Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Friday, February 26, 2010

TRẦN TÍCH - MƯA CHIỀU KHE SANH

Nhạc sĩ Trần Tích ( người cầm đàn)





Trước khi trở thành nhạc sĩ chuyên nghiệp, Trần Tích là người hoạt động trong phong trào âm nhạc thị xã Đông Hà, là cán bộ của phòng VH-TT. Viết nhiều thể loại nhạc cho kịch, cho múa, độc tấu nhạc cụ; trong đó ca khúc chiếm ưu thế. Từ cuộc sống lao động khẩn trương, sôi động của người dân Đông Hà dựng xây lại “Thị xã ngã ba” nơi anh cư trú, Trần Tích đã sáng tác ra nhiều ca khúc mà đa phần đều choáng ngợp trước sự thay đổi nhanh chóng của quê hương: Bài ca người thợ thêu; Tình ca người khai thác; Nghề em thấm đượm nghĩa tình; Mùa xuân của chúng ta; Khúc hát trên công trường thuỷ lợi cầu Đuồi... đều là những ca khúc anh dành riêng cho Đông Hà. Nhưng phải đợi đến năm năm sau (1980) khi “Nhịp chèo sông Hiếu” ra đời, Trần Tích mới chính thức bước vào con đường làm nghệ thuật chuyên nghiệp. Nhưng trước hết hãy xem cái gì tạo nên thành công ở ca khúc này.

Đã có lần anh tâm sự với đồng nghiệp Võ Thế Hùng như sau: Một đêm, gió lào đầu mùa ào về như con ngựa tung vó trên từng ngọn tre, làm xào xạc cả đôi bờ sông Hiếu. Anh đứng trên cầu Đông Hà dõi mắt về phía cửa sông, ánh sáng vàng mơ của trăng hạ tuần đang lan ra trên từng gợn sóng, phía bờ Nam điện sáng lung linh. Một giọng hò ai đó cất lên lan toả một vùng sông nước, một mái chèo nhẹ lướt trong đêm. Trong miên man anh nhớ lại, chính trên dòng sông Hiếu này đoạn gần ngã ba Gia Độ, quân và dân địa phương đã phối hợp với bộ đội chủ lực dựng lên thế trận “Bạch Đằng giang” tuyệt đẹp, nhấn chìm nhiều tàu chiến Mỹ vào một ngày xuân 1968... Bằng nhịp chèo, thông qua nhịp chèo, tác giả đã chuyển tải đến cho người nghe bức thông điệp về mảnh đất, con người Đông Hà anh dũng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ bao nhiêu thì nay hồ hỡi, náo nức bấy nhiêu trong công cuộc tái thiết, xây dựng cuộc sống mới. Bức tranh sinh động ấy đã được tác giả triển khai trên một cặp phạm trù đối xứng có sự kế thừa giữa quá khứ / hiện tại bằng nhiều cụm ca từ trong sáng, súc tích tương xứng với tuyến giai điệu lên bổng xuống trầm, kết hợp nhiều loại hình tiết tấu từ điệu hò khoan và những điệu hò sông nước của quê hương. Có thể nói sự vận dụng ấy khéo léo đến mức ca khúc “lấp lánh, lung linh, có đoạn đang rạt rào như sóng gió mùa hè, bỗng nhiên dịu dàng như một lời nhắn nhủ”:

Em chèo thuyền đi / em chèo thuyền đi / Anh nghe chăng tiếng gọi năm nào / Khoan khoan hò khoan... Thuyền em đưa quân đến / Thuyền em đưa quân về / để em nhớ em mong / Khoan khoan hò khoan ơi khoan hò khoan...

Dòng sông Hiếu quê em / những chiến công lịch sử anh hùng / Nơi đây chèo em khua quân thù khiếp sợ / Giọng em hò giặc Mỹ run tay / Khoan khoan ơ hò khoan ơi khoan hò khoan...

Tiết tấu có vẻ như hành khúc, ấy thế mà nghe vẫn thấy sự đong đưa, dìu dặt, mênh mang thật khó diễn tả. Đặc biệt tiếng xô tập thể đã tạo nên sự vang vọng trầm hùng, lắng đọng mà mênh mông vô tận, trải dài lan toả theo sóng nước Hiếu Giang. Đã đành âm nhạc là cái gì đó thật khá trừu tượng mà người nhạc sĩ có nhiệm vụ giúp người nghe cảm nhận cho dù đó là cảm nhận mơ hồ bằng biểu tượng âm thanh về cái hay, cái đẹp của cuộc sống hôm qua và hôm nay. Với “Nhịp chèo sông Hiếu”, nhạc sĩ Trần Tích đã dâng tặng cho Đông Hà một giai điệu xanh mát nhẹ nhàng, ca khúc đi vào lòng người, gây được ấn tượng khó quên trong lòng người nghe. Chính vì thế mà bài hát được chọn làm nhạc mở đầu cho bộ phim “Đông Hà mảnh đất con người”, là một trong tám ca khúc hay được tuyển vào album nhạc đầu tiên (1990) chủ đề về quê hương, mảnh đất, con người Quảng Trị. Tất nhiên sau này anh có nhiều ca khúc hay như bài “Mẹ”, “Nhịp cầu Xuyên Á”, “Mưa chiều Khe Sanh”, “Đón Bác về thăm quê cháu”... nhưng đó là những giai điệu tác giả dành cho cuộc đời nói chung.

Trích từ bài: NHỮNG CA KHÚC TIÊU BIỂU VIẾT VIẾT VỀ ĐÔNG HÀ MANG ÂM HƯỞNG DÂN GIAN trên trang http://www.dostquangtri.gov.vn/ ( không rõ tác giả)




Mưa chiều Khe Sanh

Tác giả: Trần Tích. Ca sỹ thể hiện: Vân Khánh.
Được tìm từ: http://www.ohnhac.com/viet148414/anh_phuong.html



Chiều Khe Sanh nghe gió về
Chiều Khe Sanh mây trắng bay
Từng hạt mưa chiều rơi
Gọi đàn chim về núi
Ngồi bên nhau nghe tiếng sương
Chiều nghe mưa
mưa nói gì

Từng hạt mưa dịu êm
Gọi màu xanh bừng sáng
Từng hạt mưa chiều nay
Cho ta về với nhau

Mưa, mưa, mưa
xua đi bao nhọc nhằn
xua đi bao muộn phiền
Mang đến những niềm vui
Cho Khe Sanh Khe Sanh xanh mãi
Cho tình yêu tình yêu ở lại
Ấm áp những vòng tay
Ấm áp những làn môi
Thắm thiết thắm thiết những nụ hôn
Yêu, sao yêu sao chiều Khe Sanh
Yêu, sao yêu sao một màu xanh
rạng rỡ

Sau cơn mưa Khe Sanh
Sau cơn mưa Khe Sanh
Còn lại còn lại màu xanh
Và còn lại còn lại tình yêu!

Nghe ca khúc MƯA CHIỀU KHE SANH
READ MORE - TRẦN TÍCH - MƯA CHIỀU KHE SANH

Thursday, February 11, 2010

Nữ nhạc sĩ QUỲNH HỢP





Nữ nhạc sĩ Quỳnh Hợp
và những ca khúc phổ thơ
của Mai Thanh Tịnh và Xuân Lợi

Nguyễn Khắc Phước giới thiệu


Nữ nhạc sĩ Quỳnh Hợp hiện đang công tác tại Đài Tiếng Nói Nhân Dân TP Hồ Chí Minh đã hai lần đến thăm Quảng Trị. Lần đầu(tháng 6/2007) nhân kỷ niệm 60 năm ngày thương binh liệt sĩ và một lần khác vào dịp cùng đoàn CCB TPHCM về thăm lại chiến trường xưa nhân kỷ niệm 50 năm mở đường Trường Sơn huyền thoại (tháng 5/2009).

Trong hai lần đó, chị đã có dịp đặt chân đến những miền quê xa xôi nghèo khó, gặp gở những người dân chất phác thật thà sống cam chịu lao động vất vả trong không khí khô nóng của gió lào bỏng rát thổi suốt mùa hè. Đặc biệt chị đã vào thăm Cổ Thành nơi đã thấm máu biết bao chiến sĩ anh dủng trong trận đánh 81 ngày đêm lịch sử, đã viếng thăm Nghĩa Trang Trường Sơn, nơi yên nghỉ của hơn 10 ngàn liệt sĩ của cả nước đã chiến đấu và hy sinh trên dảy Trường Son thuộc tỉnh Quảng Trị. Chị biết mình đang đứng trên một miền đất đã trải qua và chịu đựng gian khó vào bậc nhất trong chiến tranh, đang gặp những anh hùng đã từng xông pha lửa đạn để diệt được nhiều giặc, đưa nước nhà đến thống nhất vẹn toàn và đang tiếp xúc với những người dân Quảng Trị đang lao động hết mình trong khó khăn để xây dựng lại quê hương.

