Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Thursday, May 27, 2010

KHÔNG ANH - chùm thơ Trương Thị Hằng Nga




Trương Thị Hằng Nga
Giáo viên tiếng Anh

Trường tiểu học Hải Dương, Hải Lăng, Quảng Trị


KHÔNG ANH

Không anh gió cũng dỗi hờn
Nhìn đâu cũng thấy một vườn tương tư.
Không anh trời đất lắc lư
Cứ như vũ trụ chao từ câu kinh.
Không anh căn phòng lặng thinh
Đất trời cáu tính giật mình giăng mây.
Bởi yêu làm dạ rứt ray
Vì say mới gặp một ngày bão giông.
Bây chừ em hết ngó trông
Không mong. Không ngóng. Không hòng duyên tơ.
Tối ngày mê mẩn làm thơ
Cứ coi như nợ giấc mơ thiên đàng.
Không anh khuyết cả trăng rằm
Đến con chim vẹt ngậm tăm chẳng rằng.
Mặt trời ủ rũ ngủ đông
Ngôi sao le lói tầng không lu mờ.
Không anh lỗi hẹn vần thơ
Câu từ như nhện giăng tơ thẫn thờ.
Không anh mây chợt lững lờ
Mưa như chàng ngốc ngu ngơ trước đời.
Trái ngang, gian dối người ơi
Thuyền duyên lỡ chuyến đò xuôi mất rồi .
Đành gạt nước mắt mà thôi
Chòng chành con sóng lướt trôi kiếp người.
Không anh, dùng dằng cuộc chơi
Chẳng vui mà vẫn nụ cười méo môi.
Không anh, chỉ mình em thôi
Tội cho một kiếp... mồ côi tình sầu.



NẾU MỘT MAI ...

Một mai em bước theo chồng
Bỏ anh ở lại trống không ngỡ ngàng
Giả từ em phải sang ngang
Mình anh đơn lẻ nhỡ nhàng tình xưa.
Em về nước mắt như mưa
Khóc cho tình lỡ người xưa đợi chờ
Nhớ chàng em gởi vào thơ
Theo chồng em để giấc mơ lỡ làng.
Từ mai ngày mới sang trang
Em về bên ấy làm nàng dâu ngoan
Mười hai bến nước đa đoan
Bên người em có còn xoan tuổi đời?


AI?

Đêm nay em không ngủ
Thử hình dung ngày mai
Khi thiếu vắng anh rồi
Ai người em tâm sự?
Giữa bao la vũ trụ
Biết gởi tình nơi đâu?
Cuối bộn bề bể dâu
Giọt sầu em ngấn lệ.
Ai người nghe em kể
Chuyện gần và chuyện xa?
Ai dỗ hạt mưa sa
Bằng câu đùa hóm hỉnh?
Ai lo em lỉnh kỉnh
Bao vấp váp đời thường?
Ai người để em thương
Gởi nỗi niềm nhung nhớ?
Ai nghe từng nhịp thở
Trong giá lạnh cô đơn?
Ai gieo em giận hờn
Để dùng dằng giận dỗi ?
Ai ghét yêu vô lối
Cứ đỗ tội ông trời?
Để lòng ai lệ rơi
Ướt nhoà bao nuối tiếc?
Ai nói câu giã biệt
Sau thao thiết lời trao?
Tựa cái nắng hanh hao
Chợt hồn em cháy khát.
Ai làm em tan nát
Cỏi lòng và trái tim? 

                                Trương Thị Hằng Nga
READ MORE - KHÔNG ANH - chùm thơ Trương Thị Hằng Nga

Sunday, May 23, 2010

Mai Văn Hoan - VÕ QUÊ VÀ THƠ LÁI

Nhà thơ Võ Quê


Những năm gần đây, ở Huế lưu truyền một số bài “thơ lái” khá độc đáo của Võ Quê. Những bài thơ này vừa có tính thời sự, vừa hóm hỉnh ở nghệ thuật con chữ.Vật giá leo thang gạo lỏng nồi/ Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi/ Ngồi eo sèo với bao gian khó/ Gió khan đắng họng tái tê đời. Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu, xoáy trôn ốc.

Võ Quê không phải là người đầu tiên làm thơ lái. Ngay từ thời Trung đại, nữ sĩ Hồ Xuân Hương đã nổi tiếng với một số câu thơ lái hết sức quái kiệt, đáo để, như : “Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo” hay “Trái gió cho nên phải lộn lèo”... Ở Huế, thời Pháp thuộc có cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi cũng là một cây “lái thơ” khá nổi tiếng.
Trong dân gian vẫn lưu truyền một số câu thơ lái hết sức dí dỏm và sâu sắc của cụ. Chẳng hạn như: “Cầu đạo nên chi phải cạo đầu”, “Nhắn bạn lên non đừng bắn nhạn”, “Công khó chờ nhau biết có không”, “Trông đời chỉ thấy cảnh trời đông”...
Và đặc biệt là câu: “ Thầy tu mô Phật cũng thù Tây”. Sau khi cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi mất (1966), thơ lái tưởng như “đứt mạch”. Thời Bình Trị Thiên một số nhà thơ như Xuân Hoàng, Văn Lợi... chỉ nói lái trêu đùa nhau cho vui màthôi.

Tôi còn nhớ một vài câu, đại loại như : “Đi Cửa Lò bị cò lừa, bác Hà Sâm suýt hầm sa” ; “Đi phong trào được trao phòng” ; “Ăn cháo lòng, chống gió Lào”; LTM có bài thơ Những mùa trăng mong chờ khá nổi tiếng, các anh lái thành Những mùa trăng mơ chồng ; bài Trăng mùa đông của tôi gửi báo nào cũng không thấy in, các anh đổi thành Trông mùa đăng...

Theo nhà thơ Võ Quê cho biết thì mãi đến năm 1999 anh mới làm thơ lái. Đó là năm mà tỉnh Thừa Thiên Huế bị một trận lụt thế kỷ. Thấy chị em làm nghề ca Huế trên sông Hương phải ngưng hoạt động trong một thời gian khá dài để chống chọi và khắc phục hậu quả của trận lụt thế kỷ ấy, nhà thơ bèn làm một bài thơ lái để đùa vui:

Trời lụt ca nhi cũng trụt lời
Trời đong mưa lũ xuống trong đời
Vái lạy lụt tan lành váy lại
Đời cho du khách dạo đò chơi.
Cái tài của tác giả là sử dụng cách nói lái rất tự nhiên và rất phù hợp với hoàn cảnh, tâm trạng của các ca sĩ lúc đó. Nghe Võ Quê đọc, chị em không nhịn được cười. Bài thơ lái ấy của Võ Quê không cánh mà bay. Chỉ mấy hôm sau, trong các quán cóc, quán cà phê vỉa hè người ta đọc chuyền nhau: Trời lụt ca nhi cũng trụt lời...
Thành công bất ngờ ấy đã khích lệ tác giả, làm thức dậy tiềm năng sáng tác thơ lái của anh. Võ Quê lần lượt “xuất bản bằng miệng” một loạt bài thơ lái cũng dí dỏm, sâu sắc chẳng thua gì tiền nhân Thảo Am Nguyễn Khoa Vi.

So với một số thành phố khác trên cả nước thì Huế vẫn còn nghèo. Người Huế tự trào “Huế thơ, Huế mộng, Huế tòng bọng hai đầu”. Nghèo nhất vẫn là dân vạn đò, những người đạp xích lô, xe thồ... Có người “chạy ăn từng bữa toát mồ hôi”. Hơn ai hết, Võ Quê hết sức thông cảm với hoàn cảnh đói nghèo của họ, nhất là khi đồng tiền làm ra thì khó mà vật giá cứ ngày một “leo thang”:

Vật giá leo thang gạo lỏng nồi
Nỗi lòng xa xót bạn nghèo ơi
Ngồi eo sèo với bao gian khó
Gió khan đắng họng tái tê đời

Cái độc đáo của bài thơ này là tác giả sử dụng kiểu lái bắc cầu, xoáy trôn ốc: hai chữ cuối câu đầu lái với hai chữ đầu câu hai, hai chữ cuối câu hai lái với hai chữ đầu câu ba, hai chữ cuối câu ba lái với hai chữ đầu câu bốn. (khác với kiểu lái trong từng câu mà cụ Thảo Am Nguyễn Khoa Vi vẫn làm). Kiểu lái bắc cầu xoáy trôn ốc này cực khó, phải là bậc “cao thủ” mới làm được.

Đây là nỗi lòng của dân chúng khi giá xăng dầu tăng vọt:

Dầu xăng tăng giá dạ giăng sầu
Đầu tiên trăn trở bạc tiền đâu
Giật gấu vá vai theo vật giá
Thâu đêm nhức nhối nghĩ thêm đau

Không chỉ cảm thông với những người dân lao động nghèo khổ, Võ Quê còn sử dụng thơ lái để chống tiêu cực. Anh biến thơ lái thành một thứ vũ khí hết sức sắc bén đánh vào bọn tham nhũng:

Lần vô danh lợi hại dân lành
Tranh thùng, tranh thủ mới trung thành!
Đầy tớ vét tiền bao tờ đấy
Giành nhau tham nhũng chúng giàu nhanh

Ở bài thơ trên, ngoài những cặp lái: tranh thùng - trung thành, đầy tớ - tờ đấy, giành nhau - giàu nhanh, tác giả còn sử dụng một loạt các phụ âm t, tr, th ở câu thứ hai và thứ ba tạo nên âm điệu rất đặc biệt.
Những thủ đoạn: tranh thùng (tranh phiếu), tranh thủ (nịnh bợ)... của bọn tham nhũng được tác giả lột trần không chút e dè, ngần ngại. Bọn chúng là một lũ thoái hoá, biến chất:

Biến chất điếm đàng đi chiếm đất
Cánh đồng xoang bởi Kuán Đồng Xanh
Hối mại chức quyền gieo mối hại
Lanh mưu thoái hóa thật lưu manh!

