Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Monday, May 18, 2009

NGUYÊN NGUYÊN - THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ

Phụ nữ Vân Kiều


THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ

NGUYÊN NGUYÊN


Mô hình được dùng để giải mã truyền thuyết Hùng Vương [2] đã dựa vào một quan sát rất thông thường và thực tiễn: “Hai cây đứng cạnh bên nhau trong một khu vườn có thể do những chất bổ dưỡng giống nhau, nhưng phân lượng tức số phần trăm của từng chất một do rễ cây thu hút từ lòng đất hoàn toàn và luôn luôn khác nhau”. Giống như tiếng nói của hai hoặc nhiều dân tộc láng giềng, theo sắp xếp địa lý, có một số từ vựng và cấu trúc giống nhau, và một phần lớn hơn lại khác nhau. Nhưng rất có thể không có vấn đề vay mượn, nhất là trong một quá khứ xa xưa. Chỉ có đóng góp khác nhau của mỗi thành phần sắc tộc đóng góp, tại mỗi quốc gia láng giềng với nhau. Mô hình này được gọi mô hình theo kiểu ‘Cây-và-Đất’, để phân biệt với thứ mô-hình tạm gọi ‘Cây-và-Cành’ thường xuyên được xử dụng từ trước đến nay, nhất là trong nghiên cứu ngữ học.

Hệ luận chính của lý thuyết dựa trên mô hình ‘Cây-và-Đất’ cho rằng tiếng Việt là một hỗn hợp lâu dài của các thứ tiếng thuộc nhiều tộc người khác nhau, với hạ tầng cơ bản là Môn-Khmer phối hợp với Thái-cổ (thành phần chủ lực của tiếng Mường) cộng với khối Đa-Đảo. Chồng chất và đan xen với lớp hạ tầng cơ bản đó là các thứ tiếng xuất phát từ khối Bách Việt xưa ở miền Hoa Nam, từ Vân Nam (Điền Việt) trải qua Quảng Tây, Quảng Đông (Tây và Đông Việt) cho đến tận Chiết Giang (Ngô-Việt), Phúc Kiến - Triều Châu (Mân Việt), và Hải Nam, v.v. Và hỗ trợ bằng hai nhóm từ miền cực Bắc nước Tàu, thời Xuân Thu thường gọi khối Đông Di tập trung ở khu vực tỉnh Sơn Đông ngày nay. Đó là hai nhóm khi xưa ưa sống gần gũi nhau: Hẹ (Hakka, tức Hạc Việt) và Miêu-Dao (Miao-Yao hay Hmong-Mien).

Hệ luận quan trọng khác chính là thứ tiếng mà người Việt thường gọi ‘tiếng Hán Việt’, không phải do tiền nhân vay mượn từ những quan quân đô hộ, mà do chính những người Việt cổ thuộc khối Bách Việt xa xưa (kể luôn cả Hạc Việt và những nhóm tương cận), đem sang xứ An-Nam hoà trộn với các thứ tiếng Việt bản địa. Gần như tất cả những âm Hán Việt quen thuộc, kể cả vô số các âm ‘thuần Nôm’, như ‘chúng ta’, ‘tớ’ {xem [4]}, đều có thể truy về các âm thuộc khối Bách Việt xa xưa, mà hậu duệ của họ hãy còn xử dụng ở bên Tàu cho đến ngày nay.

Bài viết này, do đó, sẽ dùng một số từ được xem đặc thù Quảng Trị, gần đây xuất hiện trong một bài báo của Trần Hữu Thuần [18], theo thông tin từ những email của Trần Vĩnh Tường và Nguyễn Quốc Lập, đăng trên báo mạng Talawas, để tiếp tục đưa ra các dẫn chứng hỗ trợ cho lí thuyết về nguồn gốc tiếng Việt ở trên.

Xin được trình bày ‘tầm nguyên’ của từng từ một theo thứ tự bài viết của Trần Hữu Thuần [18].

Áo lá: ‘áo’ là một từ mang gốc Mon-Khmer [?aav], trong đó [?] {hay [’]} thường gọi ‘tắc âm màng họng’, phát lên giữa [uh] và [oh] khi đọc nhanh [uh-oh]. Tiếng Đa Đảo ở Tahiti gọi ‘áo’ là [?ahu’o’omo] và Samoa: [?ofutino], mang âm đầu rất giống ‘áo’. ‘Lá’ là một từ mang gốc Thái [laa] mang nghĩa ‘nhỏ’. Ngày trước, thứ áo lót ‘mai-dô’ cũng được gọi nôm na: ‘áo thun lá’.

Bạo: ‘Bão’ biến chuyển qua lại với ‘Bạo’, cho thấy sự ma-xát giữa các phần-ngữ khác nhau trên vùng đất Việt. Tiếng Việt ở hạ tầng cơ bản, theo lý thuyết ‘Cây-và-Đất’ [1] [2], chính là tiếng Môn-Khmer pha lẫn với tiếng Thái-cổ và Đa Đảo. Một số các ngôn-ngữ liên-quan đến tiếng Môn, như tiếng Chàm ‘chính thức’, tiếng Myanmar, mang 4 thanh điệu (thinh). Tiếng Mon-Khmer cũng như Munda, đặc biệt nhất là Khmer, không có thinh (nhưng có nhấn mạnh như tiếng Anh), hiện còn phản ánh qua tiếng Hải Nam, tiếng Mã Lai, các tiếng Đa Đảo, v.v. Trong khi các thứ tiếng Thái, Tày-Nùng, Mường, Nam bộ, chỉ mang 5 thinh. Biến chuyển qua lại giữa thinh-ngã (Bão) và thinh-nặng (Bạo), cả hai đều thuộc thinh-trầm, cũng là tiêu biểu của tiếng Mường, bởi tiếng Mường (Hoà Bình) không có thinh-dấu-nặng: mũ khà => mụ già (V). ngẽn ngùi => nghẹn ngùi (ngào) (V). pũi => bụi (V).

