Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Wednesday, February 16, 2011

LINH ĐÀN - Vài nét về HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ và HỘI THƠ HÃN MAI



Hồi tôi mới lớn, tôi thường thấy quý cụ gọi nhau đi dự hội Cổ Học, mỗi lần đi dự hội, quý cụ chuẩn bị mấy ngày trước khăn đóng áo dài cho vào gói đeo vai sẵn sàng, đến ngày đi từ mờ sáng quý cụ quảy gói lên đường rồi đến 3 -4… ngày sau mới về lại nhà, từ làng tôi vào thị xã Quảng Trị tính theo đường QL1 là 24km, sau ngày chia đôi đất nước 1954, việc lưu thông, từ Gio Linh, hoặc Trung Lương vào Quảng Trị phải đi bộ đến Đông Hà, cũng mất gần một buổi sáng, đến chợ Đông Hà mới có xe khách đi Quảng Trị, xe nào xe nấy chật như nêm, phần nhiều là khách đứng, nếu đi đường sông thì phải đi trước 3 ngày, thế nhưng năm nào quý cụ cũng tham gia đông đủ. (Cuối năm 1958 mới có xe đò chạy từ Đông Hà ra Gio Linh, Trung Lương và ngược lại)

Đến năm 1962 tôi được đề cử vào ranh giới Trị Thiên, để đón phái đoàn Cổ Học Trung Ương từ Huế ra, tôi là người trẻ nhất của phân hội Cổ Học Gio Linh, rồi từ đó tôi được ghi danh vào Hội Cổ Học Quảng Trị. Sau nầy tôi vào Hội mới biết tôn chỉ của hội Cổ Học và ngày tế Đức Khổng Tử. tuy tôi được nhập hội nhưng chỉ được nghe ngóng và chấp hành, vì còn quá trẻ, và phải còn “giữ lễ”

Nói về tôn chỉ là phải biết về quan điểm của hội Cổ Học, biết về phần học thuyết NHÂN SINH QUAN, theo quan niệm luân lý Á Đông, và sự suy tôn VẠN THẾ SƯ BIỂU, cùng hiểu qua tiểu sử của Đức Khổng Phu Tử và các môn đệ tiêu biểu của Ngài, như Thầy Nhan Hồi, Thầy Tử Cống, Thầy Mạnh Tử chẳng hạn…

Còn phần tế lễ thì cứ đến giờ Dần ngày 27 tháng 8 âm lịch hằng năm là cử hành tại Khổng Miếu, trên chính điện là di ảnh đức Khổng Tử, phía ngoài là lư trầm bát nhang, kế đến là 3 ly nước trong, hai bình bông vàng, và cặp đèn bạch lạp, (không có lễ tế sát sanh) vị chủ tế đội mũ văn, áo rộng xanh, và thầy cúng đọc bài văn tế bằng chữ Hán, không có chiêng trống kèn nhạc, phần nghi thức hết sức long trọng, nhưng chỉ diễn ra trước lúc mặt trời mọc là xong, sau đó là lễ cúng ngoài trời. Khoảng 8 giờ sáng (7giờ sáng hiện nay) vị tỉnh trưởng, nhân viên tỉnh tòa, và các ty sở ban ngành trong tỉnh cùng mặc quốc phục long trọng đến Khổng Miếu niệm hương, dâng hương, đến năm 1963 bắt đầu có mấy vị nữ tham dự, không phân biệt người theo tôn giáo nào, trong Nam thì không biết sao, còn riêng Quảng Trị, chỉ có Phật Giáo, Công Giáo và người thờ Ông Bà gọi là Lương, nên việc tế Đức Khổng Tử diễn ra năm nào cũng có các thầy tu, các linh mục và các cụ đến chiêm bái hết sức long trọng. Có một điều không thể nào quên, là cứ đến ngày 27 tháng 8 hằng năm, đoạn đường Trần Hưng Đạo - Quảng Trị từ phía sau tòa tỉnh, qua ty tiểu học vụ đến cổng Khổng Miếu là toàn bộ khăn đóng áo dài, không thấy bóng dáng một bộ âu phục nào đi qua đó, giống như một quốc gia dưới thời vua chúa xa xưa.

Nói về sinh hoạt của Hội Cổ Học Quảng Trị, tôi thấy sự cung kính chào thưa ngày thường thật sự là nề nếp nho phong, đúng là phép tắc của cổ học, người xưa trọng chữ tín và tuân thủ lễ nghĩa, trọng phẩm cách nhưng không ươn hèn mà họ gọi là “đạo quân tử”. Đạo Quân Tử lấy sự “lập ngôn” (lời nói phải cách) làm đầu gọi là “lễ”, chữ lễ chia ra nhiều cách, như “lễ phép” = phép tắc xưng hô, “lễ nghi” = nghi thức ứng lễ, và “lễ nghĩa” = sự cư xử ở đời cho phải đạo ; thứ 2 là “lập đức” = “đạo đức trong việc ứng xử”, “đạo hạnh trong việc cư xử”, “đạo lý trong việc luân lý”; thứ 3 là “lập chí” = “kiên định lập trường, quyết đoán chính chắn trong việc làm”, và cuối cùng là “lập thân” = “làm tròn 3 nhiệm vụ trên”, đó là “tiêu chí của mỗi hội viên Hội Cổ Học Quảng Trị” ngày xưa. Tôi cũng xin nhắc lại ở đây “Hội Cổ Học” được danh xưng là Đạo Quân Tử nhưng không phải là một tôn giáo.

Song song với Hội Cổ Học là Hội Thơ Hãn Mai còn gọi là Hãn Mai Thi Xã, song hành nhưng rất khiêm tốn với Hội Hương Bình Thi Xã ở Huế. xướng họa thơ Đường Luật, và sáng tác thơ Song Thất Lục Bát, thơ Lục Bát, thơ Phá Thể, Văn Ai, Văn Tế, Phú, Hoành Phi và Câu Đối.

Thường thường Hội Trưởng Cổ Học kiêm luôn chức hội trưởng hội thơ Hãn Mai, hồi tôi mới vào hội, hội trưởng là cụ Tú Tài Nguyễn Hữu Hiệt, gọi tắt là cụ Tú Hiệt, bút danh là Thạch Lữ, (làng Đại Hòa – Triệu Phong), cụ là một nhà thơ nổi tiếng của Quảng Trị, không những thơ Nôm mà còn thơ Chữ Hán, trên các tạp chí của Đài Bắc hay Hồng Kông cũng in thơ Cụ, cụ còn làm thơ thời cuộc, đại để như bài thơ tết năm Đinh Mùi 1967 dưới đây :

KHAI BÚT NĂM ĐINH MÙI
Nhảy vọt sa trường “ngựa” đã ê
Xuống thang mong tới đoạn đường “dê”
Mừng tin gió mới cành hoa nở
Nhớ hẹn trăng xưa chiếc én về
Bức vẽ văn minh nhiều cảnh lạ
Bàn cờ thế cuộc có cơ huề
Đua nhau đốt pháo chào xuân mới
Chẳng nỡ trêu người giữa “giấc mê”.