Trong lúc chị đang dự định viết ít nhất là một ca khúc cho miền quê anh dủng này thì tình cờ chị gặp hai nhà thơ Quảng Trị “chính hiệu”, đó là Mai Thanh Tịnh và Xuân Lợi, cả hai đều đã trải qua tuổi niên thiếu trong bom đạn của chiến tranh nơi miền quê nghèo khó và đang thực sự lao động để dựng xây quê hương. Ngoài công việc ở công trường hoặc cơ quan, họ còn lao động nghệ thuật để diển tả trong thơ của họ những cảm xúc về con người và sự chịu đựng gian khó của họ trong nghịch cảnh cũng như sự vươn lên trong hòa bình, về cảnh đẹp thiên nhiên của quê hương, về kỷ niệm thời ấu thơ và tình yêu đôi lứa. Chị nhận thấy những cảm xúc của mình đã được hai nhà thơ này bằng ngôn ngữ thi ca đã diễn tả khá đầy đủ, và thế là những ca khúc phổ thơ Mai Thanh Tịnh và Xuân Lợi lần lượt cho ra mắt công chúng.

Nhạc Sĩ Quỳnh Hợp viết, “Lời chào đầu tiên đầu tiên của Quỳnh Hợp với Quảng Trị anh hùng là ca khúc Chiều lên đỉnh Sa Mù phổ thơ Mai Thanh Tịnh. Đó là những âm vang của Trường Sơn huyền thoại và những cảm nhận còn tinh khôi của mình về mảnh đất Quảng Trị một thời bị bom cày đạn xới, tận mắt thấy và đắm mình trong sông núi Trường Sơn - nơi thấm máu xương bao CHIẾN SỸ TRƯỜNG SƠN…rồi sau đó là những ca khúc Hải Lăng đất mẹ ngọt ngào, Một thoáng Phương Nam, Đêm độc hành, Tìm thu xưa… và ca khúc Giấc mơ ứa màu (viết cho ngày da cam) đã có những hiệu ứng tốt đối với người nghe.”
Về ca khúc Hải Lăng đất mẹ ngọt ngào, Quỳnh Hợp đã diễn đạt bằng ngôn ngữ âm nhạc để nó “ phảng phất âm hưởng dân ca Quảng Trị. Giai điệu bài hát đẹp, ngọt ngào “khoe” cái vẻ hồn nhiên, tươi mới và đáng yêu của một miền quê. Một bức tranh thật quen và thật lạ mang hồn quê dịu ngọt, nên thơ giữa nắng cháy Quảng Trị làm cho ta thấy yêu một vùng đất dù chưa một lần đặt chân. Nghe bài hát có thể cảm nhận cái lắng sâu thanh bình của một vùng đất “đã qua rồi thương đau thời binh lửa” về đây nghe “chiều nắng hát đong đưa”…
Ca khúc Chiều lên đỉnh Sa Mù, “là ca khúc mang âm hưởng dân ca của người Vân Kiều sẽ đưa người nghe lên đèo Sa Mù trong chòng chành men say. Cái say không chỉ của đường đèo quanh co, khúc khỉu mà còn là cái say trước cảnh quan thật đẹp, thật quyến rũ của những cánh rừng Trường Sơn một thời bom đạn giờ đang khoác lên mình chiếc áo mới. Con đường trải nhựa phẳng như dải lụa, uốn lượn, cao dần theo sườn núi. Rừng đã hồi sinh sau những tháng năm bị chất độc da cam hủy diệt. Sự sống đang bừng lên từng ngày. Một vùng đất đang chuyển mình đổi mới với Hội Sim say đắm – Rượu Cần nồng môi.”
Chị còn khám phá một Mai Thanh Tịnh qua ca khúc Đêm độc hành với nỗi cô đơn da diết trong đêm ngồi đợi hoa quỳnh nở với sự kết hợp ngôn ngữ bóng bẩy khá mới lạ, “Đắng chát đêm hoang. Chua lè tình ái. Cay nồng khắc khoải. Nhạt mắt môi mềm…”
Khác với Mai Thanh Tịnh với ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, từ ngữ chọn lọc, biểu cảm tinh tế, chị tìm thấy một Xuân Lợi “hồn hậu, mộc mạc, trong trẻo và hồn nhiên”. Lần lượt 4 ca khúc phổ thơ Xuân Lợi ra đời: Tìm về, Đường bông tím, Bỗng và Bóng cau.

Ca khúc Tìm về, một ca khúc mang âm hưởng dân ca dịu nhẹ, “mang nổi nhớ thương khắc khải về làng quê Hà Thượng nghèo khổ với bao kỷ niệm của thời ấu thơ” và ca khúc Một ngày nơi đảo Cồn Cỏ “nghe nói đã trở thành “Đảo ca” rất được yêu thích.”
Để kết thúc bài này, chúng ta cùng nghe một vài ca khúc của Quỳnh Hợp để thưởng thức tài năng âm nhạc của chị qua tiếng hát điêu luyện của Trang Nhung, một ca sĩ quê Quảng Ninh “có chất giọng dân gian ngọt và khả năng biểu cảm đa dạng” và ca sĩ Y Jang Tuyn trầm ấm ngọt ngào.


READ MORE - Nữ nhạc sĩ QUỲNH HỢP

Tuesday, February 9, 2010

NGUYỄN HỮU LIÊM


















Ls Nguyễn Hữu Liêm (Ảnh trích từ voanews.vietnamese.com)


















Baltasar Gracian



Trí tuệ Gracian: Từ trong chính bạn, hãy chinh phục khuyết điểm của dân tộc mình.

Trong một chiều ngày cuối năm, ngồi trong văn phòng một mình ở trường Đại học Thành phố San Jose, California tôi nhìn ra bãi cỏ xanh và cảm nhận được một nỗi bình an giữa mùa đông đơn giản. Vươn tay lấy cuốn “The Art of Worldly Wisdom” của Baltasar Gracian nằm trên kệ sách trước mặt, tôi gác hai chân lên bàn. Dở nhanh các trang, tôi đọc lại những đoạn văn mà tôi đã gạch dưới. Lạ thật! Những điều này tôi đã đọc nhiều lần, trích dẫn rồi, mà vẫn còn như mới. Tiếng chuông báo thức cần phải reo lên nhiều hồi.

Gracian viết, “Từ trong chính bạn, hãy cố gắng chinh phục được những khuyết điểm của dân tộc mình. Giòng nước, dù có trong sạch bao nhiêu, cũng phải bị ảnh hưởng bởi đất sỏi mà nó đã chảy qua. Cũng như thế, con người nhuốm màu sắc văn hóa dân tộc mà mình đã sinh ra và lớn lên. Kẻ thì ít, người thì nhiều, tất cả đều là sản phẩm của văn hóa cộng đồng. Không có một dân tộc nào mà không mang một số khuyết điểm văn hóa. Do đó, hãy ý thức được những bản chất tiêu cực văn hóa của mình để mà loại trừ nó ngay trong chính bản thân. Hay ít nhất thì cũng che đậy chúng. Mỗi cá nhân là một tập hợp của nhiều khuyết điểm, từ di truyền, gia đình, cộng đồng đến thời đại. Nếu không nhận thức ra những khuyết điểm này, và nếu không cẩn thận để trau dồi bản thân và kiềm chế chúng, con người sẽ trở thành những dị vật xấu xa.”

Baltasar Gracian là một tu sĩ giòng Jesuit ở Tây Ban Nha vào thế kỷ thứ 17. Những tư tưởng của ông đã ảnh hưởng đến những vĩ nhân lịch sử, từ Schopenhauer đến Churchill, Nietzsche và Gide. Riêng trường hợp Churchill, người hùng của Anh quốc trong thế chiến thứ Hai, đã từng mang trong túi cuốn sách nhỏ của Gracian, “The Art of Worldly Wisdom.” Những gì mà trí tuệ của Gracian phát xuất từ mệnh lệnh triết học cổ đại từ Phật Thích Ca, Khổng Tử và Socrates. Đó là “Know Thyself” – hãy biết đến chính mình; hãy minh tâm kiến tánh. Và một trong những cái biết quan trọng nhất là hãy biết mình đang không biết gì và đang có những khuyết điểm nào.

Trong tinh thần đó, những trí tuệ về nghệ thuật sống ở đời là sự khai mở những nguyên lý triết học để áp dụng vào thực tế cuộc đời. Cái quý của Gracian là những lời cố vấn, khuyên nhủ cho con người, ở khắp nơi, và mọi thời, phải sống theo cái đạo làm người mà tiền nhân dù đã khai lối, nhưng vẫn còn mơ hồ cho con người và thời đại hôm nay.

Chúng ta hãy đọc tiếp Gracian từ cuốn sách trên. Ông nhấn mạnh rằng, đối với mỗi cá nhân, sau khi đã ý thức đến những khuyết điểm của chính mình, thì bước cần thiết kế tiếp là phải tu sửa những khuyết khuyết đó. Không có ai là con người tốt đẹp hay thành công nếu không mang nỗ lực liên tục không ngừng nghỉ để trau dồi và hoàn chỉnh nhân cách và nghệ thuật sống.

Gracian viết, “Thiên nhiên và nghệ thuật, vật liệu và tài nghệ. Không có cái đẹp nào mà không được xây đắp, không có sự ưu việt nào mà không bị rơi vào man rợ, nếu không được cứu vớt bởi nghệ thuật. Nghệ thuật tế độ cái xấu và toàn hảo cái tốt. Trạng thể siêu hạng của thiên nhiên thường bỏ rơi chúng ta; vì thế, hãy nương trú vào nghệ thuật. Cái đẹp nhất của thiên nhiên vẫn là sống sượng nếu không có nghệ thuật, và cá nhân giỏi nhất cũng mất đi một nửa nếu hắn không có văn hóa. Khi cá nhân, dù nhiều tài nghệ đến đâu, mà không được vun bồi từ giáo hóa, hắn chỉ còn là một kẻ hề vốn cẩn phải được trau chuốt.”

