá, có chi ăn không”. Nhan đưa cho tôi bịch bánh quy (có lẽ để ngày mai dọn đám cưới), thì thào: “Chú đi ra đầu cầu, cháu ra liền”. Tôi cầm bịch bánh quy đi nhanh ra phía cầu, vừa đi vừa ngoạm một miếng cả chục cái, chờ Nhan. Trăng hạ tuần lên muộn trong mây, lờ mờ chút ánh sáng. Nhan trùm áo mưa từ đầu đến chân, hình như có ôm theo cái bao cát (6) đựng áo quần trong đó, nghiêng sát vào người tôi nói nhỏ:

-  Chú về lấy xe đạp đưa cháu ra ga, một giờ tàu chạy.

– Nhan đi mô.

– Đi trốn.

– Rứa còn đám cưới ngày mai.

– Mặc kệ, một là đi hai là chết.

– Nhan suy nghĩ lại đi.

– Không suy nghĩ chi hết. Hôm qua ông Thệ hun cháu, cái miệng hôi đến độ nghĩ đến là muốn mửa. Cháu thà chết chớ không lấy ông Thệ mô. Chú có chở cháu đi không thì nói, cháu đi bộ.

Nhan khóc nấc lên, quày quả bỏ đi. Tôi hẫng đi một chút rồi chạy về nhà lấy xe đạp đuổi theo. Đèo Nhan đoạn đường tám cây số không một bóng người. Nhan ôm vào eo tôi thủ thỉ: “Cháu vô trong nớ kiếm được việc làm, biên thư ra chú có vô không”. Tôi không trả lời, mải miết đạp.

Tàu còn hơn tiếng nữa mới đến ga. Khách đợi chỉ non chục người. Chúng tôi lủi nhanh vào góc tối để tránh người quen, hai đứa ngồi lên chiếc ghế đá cuối hành lang. Nhan cởi áo mưa xếp lại cho vào bao, xong nói rành rọt:

– Số cháu nó rứa, tình chú cháu mình cũng ngang đây. Cháu chỉ nhờ chú săn sóc mạ cháu lúc ốm đau. Hằng tháng cháu sẽ gửi tiền về cho mệ (mạ tôi) để đưa dần cho mạ cháu. Tính bà nớ rộng rãi, không mấy cho đủ. Đây là hai chục ngàn ông Thệ cho, chú giữ giùm cho mạ cháu, nhớ là đừng đưa một lần. Tốt nhất là nhờ mệ cho mạ cháu ăn cơm và làm chi đó bên nhà chú cũng được. Ý chú răng.

– Đáng ra chú cũng trốn đi theo cháu nhưng chú chưa có quyền công dân, chưa có chứng minh nhân dân. Thôi số phận chú cháu mình như rứa thì cùng chịu. Chúc cháu đi chân cứng đá mềm. Biết đâu ông trời thương lại gặp nhau trong nớ.

Tàu chuẩn bị vào ga, hai đứa đứng lên. Nhan ôm chặt tôi hôn lên má, tôi cúi đầu nhận nụ hôn chia biệt, nhìn theo chiếc Lưng-ong-mệnh-phụ đi khuất, nước ứa mắt ra.

Giêng hai lại đến. Tôi lại cùng dân làng gánh phân đi trồng khoai sau rú. Chị Nị vừa trồng khoai vừa hò, giọng hò như những mũi kim đâm vào lòng tôi: “Mẹ già cuốc đất trồng khoai, con đi mua ngọn nghe ai chưa về”.

Hai đứa hướng về mộ chị Nị, vừa đi vừa nhắc chuyện xưa. Tôi hỏi thằng Thỉ mấy con rồi, hắn nói tám đứa. “ Đẻ chi nhiều rứa ” “ Ở đây những năm chú đi xong buồn lắm, đi cày về đói bụng trằn trọc không ngủ được, rứa là soạn bài, lại có bầu rồi đẻ ”. Tôi đùa với thằng Thỉ: “ mi nhớ chuyện cá tràu không ”, hắn đấm vai tôi, cả hai cười nắc nẻ.

Nhan đứng khấn trước mộ mẹ, tay cầm bó nhang run run. Tấm lưng ong thiếu phụ có đẫy đà hơn xưa, vẫn khiêu gợi trong chiếc áo dài đen quý phái. Khấn vái xong quay lại, Nhan và tôi nhìn nhau lặng đi một chặp, Nhan đưa hai tay ra trước như muốn ôm chầm tôi, kêu lên:

– Chú Bình phải không, ơn say chưa... Bữa ni ở mô răng không nghe ai nói chi về chú hết.

– Làm công nhân cao su tuốt miền Đông Nam bộ, rừng rú mần chi có địa chỉ.

– Vợ con chi chưa, răng khi mô đời chú cũng...

– Cũng đói... run tay run chân.

Nhan cười nhẹ, đôi mắt u hoài xa xôi nhìn về phía độộng Mai Đường.

Đứng trên cao nhìn xuống, làng xóm ruộng đồng như nhỏ lại. Bà con đi về theo nhóm, di động chậm rãi, nhiều sắc màu nhấp nha trên nền cát trắng, cây xanh.

Nhan mời tôi và thằng Thỉ về nhà ăn kỵ.

Nhà Nhan được xây dựng khang trang mà không ai ở, chỉ để thờ cúng. Bà con nội ngoại phần nhiều cùng đội ngày xưa. Ai cũng tay bắt mặt mừng: “Chú nhớ tui không”, “Cháu nhớ dì, nhớ cô, nhớ cậu không”. Rồi “ơn say chưa, không khéo ra ngoài đàng đập chắc (7)”. Thiệt tình tôi làm sao nhớ hết, Nhan thì không thế, tại năm nào cũng về. Tiệc tan, Nhan đến gần tôi nói nhỏ: “Chiều ni đi thăm động Mai Đường chú hè”, tôi đùa: “Có mang theo bánh quy không”, Nhan cười ý nhị.