                                      Thạch Lữ

Tôi không nhớ năm nào cụ Lê Hữu Nguyện (làng Cửa Tùng – Vĩnh Linh, là anh ruột Đức Cha Lê Hữu Từ) lên thay cụ Tú Hiệt, sau đó là cụ Hoàng Trọng Thuần còn gọi là Thầy Thoàn hay cụ Tú Thoàn (làng Phúc Lộc – Triệu Phong) lên nhậm chức, cũng kiêm luôn 2 chức vụ Hội Trưởng. Cụ Thoàn là người năng động, muốn mở rộng hội viên cho lớp trẻ, để không trầm tĩnh như hồi trước, nên các giáo viên các trường tham dự hội khá đông, và phân viện Hán Học Đại Học Huế thường giao du, có linh mục Nguyễn Hy Thích, thầy Giản Chi, thầy Phan Văn Dật, nhạc sư Nguyễn Hữu Ba, vv… thường tới lui ngâm vịnh. Hội Hãn Mai còn có các nhà thơ lão thành như : cụ cử nhân Trần Doãn Trai (cựu Thị Lang Bộ Hộ) cụ Nghè Ba, Cụ Học Thược, Cụ Mộng Xuân Đoàn Lỗ Bửu, thầy Thái Tăng Liên đều rất uyên Nho, và đặc biệt dung hòa giữa tân học và cổ học như các thầy Lê Đình Ngân, thầy Trợ Khởi, thầy Trợ Triễn, thầy Thông Thạnh, cụ Nguyễn Văn Thư, thầy Trợ Bân, thầy Ấm Đức, thầy Giáo Đích, thầy Trợ Thể, thầy Trợ Đăng, thầy Trợ Ngoạn, cụ Cửu Dương, cụ Xạ Dương, cụ Khóa Dương, thầy Trợ Mễ, cụ Tổng Vận, nghị viên Lê Thọ Dương, cụ Khóa Đào, cụ Khóa Ấm, cụ Phó Đào, cụ Khóa Huyên, cụ Hai Phố, cụ Hoàng Trọng Hưởng, cụ Tổng Quỳnh, cụ Nghị Khôi… và một số giáo viên ty tiểu học vụ Quảng Trị, đa số giáo sư Trường Trung Học Nguyễn Hoàng, và một số thầy ở phân ban Nha Học Chánh Trung Nguyên Trung Phần sốt sắng tham gia.
Năm 1969, có cụ Kỉnh Chỉ Phan Văn Hy, còn gọi là cụ Đốc Hy (quê Nhan Biều, là bác sĩ đầu tiên của Miền Trung VN) là hội viên hội Cổ Học QT xưa, ở Saigon về thăm quê hơn một tháng, một cuộc xướng họa thỏa thích.

Lại nói về một bài thơ của cụ Kỉnh Chỉ hồi còn ở làng Cổ Đạm (Nghệ An) khoảng năm 1930 có quen cô Tuyết Ngọc, lý do xa nhau thì không nghe Cụ kể lại, nhưng với một bài thơ thật ấn tượng sau năm 1954.

NHỚ TUYẾT-NGỌC
Tuyết-Ngọc bây giờ em ở đâu ?
Trông về Cổ-Đạm chạnh lòng sầu
Chỉn* e yếu-đuối thân bồ-liễu
Phải chịu dày-vò cuộc bể-dâu
Gần-gũi đôi khi nhờ giấc mộng
Xa-xôi ngàn dặm ứa dòng châu
Trùng-phùng ví được ngày nào nữa
Kẻ tóc hoa-râm, kẻ bạc đầu

                                Kỉnh Chỉ
---------------------
Chỉn* e = từ cổ là sợ e
Chỉn e quê khách một mình
Ở đây chờ đợi sư huynh ít ngày
Kiều
-------------------------
Bài thơ nầy hồi đó Dương Văn Tường (Hà Thượng) còn học lớp Đệ Nhị (lớp 11 hiện nay) trường TH Nguyễn Hoàng QT họa, được hội thơ Hãn Mai chọn là bài họa hay nhất (vì ngoài 5 vần ra, còn họa luôn 3 vần trắc cuối câu 3, 5, và 7).

NHỚ MỐÍ TÌNH ĐẦU
Nhớ thương giờ cũng chẳng còn đâu
Vương vấn làm chi để chuốc sầu
Vò võ chờ ai bên gốc liễu
Mõi mòn nhớ bạn cuối nương dâu
Thử xem cuộc thế thực hay mộng
Gẫm lại chuyện tình ngọc lẫn châu
Tóc bạc mong chi ngày gặp nữa
Dở dang chi thế mối duyên đầu.

Phụng họa
Dương Văn Tường

Những dòng thơ ngày ấy bây giờ thấy còn nóng hổi, như thuở còn chiến tranh :

KHI TRỞ LẠI LÀNG
Mãi ở trong Nam mới trở về
Viếng thăm làng xóm dạ buồn ghê
Nương vườn bỏ trống dân sưa sết
Đồn bót vây quanh Mỹ bộn bề
Đưa đón đò còn nguyên bến cũ
Lại qua người cũng khác năm tê
Căm hờn muốn vạch trời mà hỏi
Dâu bể gây chi cuộc ấy tề !

Kỉnh Chỉ

Những bài xướng họa thuở ấy được thầy Châu Văn Trần Văn Bân ở ty Tiểu Học Vụ cho đánh máy cẩn thận, nhưng tôi đã làm thất lạc hồi bị giải tỏa nhà quá gấp ở Bà Rịa năm 2003, thật là quá uổng, không biết còn ai giữ được những trang thơ quý hóa nầy hay không.
Rồi cuộc tiễn đưa cụ Kỉnh Chỉ cũng không ít những bài thơ đầy ắp ân tình, vào mùa xuân năm 1970 cụ qua đời, cũng có những bài thơ rơi lệ.