Một trong một nghệ thuật để thăng tiến văn hóa cho bản thân, theo Gracian, là học hỏi trong tinh thần Khổng Mạnh, “Tam nhân đồng hành tất hữu ngã sư.” Hãy nhìn ra và hiểu được những bài học trong bất cứ trường hợp nào, khi giao du với bất cứ ai.

“Hãy sống với những người mà mình có thể học hỏi; hãy để sự quen biết trở nên một trường đời cho kiến thức, và mối giao thiệp cho văn hóa. Hãy biến bạn hữu thành những người thầy để biến niềm vui thân thiện thành lạc thú học hành. Hạnh phúc của những kẻ hiểu biết là hỗ tương, được tưởng thưởng khi phát ngôn tương đồng với những gì được nhận, và những gì họ nghe bằng với cái học được. Vì lợi ích cá nhân mà họ tìm nhau, nhưng trong trường hợp này, nó được vinh quang lên. Khi muốn là một con người hiểu biết thì bạn sẽ tìm đến những căn nhà nơi có những cá nhân thanh lịch và chính trực, chứ không phải là vì lòng tự hào hãnh tiến.”

Theo Gracian, mỗi cá nhân, ngoài những khuyết điểm mà dân tộc và giòng họ mình truyền cho, ngược lại họ cũng mang những ưu điểm tự nhiên. Vì vậy, phát huy sở trường, chinh phục sở đoản là mệnh lệnh tiến hóa.

“Hãy biết đến cái gia tài lớn của riêng mình là gì, tài năng của ta nằm ở đâu, để mà vun bồi chúng. Bất cứ ai cũng có một số tài năng mà mình chưa tận dụng. Hãy khám phá chúng để mà khai thác đến tột đỉnh. Kẻ thì khôn ngoan trong phán đoán, kẻ thì can đảm trong ý chí. Bởi vì phần đông con người vi phạm sở trường của mình để mà vươn lên trong sở đoản. Cái gì mà khát vọng được thoả mãn quá sớm thì nó sẽ trở nên quá trễ đến khi nhận ra khuyết điểm của mình.”

Mỗi người đều là một mức độ của giới hạn, từ tiến hóa tâm thức, đến thời đại lịch sử, hoàn cảnh gia đình, khả năng bẩm sinh. Vì thế từ cột mốc hữu hạn mà mình đang sống, Gracian khuyên,

“Hãy suy nghĩ chính chắn đến cái gì là quan trọng nhất cho đời mình. Kẻ ngu thường bị mất hướng vì thiếu suy nghĩ, chỉ thấy mơ hồ một ít cái lợi, một ít cái hại, để mà cố gắng, nỗ lực cho cả hai chiều. Một số thì cố gắng toàn bộ cho những chuyện không đâu, mà lại không có nỗ lực nào cho những chuyện tối cần. Khi có chuyện đáng suy nghĩ chính chắn thì là lúc họ bị sai lầm nhiều nhất. Phần lớn họ mất đầu vì họ không có cái đầu. Kẻ thông minh bao giờ cũng suy tưởng chính chắn về mọi chuyện và phải biết phân biệt cái gì là hay, là quan yếu. Họ sẽ đào sâu hơn cho triển vọng cuộc đời khi biết rằng mỏ quí bao giờ cũng nằm sâu dưới lòng đất, nhiều hơn là họ biết đến. Làm như thế, kẻ khôn ngoan là người biến triển vọng thành thực tại.”

Và biết đến cái đức hạnh của tính kiên nhẫn. Cây cổ thụ mọc lâu hơn là chùm rau cải, nhưng nó sẽ to lớn, vững chắc và trường thọ hơn.

“Kẻ nào biết chờ đợi là kẻ mà trái tim có khả năng kiên nhẫn. Hãy đừng hấp tấp, nóng nảy. Hãy làm chủ chính mình để mà làm chủ tha nhân. Thời gian là khoảng đường mà bạn phải trải qua để đi đến mục đích. Sự chờ đợi trong cẩn trọng sẽ đem đến thời điểm thành đạt và chín mùi cho những gì đang chờ. Cây gậy què của thời gian có khả năng hoàn tất nhiều chuyện hơn là cây búa sắt của Hercules. Tạo hóa không chuyển hóa bằng roi vọt mà bằng thời gian. Chân lý là như vầy: Thời gian và Ta sẽ chống chọi được với tất cả. Thời vận sẽ choàng vòng hoa tươi đẹp nhất cho kẻ biết kiên nhẫn, đợi chờ.”

Ai trong chúng ta cũng có những chuyện hằng ngày làm cho không vui, bực bội. Trong cộng đồng cũng thế. Nhưng, cái khó là, “Hãy đừng quan trọng hóa những chuyện vốn nhỏ nhặt. Có kẻ thường có tật dựng chuyện lớn từ việc nhỏ, luôn làm ra vẻ to tát, bí ẩn với cái vặt vãnh tầm thường. Biến những chuyện vô nghĩa thành mối quan tâm là không nghiêm chỉnh quan tâm vào chuyện gì cả. Đó là một thói quen chất vào tim những điều mà ngay cả đôi vai mình cũng không thèm gánh. Nhiều chuyện ở thế gian này có vẻ như là nghiêm trọng, nhưng thực ra, nếu bạn biết bỏ qua thì chúng sẽ trở thành hư không. Hãy làm ngơ từ khởi đầu, đừng chờ đến khi ta dính vào quá sâu thì đã trễ. Có những toa thuốc vô ích chỉ tổ tác bệnh cho mình thay vì chữa lành một cơn đau vốn chưa hề có thật.”

Nuôi cao vọng cho đời, bởi vì, theo Gracian, người không mang lý tưởng cao đẹp và to lớn sẽ không bao giờ nâng chính mình lên với tầm cao của ước nguyện.

“Cao vọng là bước tiên khởi cho kẻ anh hùng. Nó thôi thúc mình tiến bước, thăng hoa khả năng thẩm mỹ và phán đoán, khơi sáng nhịp tim, quang minh tri thức, cao thượng hóa tinh thần, và nhân phẩm hóa cá tánh. Cao vọng sẽ soi tỏ từng bước đi, và dù khi mà số phận làm cho bạn ngã xuống, nó sẽ vực bạn dậy để trở lại chiến trường lần nữa, củng cố ý chí, để biến mình, trong mọi nghịch cảnh, trở nên là người tha thứ, rộng lượng, và can đảm.”

Nhưng cao vọng không đồng nghĩa với tham vọng mù quáng. Cao vọng phải đồng nghĩa, xứng đáng và tương đồng với giá trị tinh thần trong lý tưởng làm người. Khi cá nhân mang nhiều tham vọng mà không được điều hóa bởi tinh thần cao thượng và trong sạch, hắn sẽ trở nên kẻ ngu xuẩn. Cao vọng là tinh thần thăng tiến; tham vọng là mâu thuẫn nội tại.
Còn một yếu tố nữa. Đó là thời vận. Sông có khúc, người có lúc.

Đừng quên rằng, “Hãy biết cái mức độ hên xui của mình để mà sử dụng nó – hay là biết rút lui khỏi bàn tay thời vận khi không còn hên. Khi đang ở trước tuổi 40, bạn là thằng ngốc nếu không biết tham khảo đến Hippocrates (cha đẻ y khoa Tây phương); lại càng ngốc hơn, nếu ở 40 mà bạn vẫn không biết học từ trí tuệ của Seneca (triết gia La Mã). Muốn lèo lái được vận may, ta phải thật khéo tay, khi thì cần kiên nhẫn, khi thì phải đốc thúc hành động. Vận may có thời khắc và mức độ của nó, dù khó mà biết, nhưng điều chắc chắn là sự bất thường. Khi thời vận đã đến, hãy tác hành, vì vận may yêu mến kẻ dám liều, cũng như can đảm thì yêu tuổi thanh xuân. Kẻ nào biết thời đã đến mà không ra tay thì nên hãy về nghỉ hưu, vì ở đó, vận rủi sẽ chồng chất lên số kiếp của mình.”

Hãy nhận chân ra giá trị trong tất cả sự việc, tốt hay xấu. Như Chúa Jesus đã nhìn ra hàm răng trắng nõn trong một xác chết của con chó bên đường mà đệ tử của ngài muốn tránh. Gracian cũng vậy, “Kẻ khôn ngoan biết đến giá trị của mọi thứ bởi vì hắn nhận ra cái đẹp trong mọi việc, và biết đến cái gì cần phải làm cho mọi việc có thể tốt đẹp hơn.”