B’lăng = cùng gốc với tiếng Mã Lai (phần đóng góp: hệ Môn-Khmer): ‘Bulan’. Tiếng Giarai: ‘Blăng’. Tiếng Mường ngày nay: ‘Tlăng’. Từ điển Alexandre de Rhodes [3] ghi hai âm ‘Trăng’ và ‘Trời’, tuần tự, là [Blăng] và [Blời], trong khi ‘Tròn’ (round) lại giống Mường: [Tlòn]. Khác với các lý giải có sẵn từ trước đến nay, chúng tôi không cho rằng tiếng Việt biến chuyển từ ‘Blăng’ qua ‘Tlăng’ rồi đến ‘Trăng’, mà thật ra đó là ba kiểu phát âm có sẵn thuộc ít nhất ba phương ngữ khác nhau trong lòng tiếng Việt cổ. Phát triển quốc-ngữ chính là tác động thống nhất chọn lọc ra ‘Trăng’, khởi sự khoảng đầu thế kỷ 19.

B’lời = Cũng như ‘Blăng’, ký âm theo Nôm của chữ ‘Trời’ thường bao gồm âm [B] qua chữ ‘Ba’
, cho thấy âm ‘nôm-na’ của người khu vực Kẻ Chợ (Kinh) [5] dành cho chữ ‘Trời’ chính là [Blời]. Một trong những lối viết ‘ráp vần’ Nôm của ‘Trời’ là chồng chữ ‘Ba’ trên chữ ‘Lợi’ [6] => Blợi => Blời.

Bọ = Cha, hay Tía, đều có những từ phát âm tương tự trong các phương ngữ tiếng Hoa, hoặc tiếng Thái: [Po], [Cha] và [Tía]. [Bọ] cũng liên hệ đến [Bố] và [Bu]. Riêng [Bu] cũng chuyển qua lại để chỉ người ‘Mẹ’, hoặc người Vợ. Đặc biệt âm [P] (trong [Po] hay ‘Bọ’) trong nhiều thứ tiếng ở Hoa Nam và Đông Nam Á, thật ra là một thứ âm nằm giữa âm [P] và [B] theo mẫu tự La-tinh. Ký âm quốc-ngữ đã chọn ‘B’ cho một số từ, thí dụ: Po (M) => Bọ (V); Pà đỡ té (M) => Bà đỡ đẻ (V), Pẻnh mỳ (M) => Bánh mì (V). Và âm ‘P’ không được theo sau ngay một nguyên âm (‘pên Tàu’ => ‘pên’ Tàu => bên Tàu), mà phải kèm theo âm hơi thở ‘h’: Phấy (M) => Phẩy (dấu [,]); Phế thái => phế thải (V). Tức các tôn sư quốc ngữ đã đặt ra quy lệ, không dùng âm ‘P’ với một nguyên âm theo sau: Pung => Pung => Bụng.

Ca = Gà, một thứ từ có nhiều phát âm rất giống với từ tương đương ở các phương ngữ Hoa Nam, nhất là Hakka và Hải Nam [Gai]. Thái cũng phát âm tương tự: [Gai] hay [Gaa]. Quảng Đông phát âm như [Cáy], rất giống tiếng Mường: [Ca].

Cẳng = Chân. Thêm một từ nữa: ‘Giò’. ‘Chân’ mang cùng gốc với [jəəng] hay [dzâng], [ajưng] hoặc [chơn] của các phương ngữ thuộc Mon-Khmer, Munda [8] hay Mường. [Cẳng] bà con với [Ka] tiếng Hakka (Hẹ), [Ka-tui] Phúc Kiến, [taKay] tiếng Chăm, hoặc [Kaki] tiếng Mã Lay, và giống nhất với [Kahng] tiếng Tây Tạng. Trong khi ‘Giò’ có thể cùng gốc gác với [zeoi] tiếng Quảng Đông, [giok] Hẹ (Hakka), hay [chiok] Phúc Kiến (Minnan) [9].

Cấu = Gạo: Gần như tất cả các từ liên hệ đến ‘lúa gạo’ đều mang gốc chủng Việt (chi Thái tức Âu), nếu viết tiếng Tàu, viết theo bộ Mễ (xem [2]). ‘Cấu’ (cũng có thể: ‘Cẩu’) có bà con gần với [Cảo] tiếng Mường, [Khẩu] tiếng Tày-Nùng, và [Khao] hay [Gaow] tiếng Thái. Để ý biến chuyển ‘song hành’ giữa tiếng Thái và Việt: ‘Cơm’ [Gaow] mang một lượt hai nghĩa: Cơm (gạo) {cảo chăm: gạo tẻ}, và Bữa ăn {Anh ăn cơm chưa?}.

Cẩy = Vợ. Chữ ‘Vợ’ có thể mang hai gốc khác nhau tùy theo địa phương. Phát âm theo phía Nam [Byợ] rất gần với các âm bắt đầu bằng [B] như [Bu] hay [Bọ]. Phát âm theo kiểu ‘V’ của phía Bắc thì gần sát với [vo] tiếng Hakka mang nghĩa ‘người hầu thiếp’, hay [vuk] (cũng Hakka), tương đương với [wu] quan-thoại mang nghĩa ‘nhà’ (ốc) hay ‘thất’ {thành gia thất, chánh thất (vợ cả)}. ‘Cẩy’ [11] trong khi đó có âm tương ứng trong tiếng Mường là [Cải] hay [Cảy], mang nghĩa ‘Mẹ’ hay ‘Vợ’: Cải con= vợ con, cảy quả= mẹ goá, cảy té= mẹ đẻ.