Hoàng hôn. Những ruộng lúa sau mùa gặt trơ gốc rạ. Cò đậu trắng đồng, điều mà những ngày chú cháu còn làm ruộng hợp tác không thấy. Chúng tôi đi theo đường xóm Đình. Nhan mặc chiếc áo dài màu sáng, quần đen. Mùi nước hoa thanh nhã thoảng ra từ mái tóc dài, thả lửng lơ. Đường xóm được tráng xi măng sạch sẽ nhưng có vẻ vô duyên hơn ngày xưa. Người ta chặt hết tre để kéo dây điện. Tôi nói “Làng quê mà không có tre như con gái đi đám cưới mặc áo cụt, quần đen” “mà có đứa không có cả quần lót ” Nhan nói xong cười rũ rượi: “Chú nhớ chuyện nổi gân khu không”. Nhớ lần đám cưới con Bê, thằng Thỉ phát hiện rồi la lớn: “Hôm ni đám cưới vui quá, con mô con nấy nổi gân khu ” (8).

Ngang qua đình làng, ngôi đình được xây hoành tráng trên nền cũ. Đình làng tôi linh lắm, qua hai cuộc chiến tranh chưa bao giờ dân làng chém giết nhau, dù người theo bên này, kẻ theo bên kia. Ở làng thì ấm no, đi xa thần hoàng cũng phò hộ làm ăn phát đạt. Nhan bảo: “ Cháu đóng góp năm mươi triệu để cúng làng, ai cũng nói đóng chi nhiều rứa, cháu nghĩ mình không con không cái, đình làng như nơi thờ tự tổ tiên, là nơi mai sau khi mình chết có chỗ mà về ”. Hai đứa lặng đi. Ánh chiều yếu ớt buồn tênh, lặn sâu vào mắt Nhan, thao thiết lòng tôi Chúng tôi nắm tay nhau đi qua những bãi cát, nhớ từng tên gọi. Đây là canh Hạ, lên một chút là canh Thượng. Bóng hai đứa đổ lên cát, trắng đến nao lòng. Tôi hỏi “ Nhan sợ ma không ” “ Sợ người chớ không sợ ma ”. Tôi lại hỏi: “ Rứa chú là ma hay là người ” “ Chú là chú Bình, ân nhân, người yêu, người chồng hụt, người…”. Tôi hôn lên làn môi mằn mặn nước mắt, đắm đuối thỏa thuê. Môi Nhan run, giật giật theo tiếng nấc.

Trăng thượng tuần vằng vặc lấp lóa ánh phản chiếu trên những ruộng khoai ngập nước.

Vẫn hướng về Mai Đường. Giọng hiền như thời mới lớn, lúc sôi động, lúc nghẹn ngào, Nhan kể:

Lên tàu vào thẳng Sài Gòn, may mắn cháu xin được phụ bán cà phê cho một chị gốc quê mình, chị Lan. Chị Lan bảo là nghe ba mẹ kể lại thế chứ chưa thấy quê lần nào. Chị Lan học cao lắm, có bằng cử nhân văn chương Sài Gòn trước giải phóng. Gia đình chị ngày xưa giàu có, năm bảy chín bị cải tạo công thương nghiệp, chỉ còn quán cà phê sống qua ngày. Quán gần một cơ quan cấp bộ, là nhà cũ của gia đình chị. Chị Lan nhận cháu làm em tinh thần.
Cán bộ cao cấp ông nào cũng trịnh trọng bên ngoài, nhưng ông nào cũng mê gái. Mỗi lần uống cà phê cháu tính tiền là họ “ bo ” nhiều lắm. Cháu sắm áo quần, son phấn rồi “ lên đời ”, chị lan nói “phải biết đánh bóng mình”. Quán nhờ cháu mà khách đông lên. Chị Lan ngày càng tin tưởng, giao hẳn cho cháu quản lý.

Có ông thứ trưởng tên Lê chết vợ, tuổi cỡ ông Thệ, mê cháu, rảnh là ra quán ngồi suốt ngày. Một hôm chị Lan nói có thích làm vợ ông ấy không. Cháu suy nghĩ mấy bữa rồi đồng ý. Mình nghĩ, ở lại làng lấy ông Thệ còn được huống chi… Chị Lan bảo cháu ra điều kiện phải có nhà mặt tiền để cháu mở quán cà phê. Ông ấy chịu. Nhà hồi đó còn dễ, với chức vụ của ông Lê chỉ trong tháng là xin được ngay. Ngày cháu và chị Lan đi coi, đứng trước căn nhà sang trọng cháu cứ run lên. Chị Lan bảo “nhà của thiên hạ chớ nhà chi của tay Lê mà em sợ”. Rồi chị làm cố vấn cho cháu ra điều kiện trước ngày cưới phải sang tên và có hộ khẩu thường trú. Người lớn họ có kinh nghiệm. Rứa là cháu được làm chủ một căn nhà mặt tiền ở quận ba. Đám cưới chỉ có chị Lan là người thân và một số bạn bè chị ấy.