Còn trong những lúc bất đồng ý với tha nhân, Gracian khuyên làm người có trí tuệ thì,
“Hãy đừng là một kẻ đối thủ rẻ tiền. Mọi cố gắng để được nổi bật hơn đối thủ sẽ làm cho bạn thấp đi, bới vì bản chất của cạnh tranh là tung bùn đen để làm dơ bẩn kẻ khác. Rất ít kẻ nào có khả năng tham dự một cách công bằng vào tương tranh, vì bản chất đối nghịch sẽ phơi bày nanh vuốt mà phép xã giao lịch thiệp đã từng che đậy… Trong nhiệt lượng của trận chiến, người ta sẽ khơi dậy những hận thù đã chôn vùì từ lâu, và đào lên những gì thối tha vốn đã quên lãng. Tranh đua thường khởi đi từ mạ lỵ và… sự xúc phạm không phải là mục tiêu của chiến thắng, nhưng mà kẻ vang lời xúc phạm cảm thấy hả dạ trong những lời mắng mỏ của họ… Nhưng, với những con người có thiện ý bao giờ họ cũng sẽ được bình an, và kẻ trọng danh dự là kẻ có thiện ý vậy.”
Và, tối hậu thì vẫn là niềm hạnh phúc. Cứu cánh của cuộc đời, theo Aristotle, là hạnh phúc và bình an. Hãy biết an vui cho từng thời khắc hiện hữu giữa thế gian này. Vì, theo Gracian,
“Ở thiên đàng thì chỉ có an vui. Ở điạ ngục thì chỉ có buồn đau. Trên quả địa cầu, vì là ở giữa, nên khi thì vui, khi thì buồn. Chúng ta chia sẻ cuộc sống trong cả hai cõi. Thời vận đôi khi lên, có khi xuống. Thế gian này là con số không, và chỉ có nó mà thôi thì trị giá hoàn toàn vô nghĩa; nhưng khi kết hợp với thiên đàng thì nó trở nên vô giá. Không màng tới số phận là chuyện đời thường, nhưng mà không ngạc nhiên vì thời vận thì đó mới là trí tuệ.”

Gracian tiếp, “Cuộc đời chúng ta càng sống có vẻ như càng trở nên phức tạp. Tuy nhiên, sự sống thì thực chất chỉ như là một vở hài kịch, càng về sau càng trở nên đơn giản. Và nhớ rằng, tất cả các vở hài kịch đều có một kết cuộc thật vui.”


Trong tinh thần của những ngày lễ cuối năm, tôi mong bạn đọc xa gần được một nỗi an vui giản dị.





VAÌ DÒNG VỀ TÁC GIẢ




Nguyễn Hữu Liêm sinh năm 1955 tại Quảng Trị. Đến Hoa Kỳ năm 1975. Hiện sống tại California.

Tác phẩm đã in: Dân Chủ Pháp Trị: Luật Pháp, Công Lý, Tự Do Và Trật Tự Xã Hội (1991), Tự Do và Đạo Lý: Hegel, Lão Tử và Triết Học Pháp Lý (1993), Thời Lý và Hiện Hữu (1996)




ĐỌC THÊM:
OBAMA! OBAMA!
READ MORE - NGUYỄN HỮU LIÊM

Saturday, February 6, 2010

TRẦN KIÊM ĐOÀN - CỘT MỐC MÙA XUÂN



Canh Dần 2010

Nếu chọn một số tròn để ghi lên cột mốc thời gian của những mùa Xuân lạc xứ, xa nhà thì tôi sẽ đề số 35/30 trên cột mốc năm nay.

Đây không phải là số tuổi chín muồi của một cặp vợ chồng lý tưởng; cũng chẳng phải là hai con số cặp kè của sự phân chia bí ẩn nào đó. Nó chỉ đơn giản như những mùa xuân qua đếm bằng cuốn lịch trên tường và tóc bạc trên đầu. Con số đó là dấu chỉ của dòng thời gian nhớ nhớ, quên quên: 35 năm sống trên quê mẹ và 30 năm sống ở quê người. Ở tuổi về hưu, một người sống gần trọn đời giữa hai thế giới. Người ấy sẽ là ai ở giữa mùa Xuân?

Tôi tự vẽ chân dung mình. Rướn người, cố nhìn mình thật kỹ trong gương. Người xưa nói “tâm viên, ý mã”, nghĩa là tâm thay đổi chuyền cành nhanh như vượn; ý lao vun vút như ngựa chạy đường xa. Thế nhưng tâm lý con người vẫn không chạy đuổi kịp với thời gian…

Người trong gương, ông là ai thế?! Dưới mái tóc muối tiêu – muối nhiều tiêu ít – đó là khuôn mặt góc cạnh pha nếp nhăn của một ông già châu Á. Ba mươi năm ở Mỹ, ông đã đổi thức ăn, thức uống, thức dùng. Những bữa ăn ít dần mắm muối tương cà. Những bữa uống nhạt dần hơi men rượu gạo làng Chuồn, nếp than Đồng Tháp. Những đồ dùng từ tứ xứ tinh tươm. Nhưng nhìn kỹ ông hôm nay, ông cũng vẫn là một ông già của xóm Bàu, xóm Kên, xóm Cụt làng Liễu Hạ. Đã mấy chục năm rồi, ông không còn mặc áo tơi đi trong mưa lạnh rát mặt của mùa Đông xứ Huế. Ông ngỡ như đã quên những bếp củi than, lồng ấp mùa Đông; quên cái quạt mo phành phạch mùa Hè; quên tiếng ve đất và tiếng chim cu gáy buồn buồn gọi nhớ cuối Thu. Nhưng sao ông vẫn nhớ nhà, nhớ luống cải vàng của mẹ trồng, nhớ nhà thờ họ, nhớ cổng chùa làng, nhớ mái đình xưa đầy hương khói. Nhớ quặn mình muốn khóc như trẻ thơ khi mỗi năm Tết về: Nhớ mẹ! Bà Mẹ Quê Việt Nam không phải chỉ là người mẹ sinh con ra và nuôi con khôn lớn. Nếu đem lửa thử vàng thì bà là vàng ròng trong ngọn lửa. Chiến tranh, đói nghèo, gian nan là thế mà bà vẫn gánh một đầu thúng này là con thơ và đầu kia là sự sống còn của đàn con trong cơn nguy biến.

Thì ra, người ta chỉ già theo nhân dáng, nhưng không già trong tình tự quê hương. Tự xét hoàn cảnh riêng mình và các bạn cùng trang lứa và hoàn cảnh, tôi khó mà không đồng tình với nhà tâm lý học cừ khôi hàng đầu của Mỹ là Erik Erickson khi ông ta nói về sự hình thành bản sắc của mỗi con người (establishment of personal identity) đã hoàn thiện và chấm dứt hoàn toàn trong 30 năm đầu của một đời người: 10 năm đầu cho bản sắc tuổi thanh xuân, 10 năm tiếp theo cho bản sắc tình cảm, tư tưởng và 10 năm sau cho bản sắc văn hóa. Một người sinh ra và trưởng thành trên một vùng đất nào đó tới 30 tuổi thì dẫu muốn hay không họ đã hoàn toàn thuộc về nơi đó. Một “Erickson thi sĩ” Việt Nam là Chế Lan Viên đã viết về tâm lý:”Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở. Khi ta đi, đất bỗng hóa tâm hồn.” Tâm hồn là cách gọi khác của một gốc rễ vô hình đã nằm trong góc khuất của mỗi con người. Người ta hy sinh thân mạng để đấu tranh với ngoại xâm và nội thù cũng chỉ vì dính mắc với quê hương.

Sự phát triển tâm lý ngỡ như nghịch chiều nhưng lại là một hiện thực của tuổi già nơi xứ lạ. Tuổi về hưu như một bãi sa bồi đã qua nhiều cơn sóng gió. Những bụi cát phù sa lắng xuống. Đá sỏi hiện nguyên hình và nhận ra nhau. Đó là lúc tuổi già lắng lòng nhớ quê xưa và những khuôn mặt thân yêu ngày cũ. Nơi xứ người, nếu nguồn tình cảm nầy vắng bóng thì làm sao có được những phố Tàu, phố Nhật, phố Việt, phố Đại Hàn tại nhiều thành phố lớn trên các xứ Âu Mỹ đã tự phát từ buổi di dân ban đầu cho đến ngày nay. Người Việt xa xứ mê một “Little Saigon” như tha thiết với một bản sắc tình cảm quê hương đang bị han vùi tên tuổi.

Có một sinh viên Việt Nam trên 30 tuổi, qua Mỹ du học, kết hôn, ở lại. Sau 5 năm ở Mỹ, anh được vào quốc tịch Mỹ và cũng là năm anh tốt nghiệp cao học xã hội tại đại học Sac State. Một lần, sau giờ học về quan niệm bản sắc cá nhân của Erickson, anh hỏi: “Em vừa được vào quốc tịch Mỹ và muốn làm đơn xin từ bỏ quốc tịch Việt Nam. Xin thầy giúp ý kiến.” Tôi góp ý: “Em và tôi đều rời đất nước ở lứa tuổi khi bản sắc nòi giống của cá nhân mình đã được xác lập. Bản sắc nòi giống đã biến thành tâm hồn. Người ta có thể chuyển hóa, nhưng không thể từ bỏ được tâm hồn. Thủ tục và tên gọi chỉ là nhãn hiệu bên ngoài chai nước mắm, chẳng có gì quan trọng.”