Cẩy = Cái // con Gái. Âm cuối [y] trong [Cẩy] mang ảnh hưởng khối Mon-Khmer. Tiếng Việt trong trường hợp này đã chọn [i], thành ra [Cái]. Trong tiếng Mường, [Cẩy] {cải / cảy} có thể mang nghĩa ‘cái / con’ (cải pẻnh, cái đốc => cái bánh, cái đò; cảy cả => con cá; cảy ca => con gà), và cũng đồng thời có thể dùng để chỉ: mẹ, vợ, con gái, chị, người đàn bà. Thí dụ: cảy ho = mẹ tôi; con cải = con gái; cải cá = chị cả; cái khà = gái già; cải khon = gái tân; cải roch = chị ruột).

Chạc giợ = dây chỉ / dây nhợ. Âm đầu [Ch] tiếng Mường thường khi tương đương với âm [gi] hay [d] {[y]} phát âm theo phía Bắc hay Hakka là {[dz]}. Thí dụ: chiểng (M) => giếng (V); chiềng (M) => giường (V). Trong khi đó, âm [y] của chủng Thái-cổ hay đa số các phương ngữ tiếng Tàu kể cả Quan-thoại, rất thường tương đương với âm Việt [Nh]. Thí dụ: [ya] => ‘Nha’ (răng –> nha sĩ) [10]. Ở thế kỷ 17, những khu vực Alexandre de Rhodes đi qua và tiếp cận trước khi soạn quyển từ điển tiếng An-nam đầu tiên [3] là những vùng không mang ảnh hưởng Hakka, tức dùng âm [D] như [Y] kiểu Nam bộ, qua dấu ấn [d] => [nh] {xem [3]}: dè dẹ=> nhè nhẹ, dán => nhắn, dả ra => nhả ra; dắc cha mẹ => nhắc cha mẹ; dịn => nhịn (dung thứ [3]). Khi quốc ngữ được xử dụng mãnh liệt vào giữa thế kỷ 19 ở Nam bộ, âm [D] đứng ra thay thế cho cả hai thứ [Y] quan-thoại và [Z] Hakka. Từ đó âm [Nh] xuất thân từ [D] trở lại biến chuyển với [Z] tức [Dz] hay [Gi]. Từ điển Mường [7] có ghi: Chac nhỡ =>dây chỉ {chạc nhợ}=>giây nhợ=> chạc giợ. Để ý, trong tiếng Mường (Hoà Bình), không có dấu nặng [7]: Chac => chạc (V).

Chắc = nhau. Không chắc chắn như vậy. Bởi ‘chắc’ là một từ mang gốc Mon-Khmer và Mường mang nghĩa: thân mình, con người, thân thể, v.v. Trong lối dùng ‘đập chắc’, ta có thể thay thế nó bằng ‘đánh nhau’, nhưng [chắc] chắc không nhất thiết mang nghĩa gốc là ‘nhau’. ‘Đập chắc’ là một lối nói của một số phương ngữ Trung bộ, tương đương với ‘đánh nhau’ phía Bắc, hoặc ‘quýnh lộn’ phía Nam [12]. Tiếng Mường: chắc = người (V), chắc cá = người lớn, chắc khà = người già. Tiếng Mon-Khmer: [tsa?ak] hay [sa?ak] = thân mình.

Chi = gì / sao. Rất phổ quát tại nhiều nơi. Tiếng Mường: cải chi => cái gì.
Chiếng = giếng. Âm [ch] tiếng Mường, nhiều khi tương đương với [g] tiếng Việt. Khảng

Chiêng => tháng Giêng. Chiềng bễnh => giường bệnh. Chiểng = giếng. Chú ý: hai âm bổng [ẻ] (dấu hỏi) và [é] (dấu sắc), ưa biến chuyển qua lại trong tiếng Mường, một thứ tiếng không có kí âm theo a-b-c cho mãi đến sau này.

Choọc = Thọc. Tiếng Việt trước khi quốc ngữ ra đời đại khái có những ‘pha ngữ’ lộn xộn như kiểu ‘Choọc <=> Thọc’. ‘Choọc’ là âm đứng giữa ‘chọc’ và ‘chọt’, tức nhấn mạnh việc không phân biệt âm cuối [c] hay [t], như kiểu Nam bộ. ‘Thọc’ và ‘chọc’ lúc đầu có thể chia sẻ một số ý nghĩa chung, nhưng dần dà tách ra hai cách dùng khác nhau. Điển hình: chọc = tease (trêu chọc / chọc ghẹo); thọc = poke (thọc gậy). Tiếng Mường cũng có ‘chọc’, nhưng không có dấu nặng: [choc]. Việc nhầm lẫn ‘chọc’ với ‘thọc’ có lẽ bắt nguồn từ hai cách phát âm khác nhau của cùng 1 từ Bách Việt:
[tsok] (~ choc) theo kiểu Hẹ / Quảng Đông, và [tshokk] (~ thoc) theo Ngô Việt (Chiết Giang) [9].

Chộ = thấy. Rất có khả năng mang cùng gốc với các từ Thái: [chohm], [jaawng]. Hay [sioki] tiếng Tonga, hoặc [ýô?k] tiếng Chăm. Đặc biệt ‘Chộ’ mang phát âm rất gần với Hạc Việt (tức Hẹ hay Hakka) [chuk] hay [chon], Mân Việt (Phúc Kiến) [chhu], Ngô Việt [tshO], và Hán-Hàn [chok] - viết theo Hán tự:
穿.