Hầu hết thơ lái xưa nay đều sử dụng hình thức lái đôi (cặp hai chữ), ở bài thơ trên Võ Quê đã mạnh dạn thử nghiệm hình thức lái ba (cặp ba chữ): “cánh đồng xoang” - “Kuán Đồng Xanh”.
Kiểu lái ba này cũng cực khó. Nếu tôi không nhầm thì nữ sĩ Hồ Xuân Hương chỉ sử dụng một lần duy nhất kiểu lái cặp ba này trong bài thơ Quán Sứ: Hỏi thăm sư cụ đáo nơi neo.
Thơ lái Võ Quê không chỉ sâu sắc, thâm thuý mà còn rất hóm hỉnh. Đây là bài thơ lái anh làm để trêu những cặp trai gái lỡ “ăn cơm trước kẻng”:

Bầu trỏ hèn chi phải bỏ trầu
Bầu to nên mới tậu bò trâu
Quệt má vì yêu nên quá mệt
Bầu lên hạnh phúc được bền lâu

“Bầu trỏ” là mới có thai nên phải làm đám hỏi (bỏ trầu). “Bầu to” là cái thai ngày một lớn nên phải làm đám cưới (tậu bò trâu). Lỡ “quệt má”- nghĩa là lỡ làm cái chuyện ấy nên phải lo đám hỏi, đám cưới thì “quá mệt” là phải. Nhưng cái thai càng lớn thì hạnh phúc càng “bền lâu”. Đằng sau tiếng cười nhẹ nhàng là quan niệm rất nhân văn về tình yêu và hạnh phúc của tác giả.

Võ Quê còn làm thơ lái đùa các bợm rượu:

Một chai mai chột, coi chừng!
Nhị chai nhai chị tưng tưng ngà ngà
Ba chai là bai nghe cha!
Bốn chai cẩn thận kẻo mà bái chôn
Ngũ chai ngai chủ hùng hồn
Sáu chai sai cháu bếp cồn luộc tôm!

Bài thơ này là một thể nghiệm nữa của Võ Quê. Hồ Xuân Hương, Thảo Am Nguyễn Khoa Vi chỉ làm thơ lái theo thể đường luật và hầu hết là thất ngôn tứ tuyệt. Võ Quê mạnh dạn chuyển thơ lái sang thể lục bát. Bài thơ trên có tới 12 câu, câu nào cũng có cặp lái đôi.

Quy luật lái khá linh hoạt. Câu một, câu hai, câu năm, câu sáu là những cặp lái đôi liền nhau. Câu ba, vế thứ hai được tách ra nằm xen giữa chữ “là” và “nghe”: ba chai - bai cha. Câu thứ tư, tác giả đột ngột chuyển sang lái cách (hai chữ đầu lái với hai chữ cuối). Ở câu kết lẽ ra không được dùng vần “ôm” ở chữ thứ tám vì nó vần thông với chữ thứ sáu, nhưng vần “ôn” và “ôm” đặt cạnh nhau nghe rất ngộ nghĩnh.

Bởi thế mà tác giả đã mạnh dạn phá lệ. Ngồi trong chiếu rượu mà đọc bài thơ lái này không ai có thể nhịn được cười. Những lời nhắc nhở các bợm rượu thật dí dỏm mà cũng thật chí tình, chí lý.
Cuối năm ngoái, đầu năm nay, chị Tiểu Kiều (vợ nhà thơ) không may lâm bệnh hiểm nghèo, các cháu đang công tác xa, một mình nhà thơ vừa chăm sóc vợ vừa làm công việc nội trợ. Cứ ngỡ anh không còn tâm trí, thời gian để “lái thơ” nữa.

Vắng thơ lái Võ Quê, dân quán cóc, quán cà phê vỉa hè cảm thấy thiêu thiếu một cái gì. Không biết ai đó đã than rằng: Chưa về nhắm rượu làng Chuồn / Chưa nghe thơ lái sao buồn Võ Quê (làng Chuồn nổi tiếng rượu ngon là quê của anh). Có lẽ hiểu được tâm trạng chờ đợi của người hâm mộ, Võ Quê lại tiếp tục Tự trào bằng thơ lái:

Cuối năm cắm cúi chăm nuôi vợ
Đầu năm mong vợ hết nằm đau
Số phận an bài ai bàn nữa!
Câu thơ Xuân đó có buồn đâu…

Và:

Vợ chồng là phải vọng chờ
Dạo một vòng chợ nên thơ vợ chồng
Trong khó khăn, vất vả anh vẫn vui đùa, tếu táo:
Cuộc đời thành một trò chơi
Khổ đau hạnh phúc là trời cho ta

Thơ lái cũng là một “trò chơi” mà “trời” đã ban cho Võ Quê. Bởi vì không phải bất cứ ai cũng làm được thơ lái vừa thông minh vừa hóm hỉnh vừa thâm trầm như anh.


Huế, tháng 4 - 2010

Mai Văn Hoan
Nguồn: http://www.tienphong.vn/
READ MORE - Mai Văn Hoan - VÕ QUÊ VÀ THƠ LÁI

Wednesday, May 19, 2010

THI HÀO NGUYỄN TRẢI - Linh Đàn





Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai, người làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc (nay thuộc Thường Tín – Hà Tây), Ông sinh ra và lớn lên ở Thăng Long, đậu Thái Học Sinh khoa Canh Thìn (1400), làm quan thời Nhà Hồ. Năm 1407, Trung Hoa thôn tính nhà Hồ và đặt nền móng độ hộ nước ta, thân sinh ông là cụ bảng nhãn Nguyễn Phi Khanh lúc bấy giờ đang làm quan cho Nhà Hồ, bi bắt giải về Tàu, ông theo cha đến tận ải Nam Quan, thân phụ ông thấy thế mới khuyên rằng: Con hãy trở về rửa hận cho cha, rửa nhục cho nước, còn hơn theo cha khóc lóc có ích gì , Nguyễn Trãi đành gạt lệ trở về.


Nhớ lời cha dặn, năm Canh Tý 1420 ông giúp Bình Định Vương Lê Lợi, mười năm kháng chiến chống quân Minh, viết Bình Ngô Đai Cáo (bản tuyên ngôn độc lập thứ 2 của nước ta sau bài thơ Nam Quốc Sơn Hà của Lý Thường Kiệt) Lê Lợi cùng Ông đã làm thêm một thiên quốc sử hào hùng cho Tổ quốc, chói lọi ngàn thu.
Năm Quý Sửu 1433 sau khi Lê Lợi mất, ông bị bọn quyền thần ghen ghét, nên ông xin về ở ẩn ở quê ngoại Côn Sơn – Chí Linh (ông là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, quốc công nhà Trần)


Năm 1434 vua Lê Thái Tông vời ông trở lại giúp nước, được ít lâu ông lại xin về.


Tháng Bảy năm Nhâm Tuất 1442 vua Thái Tông đi duyệt binh ở Chí Linh, ghé lại Côn Sơn thăm ông, tại đây, vua được gặp Nguyễn Thị Lộ, người con gái đã cùng Nguyễn Trãi có một chuyện tình thật thơ, thấy Thị Lộ – người thiếp của Nguyễn Trãi có nhan sắc lẫn tài ba nên vua bắt theo hầu. Không ngờ đi đến Gia Định (thuộc huyện Gia Bình - Bắc Ninh) nhà vua đột ngột qua đời, triều đình gán cho ông tội giết vua với bản án tru di tam tộc, đây là bản án Lệ Chi viên (vườn vải) đã làm xao xuyến hàng vạn con tim của người đời sau với một trang bi tình hận đầy nước mắt và nỗi oan khuất kinh hoàng.


Năm 1464 vua Lê Thánh Tông giải nỗi oan khiên cho Nguyễn Trãi, bằng cách cho truy phục lại tước vị và cho tìm lại con cháu.


Nguyễn Trãi là một nhà chính trị lỗi lạc, một nhà quân sự tài ba, và cũng là một đại văn hào của nước ta. Tác phẩm của Ông để lại, phần thơ chữ Hán gồm có: Giao tự đại lễ, Thạch Khánh Đồ, Dư Địa chí, Ngọc Đường Di Cảo, Trung Quân Tứ Mệnh tập, Ức Trai Di tập, Về chữ Nôm có: Gia Huấn ca, Ức Trai thi tập và một số bài thơ xướng họa với Nguyễn Thị Lộ.


Bài thơ Tự Sự dưới đây là một bài thơ ý tình sâu sắc, lời lẽ thanh thoát, nhẹ nhàng nói lên được tâm trạng cô độc của một nhà chí sĩ yêu nước, không biết tìm đâu ra người cùng chí hướng để giữ vững con thuyền dân tộc trước cơn gió dập sóng dồi.


TỰ SỰ
Chiếc thuyền lơ lững bên sông
Biết đem tâm sự ngỏ cùng ai hay !
Chắc chi thiên hạ đời nay
Mà đem non nước làm rầy chiêm bao
Đã buồn vì trận mưa rào
Lại đau vì nỗi ào ào gió đông
Hoa trôi bèo dạt giữa dòng *
Chiếc thuyền lơ lững bên sông một mình
Ức Trai


*Có nhiều người đọc; - Mây trôi nước chảy xuôi dòng
- Nói chi những chuyện đau lòng


Bài thơ chữ Hán
LOẠN HẬU ĐÁO CÔN SƠN CẢM TÁC

Nhất biệt gia sơn thập tải niên
Quy lai tùng cúc bán tiêu nhiên
Lâm tuyền hữu ước na kham phụ
Trần thổ đê đầu chỉ tự liên
Hương lý tài qua như mộng đáo
Can qua vị tức hạnh thân tuyền
Hà thời kết ốc vân phong hạ
Cấp giản phanh trà chẩm thạch miên


Nguyễn Trãi
(Ức Trai thi tập)




SAU LY LOẠN VỀ LẠI CÔN SƠN CẢM TÁC
Một chuyến mười năm biệt cố hương
Cúc tùng nay thấy nửa sầu vương
Suối rừng ước nguyện đâu hờ hững
Cát bụi dập dồn mãi tiếc thương
Làng xóm nhìn qua như ngủ dậy
Lửa binh gẫm lại vẫn coi thường
Bao giờ nhà dựng sườn mây núi
Nước suối đun trà – đá gối sương
Linh Đàn
(dịch)






(Tài liệu tham khảo Việt Nam Văn Học - TT học liệu bộ QGGD Saigon – 1968)
Bài viết được trích đăng trên tạp chí THẾ GIỚI THƠ ĐƯỜNG LUẬT
CLB UNESCO THƠ ĐƯỜNG VIỆT NAM chi nhánh TPHCM
READ MORE - THI HÀO NGUYỄN TRẢI - Linh Đàn

Saturday, May 15, 2010

HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG







































































































Lê Bá Đảng sinh ngày 26 tháng 7 năm 1921 tại làng Bích La Đông, xã Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sang Pháp năm 1939, đã tham gia vào những đội quân chống phát xít của nước Pháp, bị Đức quốc xã bắt làm tù binh. Học tại Học viện Nghệ thuật Toulouse và trở thành một hoạ sĩ nổi tiếng ở châu Âu. Triển lãm đầu tiên ra mắt tại Paris năm 1950. Năm 1989 nhận giải thưởng "Nghệ sĩ có tài năng lớn và tư tưởng nhân đạo" của Việt Quốc tế Saint-Louis của Mỹ; Năm 1992 được Trung tâm tiểu sử quốc tế thuộc Đại học Tổng hợp Cambridge của Anh đưa vào danh mục những người có tên tuổi của thế giới; năm 1994 được Nhà nước Pháp tặng "Huân chương Văn hóa nghệ thuật Pháp". Được giới nghệ thuật đánh giá là bậc thầy của hai thế giới Đông - Tây.