Mấy lần về thăm quê, bạn bè han tình hỏi tới: “Ở Tây, ở Mỹ lâu vậy mà bạn có bị lai căng, mất gốc gì không?” Tôi đùa mà rất thật: “Lai rai thì có nhưng lai căng, lai giống thì không!” Lai rai… thì có vô số chuyện để bàn. Cái lai đầu tiên là tiếng “Dạ” và “Không”. Trước một câu hỏi: “Ông không thích mắm ruốc à?” Mỹ trả lời: “Không, tôi không thích”. Việt trả lời: “Dạ (vâng), tôi không thích.” Hay ngắn hơn: “Dạ không!” Dịch ra tiếng Mỹ là “Yes/no!” Người Mỹ la làng, cho tiếng Việt là không rõ ràng giữa có và không. Thật ra, vì họ chưa hiểu rõ ràng về cái suối nguồn văn hóa bao la trong một câu trả lời ngắn gọn: “Dạ” trước là để bày tỏ mối quan hệ với đối tượng đang hỏi; rồi mới tới phần sau là ý kiến của riêng mình. Đó là một sự biểu hiện giao tình giữa người với ta; giữa cá nhân mình với bà con làng trên xóm dưới. Trong lúc người Mỹ với văn hóa đậm tính cá nhân, họ xác định ngay ý kiến riêng của mình từ tiếng “không” phủ nhận đầu tiên. Bởi vậy mà dân Âu Mỹ đặt Tên trước Họ; người Việt đặt Họ trước Tên.

Khi tiếp cận với một nền văn hóa mới, người ta mới thấy được những viên sỏi thường ngày trên đất nước của mình, có khi lại là những hạt quý trên xứ người: Đó là tiếng cười. Cười là một thứ ngôn ngữ không lời cao cấp nhất của văn hóa mà mình vô tình coi nhẹ nó như nắm xôi thằng Bờm. Xa xứ rồi, nếp cười hiện lên như một tiếng vọng nhắc nhở cội nguồn.

Người Việt đã trưởng thành trên quê hương khi tới xứ người có thể nói lưu loát và hùng biện những chuyện triết lý, văn chương, kỹ thuật bằng tiếng Tây, tiếng Mỹ nhưng lại rất ít người có khả năng chuyển tải qua, lại những “thông điệp cười” thống khoái trong tương quan sinh hoạt với người nước ngoài. Khó mà chia sẻ, hiểu hết được cái tinh túy trong Ngôn Ngữ Cười của một dân tộc. Đã gần ba mươi năm, thường xuyên làm việc và sinh hoạt trong thế giới người Mỹ, nhưng tôi cũng như hầu hết bạn bè cùng lứa hay một người bạn tuổi đã 70, du học Mỹ từ năm 1958 ở tuổi hai mươi, vẫn bị lạc xa tít mù khơi trong những câu chuyện khôi hài (joke) của người Mỹ và có lẽ cũng là trường hợp ngược lại, khi chúng tôi cố chia sẻ với người Mỹ chuyện Trạng Quỳnh, Trạng Lợn, Ba Giai Tú Xuất, rút từ trong kho tiếu lâm xứ mình. Tiếng cười khó thật. Chỉ là đôi tiếng “hì, hì”, không văn phạm, không câu kéo, không nội dung bí hiểm mà học một đời chắc gì thuộc nổi. Khó nhất đời là chuyện… sắc không!

Trời Cali suốt cả tháng cuối năm mưa buồn như mưa Huế. Trong bầu trời tím lịm của mưa lạnh, người ta mới nghĩ tới mùa Xuân. Tôi lắng lòng nhìn lại cột mốc mùa Xuân của đời mình và tẩn mẩn làm thơ – thơ 35/30 – trong cái lãng mạn xuôi dòng thời quá khứ có chút khật khừ lý tính phương Tây:

Chiều cuối năm ta ngồi nhìn nẻo ý
Trôi hoang vu như mấy trắng trên trời
Đêm vắng vẻ thân tâm về rỗng lặng
Thoảng hương Xuân mùa Tết đến nơi rồi
Ta thấy được mình khi đếm từng hơi thở
Gió đêm len vào cửa trống ơ hờ
Chút mỏi nản lắng nghe hồn suy tưởng
Không buộc ràng buông xả cõi vu vơ
Tiếng vĩnh cửu thay dòng đời du tử
Hiện bóng trong ta em còn đứng đó
Tiếng dỗi hờn ký ức thuở xa xưa

New Year Eve I sit and watch my thoughts
Come and go wildly like clouds in the sky
But tonight it is clear and all empty
I smell fragrance of the Spring and the Tet
Always in my mind when counting breaths
A night breeze enters through the open window
Tired of listening to my thoughts
Give the mind a rest
Listen to the eternity instead
Oh dear there it is
The whine of returning memory

Lâu ngày đón những Noel thay cho ngày Tết, nhưng quê người vẫn váng vất hương Xuân. Bởi thế, ngày đầu năm dương lịch mà dân mình hay gọi là “Tết Tây” nơi xứ người chỉ còn lưu lại nỗi nhớ. Tuổi càng cao, nỗi nhớ càng thấm thía mà rất tự nhiên như cảm xúc tự mình nhìn nhìn sâu hút vào chính mình. Nhớ nỗi buồn và nhớ tiếng cười ngoài sân, đầu ngõ của người thân, bạn bè. Vì cười nó vừa đơn giản mà cũng vừa khó kiếm đến như thế nên xin được ghi thêm một chữ quan trọng lên Cột Mốc Mùa Xuân 35/30: Cười!

Sacramento, Cali. Trước ngõ mùa Xuân 2010.

© 2010 Trần Kiêm Đoàn
READ MORE - TRẦN KIÊM ĐOÀN - CỘT MỐC MÙA XUÂN

Sunday, January 17, 2010

HOÀNG HỮU PHÚC - CHÙM THƠ


Hoàng Hữu Phúc
sinh ngày 15 / 7 / 1947
Tại An Hưng, Cam Lộ, Quảng Trị
Bút danh: Hữu Phúc
ĐC: KP. An Hưng, TT. Cam Lộ, H. Cam Lộ, T. Quảng Trị.
Hội viên CLB thơ Sông Hiếu
Hội viên CLB thơ Việt Nam




ĐT: 053 3730 161

Thơ đã in chung và đã được xuất bản:
- Sông Hiếu tập II,
- Sông Hiếu tập III,
- Tuyển tập Sông Hiếu - Nhà xuất bản Thuận Hóa,
- Hương đất Việt (tập 14) - Nhà xuất bản Lao Động,
- Đặc san mừng 35 năm giải phóng.



CẢM XUÂN

Xuân nay rực rỡ lắm xuân ơi!
Sông núi, lòng người đang thắm tươi
Vũ trụ cả trông màu sắc ấy
Còn ta há để mặc xuân trôi?

Say đắm bên lòng một bức tranh
Đa mang đồng cảm mối tình xuân
Hương xuân ngào ngạt cao sang thế
Cả sáu giác quan cũng vận hành

Xuân đang tình tự với lòng ta
Rạng rõ hương lan đến mọi nhà
Gấm vóc non sông hình chữ S
Dễ gì nhầm lẫn những xuân qua

Tình xuân tươi đẹp với muôn loài
Cao quý vô cùng xuân đáo lai
Tha thiết muôn vàn hương sắc mới
Nên lòng chẳng ngán nét xuân phai ./.







NHỚ MẸ

Đàn con nheo nóc tháng năm
Tơ duyên lỡ mối dùng dằng chia hai
Thân cò lặn lội hôm mai
Mẹ tôi chiếc bóng dặm dài sơn khê
Nuôi con sớm tối đi về
Gian nan tần tão chẳng hề kêu ai
Chợ Phiên cho tới chợ Mai
Chợ Cùa miền núi gối mài triền non
Giận chồng mà lại thương con
Tàn phai xuân sắc héo hon nữa vời
Cuộc đời cơ cực tả tơi
Mẹ đi biền biệt mù khơi đâu còn
Tủi thân đạo hiếu làm con
Chưa từng đền đáp mãi còn băn khoăn
Âm phần mẹ có hay chăng?
Lòng con đau xót tháng năm tủi buồn
Nhớ thương giọt lệ trào tuôn
Cúi xin lạy mẹ khói hương nguyện cầu
Vĩnh hằng an lạc ngàn sau
Cho con vơi bớt nỗi sầu trăm năm.




NỖI NIỀM MONG ƯỚC

Nào có ai hay chuyện chúng mình

Yêu rồi em dấu mãi trong tim

Thương nhau thề thốt nguyền chung thủy

Tha thiết trăm năm vẹn nghĩa tình

Em cũng ghen tuông lắm dỗi hờn

Cũng nhiều ích kỷ với yêu đương

Muốn anh là của riêng em đó

Chẳng để ai còn dám thiệt hơn

Ngày tháng si mê anh ở tù

Ngồi trong ánh mắt đến trăm thu

Sao em không mở tù ra nhỉ

Chẳng nhẻ nhân tình há phải tu?

Anh muốn ôm em đặng ấm lòng

Hôn cho thương nhớ thỏa chờ mong

Muốn nhiều hơn thế, ham muốn...

Muốn được ngất ngây phút mặn nồng!

Yêu nhiều bởi thói, kiếp tham lam

Âu cũng thường tình chốn thế gian!

Hai đóm than hồng trong bếp nguội

Gió vào e rực cháy bùng lan!