Chồông = chồng (chất). Cũng có bà con với tiếng Tàu. Hakka đọc [zong] viết khác với quanthoại [chong]-2. Việc thiếu phân biệt âm cuối [an] và [ang] cũng được phản ánh qua khá nhiều phương ngữ Trung Hoa. Thí dụ: Lý An (đạo diễn) => Ang Lee. Lý QuanG Diệu => Lee Kwan Yew. Tinh (sao) => sing (Q. Đ) => chheN (Mân Việt – Phúc Kiến). Thí dụ thêm về thiếu phân biệt âm cuối [c] và [t] ở tiếng Mường: Roch (M) => ruột. Wớch (M) => vớt. Có vẻ việc du nhập phân biệt các âm cuối [t] và [c], [n] và [ng] trong tiếng Việt, khởi xuất từ phương ngữ Mân Việt của khối người hậu thuẫn, hay thuộc thị tộc, nhà Trần.

Chờng = giường. ‘Chờng’ ó ‘chiềng’. ‘Ờ’ hay ‘Iề’ đều là những kí âm ‘gần đúng’ của quốc ngữ, đối với hằng trăm phát âm khác nhau tùy từng làng hay mường bản của thời ‘tiền-quốc-ngữ’. Chiềng bễnh => giường bệnh.

Chu = châu. Đây là một trong những phát hiện đặc biệt của loạt bài Hùng Vương [2]. Ngày trước chúng ta thường nhầm rằng ‘Chu => Châu’ do ở việc kị húy Chúa Nguyễn Phúc Chu. Sự thật không phải vậy. Nó nằm trong định luật về âm tương đương giữa các phương ngữ Bách Việt (xưa) ở Hoa Nam, [Iu] ó [Âu]: ‘Nếu một phương ngữ có phát âm [au] hay [ou] cho một từ, thế nào cũng có một phương ngữ khác phát âm cho cùng từ đó theo âm [iu]’. Thí dụ: tài tử Andy Lau (‘Lau’ đọc theo Hongkong) theo tiếng quan thoại sẽ là Andy Liu {Lau Tak Wa = Liu De Hua = Lưu Đức Hoa}. Âm [ưu] quốc ngữ chính là một thứ âm ‘du di’ nằm giữa [au] và [iu] {[Lưu] giữa [Lau] và [Liu]}. Người Hẹ thiên về [iu]: Đông Châu [dong zhou] họ sẽ đọc như [Dong Chiu]. Lâu ngày sẽ ra khuynh hướng dẹp bớt âm [i] ở giữa, thành ra [Dong Zhu] => Đông Chu. Muà Thu tiếng Tàu đọc [qiu]. Nhưng Quảng Đông đọc [tsau]. Hakka sẽ thu gọn [qiu] thành ra [qu] => Thu. Tuy nhiên hai họ [Zhou] (Châu)
và [Zhu] (Chu) là hai họ hoàn toàn khác nhau trong tiếng Tàu: Chu Nguyên Chương / Chu Dung Cơ – mang họ khác với - Châu Ân Lai / Châu Nhuận Phát / Châu Chỉ Nhược. Tiếng Việt không phân biệt khác nhau giữa hai họ, và thường lầm tưởng khác nhau giữa phát âm Bắc và Nam. Người Rapanui và Maori gọi gió hiu-hiu (breeze) là [hauhau]. ‘Hiu-hiu’ ó ‘hauhau’ cho thấy tổ tiên của họ, rất có khả năng, đã từng có mặt ở Việt Nam và Nam Trung Hoa.

Cộ = củ (khoai). Lại một hoán chuyển giữa các thinh (dấu). Từ điển Mường [7] ghi: cố = củ: Nhúc ca mà kho pỡi cố cỏng điênh ăn lắm / Thịt gà mà kho với củ gừng thì ngon lắm. Cổ = cố, cụ: Pà cổ tôi ta hảo ản môch tlăm thuối / Bà cố tôi gần được một trăm tuổi rồi.

Côi = trên. Tiếng Mường: cổi = trên. Cổi tlời = trên trời, cõi trời; cổi nủi = trên núi. Có thể cùng gốc với Phúc Kiến [kaoiN] nghĩa ‘cao / phía trên’.