Năm 2005, Hoạ sĩ được nhận huy chương kháng chiến chống Mỹ cứu nước và nhận danh hiệu Vinh danh nước Việt do báo điện tử Vietnam Net phối hợp với UBMTTQ Việt Nam trao tặng.

Năm 2006, hoạ sĩ cùng với UBND Tỉnh Thừa Thiên Huế xây dựng Trung tâm Nghệ thuật Lê Bá Đảng tại 15 Lê Lợi, Thành phố Huế.

Nguồn: vi.wikipedia.org
Sóng từ trường
Không gian Lê Bá Ðảng

Tác giả: Thụy Khuê

Ý niệm về không gian không mới. Ý muốn biểu dương không gian, cũng không lạ. Nhưng ý thức được tính cách tương đối của sự vật trong vũ trụ, trong không gian, thì hình như chỉ Trang Chu mới thật sự đặt vấn đề. Nào chim bằng, cá côn, nào ao trời, gió lốc... Trang Chu "tạo hình" cho ta thấy cái vô cùng của tạo vật và cái lẽ tương đối ở đời.
Hội họa Tây phương, giàu kỹ thuật, nhiều tiến bộ. Nhưng thiên về biểu dương hiện thực, vẽ những gì thấy được, nắm bắt được, những "hiện thực cụ thể" (kể cả khi phá thể như lập thể, trừu tượng), dường như hội họa Tây phương chưa thật tình thám hiểm thế giới siêu hình, tâm linh, vần vũ về lẽ sống, chết, lý tương đối ở đời.

Hội họa phương Ðông nghiêng về Ðạo, về triết lý sống, nhưng lại chưa tìm ra những phương pháp tân kỳ để diễn tả một cách đa nguyên, đa dạng.
Hiếm hoi là những nghệ sĩ nhuần nhuyễn kỹ thuật phương Tây và triết lý phương Ðông, để có thể tạo một con đường nghệ thuật phức âm, đa nghĩa, rọi ánh sáng và chiếu nhiều góc độ vào những trăn trở của con người về cõi sống, cõi chết, cõi biết, cõi không, về hư vô và cực lạc, về cái Ðạo của con người, ở chỗ Tâm và Vật không còn giới hạn phân chia.
Một vài họa sĩ gốc Á Ðông, thấm nhuần cái học phương Tây, dường như đã tìm được con đường tiến đến sự hòa đồng Tâm-Vật, Âm-Dương, Hữu Hạn-Vô Hạn. Lê Bá Ðảng là một.


*

Trong hành trình sáng tác, ông đã đi từ con mèo, con ngựa, con trâu đến... con người, và ở mỗi "con", ông đều cố gắng đào sâu đến nguồn ngọn, cỗi rễ của chúng. Ông biết rõ tâm can của chúng đến độ có thể chế tạo những "đầu-trâu-tâm-phật", "hình người-dạ thú", "khẩu phật-tâm xà"... Qua hơn nửa thế kỷ sống với nghệ thuật tạo hình, ông đã thuộc lòng cái thế giới "nhân vật cầm thú" mà ông tạo ra, ông cũng lại quá quen với khoảng không gian tầm thường của cái học hàn lâm, với lối nhìn "viễn cận" chưa hề thay đổi từ hơn 20 thế kỷ. Lê Bá Ðảng muốn tìm kiếm, muốn thám hiểm cõi sống chết của con người, ngoài hội họa.
Không gian Lê Bá Ðảng là sự phản kháng những không gian ba chiều đã bước vào tuổi hoàng hôn, là sự chống lại quan niệm lỗi thời của hội họa trường ốc, biểu dương lối nhìn một chiều: Vẽ những gì thấy trước mắt. Nghệ nhân có thể hồi khứ, ngoái lại dĩ vãng, nhưng vẫn phải moi ký ức ra khỏi óc, để nó lên bàn, trước mặt, mà vẽ.
Hội họa lập thể mở rộng hơn: Ðối tượng vẽ, không im lìm, không "chết", nó có quyền chuyển động. Hội họa lập thể mở thêm chiều thứ tư: Chiều chuyển động cho tác phẩm.
Hội họa trừu tượng phá thể để ngòi bút tự do phân tích đối tượng, xé nát đối tượng, tiêu tùng hình thái. Mỗi nghệ sĩ tạo một lối vẽ, lối nhìn riêng về đối tượng; và người xem cũng có quyền có cái nhìn riêng về họa phẩm, theo ý mình, độc lập với nghệ sĩ.
Hội họa trừu tượng phá bung những định kiến, những hàng rào ngăn cách, để con người tự do thưởng ngoạn, tự do tưởng tượng và nghệ sĩ tự do sáng tác. Mối tương quan cố định về "đối tượng bức tranh" và sự cảm nhận của người xem không còn nữa. Hội họa trừu tượng lấy tự do làm đối tượng, và chính ở chỗ "tự do" ấy, con người mới thấy cái "giới hạn" của chính mình.
Lê Bá Ðảng muốn thoát ra khỏi tất cả những ràng buộc về quy luật của nghệ thuật cổ điển, và cả cái "tự do giới hạn" của hội họa trừu tượng, để mở ra một cõi ta của riêng ông. Ông sáng tạo Không Gian Lê Bá Ðảng.


*

Không Gian Lê Bá Ðảng là gì?
- Về mặt kỹ thuật, đó là sự gặp gỡ giữa nhiều ngành nghệ thuật: Kiến trúc, điêu khắc, hội họa... Lê Bá Ðảng không chỉ vẽ, ông tạo hình.

- Về mặt nội dung, đó là mối tương quan giữa người, vật và vũ trụ. Nhân sinh quan của Lê Bá Ðảng có gì trùng hợp, gặp gỡ cái lẽ tương đối của Trang Chu: Cái nhỏ có lý của cái nhỏ, cái lớn có lý của cái lớn, phải cũng là lẽ vô cùng và trái cũng là lẽ vô cùng: Cứ lấy ánh sáng soi thì sẽ thấy cái tương đối ấy bật nẩy ra, và ông thể hiện cái lẽ tương đối ấy trong Không Gian Lê Bá Ðảng. Cái nhìn của ông không còn là cái nhìn một chiều, hướng về trước mặt, mà nó biến đổi không ngừng.

Ở những mô hình Không gian thực tiễn, ông nhìn từ không trung, bằng con mắt loài chim, hay nhìn từ mặt trăng xuống đất. Tôi gọi đó là viễn cận "vạn lý". Với cái nhìn này, Không Gian Lê Bá Ðảng thể hiện những nứt nẻ trên trái đất, những đỉnh cao, vực sâu, trong lòng đất, lòng biển; những đại dương mênh mông, những hỏa diệm sơn bừng cháy, đến cả những con kiến li ti là sinh mệnh và định mệnh của con người. Trong không gian thực tiễn, với viễn cận "vạn lý", Lê Bá Ðảng có thể gồm thâu vũ trụ địa chất và thế giới nhân sinh trong một chiều kích không quá một thước dài, hai thước rộng.

Ở Không gian ảo tưởng, ông tạo không khí siêu hình, giữa cõi sống và cõi chết. Ông "vẽ" cái hoang vu của hư vô, ông "vẽ" cái không và cái có. Từ kỹ thuật, chất liệu, cách sắp xếp đến mỗi hình thức trong không gian Lê Bá Ðảng dường như muốn cấu tạo nên một thế giới, một vũ trụ ngoài màu sắc. Màu sắc chỉ là cái cớ để lưu lại với hội họa. Ông hay dùng sắc nâu, sắc xám, toàn trắng, toàn đen, màu đất nung, chấm phá những điểm son như những mốc, để tư tưởng, trí nhớ và tâm linh có thể trụ lại giữa khoảng vô thỉ, vô chung.
Ðứng trước những tác phẩm này, người xem cảm thấy hoang mang, lạc loài, như mình là chứng nhân cái hữu hạn của cuộc đời đang giao lưu cùng cái vô hạn của vòng tử sinh, luân hồi, truyền kiếp.

Trong loại không gian thứ ba, Không gian lịch sử-địa tầng, người xem mường tượng thấy ý niệm thời gian liên kết với không gian: Con đường xuyên suốt quá khứ-tương lai, giao thoa với viễn cận xuyên địa, từ cung trăng xuống địa cầu, xuyên xuống những lớp địa từng, địa đạo. Tác giả cho ta cảm tưởng ông muốn hình ảnh hóa cả một thời kỳ lịch sử của dân tộc, xuyên qua những thửa ruộng khô, những cánh đồng cháy, những bãi cát dài, những ngôi cổ mộ, những lớp địa tầng, vào trung tâm trái đất. Ở một cái khung lơ lửng, mơ hồ, rêu phong kia, dường như thấp thoáng có hồn Trọng Thủy đang tìm dấu Mỵ Nương qua vết lông ngỗng xác xơ, tan tác... Ở một khoảng tối này, có phải Diêm Vương đang hành hình lũ tội đồ? Ở một không gian u ám trên kia, Hằng Nga đang cô đơn, giá buốt trên cung Quảng?...

Mỗi lần xem Không Gian Lê Bá Ðảng là một lần khám phá. Tác phẩm của ông có nét hãnh tiến về tương lai, kèm nỗi khổ đau, trầm luân trong hiện tại và nỗi u hoài, nhớ về quá vãng.