Bởi thế em ơi dấu tận lòng!

Để tình âm ỉ cháy lâm râm

Để thêm ngày tháng gom thêm gió

Rực cháy tình ta, nỗi ước mong. ./.

14/02/2009

Nhân ngày tình yêu

HHP

READ MORE - HOÀNG HỮU PHÚC - CHÙM THƠ

Saturday, December 5, 2009

HOÀNG TẤN TRUNG - CHÙM THƠ




Hoàng Tấn Trung



Hội viên Hội VHNT Quảng Trị
Sống tại:Thành Cổ Quảng Trị, Tỉnh Quảng Trị

Hiện là Trưởng phòng Kinh tế Đối ngoại Sở Kế hoạch Đầu tư Quảng Trị



Tự bạch
Không đánh bóng mình. Thơ và thư pháp đối với tôi là luyện tâm và tải đạo !



Địa chỉ
Điện thoại:0914.015.469
Email:tantrungqt@yahoo.com.vn




Tác phẩm tự chọn



Chùm thơ của Hoàng Tấn Trung





CHỢ ĐÌNH

Đã hẹn cùng em đi trẩy hội
Bích La phiên chợ sáng mồng Ba
Vào Đình thắp nén nhang cầu phúc
Cho cuộc đời trổ lộc đơm hoa

Năm nay trời như rét đậm hơn
Mưa bay phủ kín những con đường
Bà con cô bác đi chợ sớm
Rộn ràng chân bước rợp đường thôn

Chợ Đình đông sớm lắm nghe anh
Biết vậy, sao em cứ dùng dằng
Mau về kẻo trễ mùa duyên phúc
Chợ đông lùm úm đó rồi anh !

Con gà con cá mớ rau xanh
Mồng Ba ngày tết nếp quê mình
Chợ Đình Bích La không trả giá
Cầu mong ai nấy hưởng phúc lành

Anh vào xin chữ ở trong đình
Cụ đồ còn trẻ cho chữ "TÌNH"
Em mua được mấy con gà đất
Quà cho con tụi bạn chúng mình

Phiên chợ mỗi năm họp một lần
Biết bao người đi hái lộc xuân
Bao người đi chợ mong cầu phúc
Chúng mình mơ ước chuyện trăm năm !







NGƯỜI DƯNG


Gió sao gió mát sau lưng

Dạ sao dạ nớ người dưng thế này

(Ca dao)


Người dưng là của người dưng

Mà sao tôi cứ tưởng chừng của tôi!


Trái tim bổi hổi bồi hồi

Bao lần hò hẹn bấy lần ngu ngơ

gặp nhau ra vẻ hững hờ

Vụng chèo khóe chống giả vờ người dưng


Mỗi khi trống vắng trong lòng

Nghe hồn rạo rực thanh âm dội về

Giữa chừng công việc bộ bề

Lại mơ đôi mắt ướt che dịu dàng

Canh khuya sực tỉnh mơ màng

Thấy mình ngọng ngiụ trong gian nhà mình


Chiều nay có kẻ si tình

Làm thơ để tặng một mình - người dưng!

H.T.T

Nguồn : phongdiep.net
READ MORE - HOÀNG TẤN TRUNG - CHÙM THƠ

Wednesday, December 2, 2009

LÊ ĐÀN - TRĂNG THÁNG BẢY





TRĂNG THÁNG BẢY

Tháng Bảy nước nhảy qua bờ. Những trận mưa dai dẳng tưởng che lấp hết mùa trăng Hội Vu lan báo hiếu; nhưng sau cơn mưa trời quang mây tạnh, Trời Phật xót thương những người con hiếu thảo đang chờ mong một mùa trăng sáng đẹp để quay trở về dưới mái nhà xưa.


Đêm nay, bầu trời vẫn còn những đám mây bàng bạc, nhưng trăng vẫn sáng không bị mây che khuất. Em rất vui được nắm tay mẹ và chị đi bộ đến chùa, quãng đường chỉ nửa cây số thôi, nhưng hồi còn bé, em mỏi chân, chị phải cõng em khi lên con Dốc Ma này. Mới ngày kia chị đang ở một nơi rất xa đến cả nghìn cây số, bây giờ chị đã có mặt ở nhà, căn nhà cha mẹ sinh thành nuôi dạy chị em mình suốt cả thời thơ ấu. Bao nhiêu kỷ niệm ngày xưa sống lại trong chị trong em. Đi lên tới đỉnh dốc, chị nắm tay em ngồi xuống bên thảm cỏ xanh ngày nào, chị vừa ngắm trăng vừa hỏi lại câu hỏi lững lờ giống như ngày xưa chị đã hỏi bằng bốn câu thơ của nhà thơ Quang Dũng (chị là dân Tú tài ban C mà!): “Mai chị về em gởi gì không?/ Mai chị về nhớ má em hồng/ Đường đi không gió lòng sao lạnh/ Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong”. Bốn câu thơ làm cho lòng em tê lạnh, bâng khuâng xót thương chị hiền da diết. Ngày mai chị tôi “đi” lấy chồng. Ông “Tây tiến”! Ông “Đôi mắt người Sơn Tây” ơi ! Ông không nói “đi” mà nói “về”. Em thích chữ “về” của ông lắm! Ông cũng giống như em ngày ấy rất ngây thơ, sợ chị đi lấy chồng người ta sẽ bắt mất chị. Em đâu có biết chị về nhà chồng rồi thỉnh thoảng chị về thăm mẹ và em chứ đâu có đi hoài không về. Ngày ấy em còn bé lắm, đứng bên đường khóc thút thít đôi mắt đỏ hoe, đôi má ướt lem luốc nhìn đoàn rước dâu đem chị đi mà trong lòng căm giận cái ông chú rể dễ ghét ấy. Chị từ trong đoàn rước dâu bước ra ôm em vào lòng, hai chị em đều khóc, “đường đi không gió lòng sao lạnh”, cả một mùa Hè bỗng dưng trời trở rét… Kỷ niệm ấy làm sao em có thể quên được, cũng tại con phố nhỏ này, biết bao nhiêu đêm rằm chị đưa em đi trên con dốc này đến chùa. Chị kể có lần chị chơi nhảy dây, em khó lắm không cho người lạ bồng, thế là chị bế em nhảy luôn; chị càng nhảy em càng khóc to, chị tức quá phát vô mông em một phát bàn tay in dấu năm ngón đỏ ong, chị biết mình giận mất khôn, chị lấy dầu tràm thoa cho em: “Chị thương! Cho chị xin lỗi, bữa ni trở đi chị không đánh em nữa mô; mai mốt chị không có lấy chồng, chị ở nhà bồng em thôi!”. Thế rồi một năm thôi nôi, em biết đi biết nói chị không phải bế bồng em nữa, em dần dần lớn lên quấn quýt bên tình thương của chị. Chị kể cho em nghe rất nhiều câu chuyện cổ tích, câu chuyện Lục Tích trong “Nhị thập tứ hiếu” mới sáu tuổi đến nhà họ Viên ăn tiệc xong giấu quả quýt mang về cho mẹ là câu chuyện em thích nhất. Thời đó chưa có lớp mẫu giáo, chị dạy chữ cái cho em bằng sách vỡ lòng “Bé học vần” của tác giả Cao Văn Thái, em thích lắm nên ngày nào cũng đọc cho đến bây giờ em vẫn còn thuộc:

Bà quý bé cho quả na/
Nhà em nhỏ có giàn nho/
Ong đốt ông sưng cả má/
Đi đổ đá ở đê xa/
Dì dắt dê dê do dự/
Bê bú bò bú hả hê/
Khỉ đố mèo leo cây khế/
Cu tí sợ sờ se sẻ/
Chị chờ em để che ô/…

Chị sinh hoạt trong ngành Thiếu, còn em ngành Oanh, đi đâu chị cũng đưa em theo, chùa Sắc Tứ, Tỉnh Hội, chùa Sư nữ Long An Nhan Biều,… quý thầy và quý sư cô rất quý và thương chị. Chị không bỏ sót một buổi thuyết pháp nào của quý giảng sư từ phía Nam ra; đặc biệt là buổi giảng của sư Giác Nhiên và sư Giác Huệ, em còn bé chưa hiểu gì nhiều, còn chị xem ra rất thích nghe pháp, những bài pháp thoại đã thấm nhuần vào tim óc của chị làm cho chị trở nên dịu hiền. Một hôm chị thưa với mẹ ngỏ ý xin được xuất gia, mẹ hơi bất ngờ nhưng cũng rất đắn đo để trả lời với chị: “Ba con mất sớm, nhà chỉ có ba mẹ con neo đơn hẩm hút, mẹ phải ngày hai bữa chợ, bây giờ nếu con đi để em một mình nhỏ dại thật là tội nghiệp!”. Chị nghe mẹ nói gần như khóc chị cũng khóc theo nước mắt tuôn trào, chị đâu nỡ bỏ mẹ và em mà đi theo con đường cát ái ly gia, một con đường chị rất muốn đi theo cho đến hết cuộc đời. Nhưng mẹ đâu có giữ chị lại được lâu, một người đàn ông xuất hiện và… chị theo nắng gió Sài Gòn, mang hồn quê đến lấy chồng xứ xa lắc xa lơ. Phận gái mười hai bến nước biết đường mô mà chọn, đêm đêm chị khóc nhớ nhà, mẹ thương chị cầu nguyện chư Phật gia hộ cho chị chân cứng đá mềm. Mỗi tuần chị gởi một lá thư. Đôi ba năm chị mới vê thăm mẹ một lần vào dịp Tết hay Lễ Vu lan.

