
TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Wednesday, February 16, 2011
LINH ĐÀN - Vài nét về HỘI CỔ HỌC QUẢNG TRỊ và HỘI THƠ HÃN MAI

Sunday, February 13, 2011
GIANG ĐÔNG - NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?
Trường Bồ Đề, Quảng TrịGIANG ĐÔNG là bút hiệu của ĐOÀN VĂN ĐÔNG, sinh năm 1954, chánh trú quán Đâu Kênh, Triệu Long, Triệu Phong, Quảng Trị, đang công tác tại UB MTTQ VN Xã Triệu Long. Là người yêu quê hương làng nước và yêu văn học, nên ngoài công tác xã hội và việc gia đình như một nông dân, anh dành hết thì giờ cầm bút ghi lại những cảm xúc của mình về sinh hoạt của làng xóm và những kỷ niệm riêng tư để giao lưu vui vẻ với bạn bè lúc nhàn hạ. Hiện anh là Ủy viên BCH CLB THƠ VN tại Quảng Trị.
ĐT: 0169 981 9670.
VNQT xin giới thiệu một số sáng tác do tác giả gởi tặng.
NGÀY ẤY ĐÂU RỒI?*
Ngày ấy đâu rồi?
Tuổi ấu thơ tôi trôi bồng bềnh trong chiếc nôi và vòng tay ấu yếm của các chị và tiếng ru của mẹ:
Cầu mô cao cho bằng cầu danh vọng
Nghĩa mô trọng cho bằng nghĩa thầy mẹ sinh con
Vi dầu nước chảy, đá mòn
Trăm năm đi nửa lòng còn thương nhớ
Rồi lớn lên dần bước chân đi chập chững, nói bi bô, tiếng cu ơi nghe dễ thương làm sao. Mỗi độ xuân về được mẹ mua cho đôi guốc gỗ, chiếc mũ nhựa, bộ quần áo mới là quá mừng.
Tuổi lên 8 lên 10 theo cậu tôi đi cuốn toóc ở đồng trong làn gió mồm mát rượi với những cánh diều no gió bay cao. Tôi thường đến ngồi học bài ở nhà thờ họ Đoàn đằng sau chiếc cổng tam quan uy nghi. Nhà thờ lợp bằng ngói liệt, bên trong có khán thờ trang nghiêm, lộng lẫy. Năm 1972 nhà thờ đã bị chiến tranh tàn phá, đến nay đã được con cháu trong và ngoài nước trùng tu lại khang trang. Trước mặt nhà thờ có bàu nước và hàng tre rất đẹp, lại có thêm một dãi đất gọi là tháp bút mà đến nay câu ca dao còn lưu truyền:
Bao giờ bút nọ mòn râu
Dĩa nghiêng, lưng cạn mòn câu cung tài.
Xóm Rào thượng, Rào Hạ có bầu sen đầy nước. Mùa hạ về hoa sen, hoa lục bình thoang thoảng hương thơm. Vào tháng 6 âm lịch, khi nước cạn, làng tổ chức phá bầu để bắt cá,với đủ đồ nghề như : chơm, rớ, oi … Tiếng reo hò vui như ngày hội. Giờ thì bàu sen bị lấp cạn, dần trở thảnh vườn rau, ruộng lúa. Hai bên bờ, nhiều hộ đấu thầu làm hồ nuôi cá. Cảnh thơ mộng và vui nhộn ngày xưa không còn nữa.
Ngày ấy đâu rồi?
Cái tuổi rong chơi, bắt bướm, hái hoa trốn nhà đi bắt cá ở các vùng ruộng: Điển Điển, Ổ Gà, Thượng Đuồi. Vào tháng 10 âm lịch, ruộng đã cày phở, ngăn từng ô để tát, ngoài cá có đam (cua đồng) nhiều lắm bắt về làm nước mắm chắm với đọt rau khoai, ăn rất ngon.
Làm sao quên được tuổi học trò hiền lành, vô tư bên những bạn đồng trang lứa, đầy ắp những kỷ niệm, trong đó, có những trò chơi đánh bi, ô làng, tàu bay … Rồi chia phe ném nhau bằng đất ruộng vại vụ trái (hè thu) mỗi chiều tan học về.
Ngày ấy đâu rồi?
Người con gái ở cạnh nhà tôi, tóc còn bỏ thỏng, tính nết hiền từ, dễ thương của cái tuổi mà:
Môi em có cặp trăng rằm
Tóc chưa đầy nữa búi
Trời trong trong mắt trong
(Tuổi mười lăm – Đông Hồ)
Còn tôi vẫn cứ vô tư với những trò nghịch ngợm, có lúc giận hờn vu vơ.