Nghệ thuật của ông thoát hài, đập vỡ cổ kính để tạo ra không gian phi thời gian, gồm thâu quá khứ, vị lai, địa tầng, địa chất, cõi này, cõi khác trong khoảnh khắc một cái nhìn. Nó độc đáo, nhưng cô đơn. Ông cô đơn trên con đường sáng tạo của mình; nhưng chính sự cô đơn đó là đốm lửa soi đường cho Không Gian Lê Bá Ðảng.

Yên Cơ, 1-1-1997

Nguồn: thuvien.maivo.com

Mời các bạn bấm vào đường link để

ĐỌC THÊM
Trang web của Hs Lê Bá Đảng
READ MORE - HỌA SĨ LÊ BÁ ĐẢNG

Wednesday, April 21, 2010

GS-TS HỒ NGỌC ĐẠI

Giáo sư Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại


- Ông sinh ngày 3-4-1936 tại huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
- Hồi trẻ ông học nghề sư phạm tại Nam Ninh, Trung Quốc.
- Năm 1968, ông sang Nga học ngành Tâm lý học và năm 1976 hoàn thành luận văn Tiến sĩ về Những vấn đề tâm lý trong giảng dạy Toán học hiện đại cho học sinh cấp 1.
- Năm 1978, ông thành lập và là giám đốc Trung tâm Công nghệ Giáo dục (CGĐ) để tiến hành thực nghiệm công nghệ giáo dục, công nghệ phát triển con người (cả về lý thuyết lẫn thực tiễn).
- Giáo sư, Tiến sĩ Hồ Ngọc Đại là một nhà khoa học giáo dục, một nhà tổ chức thực tiễn hoạt động giáo dục, một nhà giáo tràn đầy nhiệt huyết, hết lòng vì sự nghiệp giáo dục, trước hết là giáo dục tuổi thơ và một nền công nghệ hóa giáo dục; một người "chịu thua tất cả chỉ để được công nghệ giáo dục". Tấm lòng của người thầy và trí tuệ của nhà khoa học được thể hiện trong từng bài viết. (NXB Lao Động).


Quan điểm sáng tác

- Những bài viết của Hồ Ngọc Đại cho ta thấy cả chiều sâu và bề rộng của trí tuệ và tâm hồn một người cầm bút.
- Chiều sâu: Cả đời Hồ Ngọc Đại nhất quán một nỗi băn khoăn Giáo Dục. Cần có một nền Giáo dục mới. Một nền Giáo dục buộc phải mới tận nguyên lý của nó. Một nền Giáo dục tất yếu phải trở thành sự Cứu Nguy cho dân tộc, nơi trẻ em là những Anh hùng Thời đại. Và một nền Giáo Dục không bị thần bí hóa bằng lời hô hào "sáng tạo" suông. Mà là một nền Giáo dục công ghệ hóa, có thể triển khai theo cái mẫu được các nhà khoa học tạo ra bằng thực nghiệm, như một Hồ Ngọc Đại cùng các cộng sự đã làm ra, kể từ năm học 1978-1979.
- Bề rộng: Bạn đọc sẽ thấy cả một gam rộng lớn những điều Hồ Ngọc Đại quan tâm. Không phải sự quan tâm tiện đâu nói đấy, cái gì cũng can dự. Mà đây là một con mắt sắc sảo dõi theo những băn khoăn của người đời để rồi chủ động dùng trí tuệ và tấm lòng của mình cùng giọng văn dễ đọc mà tìm cách thuyết phục sao cho mọi người cùng sáng lòng và đều có thể sống hạnh phúc. Vì thế mà, chẳng hạn như trước nỗi buồn Liên Xô tan rã, Hồ Ngọc Đại có bài viết về vấn đề đó. Rồi anh cũng có những kiến giải về "Tự do", về "Dân chủ", về "Hôn nhân", về "Gia đình", về... nhiều mặt chộn rộn chuyện đương thời.


Các sách chuyên đề đã xuất bản
- Những vấn đề tâm lý học trong việc giảng dạy Toán học hiện đại ở các lớp cấp I (Luận án tiến sĩ tâm lý học, tiếng Nga, Matxcơva, 1976)
- Bài học là gì? (1985)
- Giải pháp giáo dục, NXB Giáo dục, 1991
- Đổi mới giáo dục, Trung tâm Công nghệ Giáo dục, 1995
- Tâm lý học dạy học, NXB Đại học Quốc gia, 2000
- Hồ Ngọc Đại Bài báo, NXB Lao Động, 2000
- Cái và cách, NXB Đại học sư phạm, 2003
- Chuyện ấy, NXB Lao Động, 2009

Nguồn: chungta.com


Nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn
An ninh thế giới cuối tháng
Thứ bảy, 04/07/2009



"Về bản chất nhà văn thời nào cũng thế thôi. Thời nào cũng thế, lúc nào cũng thế, chế độ nào cũng thế, bản chất của họ là cao cả. Không có nhà văn của tầng lớp này, tầng lớp khác đâu. Đã là nhà văn thì đó là hình tượng đẹp của nhân loại. Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại", Giáo sư Hồ Ngọc Đại chia sẻ.
- Thưa giáo sư Hồ Ngọc Đại, nhân cách con người và nhân cách của một nhà văn có gì khác biệt?
- Về bản chất thì không khác nhau. Nhà văn là một con người trên khía cạnh nào đó họ rất nhạy cảm. Nhà văn là con người nhạy cảm nhất trong những người nhạy cảm. Họ nhạy cảm tức là những cái biểu cảm nhận được về bản chất là có thực nhưng mà theo cách nhìn nhận của họ thì có thể chỗ này phóng lên, chỗ kia thu lại nhưng rồi cuối cùng tất cả những sự thật ấy đều qua nhà văn và trở thành tác phẩm, chứ nó không từ hiện thực thực tế mà nó đến tác phẩm.


- Sự nhạy cảm của nhà văn là cảm nhận được những cái không bình thường. Từ những cái mà theo con mắt nhà văn không bình thường thì sẽ thành tác phẩm. Độc đáo của nhà văn là ở chỗ đó. Tức là về bản chất nhà văn rất thành thật. Bản chất của nhà văn dù có như thế nào đi chăng nữa, nếu là nhà văn thì là lương thiện.

-Văn là người. Đọc văn sẽ nhận ra người, tác phẩm biểu hiện nhân cách lớn? Xã hội đang đặt ra vấn đề nhân cách của nhà văn hiện nay?
- Nhà văn phải có tác phẩm. Nhà văn mà không có tác phẩm thì không là gì cả, không thành nhà văn được. Tác phẩm là gì, là những gì tinh túy nhất của nhà văn. Nhà văn là một con người thuần túy, thuần túy nhất về tinh thần, quan tâm nhất tới những vấn đề thuộc về tinh thần. Ví dụ như đạo đức là tinh thần, tất cả những đau khổ, vui sướng của con người đều là tinh thần, và tuyệt đối trung thành với tinh thần ấy.

- Bản chất của nhà văn là vậy. Cũng như cái anh nói dối biết rất rõ sự thật và lời nói là thống nhất nên anh ta mới nói dối. Cũng như cái anh đạo đức giả là anh ta biết rõ nhất về đạo đức. Nhà văn cũng biết đích thực điều mà anh ta hướng tới, sự cao đẹp mà anh ta thể hiện.

- Vậy bản chất nhân cách của nhà văn là gì?
- Đã là nhà văn là cao cả. Có thể có những nhà văn hèn hạ, viết ra những tác phẩm yếu kém. Những kẻ như vậy không thể đáng gọi là nhà văn. Đó là buôn chữ thôi. Tôi xin nhấn mạnh lại đã là nhà văn là cao cả. Những kẻ làm hàng giả mượn chữ để mua chữ và bán chữ để đổi chác, những kẻ đó không phải là nhà văn. Nhưng những kẻ đó là ngoại lệ, là ít ỏi, cá biệt và không đáng gọi là nhà văn.

- Nhưng không thể đánh lừa được đôi mắt tinh tế và nhạy cảm của độc giả?
- Trong cuộc đời tôi thấy rằng, anh có thể đánh lừa được một người, một trăm người, một triệu người nhưng anh không thể đánh lừa được cuộc đời.

- Vậy nhân cách của nhà văn chính là trung thành với sự thật?
- Trung thành với cuộc sống thực ấy. Cuộc sống thực này nó như thế nào thì anh phải trung thành với nó. Tức là anh trung thực với cuộc sống thực ấy, chứ không phải trung thành với một ai cụ thể cả. Bất cứ một ai thì cũng phải lấy cuộc sống thực ấy làm căn cứ.
Nếu anh trung thành với một người nào đó mà không phải cuộc sống thực thì có khi anh sẽ gián tiếp xuyên tạc sự thực. Cho nên nhà văn phải vượt qua tất cả mọi quản ngại để anh đến với cuộc sống thực. Cuộc sống thực ấy là cuộc sống của toàn dân, của cả một thời đại, một dân tộc, một lớp người.

Cuộc sống bao giờ cũng thật, nếu không thật không tồn tại được. Muốn giả thì cũng phải có cái thật trước đã mới giả được. Nhân cách của nhà văn đầu tiên và cuối cùng phải gắn với cuộc sống thực.

- Tài năng và nhân cách có mâu thuẫn nhau không? Hay nó là hai phạm trù có thể tách bạch?
- Cũng không đáng kể, cũng có thể tách bạch ra được, tương đối được. Có những người họ không biết một chữ nào cả, nhưng nhân cách rất đáng kính trọng; họ không nói được một câu nên lời nào cả, nhưng cuộc sống của họ rất tốt đẹp, cao quý.

Và ngược lại có những người biết rất nhiều chữ nhưng nhân cách lại rất đáng khinh. Tôi nhắc lại đó là những người giả, đội lốt, vì bản chất của nhà văn là cao cả. Tất nhiên muốn có tác phẩm lớn là phải có tài năng, nhưng có một tài năng chưa chắc đã có một nhân cách lớn.

- Nhân cách nhà văn xưa và nay có gì khác nhau không?
- Về bản chất nhà văn thời nào cũng thế thôi. Thời nào cũng thế, lúc nào cũng thế, chế độ nào cũng thế, bản chất của họ là cao cả. Không có nhà văn của tầng lớp này, tầng lớp khác đâu. Đã là nhà văn thì đó là hình tượng đẹp của nhân loại. Nhà văn là một thành tựu, một kết tinh, một biểu tượng của nhân loại.