Trong những năm tháng chị đi xa, em buồn quá, hút thuốc lá rất nhiều, thỉnh thoảng có hội hè hùa theo đám bạn bè tập tành chén chú chén anh, uống mãi trở thành nghiện, em đã phạm vào năm giới cấm, điều tệ hại là em rất xấu hổ nhưng lỡ ghiền mất rồi, có cách gì để cai thuốc lá và rượu? Không biết nhờ ai. Nhờ thầy nhờ bạn đạo thì không dám. Chỉ có chị mới có thể giúp em được thôi, em đã sáng măt ra bởi những dòng thư rất quý của chị Hiền từ xa gởi về: “Em yên tâm, chị không rầy la chi em đâu, đã là người thì ai rồi cũng có lúc lầm lỡ, chị tin ở em là một Phật tử luôn luôn biết sám hối và hướng thiện, ít nhiều em cũng biết một chút giáo lý của Phật. Đọc kinh Lăng Nghiêm em có nhớ một thời Đức Phật còn tại thế, ngài A Nan đang đi khất thực, bị nàng Ma Đăng Già cám dỗ, Đức Phật đã biết trước việc này bèn sai ngài Văn Thù đem thanh gươm trí tuệ đến cứu hộ giúp, ngài A Nan mới tỉnh giác thoát ra khỏi cái bẫy ngũ dục phàm trần. Người Phật tử đã có sẵn đức hạnh Bi trí dũng, em hãy bình tỉnh đem trí tuệ ra suy xét những hậu quả rất xấu của thuốc lá và bia rượu. Từ đó em sẽ biết sợ thuốc lá rượu bia, không còn xem chúng là bạn giải sầu nữa mà chính chúng là thủ phạm giết lần mòn cơ thể rút ngắn tuổi thọ của con người. Chị tin em sẽ cai được vì em của chị rất thông minh sáng suốt đủ dũng cảm để tránh xa chúng ngay bây giờ hôm nay. Chị chúc em thành công”. Thư của chị đầy sức thuyết phục giúp em có đủ quyết tâm để có thể xa rời được những ma lực cám dỗ ấy. Em mừng lắm! Từ ấy đến giờ em thật hạnh phúc vì không bị ràng buộc bởi những con ma men từng ngày tước đoạt đi cái tự do và nhân cách của con người.

Thời gian qua nhanh như bóng câu cửa sổ, năm ngoái cũng nhằm mùa Vu lan chị về thăm nhân dịp mừng thọ mẹ tuổi tám mươi. Chị cũng đã xấp xỉ sáu mươi rồi, con cái chị đã lớn có công ăn việc làm ổn định, nên chị có thể về bất cứ lúc nào. Chị muốn dự lễ Bông hồng cài áo tại ngôi chùa thân yêu nơi quê nhà, ai tha phương mà không ước hẹn ngày về, về chẳng để làm gì cả, chỉ ngồi bên mẹ thôi cũng đủ cho ta hạnh phúc nhất thế gian này. Đêm hôm đó mẹ bất ngờ bị tai biến, may có chị về chăm sóc cho mẹ cả tháng trời, mẹ bình phục xuất viện chị mới vào.

Đêm nay chị lại có mặt nơi chùa xưa dự Lễ Vu lan, chị rất hạnh phúc được cài một bông hồng, và chị đã rất xúc động khi được hát lại ca khúc mà chị đã từng hát ngày nào. Cầm micro đến gần bên mẹ và chị bắt đầu hát “Bông hồng cai áo” trong cái cảm giác hạnh phúc xen lẫn nước mắt, giọng ca của một người ở cái tuổi U 60 dù không hay lắm nhưng cũng khiến cho nhiều người ứa lệ.


Mấy năm nay, mẹ tuổi cao sức yếu, không dám cho mẹ đi bộ nửa cây số đến chùa. Được dự buổi lễ này mẹ vui lắm, xong lễ rồi mẹ vẫn chưa muốn về, vẫn còn sớm một đêm trăng rất đẹp, hai chị em đưa mẹ vào một quán nước trên con đường Hoàng Diệu bên bờ sông Hiếu, ngọn gió Nồm từ con sông thổi lên mát lạnh, chị thấy khỏe khoắn hơn bao giờ hết. Chị mê say ngắm vầng trăng in hình trong bóng nước, xa xa bên kia bờ những con thuyền đã đổ bến, nhà thơ Hàn Mặc Tử với khung cảnh như thế này ở thôn Vĩ Dạ đã tự hỏi: “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó/ Có chở trăng về kịp tối nay”. Và… thôn Vĩ nổi tiếng từ đó. Còn đây những con thuyền bên dòng sông Hiếu thân thương, chỉ muốn chở trăng về không muốn chở trăng đi. Chỉ cần nổi tiếng với chị với em và tất ca những ai yêu mến chính nơi này. Hãy ngước mắt nhìn lên bầu trời trong xanh như mắt em long lanh, hãy uống dòng nước trong mạch nguồn Hiếu giang mát ngọt tình yêu thương. Đêm nay đi bên mẹ có vầng trăng soi sáng, chị hạnh phúc qua đi! Em cũng thế! Từng ngôi nhà góc phố con đường, từng câu chào nụ cười thân quen, xin chia sẻ hạnh phúc này với mọi người nơi đường xưa lối cũ nẻo về.

Có lẽ đêm nay phải thức với trăng thêm một chút, bắc chiếc chõng tre ra trước sân nhà, chị một bên em một bên ngồi cạnh mẹ, nghe mẹ kể về mẹ thời con gái:



“Mười lăm tuổi đi làm dâu khác xã/
Năm năm ngủ chung với mẹ chồng/
Trầu têm nước rót/
Quần xắn ống cao ống thấp/
Heo gà vườn ruộng bữa cây bữa cày/
Giặt áo cầu ao ngậm ngùi rơi nước mắt/
Thương mẹ già cha yếu chưa báo đáp một ngày/
Thương lũ em thơ còn đòi chị ẵm/
Thương đám bạn bè tóc khét nắng đồng trưa/
Thương con bê đôi mắt buồn rười rượi/
Thương lũy tre già rủ rỉ gió chiều đưa/
Thương củi nè nhen ấm nồng bếp sớm/
Thương bụi chuối đầu hồi quấn quýt đàn con/
Thương những đêm hè nhìn trăng vỡ giữa ao sương/
Hả hê cười khuấy nước/
Thương những ngày giáp tết, săm se áo mới xúm xít chợ làng xa/
Ngày đi em nép góc nhà/
Mẹ sụt sùi cầm tay không nói/
Bạn bè chen nhau vẫy gọi/
Tre pheo chìa nhánh ngăn đường/
Dừng tay hái rau, ngày đang trở tối/
Chiều chiều ra đứng cổng sau/
Nhớ về quê mẹ ruột đau chín chiều” (Thơ-Kim Cúc).

Chị cũng vậy, có khác chi mẹ mấy đâu. Bao nhiêu năm ngỡ khô dòng nước mắt, buổi bạc đầu về khóc giữa quê hương. Mang theo một nửa hồn quê/ Hương ơi sống gởi thác về với hương. Đó là ước nguyện của chị, cua mẹ nhưng đâu có được. Sinh ra con gái ngoại tông/Quê cha thì bỏ quê chồng thì theo. Chị còn có chồng con gia thất. Những đứa con thân yêu đang cần chị trở về. Giống như chị đang cần về ngồi bên mẹ, chị ôm mẹ thật chặt không để cho mẹ biến mất trên cõi đời này. Chị noi gương Đức Mục Kiền Liên, nguyện làm con thảo, nhớ nghĩa thân sinh, ngày đêm nguyện cầu Bồ tát Đại Hiếu Mục Kiền Liên gia hộ cho mẹ thân tâm yên ổn. Ước gì mẹ sống mãi bên con cháu suốt đời.

Mẹ đã đi ngủ, gà nhà ai đã gáy đầu canh, đêm về khuya trăng Vu lan càng sáng tỏ, chỉ còn lại hai chị em, chị muốn thức để tâm sự cùng em thêm một chút nữa thôi, mai chị sẽ tạm biệt nơi dấu yêu này rồi, đường xa ngàn dặm một lần về một lần khó chị dành hết thời gian cho mẹ và em. Mẹ nuôi con biển hồ lai láng, con nuôi mẹ tính tháng tính ngày/ Chín chữ cù lao. Công cha tựa non cao. Nghĩa mẹ như biển rộng. Thức trắng một đêm mới biết đêm dài vô tận. Ôi! Chị thương mẹ biết dường nào! Chị ơi! Em đã nhìn thấy bông hồng cài trên ngực áo chị áo em rất đẹp, và chị hãy nhìn lên bầu trời, ở đó… Trăng tháng Bảy, trăng cài bông hồng thắm. Mẹ Vu lan, mẹ tắm suối dịu hiền.