Cơn = con + cái. Trước hết, ‘cơn’ => [con] chỉ là một lối kí âm thống nhất của quốc ngữ: [con]. Nhưng theo định luật thông thường của ‘mạo từ’ [12], ‘con’ thường dính với các từ mang tính ‘động-đậy’: con sông, con chó, con gà, con gái, con chim, … và ‘cái’ thường đi với những từ mang tính ‘bất động’: cái bàn, cái ghế, cái hồ, cái đồn, …. ‘Cái’ cũng thường dùng cho những gì trừu tượng: cái lời khuyên, cái tinh thần chậm tiến. Thế nhưng, có một số ngoại lệ có thể giải thích được, một số khác lại không. Thí dụ: mặt trời thường mang ‘giống bất động’: cái mặt trời hôm nay sao nóng thế, cái ông trời thật bất công (giống như: cái thằng cha đó dê thật); nhưng mặt trăng lại dùng với ‘con’ (động đậy): Đầu con trăng = đầu tháng {xem [14]}; Con trăng nay đã tròn (giống như: con mẹ đó lém lắm, con {cơn} nước ròng). Mặt trăng mang giống ‘động đậy’ {‘Con’} [14], có thể giải thích bằng: (a) trăng có dấu chuyển động, khi khuyết khi tròn; (b) trăng liên hệ đến chuyển động thủy triều lên xuống; (c) có thể những nhà thiên văn cổ thời đã biết mặt trăng vận chuyển quanh trái đất trong một tháng. Phân loại ‘cái’ cho ‘trời’ và ‘con’ cho ‘trăng’ hoàn toàn phù hợp với phân loại của tộc Mon-Khmer, chứ không như kiểu người dân tộc Anishinaabemowin (da đỏ) ở Canada [15]. Thế tại sao tiếng Việt lại dùng ‘con dao’ và ‘cái rựa’? Muốn tìm lí giải hợp lý cho câu hỏi này có lẽ ta phải dựa vào ‘luật trung bình’ của toán học. Theo đó những bộ phận cơ thể có phát ra chất lỏng, chất khí (hơi thở) {như lỗ mũi} [15] - hay theo bình quân tương đối có ‘động đậy’ (như bộ phận sinh dục đàn ông) – sẽ mang giống ‘động đậy’ (tạm gọi: giống ‘chổng’), những bộ phận khác sẽ theo giống ‘bất động’. Ngoài ra ‘con dao’ phần lớn cấu tạo do kim loại, lấy từ các quặng mỏ, một thứ ‘đá’ mang cùng giống ‘chổng’ như ‘trăng’ {theo hệ Mon-Khmer} => Con => Con dao. Trái lại, mặc dù ưa đứng chung với ‘Đực’ {đực rựa – xem [16]}, ‘rựa’ phải dùng ‘mạo từ bất động’ là ‘Cái’, bởi chứa phần lớn là gỗ, ở cái cán dài, ít ra trong kiểu dáng ban đầu xa xưa. ‘Gỗ’ (giống như ‘cây’) mang giống ‘cái’, bất động. Giống như ta nói ‘cái cuốc’ bởi cuốc cũng có cái cán bằng gỗ thật dài. Thật ra điểm cần nhấn mạnh ở đây không phải ở chuyện ‘cái / con’ nhưng ở chỗ trong tiếng Mường phân biệt mạo từ ‘cái’ và ‘con’ thường bị nhầm lẫn (lộn xộn) hơn tiếng Việt rất nhiều. Thí dụ: cảy = cái => cảy tlời (trời), cảy tlăng (trăng), cảy khảng (tháng), cảy khảng (trăng), cảy ca (gà),…. Con = con => con ca (gà), con ngươi (ngươi), con thay (ngón tay), con ma Chỡ (ma người Kinh), con ta (cây đa),… Theo thiển ý, điểm lộn xộn này trong tiếng Mường đã cho thấy phân loại giống trong mạo từ ‘con / cái’ không xuất phát từ tộc Thái cổ (tộc Âu-Việt ảnh hưởng chủ lực đến người Mường), mà chính ra khởi nguồn từ tộc Việt-cổ khác cũng thuộc bản địa: Môn-Khmer. Người (Kinh) Việt xử dụng ‘cái / con’ nhuần nhuyễn hơn, và theo sát tộc Việt bản địa: Mon-Khmer.
Cụ = Cậu. Tiếng Mường: Cũ = Cậu. Củ = (con) Gấu. Âm [u] => [âu] (V).

Cươi = Sân. Trước hết ‘sân’ là một từ mang gốc Mân Việt (Phúc Kiến): [tsing]. ‘Cươi’ là một thứ từ hiếm có trong những từ điển phương ngữ xa xưa, bởi thời đó, nhà cửa cố định còn không có (đối với đa số), thì nói gì đến sân. Chúng ta chỉ có thể tìm ra những từ có phát âm gần đúng – và loại bớt ảnh hưởng của kí âm quốc ngữ. [Cươi] có thể mang nghĩa ‘cái nền đất’ => ‘cơ’ (xem từ điển Huình Tịnh Của [14]). [Cươi] cũng mang âm gần với ‘Cơi’ mang nghĩa ‘đất cao’ [14]. Hoặc khoảng đất gần ‘Cửa’ hàng rào trước ‘nhà’. ‘Cươi’ do đó có thể mang liên hệ ‘ví phỏng’ với ‘Cửa’ (xem [1] [4]). Gần âm với [ngoue] tiếng Tonga (Đa đảo) mang nghĩa ‘vườn’, hay [kelekele] Tonga, và [qele] Fiji, nghĩa ‘đất’, ‘khoảng đất’. Gần với từ đầu [qab] (đọc [cá]) trong [qab tsib taug] tiếng Hmong chỉ ‘sân’. Cũng gần với [kArug] tiếng Sora (Munda) chỉ ‘sân sau’.

Du = Dâu (vợ con trai). Tiếng Mường, Du = Dâu. Du mỏi = dâu mới cưới. Cho thấy biến chuyển kiểu ‘Chu / Châu’, ‘Tlu / Tlâu (Trâu)’.