Năm 1971 tôi lên thị xã Quảng Trị học ở Trường Bồ Đề, mà qua cuộc chiến tranh ác liệt, nay vẫn còn lại dấu vết:
Thì thôi thời vận cũng may.
Trường xưa tàn tích, hôm nay vẫn còn
Ngọc em dấu vết chân son
Thầy xưa, bạn cũ sống còn nơi đâu?
(Thăm trường – Giang Đông- 1982)
Những kỷ niệm nơi phố thị ồn ào ngày ấy cứ xa dần trong tôi, kể cả những trò chơi của một thời sau ruộng lúa, lũy tre, dòng sông bến nước …mà mỗi khi ngồi một mình bỗng dưng nhớ lại.
Giờ thì đã mấy mươi năm, tuổi đã gần 60, tóc đã pha màu , mặc dù phải vật lộn với nợ áo cơm nhưng may mắn vẫn hạnh phúc bên vợ con, các cháu. Biết bao người như tôi trong ở tuổi này cũng như vậy. Người mất, người còn với những hoàn cảnh khác nhau.
Những kỷ niệm của một quãng đời hoa niên đẹp đẻ, thơ mộng, dễ thương ấy vẫn còn mãi trong tôi, nhưng đôi khi lại tự hỏi: Ngày ấy đâu rồi ?!
Tháng 6 năm 2010
*Ngày ấy đâu rồi: tên cuả một ca khúc.
DÁNG XUÂN
Gió đưa mưa nhẹ bay về
Hoa mai nở thắm tràn trề hương xuân
Trên đồng lúa mượt màu xanh
Nước về tắm mát dòng kênh quê nhà
Con đò đưa khách lại qua
Cô em nghiêng nón nhẹ khua mái chèo
Lưa thưa cánh én buông chiều
Chao đôi cánh lượn dệt nhiều ước mơ
Quê hương đẹp tựa vần thơ
Dáng xuân in dấu vỗ bờ tháng năm.
XUÂN SANG
Ngoài sân điểm mấy nụ mai vàng
Trong nhà nghi ngút khói trầm nhang
Mưa bụi từng cơn rây hạt nhẹ
Rượu nòng nâng chén đón xuân sang.
ĐÂU KÊNH LÀNG TÔI
Công đức làng tôi đã khai sinh
Thiêng liêng hai tiếng gọi Đâu Kinh (1)
Chín xóm liền nhau xây nên nghĩa
Hội làng kết lại dựng thành tình
Đình làng lễ tế vui ngày hội (2)
Năm miếu trang nghiêm đấng tiên linh (3)
Dù cho dâu bể bao thay đổi
Đá làng vẫn giữ mãi Đâu Kênh (4)
2004
(1) Theo Châu Ô Cận Lục khi mới lập làng có tên Đâu Kinh.
(2) Còn gọi Đình Trung.
(3) Miếu thờ 5 ngài khai khẩn là: Đoàn, Võ, Đỗ, Lê và Nguyễn.
(4) Theo câu ca “Đá trôi làng không trôi”.
TÔI YÊU
Tôi yêu nước Việt của tôi
Những trang lịch sử một thời liệt oanh
Dòng sông – Bến nước – Con kênh
Lũy tre đồng lúa, nghĩa tình quê hương
Yêu nền văn hóa Đông Sơn
Tổ tiên tỏa sáng, nước non một thời
Xã tắc bền vững đời đời
Hồn thiêng đất nước sáng ngời Thăng Long
Biết bao oanh liệt chiến công
Cờ đào khởi nghĩa non sông yên lành
Tôi yêu mãnh đất Hà Thành
Thủ đô hữu nghị, hòa bình vươn lên
Xứng danh nòi giống rồng tiên
Chung tay xây dựng vững bền Việt Nam.
GIANG ĐÔNG
4/2010
Saturday, February 12, 2011
VÕ XUÂN HUY - BA BIẾN THỂ TRANH SƠN MÀI

Nhựa sơn là chất kiến tạo cơ bản trong trò chơi ngôn ngữ tạo hình của tôi. Tôi am hiểu luật chơi vì tôi thiết lập trò chơi. Tôi tạo ra hệ thống kỹ thuật, cách dùng màu, thêm vật liệu mới để thay đổi quan niệm cũ kỹ và có phần mòn vẹt về sơn mài lâu nay. Sáng tạo mới cần phải có một hệ hình mới.
Kỹ thuật chủ động tạo sự nứt nẻ, nhăn, mòn thủng....là ngữ pháp căn bản của trò chơi.