Ở với ông Lê được năm năm. Những năm đầu còn hạnh phúc. (Cháu không có ý định lường đảo ai, kể cả ông Thệ). Cháu cố gắng làm tròn phận sự với chồng như những người phụ nữ quê mình, dù cháu chẳng yêu thương gì ông ấy. Càng về sau ông ấy càng tồi tệ. Đêm nào về nhà cũng nồng nặc mùi rượu. Ông còn đem về những bộ phim con heo và bắt cháu phải học làm như mấy diễn viên trong phim. Rồi ông hì hục như heo suốt đêm. Cháu tủi nhục, ê chề lắm, đem chuyện đó kể lại cho chị Lan. Chị bảo yên tâm, thế nào chị cũng sập lão Lê này mới được, “ Dĩ oán báo oán, đời mà em ”. Đôi mắt chị rực lửa, chưa bao giờ thấy chị dữ dằn như rứa.

Một sáng chị Lan điện thoại bảo chuẩn bị đi đánh ghen, lão Lê đang có vợ bé bên quận tám. Chị thuê một chiếc xe mười hai chỗ ngồi, qua quận tư kêu thêm mấy bà đầu gấu nữa. Chị bảo em cầm cái máy chụp hình, lên phim sẵn sàng để bấm, chị bố trí hết rồi. Theo sắp xếp của chị Lan, cháu chụp được hầu hết những cảnh tượng gian phụ dâm phụ đang thông dâm.. Rồi chị thuê luật sư, ra tòa và cháu thắng kiện. Sau đó ông Lê bị đi tù vì một vụ án tham ô khác. Rứa là cháu có căn nhà trị giá cả mấy trăm cây vàng, chị Lan bảo “ của thiên trả địa ”. Nói rứa chớ tháng mô cháu cũng bới xách cho ông Lê trong tù, một ngày cũng đạo ngãi vợ chồng.

Chị Lan lại bảo bán căn nhà đi để làm ăn. Những năm mở cửa, chị em mua đất mô trúng nấy. Hiện giờ hai chị em có công ty địa ốc, chị bảo “ chà đi xát lại chị vẫn là tư sản”. Cháu không nghĩ rứa, cháu là nông dân. Có nhiều tiền cũng vui, nhưng nghĩ đến những ngày đói rét cơ cực cháu khóc hoài. Có điều kiện là cháu gửi tiền về làng giúp đỡ bà con. Nghĩ đến ông Thệ cũng tội, những ngày ông đau ốm cháu gửi tiền lo hết. Năm ngoái ông chết cháu có về lo đám đình, xây lăng cho ông. Giờ thì cháu không thèm lấy chồng nữa, chỉ cần có một đứa con. Cháu năm ni ba tám tuổi, còn sinh được.

Nhan nói giọng Sài Gòn, thỉnh thoảng cố tình pha giọng quê.

Nổng cát bao quanh chỗ chúng tôi trồng khoai ngày xưa lưa thưa vài cây dương liễu lên cao, vi vu nhè nhẹ. Trăng lên cao càng sáng. Những ngày mưa vừa qua làm nước dâng lên cao. Mặt nước khuất gió, không xao động, lăn tăn gợn, ánh trăng nhấp nháy trăm nghìn đom đóm nhập nhòe.
Chúng tôi ngồi xuống bên mé nước, ôn lại chuyện xưa, khi cười khi khóc. Đến đoạn bị xỉu vì đói, Nhan khóc hu hu như con nít, rồi đột nhiên cười ha hả, nói như hét lên theo tiếng cười, “Chú Bình ơi, tắm đi” “có đồ tắm mô”, “Có chi tắm nấy”. Không chờ tôi phản ứng, Nhan nắm tay tôi kéo ùm xuống nước. Nhan lặn một hơi sâu rồi trồi lên cười khanh khách “cứu với, đói quá sắp xỉu rồi nì”. Lại lặn nữa, áo dài và tóc của Nhan chập chờn trong nước. Lại trồi lên cầm tay tôi nói như ra lệnh, “Cởi áo cho cháu”, tôi như cái máy, lại “Cởi quần cho cháu, nhanh lên” tôi hụp xuống nước, tuột luôn quần Nhan. Áo quần của Nhan cái sẩm cái sáng nỗi bập bềnh như hồi xưa người ta thả vàng mã cho người chết trôi. Nhan cười ha hả, “Coi cháu bơi nì” Nhan bơi vòng quanh hồ nước, kêu lên “Chú Bình ơi, đói sắp xỉu rồi nì, cứu cháu, cởi áo quần ra mới cứu được, nhanh lên không thôi cháu chết thiệt đây”. Nhan lặn một hơi dài. Tôi luống cuống cởi áo quần bơi đến gần. Nhan ôm chặt lấy tôi thở hổn hển: “Khi mô chú cũng ngơ ngơ như vịt đực, còn thua cả lão Thệ”…

… Nước ngang bụng, xao động lúc nhanh lúc chậm, rồi lao xao cuộn sóng, rồi lặp lại nhanh, chậm, rồi ầm ào…. Nhan rên lên, tiếng thở phì phào ngắt quảng: “Chú ơi... no... rồi, hết... xỉu... rồi ”, cười mãn nguyện. Nhan ôm riết cổ tôi thủ thỉ: “ Lạy trời cho cháu có con với chú, sẽ đền cho chú một đứa con được ăn no mặc ấm, học hành thành đạt.”

Hai đứa nằm lăn, cát dính đầy người. Hiu hiu buồn ngủ. Nhan nằm nghiêng, tay chống cằm, mắt lim rim như chú Gàn đang đọc thơ, làn môi hơi hé như hai búp bông khoai (9) ơ hờ sương gió, nói thì thào “Cứ nằm ri cho đến chết”. Lại thì thào “Mai mốt chết chú cháu mình về làng chú hỷ, được chôn trong đất cát trắng sẽ hóa kiếp thiên thần”. Nhan nằm sấp lại nhìn xuống kỷ niệm, chấp chới ánh nước loáng trăng lao xao dưới đó. Tấm lưng ong cong một đường, lồ lộ dưới ánh trăng quê nhà vằng vặc. Đường ao hằn tròn hình rảnh khoai cát trắng mịn màng sau mùa lụt, tơi bời những gợn tóc như dề cỏ chỉ (10) vắt ngang.