Còn những cái hèn hạ thì không chấp, ở đâu cũng có, ngành nào cũng có, lĩnh vực nào cũng có. Riêng về nhà văn thì phải giữ được cái thiêng liêng của nhà văn, đó là niềm hạnh phúc của nhân loại, nhân loại hạnh phúc vì có nhà văn.

- Xin cảm ơn giáo sư!
READ MORE - GS-TS HỒ NGỌC ĐẠI

Wednesday, April 14, 2010

VÕ THỊ NHƯ MAI- Chùm thơ về gia đình của VÕ VĂN HOA



CHÙM THƠ
VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH
CỦA VÕ VĂN HOA

Võ Thị Như Mai,
Tây Úc


Một buổi sáng đẹp trời đi lạc vào vườn thơ của Võ Văn Hoa, tha thẩn một hồi đến quên cả lối ra, rồi tự bảo, nhẩn nha thêm tí nữa, thêm tí nữa, cho đến khi chạng vạng, mới giật mình quay về với thực tại. Khu vườn mênh mông đó đưa tôi qua nhiều tầng cảm xúc khác nhau, dẫn tôi đến những địa danh khác nhau trên cả nước và gặp được rất nhiều người, từ những em bé mới chào đời, đến các cô thôn nữ miệng cười chúm chím, các O, các mệ, các ôn, các chú, các nhà nho, nhà giáo, thầy thuốc và những người làm các ngành nghề khác nhau trên mọi miền tổ quốc. Tôi tìm lại mình qua những vùng đất ngày xưa tôi đã dừng chân ở một miền quê hương Quảng Trị nắng, gió, mưa, bão, lụt lội. Tôi thấy tôi đi qua làng An Thơ, nơi có con sông Ô Lâu, tôi thường đi theo chị đi đò từ sông Mỹ Chánh về ở lại chơi đến chiều lại lên. Tôi thấy tôi dạo chơi qua các đình làng, xem các bé con đánh bi dưới cây ngô đồng. Tôi thấy tôi qua Bến Đá, Cam Lộ, Khe Sanh, Diên Sanh, Hải Thành không theo một trật tự không gian hay thời gian nào cả. Ký ức bềnh bồng, mênh mông khiến tôi trở nên mộng mị, và có một khao khát mãnh liệt muốn trở về lại trên mảnh đất ấy, để hoà mình vào thiên nhiên, nói chuyện với những người dân bình dị, sống ở đó một thời gian chứ không phải chỉ dạo qua như một người khách du lịch. Tôi chưa từng biết ai viết nhiều, viết hay, cặn kẽ và bao quát về nhiều địa danh be bé trên mảnh đất Quảng Trị này như thế, có chăng là khi bạn tập hợp lại các bài viết của các tác giả khác nhau, may ra bạn có một cái nhìn tổng thể.
Đã có quá nhiều người viết về thơ của Võ Văn Hoa, có quá nhiều người họa thơ anh, ca ngợi vẻ đẹp trong thơ anh và phân tích thế giới thơ bao la của anh. Đặc biệt, thạc sĩ Bùi Như Hải đã có hai bài viết rất cặn kẽ, thấu đáo và ngùn ngụt cảm xúc về rất nhiều phương diện trong thơ Võ Văn Hoa qua hai bài “Ở Một Chân Trời Yêu Thương” và “Thế Giới Thơ Võ Văn Hoa”. Mọi người viết về anh với một lòng ngưỡng mộ và kính trọng sâu sắc, một Tri Âm Các bề thế, một nhà thơ giàu lòng nhân ái, một nhà quản lý giáo dục được mọi người xung quanh ngấm ngầm yêu thương, qúy mến và nể trọng. Với tôi, thơ Võ Văn Hoa có thể được ví như một cô gái nhu mì, hiền lành và duyên dáng. Cái đẹp trong cô không làm các chàng trai phải lòng ngay cái nhìn đầu tiên, nhưng một khi đã tiếp xúc, khó ai có thể quên cô được, bởi vì cô không những dễ thương, trẻ trung, đằm thắm mà còn rất sắc sảo, thông minh và hài hước.
Với thời gian hạn hẹp và với cảm nhận của một độc giả yêu thơ, hôm nay tôi xin giới thiệu với mọi người một phần thế giới thơ dịu dàng, sâu lắng dành cho gia đình của Võ Văn Hoa. Cùng cảm nhận với tôi nhé. Tôi cố ý không phân tích từng đoạn vì tôi có quan niệm rằng đôi khi “phân tích là hũy hoại tính thống nhất”

1.
Vào một ngày hội Làng, nhà thơ nghĩ đến người mẹ dấu yêu của mình. Tác giả mượn Làng Văn để nói về mẹ. Mẹ cũng như các dì, các cô gái làng Văn nói chung, rất đẹp và nền nã. Đó là những cô gái đứng đắn, thùy mị, khiến bao chàng trai ngẩn ngơ, trong đó đặc biệt có một người, yêu đến “cháy lòng”. Qủa là một cái nhìn thật mỹ miều.
CON GÁI LÀNG VĂN
Mẹ ngày xưa chắc đẹp lắm
Con gái làng Văn đi lấy chồng
Có kẻ phong trần ngơ ngẩn tiếc
Từ đây vắng bóng một bông hồng.

Con lại về thăm quê ngoại ta
Hội làng vừa mới được mở ra
Các dì – con thấy đều xinh cả
Tuổi trẻ tình yêu đẹp mọi nhà

Con gái làng Văn bạn biết không ?
Đoan trang tính cách, má môi hồng …
Ruộng lúa, biền ngô … xanh tiếng hát
Ấm lòng bè bạn những chiều đông !

Hội làng khép lại… hẹn mùa trăng
Giã bạn bây giờ biết nói năng…
Con lại soi mình về thuở …bố
Cháy lòng bên mẹ cội làng Văn

2.
Người bố trong anh là một người thầy mẫu mực, đáng kính từ từng cử chỉ, từng lời khuyên răn. Nhờ bố, các con đã nên người, đã sống thực xứng đáng. Nhờ bố, con học được bài học làm người, giữ nếp đạo lý gia phong, giữ cái tâm trong sạch.
Bố – người thầy đầu tiên của con
Truyền dạy cho con những Minh tâm Bửu giám …
Lên chút nữa , qua truông dài rú rậm
Bố dắt con mỗi sớm đến trường
Thời gian khó, nhà đong từng bữa gạo
Nếp gia phong từ mũi chỉ đường kim
Bố răn dạy học văn, học lễ
Để mai sau con mãi kiếm tìm
Con đã lớn : Lập ngôn, lập chí
Bố vui sao những đứa con mình
Củng cố đời con, đời bố hy sinh
Con thấy bố – người “trồng người” hạnh phúc
Giờ sang tuổi tám mươi tai lãng, mắt mờ
Tâm vẫn sáng, nếp nhà xưa vẫn giữ
Ngày đi xa, con càng thêm hiểu bố
Bố mãi là người thầy trong trái tim con

3.
Một người rất quan trọng làm nên một Võ Văn Hoa toàn diện, đó là người bạn đời của anh, người luôn thấp thoáng trong rất nhiều câu thơ rải rác khắp nơi của Võ Văn Hoa, tôi tìm thấy bóng dáng chị trong bài thơ anh post gần đây:
ĐÊM NÓI GÌ CÙNG TA
Tiễn em về phố xóm
Ánh đèn mãi lung linh
Để rồi đêm huyễn hoặc
Chất sâu nặng ân tình
Tố Nga con đã ngủ
Vương ông mãi thức hoài
Chú Thạch Sùng di trú
Chắt lưỡi hoài không thôi
....................
4.
Nhắc đến Võ Văn Hoa thì mọi người không thể không nhắc đến người em trai cũng không kém phần tài hoa của anh, thạc sĩ, giảng viên CĐSP Quảng Trị, nhà thơ Võ Văn Luyến, người cho rằng “Tôi gieo chữ trên cánh đồng hạn hán, con chữ khô cong thành dấu hỏi quay về”. Hai anh em cùng nhau ngồi đàm đạo, khề khà về những ngày tháng cũ, cùng nói chuyện thơ văn, tất cả được khắc hoạ rất chi tiết qua bài “Lai Rai Cùng Chú Em Võ Văn Luyến”
LAI RAI CÙNG CHÚ EM VÕ VĂN LUYẾN
Ly này
Nhớ về tuổi thơ
Anh em ta trong mái ấm gia đình
Nghèo khó thương yêu!
*
Ly này
Nhớ ngày đến trường
Mẹ thổi cơm sớm
Cha đưa các con qua truông Cu Hoan hằng năm trời
Mong con học cái chữ làm người!
*
Ly này
Nhớ con sông chảy qua làng Thi Ông
Những chiều hè anh em tập bơi, tập lặn
Sông đi vào thi ca!
*
Ly này
Nhớ những năm chiến tranh
Đỗ Đại học, em xếp bút nghiên
Đất nước bình yên
Trở về giảng đường yêu mến
*
Ly này
Tạ ơn tổ tiên, ông bà, mẹ cha…
Đã hun đúc, sinh thành chúng ta
Phù hộ độ trì cháu con thành đạt!
*
Ly này
Mừng thế hệ sau bước tiếp
Kế thừa truyền thống cha ông
Thắp ước mơ hồng…
*
Và ly này
Ngưỡng vọng bà con bạn bè
Động viên và chia sẻ
Con đường xanh tiếng ve…