Nứt nẻ - sự khô cằn, sa mạc thực dụng, sự thiếu hụt một thứ gì đó, một dưỡng chất cần thiết bị đẩy ra khỏi cái mà cấu trúc nó vốn phải là.
Nhăn - sự ẩm ướt, tự ti, co cụm, sự dư thừa một yếu tố nào đó.
Nứt nẻ và nhăn tạo nên sự đối lập, phản ảnh sự cực đoan của tiểu khí hậu Huế nói riêng và rộng ra là cả miền Trung. Kỹ thuật tạo sự ăn mòn - gây thêm cảm giác bào mòn của thời gian, sự gậm nhấm trong vùng địa văn hóa ấy và rồi những ký tự, hoa văn, rác thải công nghiệp... được gắn trên nền của những cấu trúc bề mặt ấy để tạo ra các trường liên tưởng mới, ngữ nghĩa mới. Các chủ đề như Tự sự về Cố đô, Xác chết của các mẫu tự, Hóa thạch đương đại...lần lượt xuất hiện.
*
* *
Làm sơn mài là tiếp xúc với kim loại, gỗ, nước, đất, lửa... Vì thế, tôi có cơ duyên sát gần với cái huyền nhiệm của hiện hữu, dù chỉ là sát-na.
Biến thể 1: Vẽ nét, tô mảng; tạo hình cây cỏ, lá hoa, người.....tất cả đều có thuộc tính riêng, dáng vẻ riêng. Có tự tánh riêng biệt.
Biến thể 2: Phủ sơn cánh gián lên toàn bộ mặt tranh. Chất sơn sẽ đưa mọi vật có thuộc tính riêng lẻ trở về một màu tối sẫm. Mọi sự vật hòa lẫn vào nhau, trở về cái chung, muôn mà một. Vạn vật nhất thể. Phi nhất phi nhị.
Biến thể 3: Mài tranh, đưa sự vật hiện tượng trở về với uyên nguyên, nhưng mang thêm dáng vẻ và màu sắc mới. Trở về lại với tự tánh riêng biệt. Một nhưng mà muôn.
Đây là ba biến thể của hình tượng cũng là ba công đoạn trọng yếu của kỹ thuật sơn mài.
*
* *
Tôi thể hiện mình, phát hiện ra mình và cuối cùng sáng tạo lại chính bản thân mình thông qua hành trình tìm kiếm cái Đẹp trên chất liệu sơn mài.
Đó chính là ba biến thể hay là đích đến của sự sáng tạo.
Võ Xuân Huy
Thursday, February 10, 2011
HOÀNG CÔNG DANH – KÊ CHỎNG TRE, NGHE CHUYỆN LÀNG

Buổi tối, ông nội nhủ con cháu kê chiếc chõng tre ra giữa sân. Sau khi nhấp một ngụm nước, ông bắt đầu kể chuyện làng. Tôi lớn lên bằng những câu chuyện của ông; bởi thế mà tôi luôn biết ơn tuổi thơ và không hề cảm thấy chút tiếc nuối nào khi nghĩ về nó.
Dường như chính ấu thời đã hướng con người ta đến với một cung cách sống nào đó. Nếu đúng vậy thì quả thật, sự thanh bình là gam màu chính phác nên bức tranh cuộc sống của tôi. Sau này tôi khát khao được yên tĩnh hơn bất cứ nhu cầu nào trên đời.
Góc vườn nhà tôi có một cây Dạ Lý Hương, hoa thường nở vào độ mùa xuân, sau tết cổ truyền. Một chút gió đi qua hôn nhẹ vào nhuỵ hoa khiến hương tình lan ra ngát cả sân vườn. Có lẽ là hoa cũng đang nghe chuyện của ông với niềm hân hoan thích thú như tôi vậy! Dạ Lý Hương là hoa chỉ thơm về đêm, đúng như tên gọi của nó (dạ nghĩa là đêm), cũng như hoa Tử Đinh Hương chỉ ngát lừng khi ngày đã muộn. Tháng Năm mới đây, lúc đi qua sân trường độ mười giờ đêm, tôi đã ngửi được mùi hoa Tử Đinh Hương. Thú thật là mùi hương ấy không làm tôi vui, nhưng nó khiến tôi lắng lòng hướng về quê nhà. Thuở xưa lắm, khi chưa khai sinh ra loài người - gọi là cổ tích - chàng út nhà bà Pecxia ở xứ Ba Tư đã hoá thành khóm hoa Tử Đinh Hương để bảo vệ mẹ. Chính sự tích ấy đã làm tôi yêu mến hơn hoa Tử Đinh Hương lặng thầm trong buổi tối vừa rồi. Và do đó, tôi nghĩ rằng, những loài hoa nở về đêm thường biểu hiện cho một thứ tình cảm thiêng liêng, ví như Dạ Lý Hương mà tôi đang nói. Dạ Lý Hương là người bạn vong niên từ cổ tích đã trở về đây để cùng với tôi lắng nghe chuyện quê kiểng.