KÍNH ĐIẾU CỤ KỈNH CHỈ
Ba sinh duyên nợ mãn lời nguyền
Nhường chán cõi trần – chọn chỗ yên
Giấc mộng tương tư vàng nhớ tuổi
Thanh bia trường hận đá nhìn tên
Thi mơ tuyệt tác tiên dừng bút
Đàn vắng tri âm khách cặm thuyền
Đâu nữa Hãn Mai ngày hạnh ngộ
Hồn thơ lai láng bể Tây Thiên

Thạch Lữ


KÍNH ĐIẾU Bs PHAN VĂN HY
Cảnh Tiên Ông đã lên rồi
Nơi đây cảnh tục Ông ngồi mà chi !
Tìm đâu cho thấy bậc cao thâm
Thuốc thánh* thơ thần dội tiếng tăm
Nước Hãn đầy vơi lời ứa nghẹn
Non Mai trầm bỗng bóng xa xăm
Làng thơ còn đợi thi hào xướng
Người bệnh đang chờ bác sĩ thăm
Vòi vọi càng trông càng vắng vẻ
Ai ngờ Ông đã bước trăm năm.

                        Phụng bút
                        Linh Đàn
----------------------
Thuốc thánh* = bác sĩ Phan Văn Hy chữa bệnh cả thuốc Tây lẫn thuốc Bắc cực kỳ giỏi
----------------------
Rồi cuối năm 1970 tôi lên Dalat tìm kế sinh nhai, không ở Quảng Trị nữa, hơn nữa hồi đó sự liên lạc với nhau không có phương tiện hiện đại như ngày nay, nên không còn biết gì về hội Cổ Học cũng như Hội thơ Hãn Mai nữa. vì vậy sau đó tôi viết bốn chữ hoành phi “MAI HÃN TINH THẦN” treo trên nhà ở Dalat để làm kỷ niệm “một ẩn số riêng” cất giấu trong lòng.

Không ngờ lên Dalat lại gặp Dương Văn Tường là Sinh Viên Trường Võ Bị Quốc Gia trong những ngày chủ nhật, mà thật có duyên, nay lại gặp rất nhiều lần ở Saigon, là cựu hội viên hội thơ Hãn Mai trẻ nhất còn sót lại.

Rồi chiến cuộc năm 1972, Quảng Trị lại một lần tan nát, dân chúng hốt hoảng ra đi trong cơn lửa loạn, tình cờ tôi gặp nhà thơ Phan Văn Chiêu (là cháu gọi cụ Kỉnh Chỉ bằng bác ruột) chạy lên Dalat, sau một thời gian hoàn hồn, anh cũng nhắc lại bài thơ tặng cụ Kỉnh Chỉ hồi năm 1969 tại quê nhà.

MỪNG BÁC KỈNH CHỈ VỀ THĂM
Mười mấy năm hơn bác mới về
Quê nhà gặp bác thật mừng ghê
Bà con đón hỏi lòng sung sướng
Quan khách hàn huyên dạ hả hê
Hội ngộ câu thơ ngâm sảng khoái
Tương phùng chén rượu rót tràn trề
Biết bao thế hệ thay màu tóc
Nhìn thấy quê hương vẫn não nề

                     Phan Văn Chiêu

Bài thơ nầy có 3 vần rất khó họa, hôm ấy tại Nhuận Ký Tửu Gia cụ Kỉnh Chỉ treo giải một con gà luộc, một rá tôm hùm và 2 chai sâmbanh nếu ai họa được vần “hả hê”, “tràn trề”, Linh Đàn hồi đó còn tấp tững nhưng cũng cố trổ tài, chỉ một giờ sau là có bài họa (thay lời Kỉnh Chỉ).

TRỞ LẠI QUÊ HƯƠNG
Lâu lâu mới có một lần về
Ngắm cảnh quê nhà nhớ nhớ ghê
Cụ lão ngày nào ngồi chững chạc
Thầy chùa thuở nọ tụng ha hê
Lần theo tường nát đau chân lội
Đứng giữa nhà hoang chép miệng trề
Chiến trận hết rồi - về sửa lại
Dù bao gian khổ vẫn không nề

                      Linh Đàn (họa)

Thế là bữa tiệc hôm đó tăng thêm “phần treo giải” thật là tuyệt diệu.

---o0O0o---

Ôi ! Những bước đường lưu lạc xứ người, những hình ảnh quê hương sâu nặng bao đời có còn chăng trên gối ! người đời sau ai còn biết những sinh hoạt đầy ắp tính nhân văn mà Quảng Trị có một thời tô đậm.

Nhớ cùng đêm nhớ.

Saigon mùa Xuân năm Canh Dần 2010.
Linh Đàn

Nguồn: Bài và hình từ trang http://newvietart.com/




READ MORE - LINH ĐÀN - Vài nét về HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ và HỘI THƠ HÃN MAI

Sunday, February 13, 2011

GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?

Trường Bồ Đề, Quảng Trị


GIANG ĐÔNG là bút hiệu của ĐOÀN VĂN ĐÔNG, sinh năm 1954, chánh trú quán Đâu Kênh, Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị, đang công tác tại UB MTTQ VN Xã Triệu Long. Là người yêu quê hương làng nước và yêu văn học, nên ngoài công tác xã hội và việc gia đình như một nông dân, anh dành hết thì giờ cầm bút ghi lại những cảm xúc của mình về sinh hoạt của làng xóm và những kỷ niệm riêng tư để giao lưu vui vẻ với bạn bè lúc nhàn hạ. Hiện anh là Ủy viên BCH CLB THƠ VN tại Quảng Trị.

ĐT: 0169 981 9670.

VNQT xin giới thiệu một số sáng tác do tác giả gởi tặng.



NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?*


Ngày ấy đâu rồi?

Tuổi ấu thơ tôi trôi bồng bềnh trong chiếc nôi và vòng tay ấu yếm của các chị và tiếng ru của mẹ:

Cầu mô cao cho bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô trọng cho bằng nghĩa thầy mẹ sinh con
Vi dầu nước chảy, đá mòn
Trăm năm đi nửa lòng còn thương nhớ

Rồi lớn lên dần bước chân đi chập chững, nói bi bô, tiếng cu ơi nghe dễ thương làm sao. Mỗi độ xuân về được mẹ mua cho đôi guốc gỗ, chiếc mũ nhựa, bộ quần áo mới là quá mừng.

Tuổi lên 8 lên 10 theo cậu tôi đi cuốn toóc ở đồng trong làn gió mồm mát rượi với những cánh diều no gió bay cao. Tôi thường đến ngồi học bài ở nhà thờ họ Đoàn đằng sau chiếc cổng tam quan uy nghi. Nhà thờ lợp bằng ngói liệt, bên trong có khán thờ trang nghiêm, lộng lẫy. Năm 1972 nhà thờ đã bị chiến tranh tàn phá, đến nay đã được con cháu trong và ngoài nước trùng tu lại khang trang. Trước mặt nhà thờ có bàu nước và hàng tre rất đẹp, lại có thêm một dãi đất gọi là tháp bút mà đến nay câu ca dao còn lưu truyền:

Bao giờ bút nọ mòn râu
Dĩa nghiêng, lưng cạn mòn câu cung tài.