Da cát trắng não nùng. Cỏ chỉ xanh da diết. Tóc đen thiệt tình. Hoa khoai tím hoang sơ. Tôi rùng mình, nghe da thịt nổi gai rờn rợn.

Sài Gòn Đêm 14.11.2007
Nguyễn Đặng Mừng.


CHÚ THÍCH:
(1) Ơn say: Đáng lẽ phải nhớ mà không nhớ, một lối trách yêu. Ví dụ: Gặp một người thân nào đó mà mình không nhớ, người đó sẽ trách là “ ơn say chưa ”. Người Huế nói là “ ơn thay chưa ”
(2) Ăn giỗ
(3) Cuốc răng: Một loại cuốc có từ 4 đến 6 răng, răng dẹp khoảng 3 phân, chuyên dùng để cào khoai đất cát.
(4) Cá lóc
(5) Gãy chân
(6) Bao cát: một loại bao bằng vải rất bền, của quân đội Mỹ. Đổ cát đầy bao, chất lên để làm công sự.
(7) Ra ngoài đường đánh nhau
(8) Mặc quần lót hằn rõ đường lằn ở mông
(9) Bông khoai: Bông khoai lang màu tím, một dạng loa kèn nhỏ bằng ngón tay cái.
(10) Cỏ chỉ: một loại cỏ thân mảnh như cây thì là, sống rất dai trên đất cát.

READ MORE - NGUYỄN ĐẶNG MỪNG - VỀ LÀNG

Wednesday, August 24, 2011

LÊ NGỌC PHÁI - LÀNG TÔI


LÊ NGỌC PHÁI
Quê quán: La Duy, Quảng Trị

Nguyên là giảng viên tại Đại Học Nông Lâm Huế
Hiện ở tại: 25/5 B Quang Trung, Phường 8, Gò Vấp, TP HCM
Hội viên CLB Unesco thơ Đường TP HCM
Phó Chủ nhiệm CLB thơ Mây Tần, Chân Quê thi hội
Điện thoại: 0908320606
Email: phaimai@yahoo.com





LÀNG TÔI


Làng tôi nghiêng bóng xuống dòng sông
Xanh ngát hàng dương tận cuối đông
Dòng nước lững lờ về Cổ Lũy
Bờ tre lặng lẽ đến Thi Ông
Người nơi lân lý tình sâu đậm
Kẻ chốn tha phương nghĩa mặn nồng
Đất tổ La Duy giàu chính khí
Cháu con thành nghiệp khắp tây đông.



DÒNG SÔNG KÝ ỨC

Làng tôi ở bên dòng sông Vĩnh Định
Con nước dài ấp ủ bóng trăng thanh
Chiều đi qua êm ả đón bình minh
Lũy tre xanh điểm những cành lau trắng.

Tôi đã viết bài thơ trong chiều nắng
Về một dòng sông hay một cuộc đời
Bản tình ca khúc giao hưởng đất trời
Còn phảng phất, ôi ngậm ngùi trăng gió!

Ngấn nước trong in bóng chiều rạng rỡ
Hương đâu đây và sắc cũng đâu đây
Bàn tay ai xe lại mái tóc mây
Mang nỗi nhớ hong đầy lên sợi nguyệt.

Em đã đọc những lời thơ tôi viết
Nhưng làm sao hiểu hết một dòng sông
Cuộc sống ở đây... bình dị lạ lùng
Và có phải dòng sông như thế đó?

Tôi đã nghe tiếng sông cười sông thở
Đến ngập ngừng rồi bỡ ngỡ ra đi
Dấu chân xưa còn vương vấn điều gì
Cũng không thể làm sao tìm cho hết.

Cũng không thể không nói lời từ biệt
Một dòng sông nối tiếp những dòng sông
Ai ra đi mà từng chết trong lòng
Thì đâu dễ quên dòng sông đang chảy.

Mỗi phút giây có muôn ngàn cuội sỏi
Rơi vào lòng, rơi mãi tận đáy sông
Màu thời gian càng phủ kín rêu rong
Thì mãi mãi dòng sông thêm xanh biếc.

Cứ mỗi chiều nắng vàng lên tha thiết
Nhớ làm sao, nhớ hết cả dòng sông
Con nước xưa vẫn chảy chảy theo dòng
Theo năm tháng âm thầm vào biển nhớ...

L.N.P

Trích từ tập thơ Dòng Sông Ký Ức, tác giả Lê Ngọc Phái, NXB VHVN TP HCM, 2010, do tác giả gởi tặng.

Ảnh từ trang thodatviet.vnweblogs.com






READ MORE - LÊ NGỌC PHÁI - LÀNG TÔI

ĐỘC HÀNH - TRÂM LÝ XƯA


Sau bao nhiêu năm tha phương cầu thực, dành hết thời gian và công sức để kiếm miếng cơm manh áo, nay đến tuổi nghỉ hưu, nỗi nhớ quê hương từ lâu tưởng chừng như đã nhạt phai nay chợt bùng lên da diết, quắt quay khiến nhiều người dù không phải là nhà văn, nhà thơ cũng phải cầm bút để trang trải nỗi lòng.
Anh Võ Thần, sinh 1950, bút danh Độc Hành, quê quán làng Trâm Lý, Quảng Trị là một trong những đồng hương như vậy.
Hin thường trú: T 11 - p 4 - LÂM SAN - CM M - ĐNG NAI
Mobile: 0977.526.573
Email: dochanh75@gmail.com