5.
Với con gái Võ Hoàng Phương, Võ Hoàng Yến, và cậu con trai giống ba như giọt nước, nhà thơ thể hiện tình yêu thương qua những trang thơ thật cảm động.
THƠ TẶNG CON GÁI VÕ HOÀNG YẾN
Ra trường về Gio Linh
Con làm bên “Chia sẻ”
Có bao điều mới mẻ
Tiếng Anh bao ngọt ngào!
*
Quê nhà những ước ao
Lại về nơi cố quận
Thế giới trong “Tầm nhìn…”
Niềm tin vào thông tấn
*
Rồi đến một ngày kia
Mùa xanh cây trĩu quả
Đường hoa thơm cỏ lạ
Sóng vui vỗ quanh đời!
*
THƠ TẶNG CON GÁI VÕ HOÀNG PHƯƠNG
Học hành lập nghiệp xong
Thiên chức người phụ nữ
Ngày con đi lấy chồng
Thơm hương mùi hoa sữa
*
Kê tính đã một năm
Ba mừng sắp lên ngoại
Quê chồng không xa ngái
Nên được gặp con luôn
*
Ba tâm tình việc lớn
Nhỏ nhẻ mẹ bảo ban
Trong đời thường bận rộn
Yêu thương con dâng tràn !
*
GỬI CON TRAI
Ba theo dõi bản tin thời tiết
Hà Nội mấy hôm đã trở mùa
Con trai ba chưa quen cái rét
Ở tầng 3 nhớ tránh gió lùa !
*
Đi học phải quàng khăn kín cổ
Năm đầu tiên rồi sẽ thích nghi
Mọi thách thức chỉ là trước mắt
Tự vượt lên mình nuôi chí nam nhi
*
Hà Nội ngoài trái tim cả nước
Trong ba còn một trái tim…

6.
Niềm vui cuộc sống gia đình chỉnh chu của nhà thơ còn được bồi đắp bằng tiếng cười trẻ thơ của cháu ngoại trong hai bài thơ “Yêu Thương Dành Cho Cháu Win” và “Cháu Tôi”
YÊU THƯƠNG DÀNH CHO CHÁU WIN
Hoãn chuyến tham quan Hà Nội*
Đưa con “vượt cạn” khuya này
Chuẩn bị lên làm ông ngoại
Bên ngoài mưa gió bay bay…
14h 35 cháu khóc!
Nội ngoại vang tiếng cười
Mai ngày cháu khôn lớn
Yêu thương dành cho đời!
*
CHÁU TÔI
*Cho Nhật Minh ngoại tôn
Ngoại đi công tác Hải Hoà
Cháu về quê nội, ngoại nhoà lệ thương!
Thấm thoắt đã mấy tháng trường
Ấm êm tay mẹ, ngọt đường bà ru
Canh chầy từ …gió mùa thu
Ngủ ngoan cháu nhé, chim gù ngoài kia
Ngoại đi rồi ngoại sẽ về
Tối nay vắng cháu bốn bề lắng yên
Nhớ cháu tiếng khóc ngoan hiền
Căn phòng lửa ấm xanh miền dấu yêu
Giờ còn khoảng trống bao nhiêu
Rộng thênh nỗi nhớ…
bao điều …cháu con!
Đêm nay ngoại ngủ không tròn…
*
Võ Văn Hoa đi đứng ra thơ, thở ra thơ, nói ra thơ và gủi gắm tình cảm của mình qua thơ. Bất cứ phút giây nào, đi đâu, gặp ai, nghe gì, đọc gì, cảm gì và nghĩ gì anh cũng trải dài trên trang giấy thành những vần thơ sóng sánh, bình dị, trong trẻo và êm dịu. Gửi đến anh những lời chúc tốt lành nhất của một người yêu thơ anh nhân kỷ niệm sinh nhật nhà thơ 15/4/2010.
VTNM
14/4/2010


READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI- Chùm thơ về gia đình của VÕ VĂN HOA

Saturday, April 10, 2010

LINH ĐÀN - GẶP TRƯƠNG QUÂN

Ảnh nghệ thuật của Thái Phiên



GẶP TRƯƠNG QUÂN


Bút ký của Linh Đàn


Năm ngoái tôi không nhớ ngày tháng nào, dường như cuối mùa mưa, vào một buổi chiều Lê Ngọc Phái gọi tôi xuống nhà chơi, người bạn lâu năm của tôi ngồi ngoài ghế đá, thấy tôi đến Phái vào lấy bình nước trà ra rót. Chúng tôi nói chuyện một hồi rồi Phái đưa cho tôi bài thơ đã vi tính sẵn, nói thơ của Trương Quân mời họa; Phái lật đật đi chở cháu còn tôi ngồi một mình đọc thơ, bài thơ có cái đề duy nhất một chữ “SỐNG”, tôi sực nhớ! Thôi chết rồi! Bài thơ này Trà Kim Long đưa mình cả tháng nay, hôm ở Chân Quê thi hội, nhét vào túi áo rồi quên lững đâu mất, tôi tự thấy mình có lỗi với Trà Kim Long nhưng may thay hôm nay Phái lại đưa tiếp. Tôi ngồi đọc đi đọc lại một hồi, bài thơ có cái gì đó mà làm tôi quá dễ thuộc, lát sau Phái chở cháu về rồi ngồi nói chuyện tiếp: Sao! bài thơ này anh thấy có dễ họa không? Tôi chưa kịp trả lời, Phái nói thêm: Chắc bài họa khó có thể theo kịp bài xướng, tôi thấy Phái nói đúng ý tôi, hay dở thì chưa dám nói đến, nhưng trong bài thơ này có cái “hào khí” riêng của tác giả, nên bài họa cũng là điều thử thách. Câu chuyện đang dở dang thì Phái lại có điện thoại, rồi tiếp theo mấy người khách tới chơi thành ra nói chuyện khác. Trong bữa cơm tối hôm ấy Phái rót cho mấy ly rượu khá ngon nốc sạch nên lúc về thấy lừng khừng, nhưng cũng đạp xe về, đường lúc này hết giờ cao điểm không kẹt xe nữa, thong thả cho mình vừa đạp xe vừa họa thơ, về đến nhà lấy giấy viết ghi vội thế là được sáu câu, còn hai câu kết mai sẽ hoàn thành…rồi đi ngủ. Thế mà mai lại viết được câu bảy mất câu tám, rồi cứ thế, không những một hôm mà đến hôm sau mới tạm ổn. Phái lại gọi đem bài họa của Linh Đàn đến để gửi cho Trương Quân, chờ anh sáng mai đến tám giờ, tôi không nhớ gọi điện thoại cho Phái ghi hay đem bài hoạ xuống nhà, miễn đưa cho Phái rồi thế là xong. Đến gần tết Phái gọi tôi xuống nhà Phái nhận tập thơ của Trương Quân gởi tặng, tôi lật ra trong đó có bài họa của tôi thế là đem về bỏ vào hộc tủ.


Cuối tháng 9 năm nay, trời Sài Gòn mưa hoài, lụt bão miền Trung đưa tin tới tấp, bà xã hoảng quá về quê thăm ngoại, ở nhà buồn thật, đường sá lầy lội nên cũng nhác đi chơi cờ tướng, chẳng có chi vui, vào kéo hộc tủ lựa quyển thơ nào mỏng đem ra đọc, còn đọc quyển dày sợ ngán.


Thế là tập thơ “SỐNG” của nhiều tác giả họa thơ Trương Quân đến nay mới được giở ra, đầu tiên đọc lời tựa thấy Trà Kim Long viết xưng với Trương Quân là anh, mình tự hỏi không biết tác giả có bà con gì mà xưng dễ dàng như thế, nhưng rồi thôi việc đó không quan trọng, chỉ cần đọc thơ. Linh Đàn bấy lâu nay đọc thì đọc phớt phớt thôi, nhưng hôm nay mới chịu đọc kỹ hơn một tý, tìm thơ người quen đọc trước rồi thơ người lạ đọc sau, hôm ấy đọc thơ chữ quốc ngữ mà đọc như chữ Hán, đọc sau đọc tới, chẵng mấy chốc gặp một cái tên thật hay: Mộng Thùy Trang, mà cái đề bài họa cũng khá linh động “Sống Đẹp” suy ngẫm mấy lần thấy hơi thơ quá lạ nên không biết Mộng Thùy Trang là phái nào, tuổi tác ra sao, cái tên nghe thật nữ sĩ mà dạn miệng đến mức, trước đây bắt gặp bài “Tháo rào” của Thuỷ Hương cũng đã không kém, thì tác giả bài họa này chắc là…(?). Do vậy tôi viết một bức thư gởi Mộng Thùy Trang ngay, đem đến cho chị Trần Lệ Khánh đọc trước rồi gởi sau, chị cũng thấy quá lạ lùng, nên điện thoại hỏi Kim Hoa, rồi trao điện thoại cho tôi nghe, Kim Hoa trả lời rất thoải mái: “Anh muốn biết đực hay cái anh đến gõ cửa là biết ngay thôi” Kim Hoa cười một cái thật dài rồi tắt máy. Trước khi gửi thư, Linh Đàn không quên photo một tờ để làm kỷ niệm và một tờ gửi cho cụ Trương Quân còn bản viết tay gửi cho Mộng Thùy Trang ở mãi An Khê xa thẳm.


Lâu quá thư gửi đi chẳng thấy hồi âm, sáng nay quyết định đi thăm cụ Trương Quân,xem cụ trả lời như thế nào. Trên đường đạp xe đi trong đầu đặt ra biết bao câu hỏi: Không biết cụ Trương Quân có vui tính không? nhất là người Huế nếu thuộc dòng vọng tộc đa phần khó thưa trình lắm, vì mình ở Huế lâu năm mà bồ nhiều lần dẫn vào các nhà quan lại ngày xưa: cách ngồi, cách nói, cách đi cái nào cũng có cái khuôn của nó, nhưng thôi cứ đi, gặp trường hợp nào cũng được; có ai làm chết chi mình đâu mà sợ, cứ hỏi đường Đặng Văn Ngữ mà đến, đi một khoảng ngó bên dãy số lẻ đã thấy số nhà 47B, dừng lại dẫn xe đạp vào dựng phía trong rồi bước lên thềm, thấy một cụ bà ngồi ở phòng khách, tôi cung kính chào mà chẳng thấy cụ trả lời chi hết, trong bụng mình nghĩ: Mình đoán đúng rồi nhà quan!, nhưng thôi cứ nán chờ, một lát sau thấy phía trong nhà có ông cụ đẩy xe ra (chiếc xe thay gậy) tôi cũng cung kính một lần nữa: Con là Linh Đàn xin được yết kiến cụ, ông cụ ngạc nhiên mà khuôn mặt thật vui nói: - Ồ, Linh Đàn đây à! Thôi mời ngồi xuống đây, cụ nói tiếp có chi đâu mà lễ phép dữ vậy. - Ngồi nói chuyện một lát người nhà mang ra một tách cà phê thật nóng chị vừa đặt xuống bàn thì có một người đàn ông mũi cao, cỡ tuổi bằng tuổi tôi bước vào, cụ mời ngồi vào ghế ngoài rồi giới thiệu ngay: Đây là nhà thơ Nhất Chi và giới thiệu tôi với người khách. Nhất Chi bắt tay tôi, lần đầu tiên tôi biết Nhất Chi, rồi cụ cũng giới thiệu tiếp, cụ chỉ vào cụ bà: Đây là nhà tôi, yếu lắm đi đứng không được và nói cũng không được nữa. Tôi một lần nữa cúi chào và tự hối trong lòng rồi tiếp tục đam đạo thơ, tôi vẫn giữ lễ, cụ bảo rằng: Linh Đàn đến đây là quý lắm rồi, cụ bắt xưng anh em cho gần gũi, có lớn hơn nhau bao nhiêu tuổi đâu mà phải xưng cụ cụ con con cho nó mất cái ấm cúng của tình thơ. Tôi mới vỡ lẽ Trà Kim Long xưng anh là như thế. Thôi bây giờ là anh em rồi, chẳng ngờ anh Trương Quân tế nhị đến thế.