Xóm Rào thượng, Rào Hạ có bầu sen đầy nước. Mùa hạ về hoa sen, hoa lục bình thoang thoảng hương thơm. Vào tháng 6 âm lịch, khi nước cạn, làng tổ chức phá bầu để bắt cá,với đủ đồ nghề như : chơm, rớ, oi … Tiếng reo hò vui như ngày hội. Giờ thì bàu sen bị lấp cạn, dần trở thảnh vườn rau, ruộng lúa. Hai bên bờ, nhiều hộ đấu thầu làm hồ nuôi cá. Cảnh thơ mộng và vui nhộn ngày xưa không còn nữa.


Ngày ấy đâu rồi?


Cái tuổi rong chơi, bắt bướm, hái hoa trốn nhà đi bắt cá ở các vùng ruộng: Điển Điển, Ổ Gà, Thượng Đuồi. Vào tháng 10 âm lịch, ruộng đã cày phở, ngăn từng ô để tát, ngoài cá có đam (cua đồng) nhiều lắm bắt về làm nước mắm chắm với đọt rau khoai, ăn rất ngon.

Làm sao quên được tuổi học trò hiền lành, vô tư bên những bạn đồng trang lứa, đầy ắp những kỷ niệm, trong đó, có những trò chơi đánh bi, ô làng, tàu bay … Rồi chia phe ném nhau bằng đất ruộng vại vụ trái (hè thu) mỗi chiều tan học về.

Ngày ấy đâu rồi?

Người con gái ở cạnh nhà tôi, tóc còn bỏ thỏng, tính nết hiền từ, dễ thương của cái tuổi mà:

Môi em có cặp trăng rằm
Tóc chưa đầy nữa búi
Trời trong trong mắt trong
(Tuổi mười lăm – Đông Hồ)

Còn tôi vẫn cứ vô tư với những trò nghịch ngợm, có lúc giận hờn vu vơ.

Năm 1971 tôi lên thị xã Quảng Trị học ở Trường Bồ Đề, mà qua cuộc chiến tranh ác liệt, nay vẫn còn lại dấu vết:

Thì thôi thời vận cũng may.
Trường xưa tàn tích, hôm nay vẫn còn
Ngọc em dấu vết chân son
Thầy xưa, bạn cũ sống còn nơi đâu?
(Thăm trường – Giang Đông- 1982)

Những kỷ niệm nơi phố thị ồn ào ngày ấy cứ xa dần trong tôi, kể cả những trò chơi của một thời sau ruộng lúa, lũy tre, dòng sông bến nước …mà mỗi khi ngồi một mình bỗng dưng nhớ lại.

Giờ thì đã mấy mươi năm, tuổi đã gần 60, tóc đã pha màu , mặc dù phải vật lộn với nợ áo cơm nhưng may mắn vẫn hạnh phúc bên vợ con, các cháu. Biết bao người như tôi trong ở tuổi này cũng như vậy. Người mất, người còn với những hoàn cảnh khác nhau.

Những kỷ niệm của một quãng đời hoa niên đẹp đẻ, thơ mộng, dễ thương ấy vẫn còn mãi trong tôi, nhưng đôi khi lại tự hỏi: Ngày ấy đâu rồi ?!


Tháng 6 năm 2010


*Ngày ấy đâu rồi: tên cuả một ca khúc.





DÁNG XUÂN

Gió đưa mưa nhẹ bay về
Hoa mai nở thắm tràn trề hương xuân
Trên đồng lúa mượt màu xanh
Nước về tắm mát dòng kênh quê nhà
Con đò đưa khách lại qua
Cô em nghiêng nón nhẹ khua mái chèo
Lưa thưa cánh én buông chiều
Chao đôi cánh lượn dệt nhiều ước mơ
Quê hương đẹp tựa vần thơ
Dáng xuân in dấu vỗ bờ tháng năm.



XUÂN SANG

Ngoài sân điểm mấy nụ mai vàng
Trong nhà nghi ngút khói trầm nhang
Mưa bụi từng cơn rây hạt nhẹ
Rượu nòng nâng chén đón xuân sang.



ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI

Công đức làng tôi đã khai sinh
Thiêng liêng hai tiếng gọi Đâu Kinh (1)
Chín xóm liền nhau xây nên nghĩa
Hội làng kết lại dựng thành tình
Đình làng lễ tế vui ngày hội (2)
Năm miếu trang nghiêm đấng tiên linh (3)
Dù cho dâu bể bao thay đổi
Đá làng vẫn giữ mãi Đâu Kênh (4)

2004

(1) Theo Châu Ô Cận Lục khi mới lập làng có tên Đâu Kinh.
(2) Còn gọi Đình Trung.
(3) Miếu thờ 5 ngài khai khẩn là: Đoàn, Võ, Đỗ, Lê và Nguyễn.
(4) Theo câu ca “Đá trôi làng không trôi”.



TÔI YÊU

Tôi yêu nước Việt của tôi
Những trang lịch sử một thời liệt oanh
Dòng sông – Bến nước – Con kênh
Lũy tre đồng lúa, nghĩa tình quê hương
Yêu nền văn hóa Đông Sơn
Tổ tiên tỏa sáng, nước non một thời
Xã tắc bền vững đời đời
Hồn thiêng đất nước sáng ngời Thăng Long
Biết bao oanh liệt chiến công
Cờ đào khởi nghĩa non sông yên lành
Tôi yêu mãnh đất Hà Thành
Thủ đô hữu nghị, hòa bình vươn lên
Xứng danh nòi giống rồng tiên
Chung tay xây dựng vững bền Việt Nam.


GIANG ĐÔNG
4/2010




READ MORE - GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?

Saturday, February 12, 2011

VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI



Nhựa sơn là chất kiến tạo cơ bản trong trò chơi ngôn ngữ tạo hình của tôi. Tôi am hiểu luật chơi vì tôi thiết lập trò chơi. Tôi tạo ra hệ thống kỹ thuật, cách dùng màu, thêm vật liệu mới để thay đổi quan niệm cũ kỹ và có phần mòn vẹt về sơn mài lâu nay. Sáng tạo mới cần phải có một hệ hình mới.

Kỹ thuật chủ động tạo sự nứt nẻ, nhăn, mòn thủng....là ngữ pháp căn bản của trò chơi.

Nứt nẻ - sự khô cằn, sa mạc thực dụng, sự thiếu hụt một thứ gì đó, một dưỡng chất cần thiết bị đẩy ra khỏi cái mà cấu trúc nó vốn phải là.

Nhăn - sự ẩm ướt, tự ti, co cụm, sự dư thừa một yếu tố nào đó.