Trong một đêm trăng, giọng kể của ông như hoà quyện và lắng sâu vào trong mùi hương hoa, vị chát lừng nước chè. Sau này mỗi lần lục lại ký ức để tìm tư liệu, tôi luôn hình dung ra mồn một khung cảnh, ngửi thấy dư vị thảo mộc của ngày ấy.
Thuở tôi lên bảy. Tôi nhớ lắm một chiếc chõng tre giản đơn, bộ vạc tre được bện bằng chạc mây và nhẵn bóng đi. Ấm nước chè giữ nhiệt hầu như suốt đêm, cho đến khi nước nguội thì câu chuyện của ông chấm dứt. Ông nội pha nước chè rất ngon! Lá chè sau khi rửa sạch phải vò bằng tay rồi nhúm vào ấm, cho thêm một ít gừng củ đã giã nát, sau đó rót nước sôi cẩn thận. Nước chè phải trong và có màu vàng tươi, có vị chát lẫn cay. Uống nước chè phải dùng chính cái chén ăn cơm mới đúng. Những cái chén ngày ấy thường in cảnh họp làng bằng mực xanh. Bây giờ chén kiểu này không ai sản xuất nữa. Thời sinh viên ở Huế, tôi có ghé vào ven đường bên bờ sông Hương và thấy những chiếc chén này đã thành đồ cổ đưa ra bán cho giới sưu tập. Chao ôi, những nét đẹp làng quê mới đây thôi, vẫn đấy thôi mà đã hoá cổ ngay trước mắt ta sao? Người ta bảo thời gian đời người trôi nhanh. Ấy vậy mà thời gian của dòng chảy văn hoá có lẽ còn nhanh hơn. Đấy mới là cái đáng sợ hơn cả!
Từ đường họ Hoàng ở làng Phúc LộcChuyện của ông không có hệ thống, không trật tự, nhớ đâu kể đấy, nhưng tôi không hề cảm thấy lộn xộn rắc rối. Tôi tự sắp xếp những câu chuyện ấy vào trong ngăn đẹp nhất và trang trọng nhất của tâm hồn mình.
Ông ngồi trong đêm, tĩnh tại mà sâu sắc, trầm ngâm nhưng nhiệt huyết - hình ảnh ấy khiên tôi liên tưởng đến một người nhắc sử làng vĩ đại. Ông kể và tôi nghe, không hề có giấy bút ghi lại; thế nhưng tháng năm đi qua vẫn không làm tôi quên được.
Tôi không quá tự tin vào trí nhớ của mình, nhưng tôi có thể khắng định rằng, nếu như một ngày nào đó tôi bị xoá nhoà nhiều thứ, thì cái còn lại sau cùng là những câu chuyện làng mà ông đã kể. Bởi như một triết gia đã nói: "Người ta có thể mang đứa trẻ ra khỏi quê hương của nó, nhưng không thể nào mang quê hương ra khỏi trí nhớ và tâm hồn một con người!".
Minsk 9.2009
H.C.D
TRƯƠNG LAN ANH - VƯỜN XUÂN

Hoa lê nở trắng cành cao
Đôi chim én nhỏ bay vào vườn xuân
Chuồn chuồn ớt cánh phân vân
Đậu rồi bên nụ tầm xuân biếc lòng
Cỏ xanh ngậm hạt sương trong
Chập chờn cánh bướm thong dong ven bờ
Xuân sang rải giọt nắng mơ
Con ong kiếm mật thẩn thơ ra vào
Em về má ửng sắc đào
Gió xuân thầm thỉ chạm vào yêu thương
Sao khuya thức đếm đêm trường
Buông mình rơi xuống vấn vương tình đời!
Vườn ai nẩy lộc đâm chồi
Áo xuân đã khoác cho người thêm xuân!