TRÂM LÝ XƯA

Làng Trâm có lũy tre xanh
Quanh năm xa bóng che quanh đường làng
Mát chân các cu các nàng
Mùa v sãi bước rn ràng xóm thôn
Làng Trâm có mt cái cn
Đt giàu màu m lũ dn phù sa
Xanh tươi lung t lung cà
Đu ngô khoai sn đm đà tình quê
Làng Trâm có mt con đê
Trung thành trn gi lũ v xóm thôn
Có năm mưa lũ dp dn
Bà con Trâm Lý vinh tôn đê mình
Làng Trâm có mt cái Đình
Mười hai tháng chp trng thùng thình vang
Nh ngày to m cúng làng
Ly hương phi nh tìm đàng t tông
Làng Trâm có mt con sông
Quanh năm nước chy xanh trong hin hòa
Các cô các cu làng ta
Đêm trăng tm mát múa ca ch hng
Làng Trâm có cánh đng bng
Mùa v trĩu hat “ lim vng” ra quân
Hè thu cho đến đông xuân
Trúng mùa go lúa đy sân ngp nhà
Đến chùa Trâm Lý quê ta
Muôn rm t quý tr già dâng hương
Khói thơm ta ngát bn phương
Cu xin Pht t quê hương an lành.

Đ.H
READ MORE - ĐỘC HÀNH - TRÂM LÝ XƯA

Tuesday, August 23, 2011

HOÀNG KIM LIÊN – LÀNG AN MỸ CỦA TÔI


Tôi sinh ra, lớn lên tại làng An Mỹ, một làng quê hẻo lánh, nghèo nàn nhất ở phía Đông Bắc huyện Gio Linh, cách huyện lị khoảng chừng năm cây số. Dân làng đa số làm nghề nông, suốt năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời vẫn không khấm khá được, họa chăng chỉ đủ ăn, có đâu giàu có. Những nghề khác mang tính cách cải thiện cuộc sống hay để hổ trợ cho nông nghiệp mà thôi. Giao thông cách trở sông hói, chưa mưa đã lụt, mưa xuống thì đường sá lầy lội. Do đó, những thông tin, văn hóa, văn minh mới mẻ khó mà đến với làng tôi sớm được.

Chuyện kể rằng: “Ngày xưa, hai làng An Mỹ và Cẩm Phổ giao hảo với nhau rất hiếu hòa, con gái của hội chủ làng An Mỹ gả cho con trai hội chủ làng Cẩm Phổ. Làng Cẩm Phổ đất hẹp, dân đông nên người con gái về xin cha mình cho làng chồng thêm một ít ruộng để làm ăn. Ngay giữa ranh giới hai làng có một cục đá giống như cái bia cao khoảng một mét, lớn chừng một ôm người lớn . Ông cha bảo với đứa con gái rằng: lần sau, khi về thăm lại cha, con hãy nhắc cục đá đi qua khỏi ranh giới, được chừng nào mà con không nhắc nổi nữa thì chỗ đó là ranh giới của hai làng. Cục đá trơn láng như vậy cô gái dùng năm ngón tay bấu thật chặt vào đá, đá thũng vào rồi xách đi. Mới đi được khoảng 150 mét, vì gắng sức nên tuột quần (ngày xưa, quần không cột lưng bằng dây mà lấy hai mối quấn với nhau rồi nhét vào hông), bà ta phải để cục đá xuống mà vận quần lại rồi nhắc tiếp. Không ngờ khi để cục đá xuống rồi, bưng lên không bao giờ nổi nữa”. Diện tích làng mất thêm một ít . Khi bà ấy chết, làng Cẩm Phổ nhớ ơn Bà, cho lập miếu thờ gần chỗ cục đá. Hiện cục đá có dấu năm lỗ bấu tay và nền miếu vẫn còn. 
Phía sau làng là những đồi cát trắng, cao chạy dài từ đầu làng đến cuối làng, phía sau nữa giáp với thôn Phường Mới (thôn 9,của xã Gio Hải) là đồng cát cỏ mọc, bằng phẳng, rất rộng, chừng 500 mẫu ta. Ở giữa có một đồi cát trắng rất cao gọi là đôộng “Cồn Dôn” và gần đó có một hồ nước sâu. Các cụ xưa nói rằng : trước đây, đó là một khu rừng thấp gọi là “rú”, cây tự nhiên như trâm bầu, tràm, ngút, nổ, săng mả v.v…cao chừng năm mét, rất rậm rạp, đến mùa sinh sản chim cò về đây làm tổ rất đông. Vì trong làng ít nam, nhiều nữ, làng động viên sinh nam, ai sinh con trai được ra sau rú đốn mười cây về làm nhà hay làm củi đốt…, rồi có kẻ lợi dụng làm cho rú tan hoang, lâu ngày mưa gió xói mòn lớp đất trên mặt bây giờ còn lại chỉ toàn cát trắng. Lúc lớn lên khoảng mười tuổi, đi chăn trâu ở vùng nầy, tôi thấy gốc cây mục còn sót lại nhiều lắm, thỉnh thoảng thấy một vài cái chum bị gió thổi trốc lên ở trong thấy có xương hoặc đất màu đen đen, người ta nói đó là mã hời, ai đụng đến sẽ bị ma hời bắt chết, nên rất sợ. Nhiều cồn cát cao trên 20 mét. Mùa đông, gió đông nam thổi cồn cát di chuyển về gần làng, rồi mùa hè, gió nam lào thổi ngược lại, cồn cát lại chuyển ra xa hơn. Cứ thế năm này qua năm nọ. Mùa nắng từ 9 giờ đến 16 giờ không ai có thể đi trên cát đó được vì rất nóng. 
Phía trước mặt làng, có một bàu nước sâu; phía tây làng giáp giới với làng Lại An, làng Phước Thị là con sông đào vào thời nhà Nguyễn nối sông Hiền Lương cửa Tùng và Hiếu Giang cửa Việt gọi là sông Bến Ngự. Bàu và sông ấy là cả một kho thực phẩm cho dân làng An Mỹ và những làng chung quanh. Bởi ở đó cá tôm quanh năm, ai cũng có thể đánh bắt để cải thiện cuộc sống. Khi nước rút xuống, lúc nghỉ ngơi, dân làng rủ nhau ra chơm cá, nhủi tôm tép, mò cua ốc về ăn. Bây giờ không còn nữa bởi sông thì bị ngăn chận hai đầu, ở giữa thì phân chia nhau đấu giá. Bàu trước làng cũng đã được một số ít người ỷ thế, cậy quyền lập mưu đấu với giá rẻ còn hơn cho. Quyền lợi nầy bây giờ vào tay một vài người. 