Nứt nẻ và nhăn tạo nên sự đối lập, phản ảnh sự cực đoan của tiểu khí hậu Huế nói riêng và rộng ra là cả miền Trung. Kỹ thuật tạo sự ăn mòn - gây thêm cảm giác bào mòn của thời gian, sự gậm nhấm trong vùng địa văn hóa ấy và rồi những ký tự, hoa văn, rác thải công nghiệp... được gắn trên nền của những cấu trúc bề mặt ấy để tạo ra các trường liên tưởng mới, ngữ nghĩa mới. Các chủ đề như Tự sự về Cố đô, Xác chết của các mẫu tự, Hóa thạch đương đại...lần lượt xuất hiện.

*

* *

Làm sơn mài là tiếp xúc với kim loại, gỗ, nước, đất, lửa... Vì thế, tôi có cơ duyên sát gần với cái huyền nhiệm của hiện hữu, dù chỉ là sát-na.

Biến thể 1: Vẽ nét, tô mảng; tạo hình cây cỏ, lá hoa, người.....tất cả đều có thuộc tính riêng, dáng vẻ riêng. Có tự tánh riêng biệt.

Biến thể 2: Phủ sơn cánh gián lên toàn bộ mặt tranh. Chất sơn sẽ đưa mọi vật có thuộc tính riêng lẻ trở về một màu tối sẫm. Mọi sự vật hòa lẫn vào nhau, trở về cái chung, muôn mà một. Vạn vật nhất thể. Phi nhất phi nhị.

Biến thể 3: Mài tranh, đưa sự vật hiện tượng trở về với uyên nguyên, nhưng mang thêm dáng vẻ và màu sắc mới. Trở về lại với tự tánh riêng biệt. Một nhưng mà muôn.

Đây là ba biến thể của hình tượng cũng là ba công đoạn trọng yếu của kỹ thuật sơn mài.

*

* *

Tôi thể hiện mình, phát hiện ra mình và cuối cùng sáng tạo lại chính bản thân mình thông qua hành trình tìm kiếm cái Đẹp trên chất liệu sơn mài.

Đó chính là ba biến thể hay là đích đến của sự sáng tạo.


Võ Xuân Huy




READ MORE - VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI

Thursday, February 10, 2011

HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG



Buổi tối, ông nội nhủ con cháu kê chiếc chõng tre ra giữa sân. Sau khi nhấp một ngụm nước, ông bắt đầu kể chuyện làng. Tôi lớn lên bằng những câu chuyện của ông; bởi thế mà tôi luôn biết ơn tuổi thơ và không hề cảm thấy chút tiếc nuối nào khi nghĩ về nó.

Dường như chính ấu thời đã hướng con người ta đến với một cung cách sống nào đó. Nếu đúng vậy thì quả thật, sự thanh bình là gam màu chính phác nên bức tranh cuộc sống của tôi. Sau này tôi khát khao được yên tĩnh hơn bất cứ nhu cầu nào trên đời.

Góc vườn nhà tôi có một cây Dạ Lý Hương, hoa thường nở vào độ mùa xuân, sau tết cổ truyền. Một chút gió đi qua hôn nhẹ vào nhuỵ hoa khiến hương tình lan ra ngát cả sân vườn. Có lẽ là hoa cũng đang nghe chuyện của ông với niềm hân hoan thích thú như tôi vậy! Dạ Lý Hương là hoa chỉ thơm về đêm, đúng như tên gọi của nó (dạ nghĩa là đêm), cũng như hoa Tử Đinh Hương chỉ ngát lừng khi ngày đã muộn. Tháng Năm mới đây, lúc đi qua sân trường độ mười giờ đêm, tôi đã ngửi được mùi hoa Tử Đinh Hương. Thú thật là mùi hương ấy không làm tôi vui, nhưng nó khiến tôi lắng lòng hướng về quê nhà. Thuở xưa lắm, khi chưa khai sinh ra loài người - gọi là cổ tích - chàng út nhà bà Pecxia ở xứ Ba Tư đã hoá thành khóm hoa Tử Đinh Hương để bảo vệ mẹ. Chính sự tích ấy đã làm tôi yêu mến hơn hoa Tử Đinh Hương lặng thầm trong buổi tối vừa rồi. Và do đó, tôi nghĩ rằng, những loài hoa nở về đêm thường biểu hiện cho một thứ tình cảm thiêng liêng, ví như Dạ Lý Hương mà tôi đang nói. Dạ Lý Hương là người bạn vong niên từ cổ tích đã trở về đây để cùng với tôi lắng nghe chuyện quê kiểng.

Trong một đêm trăng, giọng kể của ông như hoà quyện và lắng sâu vào trong mùi hương hoa, vị chát lừng nước chè. Sau này mỗi lần lục lại ký ức để tìm tư liệu, tôi luôn hình dung ra mồn một khung cảnh, ngửi thấy dư vị thảo mộc của ngày ấy.

Thuở tôi lên bảy. Tôi nhớ lắm một chiếc chõng tre giản đơn, bộ vạc tre được bện bằng chạc mây và nhẵn bóng đi. Ấm nước chè giữ nhiệt hầu như suốt đêm, cho đến khi nước nguội thì câu chuyện của ông chấm dứt. Ông nội pha nước chè rất ngon! Lá chè sau khi rửa sạch phải vò bằng tay rồi nhúm vào ấm, cho thêm một ít gừng củ đã giã nát, sau đó rót nước sôi cẩn thận. Nước chè phải trong và có màu vàng tươi, có vị chát lẫn cay. Uống nước chè phải dùng chính cái chén ăn cơm mới đúng. Những cái chén ngày ấy thường in cảnh họp làng bằng mực xanh. Bây giờ chén kiểu này không ai sản xuất nữa. Thời sinh viên ở Huế, tôi có ghé vào ven đường bên bờ sông Hương và thấy những chiếc chén này đã thành đồ cổ đưa ra bán cho giới sưu tập. Chao ôi, những nét đẹp làng quê mới đây thôi, vẫn đấy thôi mà đã hoá cổ ngay trước mắt ta sao? Người ta bảo thời gian đời người trôi nhanh. Ấy vậy mà thời gian của dòng chảy văn hoá có lẽ còn nhanh hơn. Đấy mới là cái đáng sợ hơn cả!



Từ đường họ Hoàng ở làng Phúc Lộc

Chuyện của ông không có hệ thống, không trật tự, nhớ đâu kể đấy, nhưng tôi không hề cảm thấy lộn xộn rắc rối. Tôi tự sắp xếp những câu chuyện ấy vào trong ngăn đẹp nhất và trang trọng nhất của tâm hồn mình.