T.L.A
Wednesday, February 9, 2011
VĂN QUANG - TÀI TRÍ NGƯỜI QUẢNG TRỊ QUA ĐỐI ĐÁP DÂN CA

Có thể nói rằng về thể loại dân ca của các miền đất nước, hò đối đáp là nét độc đáo tiêu biểu cho người và đất quê hương Quảng Trị (và vùng Bình-Trị-Thiên nói chung). Qua hò đối đáp, người bình dân bày tỏ và trao đổi tâm tư tình cảm, thể hiện tài trí của mình về cả hai mặt nội dung tư tưởng và nghệ thuật diễn đạt. các phép tu từ mà ngày nay chúng ta đang dạy cho học sinh trong nhà trường và các nhà văn, nhà thơ sử dụng trau chuốt, làm đẹp tác phẩm của mình đều được các các nghệ sĩ vô danh ngày trước thể hiện trong các tác phẩm của họ một cách tài tình, độc đáo đến bất ngờ. Dân Quảng Trị chất phác, lời lẽ mộc mạc đơn sơ, nhưng đã dụng công trau chuốt thì khó mà chê được.
Hò giã gạo và hò mái nhì là những làn điều thường được dùng để đấu trí, thi tài; nhưng phổ biến nhất vẫn là hò giã gạo, bởi vì nó có nhịp điệu nhanh, khoẻ, dễ gây không khí hoá hức , sôi nổi. để có thể đối đáp xứng hợp, kịp thời, đòi hỏi người nghệ sĩ dân gian phải có một vốn kiến thức nhất định và đặc biệt là tài ứng đối mau lẹ, sít sao. Đầu óc họ phải hết sức tinh tế, nhanh nhạy mới có khả năng vừa phân tích, tổng hợp tình ý đối phương, vừa sáng tác kịp thời lời lẽ đáp lại làm sao cho cân xứng, lấn lướt được đối phương càng tốt. hò đối đáp có thể mang những nội dung khác nhau : Đối đáp ân tình, đấu trí, thi tài về việc đời, triết lý cuộc sống, kiến thức văn học nghệ thuật, địa lý, lịch sử …
Trước đây những đêm hò là những buổi hội ngộ của những đôi trai gái và nhân dân trong làng ngoài xã. Họ vừa là lao động vừa sinh hoạt văn nghệ. Mỗi lần có câu hò hay khán giả vỗ tay reo hò và có quan viên, chức sắc đánh trống chầu để tán thưởng. trong sinh hoạt văn nghệ dân gian này không loại trừ sự góp mặt của các ông nghè, ông Tú thất cơ lỡ vận về sinh sống ở nông thôn. Họ có thể trực tiếp tham gia hoặc tham gia cố vấn cho các chàng trai, cô giá mối khi họ cần đến. nhờ vậy mà tầm hiểu biết của người bình dân cũng rộng hơn.
1. Hò đối đáp ân tình:
Trong lối hò này đôi trai gái trao đổi tình cảm với nhau nhưng đối đáp thế nào cho xứng, thể hiện được tài trí của mình. Có khi cả hai bên đều dùng tình ý, lời lẽ thật với nhau, nhưng thường là có tính cách mỉa mai, châm chọc.
Hai bên đối đáp thật thà về lời, nhưng ngụ ý mỉa mai:
Trai làng ở quá cũng đông
Có sao em bậu lấy chồng đàng xa?
Ơ làng cũng có người thương
Số em đáng số lấy chồng tha hương mới thành.
Dù câu hỏi của người con trai có vẻ thật thà, nhưng ít nhiều cũng có ngụ ý là cô gái ế chồng, trai làng không ai thèm dòm tới ! nên dùng lười lẽ bóng gió xa xôi:
Gặp em đây hỏi thiệt em đây
Sông sâu, sông cạn, đò đầy, đò lưng?
Trong câu hỏi chàng trai đã sử dụng thể ti, phép ẩn dụ để biểu đạt tình ý của mình: Sông và đò ám chỉ người con gái. Cô gái đã đáp lại thật sắc sảo:
Sông này cửa khẩu chưa khai
Thuyền đang đậu bến, chưa ai mà lưng đầy.
Dùng cách đơn giản mà chơi chữ, thủ pháp nghệ thuật dễ chơi xỏ đối phương:
Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh
Biết đưa anh có đến bên kênh ghềnh hay không?
Người con trai phải hiểu từ ẩn dụ “ Chiếc thuyền quyên” “ Gềnh” là gì mới đáp xứng được.
Và đây, ta thử nghe anh đáp lại:
Chiếc thuyền quyên em mỏng mảnh mong manh
Anh dựng cột buồm dậy chạy hai canh là đến bờ!
“ Dựng cột buồm” là cách nói ẩn dụ rất đắc ý ở đây.
Ta thử nghe thêm vài câu người con gái hò châm chọc:
Càng ngày càng nới dây lưng
Thương anh trong dạ không biết chừng dội mô!