Dzầu = *[THầu] = dầu (oil). *[THầu] với [Th] mang âm giống IPA [ð] cho mạo từ ‘The’ {[ðə]} tiếng Anh. Đây có lẽ là vấn đề gút mắt nhất cho âm chữ [D]. Âm chữ [D] cũng như rất nhiều âm khác, như chữ [V], được quốc ngữ đưa ra để thay thế một số các âm gần giống thay đổi theo từng ‘phần-ngữ’ đóng góp tạo nên tiếng Việt và cũng để nhất thống chuyện có nhiều âm vận địa phương khác nhau. Âm quốc ngữ chữ [D], theo thiển ý đã được đề ra thay thế một loạt các thứ âm sau đây:

Âm [Y] theo kiểu quan-thoại và rất nhiều phương ngữ Hoa Nam: Yang Gui Fei => Dương Quý Phi (phát âm theo kiểu Nam). Trong trường hợp này, khi chuyển sang kí âm quốc ngữ, [Y] thỉnh thoảng cũng được viết theo âm [Nh]: [Ya] => Nha (răng). Dức đầu => Nhức đầu. Thời từ điển Alexandre de Rhodes [3] có vẻ quốc-ngữ chưa phân biệt âm [Y] với [Nh]: dè dẹ= nhè nhẹ; dịn = nhịn (dung thứ [3]); yà = nhà; dả ra= nhả ra; dắc cha mẹ= nhắc cha mẹ; dán= nhắn, dúc= túc, ...

Âm [Z] của một số ‘chi-phương-ngữ’ tiếng Hẹ (Hakka, xin tạm gọi nhóm Hạc Việt): Zang Kwui Fi => Dzương Quí Phi (rất giống phát âm Hạc Việt). Trong trường hợp này, [D] cũng đôi khi biến chuyển qua lại với [Gi]: dòng sông => giòng sông. Tiếng Mường: dói => giỏi. Cô dảo => cô giáo.

Âm [Đ] như còn dấu vết trong các thứ tiếng Mường, Tày Nùng, và thường hoán chuyển qua lại với [D]: Đĩa = dĩa (V). Đây = dây (M), giây. Dặng = đứng (T-N). Đảng mõl = dáng người (M). Đãy páo = dạy bảo (M). Từ điển Alexandre de Rhodes cũng cho thấy dấu vết trong tiếng Việt: kín dáo = kín đáo; dắp = đắp (chăn); dạp = đạp (voi đạp); voi đú = voi dữ - tức [Đ ó D].

Âm [T] như trong tiếng Mường: Ta non = da non (M). Con Tê = con dê (M). Tĩa = dĩa = đĩa (M). Tiếng Tày-Nùng: tạy = dạy (học). Rất thường, [T] biến chuyển qua lại với [Đ], bởi cả hai đều thuộc loại ‘tắc âm nứu’ theo kiểu: Teng Hsiao Ping => Deng Xiao Ping: Đặng Tiểu Bình. Mao Tse Tung => Mao Ze Dong: Mao Trạch Đông. Lối dùng [T] là theo phiên âm Wade-Giles, kiểu [Đ] theo pin-yin. Thí dụ khác: Hu Jin Tao => Hồ Cẩm Đào (chủ tịch) => {[T] => [Đ]}.

Thật ra loại bỏ ảnh hưởng kí âm a-b-c, âm đó nằm đâu đó ở giữa [T] và [D]-Tây {tức [Đ]}, theo kí âm cho tiếng Mường: nồi tất = nồi đất; Bừa tẩm bừa tả = vừa đấm vừa đá; tâm rồ = đâm khùng; tầl = đuổi; tèn tó = đèn đỏ. Âm [T] hay [D]-Tây cũng có thể kèm theo [j] như tiếng Miến Điện: [Tj] hay [Dj], cả hai đều có thể tiệm cận với âm quen thuộc [Dz]: con Tjê => con Dê. Miến Điện: [Tje] = tinh-tú (sao). Mường: [tyểnh ni]= đến đây. Myanmar: [Tja] => giá (cả) => Dả (Mường).

Một khi chữ ‘D’ được dùng để kí âm bao-thầu cho một loạt các âm liệt kê ở trên, [D]
trong ‘Dầu’ (oil) có thể tiến sát với âm [đhờ] {tức [ðə]} như trong từ Anh ngữ: ‘the’ hay ‘then’, giống như âm [dh] trong tiếng Myanmar [17] [22]: [dhadì-nè] = carefully, cẩn thận. Dầu = *[THầu]= [ðầu]. Bởi âm [Dh] {tức IPA [ð]} (trong ‘The’) là thứ ‘sát âm răng’ khá gần với ‘tắc âm nướu’, như [Đ] và [T].

Ghi chú thêm: Ngay trong đánh vần chữ Nôm, ta cũng thấy biến chuyển qua lại giữa các âm [T], [D] và [Đ]. Thí dụ: Da = Bì+Đa (D => Đ); Dãi = Tâm+Trãi {D => T} (dãi nắng dầm mưa) [21].

Đao = dao. Xin xem ‘Dầu’ phía trên, và để ý âm tiếng Quan Thoại: [dao] (đao), tương ứng với Hạc Việt (Hẹ / Hakka): [tau], [D] <=> [T].

Đàng = đường. Không hẳn là một thứ âm đặc thù Quảng Trị. Mường gọi [tàng] (tàng tất = đường đất). ‘Đàng’ hay ‘đường’ có cùng gốc với từ Quảng Đông [dung]衕, mang nghĩa ‘ngõ đi’. ‘Đường sá’ đàng hoàng người Hoa gọi ‘đạo’ 道, người Thái và một lô các tiếng gốc Mon-Khmer (kể cả Chăm) và Đa đảo thường thiên về các âm vị mang âm [sá] (trong ‘đường sá’): [saawk] (Thái), [zalan], [kh(r)a] (Mon-Khmer) [8] [19], [salan] (Chăm, Đa đảo) [8] [20]. ‘Đàng’ và ‘đường’ biến chuyển qua lại với nhau, nằm trong một quy luật giữa các phương ngữ Hoa-Nam: [a] <=> [eu] hay [ươ] Việt. Thí dụ: [Yang] quanthoại => [Yeung] QuảngĐông => [Dương] Việt. [Liang] => [leung] => [lượng] / [lạng].