Ông ngồi trong đêm, tĩnh tại mà sâu sắc, trầm ngâm nhưng nhiệt huyết - hình ảnh ấy khiên tôi liên tưởng đến một người nhắc sử làng vĩ đại. Ông kể và tôi nghe, không hề có giấy bút ghi lại; thế nhưng tháng năm đi qua vẫn không làm tôi quên được.

Tôi không quá tự tin vào trí nhớ của mình, nhưng tôi có thể khắng định rằng, nếu như một ngày nào đó tôi bị xoá nhoà nhiều thứ, thì cái còn lại sau cùng là những câu chuyện làng mà ông đã kể. Bởi như một triết gia đã nói: "Người ta có thể mang đứa trẻ ra khỏi quê hương của nó, nhưng không thể nào mang quê hương ra khỏi trí nhớ và tâm hồn một con người!".

Minsk 9.2009

H.C.D

READ MORE - HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG

TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN





Hoa lê nở trắng cành cao

Đôi chim én nhỏ bay vào vườn xuân

Chuồn chuồn ớt cánh phân vân

Đậu rồi bên nụ tầm xuân biếc lòng

Cỏ xanh ngậm hạt sương trong

Chập chờn cánh bướm thong dong ven bờ

Xuân sang rải giọt nắng mơ

Con ong kiếm mật thẩn thơ ra vào

Em về má ửng sắc đào

Gió xuân thầm thỉ chạm vào yêu thương

Sao khuya thức đếm đêm trường

Buông mình rơi xuống vấn vương tình đời!

Vườn ai nẩy lộc đâm chồi

Áo xuân đã khoác cho người thêm xuân!



T.L.A

READ MORE - TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN

Wednesday, February 9, 2011

VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA


Có thể nói rằng về thể loại dân ca của các miền đất nước, hò đối đáp là nét độc đáo tiêu biểu cho người và đất quê hương Quảng Trị (và vùng Bình-Trị-Thiên nói chung). Qua hò đối đáp, người bình dân bày tỏ và trao đổi tâm tư tình cảm, thể hiện tài trí của mình về cả hai mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật diễn đạt. các phép tu từ mà ngày nay chúng ta đang dạy cho học sinh trong nhà trường và các nhà văn, nhà thơ sử dụng trau chuốt, làm đẹp tác phẩm của mình đều được các các nghệ sĩ vô danh ngày trước thể hiện trong các tác phẩm của họ một cách tài tình, độc đáo đến bất ngờ. Dân Quảng Trị chất phác, lời lẽ mộc mạc đơn sơ, nhưng đã dụng công trau chuốt thì khó mà chê được.

Hò giã gạo và hò mái nhì là những làn điều thường được dùng để đấu trí, thi tài; nhưng phổ biến nhất vẫn là hò giã gạo, bởi vì nó có nhịp điệu nhanh, khoẻ, dễ gây không khí hoá hức , sôi nổi. để có thể đối đáp xứng hợp, kịp thời, đòi hỏi người nghệ sĩ dân gian phải có một vốn kiến thức nhất định và đặc biệt là tài ứng đối mau lẹ, sít sao. Đầu óc họ phải hết sức tinh tế, nhanh nhạy mới có khả năng vừa phân tích, tổng hợp tình ý đối phương, vừa sáng tác kịp thời lời lẽ đáp lại làm sao cho cân xứng, lấn lướt được đối phương càng tốt. hò đối đáp có thể mang những nội dung khác nhau : Đối đáp ân tình, đấu trí, thi tài về việc đời, triết lý cuộc sống, kiến thức văn học nghệ thuật, địa lý, lịch sử …

Trước đây những đêm hò là những buổi hội ngộ của những đôi trai gái và nhân dân trong làng ngoài xã. Họ vừa là lao động vừa sinh hoạt văn nghệ. Mỗi lần có câu hò hay khán giả vỗ tay reo hò và có quan viên, chức sắc đánh trống chầu để tán thưởng. trong sinh hoạt văn nghệ dân gian này không loại trừ sự góp mặt của các ông nghè, ông Tú thất cơ lỡ vận về sinh sống ở nông thôn. Họ có thể trực tiếp tham gia hoặc tham gia cố vấn cho các chàng trai, cô giá mối khi họ cần đến. nhờ vậy mà tầm hiểu biết của người bình dân cũng rộng hơn.


1. Hò đối đáp ân tình:

Trong lối hò này đôi trai gái trao đổi tình cảm với nhau nhưng đối đáp thế nào cho xứng, thể hiện được tài trí của mình. Có khi cả hai bên đều dùng tình ý, lời lẽ thật với nhau, nhưng thường là có tính cách mỉa mai, châm chọc.

Hai bên đối đáp thật thà về lời, nhưng ngụ ý mỉa mai:

Trai làng ở quá cũng đông

Có sao em bậu lấy chồng đàng xa?

Ơ làng cũng có người thương

Số em đáng số lấy chồng tha hương mới thành.

Dù câu hỏi của người con trai có vẻ thật thà, nhưng ít nhiều cũng có ngụ ý là cô gái ế chồng, trai làng không ai thèm dòm tới ! nên dùng lười lẽ bóng gió xa xôi:

Gặp em đây hỏi thiệt em đây

Sông sâu, sông cạn, đò đầy, đò lưng?

Trong câu hỏi chàng trai đã sử dụng thể ti, phép ẩn dụ để biểu đạt tình ý của mình: Sông và đò ám chỉ người con gái. Cô gái đã đáp lại thật sắc sảo:

Sông này cửa khẩu chưa khai

Thuyền đang đậu bến, chưa ai mà lưng đầy.

Dùng cách đơn giản mà chơi chữ, thủ pháp nghệ thuật dễ chơi xỏ đối phương:

Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh

Biết đưa anh có đến bên kênh ghềnh hay không?

Người con trai phải hiểu từ ẩn dụ “ Chiếc thuyền quyên” “ Gềnh” là gì mới đáp xứng được.

Và đây, ta thử nghe anh đáp lại:

Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh

Anh dựng cột buồm dậy chạy hai canh là đến bờ!

“ Dựng cột buồm” là cách nói ẩn dụ rất đắc ý ở đây.

Ta thử nghe thêm vài câu người con gái hò châm chọc:

Càng ngày càng nới dây lưng

Thương anh trong dạ không biết chừng dội mô!

Thương thì thật là thương nhưng xỏ lá đáo để ”Thương anh trong dạ” là cách chơi chữ tài tình để nói rằng: Em đang mang thai anh trong bụng !

Người con trai không nhận thấy xỏ lá ấy thì chỉ đành chịu nhục trước gái thuyền quyên!.Nhưng anh đáp lại còn già giặn hơn:

Bắt lấy dây lưng xin em đừng vội nói

Thiếp còn ân ái chi chi

Thầy mẹ sinh em là phận nữ nhi

Sao không thương thầy với mẹ, nghĩa chi thương chàng.