Thương thì thật là thương nhưng xỏ lá đáo để ”Thương anh trong dạ” là cách chơi chữ tài tình để nói rằng: Em đang mang thai anh trong bụng !
Người con trai không nhận thấy xỏ lá ấy thì chỉ đành chịu nhục trước gái thuyền quyên!.Nhưng anh đáp lại còn già giặn hơn:
Bắt lấy dây lưng xin em đừng vội nói
Thiếp còn ân ái chi chi
Thầy mẹ sinh em là phận nữ nhi
Sao không thương thầy với mẹ, nghĩa chi thương chàng.
Ý anh bảo con gái “ Người em thương trong dạ là thầy mẹ em”. Có khi cô gái còn nổi đến cả cha mẹ đối phương:
Kể từ này em đẻ, mẹ ra
Anh không lui tới, thiệt là vô tâm.
Cách chơi chữ rất tài tình : “ Em đẻ mẹ ra” có thể hiểu là khi em sinh ra con thì mẹ anh ra thăm, nhưng ở đây cô nói liền mạch thì có nghĩa là “ Em đẻ mẹ anh ra”.
Đến lượt các chàng trai châm chọc thì cũng chẳng vừa chi:
Ôi thôi rồi đứa con tui hắn chết ngay đơ!
Cửa xa nhà ngái, chôn nhờ đất em
“ Con tui chết ngay đơ” nghe rất tội mà xỏ lá vô cùng. Nhưng cô gái nào có chịu lép vế:
Đất em sâm sẩm ổ gà
Chôn cha cũng lọt huống là chôn con
Đòi chôn cả cha đứa con ấy vào đất em thì xấc đáo để. Chàng con trai cũng có thể hỏi bóng gió:
Chuông vàng đánh tiếng kêu rè
Hay là thợ đúc chế hàn the vô rồi?
Ý nói cô gái đã lang chạ, không còn trinh tiết. Ta có ngờ cô gái đáp lại già giặn như sau không?
Chuông treo trước cửa Cần Chánh
Ai dám vô mà đánh chuông rè
Anh nghiêng tai, cúi trôốc mà nghe
Chuông vàng thanh tiếng, anh chê rè là răng?
Ý cô gái bảo em cao sang như chuông vàng treo trước cửa điện Cần Chánh của Vua, anh dốt nát nói bậy chứ không ai dám đụng vào em đâu! Không tin thì anh nghiêng tai, cúi đầu mà nghe.
Ngay trong lối hò đối đáp ân tình, người bình dân cũng đã sử dụng cách nói lái rất độc đáo ở Quảng Trị. Nói lái là một nghệ thuật chơi chữ để khi đảo các âm của từ thì tạo thành nghĩa mới. cách nói lái thường giúp cho lời nói đỡ thô tục.
Ở Làng Bồ Bản xã Triệu Trạch có một ông Nghè hay chữ rất sành hò, tục gọi là cậu Ba, ông Nghè Ba. Một hôm ông hò ân tình với một cô gái ở vùng Gio linh. Ông than thở trách móc:
Trời mưa , trời gió, vác đó ra đơm
Chạy vô ăn cơm, chạy ra mất đó
Nào ai lấy đó, đó ơi
Đó không phân đi, nói lại đôi lời cho đây hay?
Cậu Ba có ngờ đâu cô gái gái nhanh nhẩu và xấc xược đáp liền:
Nỏ có ai như cậu Ba làng Bồ
Đó treo côi trại, không biết chỗ mô mà tìm!
“ Đó treo côi trại” theo thổ âm Quảng Trị khi nói lái lại rất tục. Ông Nghè hiểu ngay cô gái chơi xỏ mình nhưng đành chịu nhịn và phục tài.
2. Hò Đấu Trí :
Trong lối hò này, đôi trai giá đã vận dụng hết tài năng để thi thố kiến thức về nhiều mặt của cuộc sống. thủ pháp nghệ thuật cũng rất điêu luyện, bảo đảm vần điệu, tiết tấu của thể thơ lục bát và các biến thể của nó. Đôi khi pha giọng ân tình, nhưng đó chỉ là một thách thức thử tài.
Đối đáp châm chọc :
Ô hô đòi Ngô thế lọng
Tui chửi cụ một điều, trọng vọng chỉ không?
Cái gáo úp côi cái đội
O chửi tui một điều, tui trọi chết cha O
Tuy lời lẽ hỏi và đáp lại còn thô tục nhưng ý khá đạt: O mới đòi chửi tui thì tui vừa chửi cha O vừa trọi chết cha O!