Ngồi thêm không quá nửa giờ, tôi uống xong ly cà phê, rồi hỏi về Mộng Thùy Trang nhưng anh cũng không biết gì về người nữ sĩ ấy, lát sau anh Trương Quân mời qua quán nước đối diện bên kia đường, Nhất Chi dẫn Trương Quân còn tôi dẫn xe đạp đi theo, qua đến đó đã thấy có mấy người ngồi chờ, tôi chỉ có biết Điền Đăng, rồi Hoàng Duyên cũng họp mặt, anh Trương Quân ngồi gần tôi nói chuyện hết sức thân mật, tất cả dự đoán trên đuờng đi đều được giải toả mà còn lại một cái tình thật ấm áp trong lòng, lát sau có Trà Kim Long và Kim Hoa cùng tới, bầu không khí trở nên vui vẻ lạ thường.


Người thơ dường như xoá bỏ cái ranh giới tuổi tác, hè năm 1959 tôi cũng bắt gặp tại nhà nữ sĩ Tương Phố ở Nha Trang một lần, hồi ấy các cụ các bà gọi bà Đoàn Thị Điểm, Bà Huyện Thanh Quan và bà Hồ Xuân Hương bằng chị, có một lần khác tại sàn thơ Lan Đình-Bà Rịa, Phong Hồ rót ba chén rượu để giữa khay: Mời anh Lý Bạch, anh Cao Bá Quát và anh Tản Đà về dự đêm thơ với chúng em, đêm đó chẳng ai gọi Phong Hồ là ngông quá chén.



Tại quán nước ấy sáng nay để lại một dấu ấn khó phai, rồi khi chào ra về dường như có sợi dây thân tình nào đó muốn níu lại.


Viết dưới đêm mưa 12/10/2006


Linh Đàn


Bài xướng

SỐNG

Lối xưa vời vợi bước thăng trầm

Vẫn nhích dần lên đỉnh một trăm

Hồn cảm hoa cười trong sắc dịu

Dòng say trăng dậy giữa hương thầm

Qua mùa bạc thếch sầu sương khói

Đến lúc xanh dờn mộng tháng năm

Cát bụi nên hình vui cuộc sống

Ngại chi cây thọ chẳng cao tầm.

1/10/2005

TRƯƠNG QUÂN


Bài họa

BÓNG CẢ

Sương gió dễ đâu nhạt khói trầm

Phúc phần ngoái lại đã kề trăm

Men đời vị đắng càng am hiểu

Tuổi ngọc tình xanh mãi nhớ thầm

Trong cuộc trần hoàn ngang vạn nẻo

Giữa dòng nhân thế dọc ngàn năm

Nào ai nhấc nổi hương và sắc

Chỉ có thanh cao vượt quá tầm


Linh Đàn



SỐNG ĐẸP

Bản nhạc bài thơ câu bổng trầm

Anh thì tài đức vẹn bằng trăm

Giữ màu vọng tưởng ôm thương trộm

Tự nhủ ấp yêu khéo sớt thầm

Bởi trót si tình trai tám chín

Em đành chuốc nợ khoảng mười năm

Duyên tằm vấn vít chờ cây tổ

Phú Nhuận An Khê xa khuất tầm

Mộng Thùy Trang



LINH ĐÀN

READ MORE - LINH ĐÀN - GẶP TRƯƠNG QUÂN

Thursday, April 1, 2010

VÕ THỊ NHƯ MAI



Võ Thị Như Mai,
Master of Education

Sinh ngày: 18/3/1976

Nguyên quán: Mỹ Chánh - Hải Chánh - Hải Lăng - Quảng Trị

Nghề nghiệp: Giáo viên

Nơi cư trú: Tây Úc

Email: mai.vo@det.wa.edu.au




MỘT NGÀY TRỜI TRỞ LẠNH

Ở xứ người có loài kan- ga- roo

Cứ mỗi sáng chúng nhảy lui nhảy tới

Thảo nguyên trải dài vời vợi

Mơ quê hương ở cuối chân trời

.

Một chiếc lá cong khô chao rơi

Đã bắt đầu yêu nơi dừng chân này anh ạ

Chỉ sợ cuối thu gom mưa về nhiều quá

Mỗi giọt rơi là một nỗi nhớ người

.

Hôm qua trời trở lạnh không hay

Đi làm vội quên mang theo áo ấm

Ghé can- teen nhâm nhi tách trà nóng

Nghe tình ca thấy nhẹ hẫng cả lòng

.

Anh có thể dõi theo em mãi không

Sẽ còn những mùa thu sau nữa

Rất nhiều người ra đi, không ai nhớ

Ngày trở về, tóc đã trắng như bông

.

Ở nơi này giữa thảo nguyên mênh mông

Có bầy kan- ga- roo cứ nhảy lui nhảy tới





CHUYỆN NHỮNG CÂY CẦU



Chiều ơi

Sao mà nắng vàng như thế

Ngày mai ơi

Sao mà mây trôi thênh thang

Và tôi ơi

Những cây cầu bắt ngang

Chần chừ làm chi

mà không sang bên ấy?

.

Những câu chuyện vui tôi dành cho em đấy

Hoa hồng dịu dàng tôi giấu vào tim

.

Những giấc mơ đêm

Ôi những giấc mơ đêm

Sẽ chỉ cần vài giây

Mình nắm tay nhau băng qua phố vắng

.

Xá chi những lời trách mắng

Xá chi những lời điêu ngoa

Tôi bận viết nốt bản tình ca

Để mình nhìn nhau mà hát

.

Em như những nốt nhạc

Tung tăng trên cánh đồng

Đôi mắt nhìn mông lung

Tôi lặng người mà ngắm

.

Mình yêu nhau

ôi mình yêu nhau say đắm

Gần như là cuộc sống

Gần như là giấc mơ

.

Nhưng

tôi phải trở về

trong những chiều bơ vơ

Để lặng yên nhớ em

Để mỗi đêm nghe trái tim biết khóc

Để ngày qua ngày bạc thêm màu tóc

Để em là người cuối cùng

Trong quãng vắng đời hoang




BÀI THƠ VỀ HẠNH PHÚC

Tất cả điều em muốn

Tất cả điều em mong

Là ánh mắt anh trong

Nhìn về em trìu mến.


Khi nụ cười anh đến

Yêu thương em lại về

Trăm ngàn con sóng quê

Vỗ về lên bờ cát.


Lắng nghe chiều gió hát

Biển vẫn ôm lấy bờ

Anh đừng nghĩ vẫn vơ

Yêu anh không thể dứt.


Biển yêu bờ là thật

Em yêu anh thì sao

Giữa ngàn sóng lao đao

Tình yêu thành cổ tích.


Con chúng mình tinh nghịch

Nụ cười vang khắp nhà.

Anh mà có đi xa

Chỉ một hôm là nhớ




KHOẢNG CÁCH MỸ HỌC

Có thể gầy như que diêm
Anh lỡ ném xuống bàn sau khi châm thuốc
Có thể chỉ tiếng chân em quen thuộc
Khi anh trầm ngâm giải một phương trình


Khoảng cách giữa chúng mình
Là một chút ưu tư, là một chút bất bình
Khi anh lỡ quên
Tặng em chiếc hôn trước một ngày ra đi vội vã


Cái khoảng cách không là khiếm nhã
Khi anh ngồi tư lự bên sông
Viết tặng em bài thơ, với tình cảm rất nồng
Em nghĩ về những ngày xưa khi không có anh ở đó


Cái khoảng cách đôi khi rất nhỏ
Nhưng đủ để em vẫn là em
Dịu dàng như cái lần mình gặp nhau trước ngõ
Đủ để anh vẫn là anh
Ngại ngùng khi được nắm tay em lần đầu


Rồi con chúng mình cũng sẽ lớn mau
Cu Tí, cái Tèo
Chúng nó sẽ xinh như em
Và cùng nhau đọc mấy bài thơ của bố


Cái khoảng cách mỹ học
Có thể đôi lần làm em khổ
Nhưng sẽ giữ cho ta
Vẫn mãi yêu nhau như buổi hẹn ban đầu




Mời đọc tiếp thơ và sáng tác khác của Như Mai trên:


READ MORE - VÕ THỊ NHƯ MAI

Tuesday, March 30, 2010

NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA






Tiểu sử Nhạc sư Nguyễn Hữu Ba
(1914-1997)

Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, nhà nghiên cứu cổ nhạc và là bậc nhạc sư về ngành cổ nhạc Việt Nam, bút hiệu Đạo Tâm, quê làng Đạo Đầu, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.

Thuở nhỏ ông học ở Huế, đến năm 8 tuổi bắt đầu học đàn. Năm 16 tuổi (1930), ông đã hoà nhạc cổ truyền vào dĩa hat Beka của Đức phát hành rộng rãi tại Việt Nam thời đó. Năm 1932, ông lại áp dụng hệ thống ký âm pháp Tây phương vào cổ nhạc Việt Nam được giới âm nhạc tại Huế rất tán thưởng.

Năm 1938 ông đoạt giải nhất đàn nhị huyền tại Hội chợ Huế.Năm 1940, ông viết cuốn "Tự học đàn nguyệt". Ông tiếp tục nghiên cứu và từng bước hoàn chỉnh ký âm pháp Việt Nam.

Năm 1938, ông đậu Thủ khoa về đàn nhị, được triều đình Huế tặng thưởng Huy chương Long Bội Tinh và vinh tặng Hàn Lâm viện Đãi chiếu vào năm 1950.