Ý anh bảo con gái “ Người em thương trong dạ là thầy mẹ em”. Có khi cô gái còn nổi đến cả cha mẹ đối phương:

Kể từ này em đẻ, mẹ ra

Anh không lui tới, thiệt là vô tâm.

Cách chơi chữ rất tài tình : “ Em đẻ mẹ ra” có thể hiểu là khi em sinh ra con thì mẹ anh ra thăm, nhưng ở đây cô nói liền mạch thì có nghĩa là “ Em đẻ mẹ anh ra”.

Đến lượt các chàng trai châm chọc thì cũng chẳng vừa chi:

Ôi thôi rồi đứa con tui hắn chết ngay đơ!

Cửa xa nhà ngái, chôn nhờ đất em

“ Con tui chết ngay đơ” nghe rất tội mà xỏ lá vô cùng. Nhưng cô gái nào có chịu lép vế:

Đất em sâm sẩm ổ gà

Chôn cha cũng lọt huống là chôn con

Đòi chôn cả cha đứa con ấy vào đất em thì xấc đáo để. Chàng con trai cũng có thể hỏi bóng gió:

Chuông vàng đánh tiếng kêu rè

Hay là thợ đúc chế hàn the vô rồi?

Ý nói cô gái đã lang chạ, không còn trinh tiết. Ta có ngờ cô gái đáp lại già giặn như sau không?

Chuông treo trước cửa Cần Chánh

Ai dám vô mà đánh chuông rè

Anh nghiêng tai, cúi trôốc mà nghe

Chuông vàng thanh tiếng, anh chê rè là răng?

Ý cô gái bảo em cao sang như chuông vàng treo trước cửa điện Cần Chánh của Vua, anh dốt nát nói bậy chứ không ai dám đụng vào em đâu! Không tin thì anh nghiêng tai, cúi đầu mà nghe.

Ngay trong lối hò đối đáp ân tình, người bình dân cũng đã sử dụng cách nói lái rất độc đáo ở Quảng Trị. Nói lái là một nghệ thuật chơi chữ để khi đảo các âm của từ thì tạo thành nghĩa mới. cách nói lái thường giúp cho lời nói đỡ thô tục.

Ở Làng Bồ Bản xã Triệu Trạch có một ông Nghè hay chữ rất sành hò, tục gọi là cậu Ba, ông Nghè Ba. Một hôm ông hò ân tình với một cô gái ở vùng Gio linh. Ông than thở trách móc:

Trời mưa , trời gió, vác đó ra đơm

Chạy vô ăn cơm, chạy ra mất đó

Nào ai lấy đó, đó ơi

Đó không phân đi, nói lại đôi lời cho đây hay?

Cậu Ba có ngờ đâu cô gái gái nhanh nhẩu và xấc xược đáp liền:

Nỏ có ai như cậu Ba làng Bồ

Đó treo côi trại, không biết chỗ mô mà tìm!

“ Đó treo côi trại” theo thổ âm Quảng Trị khi nói lái lại rất tục. Ông Nghè hiểu ngay cô gái chơi xỏ mình nhưng đành chịu nhịn và phục tài.


2. Hò Đấu Trí :

Trong lối hò này, đôi trai giá đã vận dụng hết tài năng để thi thố kiến thức về nhiều mặt của cuộc sống. thủ pháp nghệ thuật cũng rất điêu luyện, bảo đảm vần điệu, tiết tấu của thể thơ lục bát và các biến thể của nó. Đôi khi pha giọng ân tình, nhưng đó chỉ là một thách thức thử tài.


Đối đáp châm chọc :

Ô hô đòi Ngô thế lọng

Tui chửi cụ một điều, trọng vọng chỉ không?

Cái gáo úp côi cái đội

O chửi tui một điều, tui trọi chết cha O

Tuy lời lẽ hỏi và đáp lại còn thô tục nhưng ý khá đạt: O mới đòi chửi tui thì tui vừa chửi cha O vừa trọi chết cha O!

Thường các cô gái dùng lời lẽ bóng bẩy, sử dụng phép tu từ bắt đối phương phải vắt óc suy nghĩ cho ra cái ngụ ý của mình:

Nước trong khe chảy ra róc rách ro re

Thân anh như con bìm bịp ngồi nghe sự tình!

“ Nước trong khe” là cách nói bóng gió, anh là con bìm bịp ngồi dưới khe để nghe sự tình của nước trong khe ấy chảy thật là xấc. nhưng chàng trai còn xỏ lá hơn:

Nước trong khe chảy ra róc rách ro re

Anh đây cúng hứng lấy vài ghè

Để khi mụ gia qua thăm rể nấu đọi nước chè uống chơi.

Anh chàng đòi nấu nước trong khe ấy cho mẹ cô giá uống. Có cô gái lên giọng kẻ cả :

Tay cầm bảy tấc roi mây

Ai muốn tầm sư học đạo, tới thầy dạy cho.

Chàng trai giả đò tỏ vẻ ngoan ngoãn:

Đó làm thầy, đây xin thủ đạo làm trò

Đó ngả nghiêng ra mài mực, đây thò bút vô.

Ý xấc láo ở đây là cách lái của hai từ “ thủ đạo” và cách nói ẩn dụ của “ ngã nghiên”, “ thò bút”.


Đối đáp về kiến thức địa lý:

Nước Tam sơn chảy xuống Ba Hà: hà Thanh, Hà Thượng, Hà Trung

Nam nhơn chàng đối đặng, thiếp mới đành lòng thương !

Đáp :

Nước Tứ Hải Hải xao lên bốn thuỷ: Thuỷ khê, Thuỷ Tú, Thuỷ Bạn, Thuỷ Cần

Nam nhơn đà đối đặng, thiếp phải gá nghĩa châu trần ngàn năm

Cách chơi chữ thật tuyệt đẹp: Tam sơn, Ba Hà, Tứ Hải, Bốn Thuỷ

Thách đối bằng cách dùng nghệ thuật nói lái ở Quảng Trị:

Con cá dối nằm trên cối đá

Con mèo cụt nằm trên mút kèo

Trai nam nhơn đối đặng , thiếp xin theo về cùng

Đáp :

Con rắn hổ nằm trên rổ hắn

Cây cau tươi mọc trước cưới tau

Nam nhơn đà đối đặng, ta theo nhau cùng về


Thách đối dựa theo cách gọi tên phi lí của đồ vật:

Hỏi :

Bánh cả mâm sao gọi là bánh ít?

Trầu cả chợ sao gọi trầu không?

Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi.

Chàng trai kia chẳng thua kém chút nào:

Chuối không qua Tây sao gọi là chuối sứ

Cây không biết chữ răng lại gọi cây thông?