Thường các cô gái dùng lời lẽ bóng bẩy, sử dụng phép tu từ bắt đối phương phải vắt óc suy nghĩ cho ra cái ngụ ý của mình:
Nước trong khe chảy ra róc rách ro re
Thân anh như con bìm bịp ngồi nghe sự tình!
“ Nước trong khe” là cách nói bóng gió, anh là con bìm bịp ngồi dưới khe để nghe sự tình của nước trong khe ấy chảy thật là xấc. nhưng chàng trai còn xỏ lá hơn:
Nước trong khe chảy ra róc rách ro re
Anh đây cúng hứng lấy vài ghè
Để khi mụ gia qua thăm rể nấu đọi nước chè uống chơi.
Anh chàng đòi nấu nước trong khe ấy cho mẹ cô giá uống. Có cô gái lên giọng kẻ cả :
Tay cầm bảy tấc roi mây
Ai muốn tầm sư học đạo, tới thầy dạy cho.
Chàng trai giả đò tỏ vẻ ngoan ngoãn:
Đó làm thầy, đây xin thủ đạo làm trò
Đó ngả nghiêng ra mài mực, đây thò bút vô.
Ý xấc láo ở đây là cách lái của hai từ “ thủ đạo” và cách nói ẩn dụ của “ ngã nghiên”, “ thò bút”.
Đối đáp về kiến thức địa lý:
Nước Tam sơn chảy xuống Ba Hà: hà Thanh, Hà Thượng, Hà Trung
Nam nhơn chàng đối đặng, thiếp mới đành lòng thương !
Đáp :
Nước Tứ Hải Hải xao lên bốn thuỷ: Thuỷ khê, Thuỷ Tú, Thuỷ Bạn, Thuỷ Cần
Nam nhơn đà đối đặng, thiếp phải gá nghĩa châu trần ngàn năm
Cách chơi chữ thật tuyệt đẹp: Tam sơn, Ba Hà, Tứ Hải, Bốn Thuỷ
Thách đối bằng cách dùng nghệ thuật nói lái ở Quảng Trị:
Con cá dối nằm trên cối đá
Con mèo cụt nằm trên mút kèo
Trai nam nhơn đối đặng , thiếp xin theo về cùng
Đáp :
Con rắn hổ nằm trên rổ hắn
Cây cau tươi mọc trước cưới tau
Nam nhơn đà đối đặng, ta theo nhau cùng về
Thách đối dựa theo cách gọi tên phi lí của đồ vật:
Hỏi :
Bánh cả mâm sao gọi là bánh ít?
Trầu cả chợ sao gọi trầu không?
Trai nam nhơn đối đặng sẽ làm chồng nữ nhi.
Chàng trai kia chẳng thua kém chút nào:
Chuối không qua Tây sao gọi là chuối sứ
Cây không biết chữ răng lại gọi cây thông?
Nam nhơn chừ đối đặng quyết làm chồng nữ nhi!
Dùng tên bốn mùa để thách đối :
Con gái Xuân đi chợ mùa Hạ
Mua con cá Thu chạy về, chợ hãy còn Đông
Răng biết em là gái chưa chồng
Mà anh chỉ sá băng đồng tới đây?
Chàng trai đã dùng tên 4 phương để đối lại thật sắc sảo:
Trai phương Nam ra ngồi hàng thuốc Bắc
Gái Đông sang ra dựa chốn lầu Tây
Ông tơ bó buộc, xe dây
Xui anh đáo tới chốn này gặp em.
Trong hò đấu trí có lối hò đố rất xương xóc. Thường là các cô gái nêu những vấn đề hóc búa để thử tài đấng mày râu. Nhưng đã mang danh trượng phu các chàng trai luôn tỏ ra đủ tài ba, bản lĩnh.
Đố về đạo lý làm người, tam cương, ngũ thường:
Quân, sư, phụ: Tam cang giả
Qua chuyến đò đầy, sóng ngã cứu ai?
Câu hỏi đặt chàng trai vào thế lúng túng khó xử, nhưng anh chàng sau đây đáp ba cách khác nhau mà cách nào nghe cũng lọt tai không bắt bẻ được:
Vua băng đi, có triều đình hiệp nghị
Thất sư thiên hạ tầm sư
Không có thân phụ, ai ừ được cho ?
Anh chàng này lý luận là dù cha là bậc thấp nhất trong Tam cương nhưng anh phải cứu cha vì không ai thay cha mình được cả!
Liều mình lọt xuống vực sâu
Hai vai sư, phụ trên đầu đế vương.
Anh này nói thiên lôi nhưng vẹn cả trung lẫn hiếu.
Ngộ phong vũ, điếc óc , đoãng tai
Liều mình vọt xuống quơ quơ, túm túm may ai nấy nhờ.