Làng có một con đường liên hương lộ nối từ cữa Tùng qua Cát Sơn,Thủy Ban,Thủy Khê, Cẩm Phổ, An Mỹ, Nhĩ Thượng, Nhỉ Trung, Nhỉ Hạ, Lâm xuân…Cửa Việt. Một con đường chính ngang qua làng từ Phường Mới ( thôn 9) đến làng qua Cầu sắt (trước đây là cầu tay vựơn, bây giờ chận sông hẹp lại đúc máng cho nước chảy dưới người đi trên đến Phước Thị, Lại An…lên Hà Thượng, Quốc lộ 1. Ruộng, vườn, nhà có khoảng 350 mẫu ta, ruộng có chỗ hai vụ lúa, có chỗ một vụ lúa, một vụ khoai hay bỏ hoang cho trâu bò ăn vì mùa hè không có nước. Sau năm 1975, có đập “Ông Búp” dẫn nước về nên tất cả ruộng đều làm hai vụ. Thế nhưng ruộng ít, người đông, hơn nữa ruộng đa phần canh tác bằng thủ công, chia ra nhỏ lẻ nên khó bề phát triển. Dân trong làng đã đi vào Nam, Tây nguyên lập nghiệp hơn nữa, người ở lại bám đất giữ làng không còn nhiều nhưng không còn đủ đất làm nhà, phải lên bớt vùng trung du một ít. Số thanh niên còn lại cũng tìm vào thành phố làm công nhân kiếm sống, trong làng bây giờ còn lại một số lao động già, ông già, bà lão và trẻ em.

Trước năm 1970, ít có người cho con cái đi học. Con phải giúp cha mẹ trong công việc đồng áng, chăn trâu, giữ bò hoặc gia đình nghèo không thể đi học được, không đủ điều kiện đi học gần nói chi chuyện đi học xa. Hơn nữa, chiến tranh Pháp mới kết thúc thì nội chiến, người dân đói khổ. Số người đi học đếm được đầu ngón tay. Những người thức thời cố vươn lên thì ít mà an phận thì nhiều, có cố gắng hoặc may mắn lắm thì mới học xong bậc tiểu học là tốt rồi. Ngày trước, những nhà giàu cũng có mời các thầy đồ về nhà dạy cho con cái họ học chữ Nho, cốt để sử dụng đọc văn tế trong các buổi lễ cúng tế của làng. Chữ quốc ngữ chỉ học xóa mù chữ như phong trào “bình dân học vụ” mà thôi. Ban ngày đi làm, đi chăn trâu bò đêm về mỗi người một cái đèn dầu lửa, một vài quyển vở, cây viết nhúng mực do vài người trong làng mới biết đọc, biết viết truyền lại cho. Sau này, khi chiến tranh kết thúc, người ta mới ý thức được sự quan trọng của văn hóa, kiến thức trong đời sống hàng ngày mới đầu tư cho con cái học hành. Làng hiện thời có vài ba ông tiến sĩ; thạc sĩ năm bảy người; bác sĩ, kỹ sư, cử nhân cũng nhiều rồi.