Nam nhơn chừ đối đặng quyết làm chồng nữ nhi!


Dùng tên bốn mùa để thách đối :

Con gái Xuân đi chợ mùa Hạ

Mua con cá Thu chạy về, chợ hãy còn Đông

Răng biết em là gái chưa chồng

Mà anh chỉ sá băng đồng tới đây?

Chàng trai đã dùng tên 4 phương để đối lại thật sắc sảo:

Trai phương Nam ra ngồi hàng thuốc Bắc

Gái Đông sang ra dựa chốn lầu Tây

Ông tơ bó buộc, xe dây

Xui anh đáo tới chốn này gặp em.


Trong hò đấu trí có lối hò đố rất xương xóc. Thường là các cô gái nêu những vấn đề hóc búa để thử tài đấng mày râu. Nhưng đã mang danh trượng phu các chàng trai luôn tỏ ra đủ tài ba, bản lĩnh.


Đố về đạo lý làm người, tam cương, ngũ thường:

Quân, sư, phụ: Tam cang giả

Qua chuyến đò đầy, sóng ngã cứu ai?

Câu hỏi đặt chàng trai vào thế lúng túng khó xử, nhưng anh chàng sau đây đáp ba cách khác nhau mà cách nào nghe cũng lọt tai không bắt bẻ được:

Vua băng đi, có triều đình hiệp nghị

Thất sư thiên hạ tầm sư

Không có thân phụ, ai ừ được cho ?

Anh chàng này lý luận là dù cha là bậc thấp nhất trong Tam cương nhưng anh phải cứu cha vì không ai thay cha mình được cả!


Liều mình lọt xuống vực sâu

Hai vai sư, phụ trên đầu đế vương.

Anh này nói thiên lôi nhưng vẹn cả trung lẫn hiếu.


Ngộ phong vũ, điếc óc , đoãng tai

Liều mình vọt xuống quơ quơ, túm túm may ai nấy nhờ.

Anh này nói cho qua chuyện nhưng nghe ra rất thực tế, chẳng mất lòng ai.


Đố về lịch sử:

Tiếng đồn anh học hết Kinh Thi

Ngày xưa vua Văn Vương đi cưới bà Hậu Phi hôm nào?

Hỏi về lịch sử Việt Nam còn điều biết điều không. Cô gái hỏi đến tích xưa chuyện cũ của Tàu thì thật là tai ác! Nhưng chàng trai vẫn tỏ ra thông thạo đáp:

Bà Hậu Phi đi hái rau Quyền nhỉ

Lên ngồi năn nỉ trên hòn đá Trương Kỳ

Vua Văn Vương đi săn bắn, gặp bà Hậu Phi đem về.

Ý anh nói : Chẳng cưới xin gì cả, em đừng hỏi bậy!


Đố về triết lý :

Gặp trượng phu hỏi thiệt trượng phu

Tiên sinh mi răng mi đoản, hậu sinh tu răng, tu trường?

May ra trời biết nói mà trả lời được!

Thế mà chàng trai vẫn dùng phép nguỵ biện để đáp lại, không những thế anh còn đối trả:

Mi sinh tiền là thiên sinh đoản

Hậu sinh tu trường là huyết hoá sửa sinh

Thế cái răng sinh sau cái lưỡi mà răng rụng trước, hỏi mình là nghĩa chi?


Đố cách viết và nghĩa của chữ Hán để ngụ một ý sâu xa hơn:

Hai ngang ba phết, em học không hết em lại hỏi anh

Từ tỉnh Nghệ cho đến kinh Thành

Từ Gia Định cho đến kinh Thành

Quan sầu, dân thảm, hỏi anh chữ gì ?

Hai ngang , ba sổ ( phết) viết thành chữ thất, ý cô gái nói Thất thủ kinh đô Huế thời Pháp thuộc.

Hai ngang ba phết , kết lại chữ thất

Anh đây buồn tình cất một phết bên vai

Kẻ ấy là ai ?

Thiếp mà nói đặng mới gọi rằng tài nữ nhi!

Chữ Thất mà cất một phết bên vai còn lại chữ phu nghĩa là chồng. Đáp được rồi anh chàng đòi làm chồng cô ả. Chữ nghĩa tài trí là thế . Có phải người bình dân là “ Dân ngu khu đen” cả đâu! Người ta bảo : Kinh đô cũng có người rồ / Man di cũng có sinh đồ Trạng nguyên. Thật quả không ngoa.


Biết bao giờ sưu tầm hết được những câu hò đối đáp tài tình trên quê hương Quảng Trị! Tuy nhiên qua bài viết này, tôi hy vọng các bạn thưởng thức, cảm nhận được phần nào tài trí, chất văn học thể hiện qua các tác phẩm của họ. Chúng là nguồn tư liệu quý giá cho những ai mê thích dân ca, những ai muốn học tập, nghiên cứu để làm phong phú cuộc đời mình , làm đẹp tác phẩm văn học của mình.


Văn Quang

1996

READ MORE - VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA

VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ



Ta còn lại tháng ngày thơ bé
Chùm thơ xuân mộng mị bên trời
Em còn không lá rụng ven đồi?
Tình áo trắng phai mùa xa vắng!


" Ngộ" ra mình dấu lặng
Thơ ấp iu vành đỏ môi chiều
Cơ chi anh cùng với giáng kiều
Đi tận cùng trái đất


Nghe thơ mình rung lên sự thật
Mùa xuân ư ? Hoa lá cành ư?
Mà sao loáng thoáng những ngôn từ?
Thơ thời lơ ngơ là thế!


Em đừng trách bờ ao cây khế
Chim chìa vôi khản cổ rao mời !
Giờ đọc lại thơ xuân ngày cũ
Vầng trăng khuya không nói hết ...bằng lời!


Ngày khai hạ Tết Tân Mão
V.V.H
READ MORE - VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ

VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Mỗi sát na tôi nhủ mình vui
Cuộc sống lung linh màu sắc


Mỗi giây qua tôi nhắc mình tươi

Hoa cỏ ngát hương trời đất


Mỗi phút tới tôi dặn tôi cười

Đàn ngân tiếng trong veo sông suối


Mỗi giờ đến tôi nguyện thương đời

Vị sóng mặn trầm hùng biển núi


Mỗi ngày lên tôi thầm mong tôi

Ngọt lành thơ khát vọng tặng người...


2.2010

READ MORE - VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Thursday, February 3, 2011

ĐỒNG DAO - Nhạc Võ Công Diên - phổ thơ Trương Nam Hương





Muốn xem rõ bản nhạc, xin bấm vào hình, khi thấy xuất hiện dấu +, bấm thêm lần nữa.




READ MORE - ĐỒNG DAO - Nhạc Võ Công Diên - phổ thơ Trương Nam Hương