Là người yêu nước, Nguyễn Hữu Ba ra vùng căn cứ sau khi thực dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai.

Sau Việt Minh lên nắm chính quyền vào tháng 8-1945, ông đã lui về sống ở Quảng Trị cho đến năm 1950 thì vào lại Huế lập Viện Tỳ Bà nhằm phục hưng nền quốc nhạc Việt Nam.


Ngày nay, những nghiên cứu của ông được dùng giảng dạy ở các nhạc viện và được phổ biến ở nhiều nước .

Một thời gian sau, ông được phép trở lại nội thành Huế, tiếp tục hoạt động âm nhạc . Năm 1948 ông thành lập "Tỳ bà Viện" và được bổ nhiệm làm Giám đốc Trung tâm phục hưng Quốc nhạc Việt Nam.

Ở Huế, ông dùng nhạc phẩm làm vũ khí đấu tranh và động viên lòng yêu nước của nhân dân vùng bị giặc chiếm. Bài Thu khói lửa, tiếp theo là một loạt bài , trong đó có bài Tình người miền Nam tiễn đưa người ra Bắc tuyên truyền động viên và kêu gọi đồng bào miền Nam đấu tranh đòi nguỵ quyền thi hành Hiệp định Geneve, hiệp thương tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Vì những bài hát "Tuyên truyền" ông bị bắt vào nhà tù hai lần (1952 và1955).

Từ năm 1960, ông giảng dạy tại trường Quốc gia âm nhạc Sài Gòn. Ông tham gia phong trào hoà bình ở Sài gòn - Chợ Lớn do các trí thức Nam Bộ thành lập.

Tại Sài Gòn, ông là Trưởng khoa ngành Quốc nhạc tại Trường Quốc gia Âm nhạc và Kịch nghệ Sài Gòn (1957), hợp tác với nhạc sĩ Trần Văn Khê thực hiện đĩa nhạc dân tộc Việt Nam cho UNESCO (1969). Ông giảng dạy lý thuyết âm nhạc tại các Viện Đại học Huế, Sài gòn, Vạn Hạnh.

Trong thời kỳ chống Mỹ, ông là Ủy viên Ủy ban Trung ương mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam (với tên là Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tứ). Năm 1966, ông là thành viên Ban Chủ tịch Lực lượng Bảo vệ văn hoá dân tộc, giảng dạy âm nhạc tại Nhạc viện Thành phố cả sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng, tổ quốc thống nhất. Ông là cố vấn của Ban Khoa giáo Thành uỷ về giáo dục âm nhạc trong trường học. Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba được nhà nước tặng thưởng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú.



Nguyễn Hữu Ba là một vị nhạc sư bậc thầy, một nhà nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam sắc nét, ông đã sử dụng nhuần nhuyễn 2 loại tân nhạc và cổ nhạc, tác phẩm của ông đều có giá trị nghệ thuật sâu sắc.

Ông mất ngày 14-7-1997, thọ 83 tuổi. Các tác phẩm chính của ông có thể được liệt kê như sau:

-Tự học đàn nguyệt (tự xuất bản 1940);
-Bản đàn tranh (cổ nhạc), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951;
-Vài thiên kiến về âm nhạc (lý thuyết), Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
-Nhạc pháp Quốc học, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1960;
-Bản đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn Tỳ Bà, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn độc huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Đàn nhị huyền, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Bài ca Huế, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Phương pháp học đàn tranh, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1962;
-Dân ca Việt Nam, BQGGD xuất bản, 1961;
-Dĩa nhạc Việt Nam I, UNESCO thu âm và phát hành, 1969;

Loại tân nhạc:
-Quãng đường mai, tự xuất bản, 1940;
-Xuân xuân, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1947;
-Lửa rừng đêm, Viện Tỳ Bà xuấn bản, 1947;
-Thu khói lửa, Tinh Hoa xuất bản, 1950;
-Tiếng hát quân Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1950;
-Ánh dương trời Nam, Viện Tỳ Bà xuất bản, 1951
..........................


Một trong những hoạt động của những đoàn thể học sinh, sinh viên, thanh niên, hướng đạo... Khi đi cắm trại với nhau, là được tham dự những đêm họp mặt quanh đống lửa. Không có gì thích hơn, tất cả anh chị em tụ họp với nhau ca hát, ngâm thơ, kể chuyện, bàn luận...

Thường những trại lửa là một dịp để mọi người quây quần:
Bạn cùng ta, nắm tay múa ca
Cho đời bừng sống dưới màn sương đông
Máu nồng thêm hăng, bên lửa đêm bập bùng
Tùng tùng tịnh tùng
Bình bùng bình bùng, tang tình tang tình tình...

Ðó là phần mở đầu của bài hát Lửa Rừng Ðêm viết theo điệu Rumba của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba. Cách đây hơn một nửa thế kỷ, nhạc sĩ Ba đã sáng tác những bài Tân Nhạc kêu gọi lòng yêu nước, dấy động ý chí quật cường, khuyến khích hoạt động thanh niên Việt Nam.

Tiến, một bản Tân Nhạc khác của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba, được viết như một câu chuyện. Vào đoạn mở đầu là tiếng kèn thúc quân, qua đoạn giữa với lời người chỉ huy và đoạn cuối cùng khi quân dân cùng tiến bước ra sa trường.

Một bản nhạc khác, Tiếng Hát Quân Nam, nguyên là bài Liên Hườn, một khúc hành quân xưa trầm, hùng được ông Ba đặt lời mới và thêm vài cung cho hợp với nhạc cụ Tây Phương.

Ða số những người Việt Nam biết đến Nguyễn Hữu Ba vì Quảng Ðường Mai (lời của Sơn Tùng) và Lửa Rừng Ðêm, hai bản Tân Nhạc nổi tiếng nhất của Nguyễn Hữu Ba. Hai bản nhạc này đã được ghi âm vào đĩa hát 78 vòng ở Paris, do hãng đĩa ORIA phát hành ở Sài Gòn thập niên 1950. Ca sĩ Hải Minh tức nhạc sĩ Trần Văn Khê, người sau trở thành giáo sư tiến sĩ âm nhạc của trường Ðại Học Sorbonne ở Paris, đã trình diễn hai bản nhạc của nhạc sĩ Ba.

Nhưng di tặng (legacy) lớn lao của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba lại ở Cổ Nhạc Việt Nam.

Thông thạo nhạc cổ truyền, Nguyễn Hữu Ba có tiếng về tiếng đàn nhị tại Huế. Thêm nữa, ông chuyên cả độc huyền cầm và đàn tỳ bà. Chính nhạc sĩ Ba đã dùng tài nghệ trình diễn những loại đàn dân tộc này, để mưu sinh trong một thời gian ở Ðất Thần Kinh.

Ðộ một năm sau Hiệp Ðịnh Genève 1954, ông vào miền Nam trở thành giáo sư Cổ Nhạc ở trường Quốc Gia Âm Nhạc ở Sài Gòn, cho đến khi ông quay lại miền sông Hương núi Ngự làm giám đốc viện Âm Nhạc Huế. Tỳ Bà Trang của Nguyễn Hữu Ba có tàng trữ rất nhiều cây đàn cổ nhạc Việt Nam quý giá và những tài liệu thu thanh, cũng như sách vở về âm nhạc.

Giáo sư nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba có công rất lớn trong việc bảo lưu nhạc cổ truyền dân tộc nhất là nhạc Miền Trung và Dân Ca Việt Nam. Công trình về Cổ Nhạc Việt Nam của ông có thể chia thành sáu phương diện khác nhau: trình diễn, khảo cứu, sáng tạo, cổ động và giáo dục. Học trò âm nhạc của ông rất nhiều và rất nhiều nhiều người ngày nay đã thành danh như các nữ nhạc sĩ Phạm Thúy Hoan (Sài Gòn), Phương Oanh (Paris), Quỳnh Hạnh (Paris)...

Những nét đại cương về thành quả của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba như sau:

* 1940: xuất bản quyển sách Tự Học Ðàn ở Huế.
* 1950: xuất bản quyển Vài Thiển Kiến Về Âm Nhạc tại Huế. Quyển sách này viết về sự thành lập Tỳ Bà Trang và quan niệm, hoài vọng cùng lý tưởng đối với tiền đồ nhạc Dân Tộc.
* 1956: viết quyển Ca Huế Cổ Truyền có ghi ký âm cho 10 bài Ngự, còn gọi là Thập Thủ Liên Hoàn, theo ký âm nhạc Tây Phương trên khuôn nhạc 5 dòng.
* 1961: viết quyển sách Nhạc Pháp Việt Nam.
* 1963: xuất bản các tập nhạc nhỏ về bài bản đàn tranh, bài tập cho đàn độc huyền, đàn nhị và tập nhạc Pháp cùng nhạc Việt Nam.
* 1966: thu thanh tài liệu Nhạc Huế (các loại Nhạc Cung Ðình và Nhạc Phật Giáo), Ca Huế để giao cho cơ quan UNESCO thực hiện thành đĩa 33 vòng VIETNAM 1. Ðĩa nhạc này kèm theo bài viết do giáo sư Trần Văn Khê khảo cứu biên soạn bằng 3 thứ tiếng Pháp Anh Ðức chú trọng về phân tích âm nhạc đã được hãng đĩa Barenreiter Musicanhon phát hành năm 1969. Ðĩa nhạc VIETNAM 1 đoạt giải thưởng Deutscher Schallplatten Preis và thêm giải Academie du Disque Francais.
* 1971: đĩa VIETNAM 2 xuất bản, cũng do nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba cung cấp tài liệu.
* 1998: cả hai đĩa VIETNAM 1 và VIETNAM 2 được hãng đĩa Rounder Records ở Hoa Kỳ tái bản dưới hình thức CD.

Hai đĩa nhạc VIETNAM là công trình rất to tát, rất có giá trị của nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba.

Giáo sư Nguyễn Hữu Ba, người nhạc sĩ đã hiến dâng gần như trọn cuộc đời mình cho Cổ Nhạc Việt Nam, đã âm thầm từ giã cõi đời, vài năm trước năm 2000.

Theo Phạm Anh Dũng (dactrung.net)


LỬA RỪNG ĐÊM
READ MORE - NHẠC SĨ NGUYỄN HỮU BA