 Xin nói thêm một chút về chuyện học hành làng tôi . Năm 1955, xã Gio Mỹ có một trường, được ba lớp, đó là trường Diêm Hà Trung. Diêm Hà Trung là một làng ven biển của xã, không có học sinh học nên chuyển về làng Nhỉ Thượng, không có lớp nhì, lớp nhất. Làng tôi đi học được khoảng 10 người, đa số con nhà khá giả. Năm ấy tôi đã 11 tuổi, vì gia đình quá khó khăn nên chưa được đi học. Năm sau, 1956, tôi ghi tên vào học lóp ba, vì tôi đã có học Bình dân học vụ, đã biết đọc, biết viết, biết làm toán cộng trừ. Lên lớp nhì, làng tôi gồm sáu bạn và tôi phải xin qua học Trường Tiểu Học Gia Môn,Thầy Nguyễn Đức Đích (ở làng Lễ Môn) làm Hiệu trưởng, Thầy Nguyễn Kim Đính (ở làng Lan Đình) dạy lớp Nhì; lên lớp Nhất, Thầy Đoàn Văn Quả dạy. Đến khi thi Tiểu học, làng tôi đi thi bảy người, mặc dù cả bảy đều học rất khá, thường chiếm vị trí từ thứ nhất đến thứ bảy nhưng bị hỏng một. Còn sáu người thi vào lớp Đệ thất Trường Trung Học Gio Linh, lần nầy hỏng năm, chỉ đậu được một.Tôi là người đậu, được vào lớp Đệ thất năm 1960 – 1961, Nguyễn Hửu Tỷ đậu đầu, Nguyễn Út đậu thứ hai, tôi và Trần Lương Tứ đậu thứ ba trên sáu mươi học sinh, là thế hệ thứ hai của Trường Trung Học Gio Linh. Cho đến thời điểm nầy, làng tôi mới có ba người học trung học. Anh Mai Văn Cẩn đậu Tú tài ll năm 1959, anh Dương Bá Cẩm học lớp Đệ tứ trường Bán công Gio Linh và tôi mới vào lớp Đệ thất. Bốn năm học tại Trường Trung Học Gio Linh, Thầy Nguyễn Bảo luôn là người Thầy theo sát lớp tôi, thầy vừa dạy toán vừa cố vấn lớp. Thầy được học sinh yêu mến và kính trọng nhất. Thế rồi bốn năm học trôi qua, tôi thi đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp hạng Bình thứ, tôi chọn ban B ,vào học Trường Trung Học Nguyễn Hoàng Quãng Trị, sinh ngữ chính là Anh văn, nhà trường sắp tôi vào học lớp B4 cùng với Nguyễn Út, Nguyễn Hửu Tỷ, Nguyễn Thừa Trương Thỉu ở Gio Linh, Nguyễn Thắng, Nguyễn Đăng Chương Dương, Nguyễn Đăng Yên Trúc, Trần Xuân Trường ở Quãng Trị, Đặng Bá Sô, Đặng Bá Khoái ở Cu Hoan Hải Lăng. Các bạn nầy học rất giỏi, Thầy Phan Khắc Đồ dạy toán rất hay.Thế hệ sau tôi, học sinh làng tôi vào học Trường Trung Học Nguyễn Hoàng có : Mai Văn Đạm, Mai Văn Thi, Mai Chức, Dương Bá Lữ, Dương Thành, Dương Thức… còn lại sau nầy tôi không nhớ hết. Số học sinh được đi học là do gia đình khá giả về kinh tế hoặc cha mẹ thức thời cố gắng lắm mới được. Ba tôi rất thông Nho học. Ông cũng thức thời, rất thao thức về việc học hành của con cái nhưng gặp lúc thời vận sa sút tôi đành thất học bốn năm năm. Làng tôi có một hội gọi là Văn hội, thờ Ông Khổng Tử, làng có dành cho hội năm sào ruộng để lo việc cúng tế. Có khoảng mười hội viên, ai thông Nho học hoặc đậu Trung Học Đệ Nhất Cấp trở lên mới được vào hội .Tôi cũng được vào hội. 
Trong làng có năm cái giếng cỗ rất sâu, xây bằng đá tổ ong, vuông, rộng chừng một mét sâu khoảng hai ba chục mét. Các giếng nầy đào từ lúc nào không ai biết, nó không nằm trong khu dân cư mà rải rác ngoài đồng, chỗ những cồn đất, cũng không phải để lấy nước xài. Các cụ xưa bảo rằng vùng này có long mạch nên các thầy Địa lý của Tàu họ âm thầm đào giếng để đoạn đứt long mạch không cho trong làng phát tướng, phát quan được. Trong thời Nhà Nguyễn, làng cũng có người làm quan lớn trong triều, cũng có người làm tướng có sắc phong của vua ban thờ ở miếu Thần hoàng.

Đặc biệt làng tôi có giữ được một trò chơi từ xưa truyền lại mang bản sắc truyền thống văn hóa dân tộc mà có lẻ vùng Gio linh không nơi nào có được. Nghe nói ở làng Kim Long huyện Hải Lăng cũng có trò chơi nầy nhưng không biết bây giờ còn không. Trò chơi “đánh cù”. Những hòn cù (hòn cầu) to bằng quả bưởi, nặng khoảng từ 2 đến 2,5kg, tròn, làm bằng gốc cây chuối. Mỗi năm tổ chức chơi một lần vào dịp đầu năm âm lịch, sau khi ăn tết Nguyên đán xong, khoảng ngày mồng 7 tháng giêng. Mục đích của trò chơi là gia tăng tinh thần đoàn kết, thương yêu nhau, cầu mưa thuận, gió hòa, được mùa…Trò chơi không biết có từ lúc nào, khi lớn lên tôi đã thấy rồi cho đến bây giờ vẫn còn (trừ những năm chiến tranh ác liệt làng phải tản cư đi nơi khác). Tết năm 2008, đài truyền hình VTV có về làng tôi quay phim, ghi hình phát trên sóng VTV1 lúc 19 giờ.

Làng có tất cả sáu họ tộc, họ Hoàng đến trước là tiền khai khẩn, đến họ Dương – họ đông nhất làng – đến họ Trương, họ Mai, họ Trần, họ Nguyễn (hai họ Trần, Nguyễn ít người nhất). Tất cả sống với nhau rất hòa thuận, đoàn kết. Mỗi họ đều có nhà thờ họ; làng có đủ đình, chùa, miếu…, chỉ có một tôn giáo độc nhất là Phật giáo.