Đặng = được. Xuất phát từ tiếng Tàu. ‘Đặng’ và ‘được’ là lối đọc tiếng Việt (Bách Việt) của hai từ Hoa khác nhau: 打 [deng] Quanthoại {đặng}, và 得 [tiet] Hẹ, [dak] QĐ {đạt}, và [tâ?] Ngô-Việt (tức Chiết-Giang/Thượng Hải).

Đụa = đũa. Biến chuyển dấu ngã sang nặng rất thường xảy ra giữa tiếng Mường và Việt, một phần tiếng Mường (Hoà Bình) không có dấu nặng. Phần khác, trước thời quốc-ngữ phát triển, các thinh thường biến chuyển theo làng xóm, và địa phương. Thí dụ thêm: Lộ = Lỗ (mũi). Thường thường, xin nhấn mạnh ‘thường thường’, thinh trầm theo trầm (ngã ~ biến qua lại với ‘nặng’ hay ‘huyền’), bổng theo bổng. Từ điển Alexandre de Rhodes như trích dẫn nhiều nơi ở trên cho thấy biến chuyển có vẻ lộn xộn hơn.

Eng = Anh. Tiếng Mường: Enh = anh. Tiếng Hàn (Korean) tương đương với ‘huynh’ chính là [hyEng], đọc nhanh có thể rất giống [Eng].
An = Ăn. Giống tiếng Thavung thuộc khối Mon-Khmer: [?an]. Tiếng Nam-Mân-Việt (Minnan – Phúc Kiến) phát âm cho từ ‘dùng’ (ăn) là [Eng].

Giôông = chồng. ‘Chồng’ mang phát âm giống tiếng Hạc-Việt [chong] tương đương với [trượng] trong ‘trượng phu’. Âm [Gi] trong [Giồông] tương đương ‘qua lại’ với [Ch] là một đặc điểm tiếng Mường {xem ‘Giường / chờng’ phía trên}.

Giôông = giông. Không ngoài việc cho biết lối phát âm phân biệt âm cuối [n] và [ng] chỉ là đặc điểm một phương ngữ chủ lực vùng kẻ Chợ của tiếng Việt. Rất có thể mang ảnh hưởng tiếng Mân Việt (nhà Trần). Tương tự: Hoọc = Học // Khôông = Không.

Hè = nhỉ. Không là một ngoại lệ đặc biệt. Từ đệm cuối câu thường thay đổi giữa các phương ngữ với nhau. Hè = hỉ = nhé = nhỉ = hả = chớ = chi = à = v.v. Tiếng Hoa có thể có trên 30 từ đệm khác nhau.

Lả = Lửa. Tiếng Mường (Hoà Bình) cho ‘lửa’ là ‘cúi’. ‘Ví phỏng trường’ [1] của ‘cúi’ (lửa) hoán chuyển sinh ra ‘cúi’ mang nghĩa ‘củi’ (cây dùng để đốt lửa) [30]. Một ‘chi phương ngữ’ Mường khác có thể phát âm ‘lửa’ như ‘lá’ hay ‘lả’, bởi các dấu ấn của âm tương đương [a] <=> [ưa] như sau: [Khã] (M) => ‘Sữa’ (milk) (V). Tha thỉa (M) => Rưa rứa. Rạ = Rựa {xem [18]}. Do đó, âm [A] (M) => [Ưa] (V) ==> Lả = lửa. {‘Lả’ => Lửa, mang ảnh hưởng tiếng Mường}.

Lịp = nón lá. Có ghi đầy đủ trong tự điển Huình Tịnh Của [14]: nón. Tiếng Hạc Việt (Hẹ) phát âm y hệt [lip] cho chữ 笠, tượng hình chữ ‘Trúc / tre’ (chỉ lá tre) viết chồng lên âm ‘lập’. Phát âm theo kiểu Quảng Đông của ‘lịp’ là [lap].

Ló = lúa. Tiếng Mường: Lõ = lúa. Lõ cảo = lúa gạo; lõ đếp = lúa nếp. Giữa Mường và Kinh, âm dấu sắc ưa biến chuyển qua lại với dấu hỏi. Nhưng trường hợp này cho thấy phân loại ‘hỏi / ngã’ trong tiếng Việt có vẻ rất nhân tạo. Thí dụ khác: chũng thôi (M) = chúng tôi; so với: chủng enh (M) = các anh.

Lọi = gãy (chân). Cũng là kiểu nói nhiều nơi khác. Tiếng Mường: lé= gẫy; lé chân= gẫy chân. Đây là một thứ âm sinh ra theo kiểu ‘cận vị’ – ‘lẻ (lé)’ và ‘loi’ ưa đứng gần - bởi tiếng Mường cũng như Việt đều có: lé loi (M) = lẻ loi (đơn chiếc) (V). Như vậy sẽ không có gì vượt đến ngoại lệ, khi ‘lé loi’ mang nghĩa ‘cô đơn’, ‘đơn chiếc’, trong tiếng Mường cũng sẽ mang nghĩa ‘gẫy’ (tay / chân) {lé // lọi}. Bởi tiếng Mường Hoà Bình không có dấu nặng cho nên tiếng (Kinh) Việt có thể sẽ biến ‘loi’ thành ‘lọi’ để phân biệt với ‘lẻ loi’, mặc dù cả hai trong tiếng Mường đều là [lé loi]. Âm giống nhất trực tiếp là [Lov] trong tiếng Hmong, với [v] chỉ thinh vừa vừa rồi cất lên, giống kiểu thinh ‘hỏi’ hay ‘ngã’, mang nghĩa ‘bẻ / gẫy’. Một từ ‘Nôm’ khác khá gần ‘Lọi’ chính là ‘lìa’ 裂 có phát âm quan-thoại [lie] và Nam Mân-Việt là [liat]. ‘Lìa’ ưa ‘cận vị’ với ‘gãy’: ‘gãy lìa’.