Anh này nói cho qua chuyện nhưng nghe ra rất thực tế, chẳng mất lòng ai.
Đố về lịch sử:
Tiếng đồn anh học hết Kinh Thi
Ngày xưa vua Văn Vương đi cưới bà Hậu Phi hôm nào?
Hỏi về lịch sử Việt Nam còn điều biết điều không. Cô gái hỏi đến tích xưa chuyện cũ của Tàu thì thật là tai ác! Nhưng chàng trai vẫn tỏ ra thông thạo đáp:
Bà Hậu Phi đi hái rau Quyền nhỉ
Lên ngồi năn nỉ trên hòn đá Trương Kỳ
Vua Văn Vương đi săn bắn, gặp bà Hậu Phi đem về.
Ý anh nói : Chẳng cưới xin gì cả, em đừng hỏi bậy!
Đố về triết lý :
Gặp trượng phu hỏi thiệt trượng phu
Tiên sinh mi răng mi đoản, hậu sinh tu răng, tu trường?
May ra trời biết nói mà trả lời được!
Thế mà chàng trai vẫn dùng phép nguỵ biện để đáp lại, không những thế anh còn đối trả:
Mi sinh tiền là thiên sinh đoản
Hậu sinh tu trường là huyết hoá sửa sinh
Thế cái răng sinh sau cái lưỡi mà răng rụng trước, hỏi mình là nghĩa chi?
Đố cách viết và nghĩa của chữ Hán để ngụ một ý sâu xa hơn:
Hai ngang ba phết, em học không hết em lại hỏi anh
Từ tỉnh Nghệ cho đến kinh Thành
Từ Gia Định cho đến kinh Thành
Quan sầu, dân thảm, hỏi anh chữ gì ?
Hai ngang , ba sổ ( phết) viết thành chữ thất, ý cô gái nói Thất thủ kinh đô Huế thời Pháp thuộc.
Hai ngang ba phết , kết lại chữ thất
Anh đây buồn tình cất một phết bên vai
Kẻ ấy là ai ?
Thiếp mà nói đặng mới gọi rằng tài nữ nhi!
Chữ Thất mà cất một phết bên vai còn lại chữ phu nghĩa là chồng. Đáp được rồi anh chàng đòi làm chồng cô ả. Chữ nghĩa tài trí là thế . Có phải người bình dân là “ Dân ngu khu đen” cả đâu! Người ta bảo : Kinh đô cũng có người rồ / Man di cũng có sinh đồ Trạng nguyên. Thật quả không ngoa.
Biết bao giờ sưu tầm hết được những câu hò đối đáp tài tình trên quê hương Quảng Trị! Tuy nhiên qua bài viết này, tôi hy vọng các bạn thưởng thức, cảm nhận được phần nào tài trí, chất văn học thể hiện qua các tác phẩm của họ. Chúng là nguồn tư liệu quý giá cho những ai mê thích dân ca, những ai muốn học tập, nghiên cứu để làm phong phú cuộc đời mình , làm đẹp tác phẩm văn học của mình.
Văn Quang
1996
VÕ VĂN HOA - THƠ XUÂN NGÀY CŨ

Ta còn lại tháng ngày thơ bé
Chùm thơ xuân mộng mị bên trời
Em còn không lá rụng ven đồi?
Tình áo trắng phai mùa xa vắng!
" Ngộ" ra mình dấu lặng
Thơ ấp iu vành đỏ môi chiều
Cơ chi anh cùng với giáng kiều
Đi tận cùng trái đất
Nghe thơ mình rung lên sự thật
Mùa xuân ư ? Hoa lá cành ư?
Mà sao loáng thoáng những ngôn từ?
Thơ thời lơ ngơ là thế!
Em đừng trách bờ ao cây khế
Chim chìa vôi khản cổ rao mời !
Giờ đọc lại thơ xuân ngày cũ
Vầng trăng khuya không nói hết ...bằng lời!
Ngày khai hạ Tết Tân Mão
V.V.H
VÕ QUÊ – VIẾT ĐẦU NĂM MỚI

Mỗi sát na tôi nhủ mình vui
Cuộc sống lung linh màu sắc
Mỗi giây qua tôi nhắc mình tươi
Hoa cỏ ngát hương trời đất
Mỗi phút tới tôi dặn tôi cười
Đàn ngân tiếng trong veo sông suối
Mỗi giờ đến tôi nguyện thương đời
Vị sóng mặn trầm hùng biển núi
Mỗi ngày lên tôi thầm mong tôi
Ngọt lành thơ khát vọng tặng người...
2.2010