Về ẩm thực, vào tháng hai, tháng ba âm lịch, khi lúa vụ chiêm sắp trổ đồng, có một loại cá nhỏ sinh sống ở giữa ruộng lúa, loại cá ruộng cạn nầy con lớn nhất bằng đầu mút lớn đũa; con nhỏ nhất nhỏ hơn que tăm, dài từ 1,5 đến 3 cm gọi là cá mủ hay cá bống mủ. Còn sống trong nước có màu xám như đất, khi bắt lên khỏi nước vài phút thì chuyển sang màu đen đen. Người ta dùng một dụng cụ để đánh bắt gọi là cái “dẹp” hay cái “đó”, bện bằng tre với dây “dôốc”(loại cây leo có rễ phụ thòng xuống rất dai). Cái dẹp có một cái mợng hay cái hom để cá vào nhưng không ra được. Khi nước sắp cạn ở ruộng, người ta khơi một rảnh cho nước mát từ đám ruộng trên chảy vào ruộng cạn nước đó. Cá mủ ở ruộng nầy đều tìm nước mát đi ngược lên, người ta đơm ngay cái “đó” ở trên dòng, cá đi lên sẽ vào hết trong cái “đó” đó cả. Sáng sớm đem “đó” ra đơm, khoảng 8 giờ, gió nam lào thổi nhẹ, cá bắt đầu đi lên, người ta đem rổ ra lấy “đó” lên đổ cá vào rổ rồi đặt “đó” lại chỗ cũ. Buổi sáng đổ cá hai lần, đến trưa gió mạnh, nắng, nước nóng cá đi trốn không lên nữa, người ta ngăn nước lại đem dụng cụ đánh bắt về ngày mai đơm tiếp. Một cái “đó” mỗi ngày đem ra đơm đổ được chừng 100gram cá, nhưng chục cái được chừng 1kg thế là nhiều lắm rồi. Cá mủ đơm ngược nước thế này không có rác bẩn, rất sạch sẽ người ta chà rửa sạch độ 200gram đem xào với nước mắm cho cá chín tới xong, đổ thêm vào nồi 1,5 hoặc 2 tô nước (tùy theo ăn ít hay nhiều người) đun cho sôi lên. Bầu tươi non đang ở ngoài dàn, ra cắt môt trái nhỏ độ 1kg hoặc cắt ngang một nửa trái lớn hơn, nửa còn lại cho thỏng dưới dàn cho lớn thêm, ngày mai cắt tiếp. Bầu gọt vỏ rửa sạch, để đứng, băm dọc xuống nhiều nhát dao rồi xắt ngang từng lát mỏng chừng hai ly. Khi nước trên nồi sôi, đổ bầu vào, lấy môi hay vá đảo qua đảo lại vài lần rồi bắc xuống ngay, nêm vào một tý bột ngọt, một muỗng cà phê muối, ném củ giả nhỏ với trái ớt mọi xanh (ở ngoài vườn lấy vào), đảo đều, múc ra tô còn bốc khói đứng cách vài chục mét mùi thơm của món canh nầy xông vào mũi thì chắc rằng không ai mà không thích. Mùi thơm và khẩu vị của nó khó diển tả được. Khỏi nói. Ngon tuyệt ! Món ăn nầy bây giờ không còn nữa, cái gì cũng có nhưng vật liệu chủ yếu: cá mủ không còn vì ruộng bón vôi, phân hóa học, thuốc trừ sâu, thuốc nổ bom đạn…đã làm tiệt chủng loại cá mủ ruộng cạn nầy rồi. Tiếc thay ! Món ăn đặc trưng không còn, hồi tưởng lại mà thấy thèm. Một món ăn tự tạo hoàn toàn không độc hại, không tốn tiền kể cả nước mắm cũng tự làm lấy (bằng loại cá mủ nầy), khỏi cần bột ngọt, thay vào đó, người ta nêm một chút ruốc ngon là được rồi. Ai đã một lần ăn thì nhớ mãi. 


Theo đà tiến triển của xã hội và khoa học, nghề nông cũng phải thay đổi cách canh tác, sản xuất, phải cơ giới hóa, công nghệ hóa, công nghiệp hóa. Để bớt tốn công sức, bớt tốn tiền, năng suất cao thì phải mất đi một cái gì đó. Đó là điều không sao tránh khỏi. Mặc dù về mọi mặt, làng tôi không có gì nổi trội cả nhưng có một điều đáng trân trọng là người dân làng tôi có một nếp sống giản dị, tính tình chất phác, thật thà, hiền lành, luôn luôn đối xử với nhau rất chân tình, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau. Nhà nào có đám đình, cúng giỗ là hàng xóm đến giúp đỡ không nề hà, tính toán thiệt hơn. Nhà có lon nếp, biếu lon nếp, có quả trứng, biếu quả trứng, có con gá, con vịt, biếu con gà con vịt. Họ xem nhau như ruột thịt. Luôn tuân thủ pháp luật, không bao giờ con dân làm điều gì mang tiếng xấu ảnh hưởng đến danh dự của làng. Thuần phong mỹ tục được giữ gìn cẩn thận. Người dân luôn tin tưởng một điều gì đó. Họ nghĩ rằng bất cứ một việc làm gì dù tốt hay xấu đều có ảnh hưởng đến nếp sống hiền hòa của họ. Ai đã từng sinh ra, lớn lên trên quê hương của mình, đã từng một lần xa quê hương mới cảm thấy tình yêu quê hương nó đậm đà tha thiết biết bao. Những người cùng quê hương đi xa khi gặp nhau đâu đó ở quê người thường hay kể lại cho nhau nghe về những kỷ niệm tuổi thơ, ôn lại những gì thời trai trẻ mình có được ở quê hương mình. Quê hương, ở đó có rất nhiều, rất nhiều thứ, rất nhiều điều không sao nói hết được. “Quê hương, nếu ai không nhớ sẽ không lớn nỗi thành người”. Dù ở đâu, chân trời góc biển nào càng xa ngái thì tình quê lại càng dạt dào, tha thiết hơn, khi nhắc đến Quê hương không ai mà không ngậm ngùi xúc động…cảm thương.
15.8.2009
Hoàng Kim Liên
READ MORE - HOÀNG KIM LIÊN – LÀNG AN MỸ CỦA TÔI