LÊ ĐÀN
(giacngo.vn)




MỘNG


Ba mươi năm lẻ qua rồi
Còn chiêm bao Nguyễn Hoàng ơi, Nguyễn Hoàng
Còn nghe hồi trống trường tan
Bờ mi ướt đẫm tuổi vàng dấu xưa
Áo không xanh mãi tuổi thơ
Khung trời hội cũ chiều mưa phố buồn

Quảng Trị 8.2005



ĐỌC TIẾP
Điều gì sẽ đến
READ MORE - LÊ ĐÀN - TRĂNG THÁNG BẢY

Monday, October 12, 2009

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - CHÙM THƠ



Trương Đình Tuấn sinh năm 1956
Quê Quán: Giáo Liêm, Triệu Độ, Triệu Phong, Quảng Trị
Hiện nay ở tại thị xã Đồng Xoài Tỉnh Bình Phước
Hội Viên Hội VHNT tỉnh Bình Phước





PHÍA KHÔNG NHAU

Còn chén rượu đào thì cứ nhấp
Ngày lơ mơ dễ được mấy lần
Mai hoàng hạc xa bay về núi
Lửa tàn hương nhạt lấy gì vui?
Còn rượu thì còn sa cánh nhạn
Còn thơ thì cứ ngất ngư say
Mai lỡ hồn khô như gỗ đá
Ngồi ngu ngơ tựa lấy bóng mình
Vẽ mắt phượng em nhìn bối rối
Ngày chưa nghe kỳ hạn giao mùa
Vẽ bóng chiều gùi buồn lên núi
Tay rú rừng vẫy gọi cơn mưa
Thôi kệ, buồn chi ngày tạm trú
Mua vui cho hết khúc sông hồ
Hề, giũ đi em tà gió bụi
Dắt nhau về một phía không nhau






GIẤC MƠ CỎ

Có khi thấy mình là rơm rạ
Nằm dưới mùa trăng nhớ mong manh
Thon thả tay ngà hằng gieo lụy
Níu tơ trời khâu vá ngày xanh
Có khi thấy mình là giun dế
Mải mê mùi đất dậy bên đường
Suối chảy tiếng cười đêm hạnh ngộ
Xanh từng lọn tóc cỏ hồi hương







NHỚ QUÊ

Ở đó còn lại con sông
Khúc thơ thẩn ngóng khúc tần ngần trôi
Bên bờ lở ngó bên bồi
Đò ngang chưa kịp bắc lời nhớ thương
Ở đó còn lại con đường
Sương giăng lá rũ phố phường ngủ quên
Nỗi buồn tuổi dại không tên
Vu vơ ghé lại đậu thềm mưa bay
Ở đó em chưa hề hay
Mối tình ta giữ để say với đời
Chân đi lòng gửi lại rồi
Áo cơm chi để nửa trời nhớ quê

TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN


ĐỌC TIẾP



READ MORE - TRƯƠNG ĐÌNH TUẤN - CHÙM THƠ

Sunday, October 4, 2009

THANH PHONG - LÊ CHÍ PHÓNG

Thanh Phong - Lê Chí Phóng , nhà giáo-nhà thơ




Sinh năm: 1928
Quê quán : Câu Nhi, Hải Tân, Hải Lăng, Quảng Trị
Cựu giáo sư Trường Trung học Nguyễn Hoàng, Quảng Trị.

Sông rộng Xuân về quyện ý thơ
Sông lăn tăn gợn vỗ đôi bờ
Thuyền trăng chở hộ ta về bến
Đỗ giữa lòng trăng, trọn giấc mơ.

(Trích bìa 4, tập thơ Hương Quê, tác giả Thanh Phong, NXB TRẺ, 2002)



GIỌT NẮNG QUÊ

Anh về Quảng Trị quê em nhé
Nhớ gói dùm em giọt nắng hồng
Để em sưởi ấm vào da thịt
Đón một mùa xuân đượm thắm nồng

Anh nhớ mang về giọt nắng quê
Thơm thơm mùa lúa chín mùa về
Em đem mộng ướp lên môi thắm
Rung động hồn em thắm duyên thề

Em mãi say mê giọt nắng chiều
Năm xưa nhen nhúm mối tin yêu
Bóng anh dìu bước trong hoa nắng
Bừng dậy trong mơ mỗi sáng chiều

Anh nhớ về mang giọt nằng theo
Của dòng sông Hãn duỗi lưng đèo
Non Mai nở rộ chim mừng quả
Tay nắm trong tay hạt nắng reo

Anh nhớ về quê em mến yêu
Của thời đang mở cửa muôn chiều
Hiền lương một nhịp liền thương nhớ
Thỏa nguyện đường xưa, đẹp bấy nhiêu.






MỪNG TUỔI


Người ta mừng tuổi cha tuổi mẹ
Con đốt nén hương khói tỏa bay
Cha mẹ một thời hoa của đất
Hoa con từ ấy bố trao tay

Tuổi cha chừng ấy cũng chưa già
Chỉ già ý nghĩ tháng năm qua
Trăng rừng nghiêng đổ bên triền núi
Sương muối sáng chiều mặn nước da

Sáng xuân thiên hạ đi mừng tuổi
Con thẳng nhìn lên bóng mẹ cha
Ôn lại những gì con được mất
Nghe lòng mình thổn thức sâu xa

Cha mẹ mừng con thơm tuổi ngọc
Con nhìn quá khứ bước qua mau
Tình đời trước mặt như tranh vẽ
Con ngẩng đầu lên khẽ nguyện cầu.

Thanh Phong- Lê Chí Phóng

READ MORE - THANH PHONG - LÊ CHÍ PHÓNG

Friday, October 2, 2009

TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG - CHÙM THƠ















Trương Đình Đăng

Bút danh: Đình Đăng, Đăng Sơn.
Năm sinh: 1933.
Nguyên quán : Làng Giáo Liêm, xã Triệu Độ, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Hội viên CLB thơ Hàn Giang.
Hội viên CLB Thái Phiên, TP Đà Nẵng.
Đ/c: 30 Nguyễn Văn Thoại, Đà nẵng.
ĐT: 05113 847401.

Đã xuất bản:
- HOA CỎ VƯỜN ĐỜI, tập thơ.
- RĂNG NỎ NHỚ, tập thơ.
- ĐI TÌM LỜI RU, tập thơ.
- PHIÊN KHÚC HIẾN DÂNG, tập thơ.
- NHẬT KÝ WORLDCUP.




MƯA RẰM PHỐ CỔ

Tặng Minh Mẫn


Người về Phố Cổ lòng vui
Em về Phố Cổ ngậm ngùi tình xưa
Rằm trăng nhòa nhạt trang mưa
Ai cùng ai đứng riêng thừa mình em
Ngại ngùng chẳng dám gopij tên
Biết người còn nhớ hay quên nhau rồi
Ngõ chùa tượng đá còn ngồi
Ta còn đâu nữa cái hồi đợi nhau
Lối về mưa buốt niềm đau
Rong rêu kỷ niệm ướt nhàu tình xưa.

18-11-2004




CHIỀU MƯA QUÊ MẸ


Về thăm quê mẹ chiều mưa
Chân quen lối cũ, đường xưa nước tràn
Mưa đan trắng lũy tre làng
Mưa dầm sũng đất, mưa giang kín trời
Áo cơm hạn hán đốt rồi
Đói nghèo mưa bám lưng ngươ]ì dân quê
Hạt mưa vít trĩu ngọn tre
Vơi bồ thóc lép bộn bề nước non
Chiều mưa nam mác tiếng chuông
Quặn lòng con giữa vô thường mẹ ơi!
Cầu mong mây tạnh sáng trời
Cho đồng lúa tố, cho đời mẹ vui.

Q.T. 1997.




SÔNG QUÊ


Tôi về tắm nước sông quê
Thân thương tay mẹ vỗ về tuổi thơ
Nửa đời phiêu lãng bơ vơ
Qua bao nguồn lạch bến bờ đục trong
Đã từng hụp lặn bao dòng
Nào đâu quên được dòng sông quê nhà.


Nhớ đêm vời vợi trăng xa
Câu hò mái đẩy thiết tha êm đềm
Nhớ ngày Cam Lộ chợ phiên
Hiếu Giang đò dọc mắm lên mít về
Nhớ khi trường tỉnh mùa thi
Ngược dòng Thạch Hãn con đi tựu trường
Nhớ dòng Vĩnh Định vấn vương
Tiển đưa ông Ngự lên đường hồi kinh.


Chiều nồm Cửa Việt lênh đênh
Cá khơi tôm lộng thuyền lên buồn về
Nồng cơn nắng lửa trưa hè
Nhông nhông đám trẻ tắm khoe mình trần
Bao ngày giặc bố giặc càn
Sông ngầu đỏ máu hồn oan chất chồng
Nhớ đêm du kích công đồn
Sông nâng thuyền vượt sóng dồn quân sang...


Đã qua khói lửa điêu tàn
Đêm đêm sông lại ngân vang điệu hò
Nhớ sao - O ấy lái đò
Một thời đưa tuổi học trò lại qua
Giả từ sông nước quê nhà
Nghe sông dậy sòng thiết tha quê mình!

1996

Trương Đình Đăng






READ MORE - TRƯƠNG ĐÌNH ĐĂNG - CHÙM THƠ