Mệ = bà. Ảnh hưởng ‘Thái-Việt’ (Mường): Mễ = mẹ, bà. Mễ dã= bà nội, mẹ chồng. Mễ mỗng= mẹ vợ. Mễ khà= mẹ già, u già, bà, cụ.

Mẹng = miệng. Tiếng Mường => ‘Mẽnh’, cho thấy ‘Mẹng / miệng / mẽnh / mồm’ là những lối phát âm khác nhau theo từng vùng, trước thời quấc-ngữ. ‘Mồm’ => mõm, với Mõm thường dùng cho súc vật: ‘mõm chó’.

Mi = mày. Cũng được dùng tại nhiều nơi ở Việt Nam, và cũng có ghi trong từ điển xưa [14]. (Xem thêm chi tiết ở [4]).

Mo nang = tàu cau. Có ghi trong từ điển Huình Tịnh Của [14]: Mo = cái cốt tàu cau // Mo nang= cái bao trắng gói lấy buồng cau, buồng cau nở ra thì nó phải rụng. Từ dùng để chỉ ‘Cau’ ở tiếng ChRu là [Pơ-Nang], tiếng Mã-Lay là [pin-nang]. Để ý [Pơ-nang] có âm đầu /P/ rất giống /M/ trong ‘Mo-nang’ bởi cả hai (/P/ và /M/) đều là âm môi-môi.

Mô = đâu. Cũng có ghi trong từ điển Paulus Của [14].

Mụ = bà. Có ghi trong từ điển Alexandre de Rhodes xuất bản năm 1651 [3]. Tiếng Chăm: [Mu?] nghĩa ‘bà cụ’; [mu?]-[bôy] = bà mụ.

Mui = môi. Hoán chuyển bình thường giữa âm [u] và [ô], trước và sau thời quốc ngữ: [tui] = [tôi]; [thúi] = [thối]; [gong] Hoa => [cung] Việt; [kung fu] => [công phu]; [tùng] = [tòng], v.v.

Mụi = mũi. Hoán chuyển bình thường giữa hai thinh trầm. Thông thường qua lại giữa Mường và Việt. Thỉ ngiễm (M)=> thí nghiệm (V). Pò mũng (M)=> bò mộng.

Nác = nước. [Nác] hay [đác] là những phát âm chỉ ‘nước’ rất phổ biến trong các thứ phương ngữ xưa ở vùng Đông Dương, kể cả tiếng Mường. Từ điển Alexandre de Rhodes [3] ghi ‘Nác’ = ‘nước’. ‘Nác’ mang cùng gốc với [Naahm] tiếng Thái-Lào, và cũng rất có thể ‘Nác’ là kết quả hợp âm: [naahm] T + [dak] M-K. ‘Nác’, ở dạng ‘Đác’ trong các phương ngữ của Môn-Khmer, cũng có liện hệ ‘ví phỏng’ (xem [1]) với ‘đạc’ mang nghĩa ‘chất lỏng đã đặc lại’ => ‘đặc’ [3].

Ngái = xa. Một từ rất phổ biến khắp Trung-Hoa và các vùng đất Mon-Khmer: [xngai], [jngai], [yngai], [xă-ngai], v.v. thuộc Mon-Khmer và Munda. Tiếng Thái là [za] gần với ‘xa’ hơn. Âm [ngái] rất gần với âm [gai] quanthoại và [kai] tiếng Mân Việt (PK) và Hạc Việt (Hẹ), 垓, có mang một nghĩa: ‘Xa’. ‘Ngái’ cũng được ghi trong cả hai quyển từ điển của Alexandre De Rhodes [3] và Huình Tịnh Của [14].

Ni = này // Nớ = Kia. Các thứ tiếng đệm, thường có âm tương đương trong các phương ngữ Hoa. Tiếng Mường: ni = nì = nầy. Tiếng Việt: Nớ ~ Nọ.

Nôỗng = nương. Nổng = chỗ đất cao (Từ điển Lê Ngọc Trụ [23]).

Nương = vườn quanh nhà. Theo [23]: nương = ruộng cao ở núi. Dùng sát với ‘ruộng’, hay thay thế ‘ruộng’: ruộng nương, nương chè, nương dâu. ‘Nôỗng’ và ‘Nương’ rất gần âm với ‘nông’, và ý nghĩa, cách phát âm có thể hoán chuyển với nhau, trước thời quốc-ngữ. Cũng có khi đi đôi với ‘náu’ mang nghĩa: nương tựa, nhờ cậy. Trường hợp này, ‘nương’ gần âm tiếng Hạc (Hẹ): [niong] = nương tựa, và ‘náu’ gần âm tiếng Ngô-Việt: [Nyaz], hay Hạc: [liau].

O = cô. Có trong từ điển của Huình Tịnh Của [14]: Ông chú mụ o = ông chú bà cô. Ngoài ra ‘O’ => o bế = lấy lòng.

O mi; cụ mi; chú mi: Trong trường hợp này, ‘O’ được dùng như một từ đệm cho ‘đại từ’. Xem [4], ta thấy ‘O’ có thể dùng như một đại từ, mang nghĩa ‘tôi / tớ’ - xuất phát từ phương ngữ Quảng Đông. ‘O mi’ rất có khả năng dùng ‘o’ chêm vào ‘mi’ để thêm phần thân mật: ‘Mi của O’ - giống như kiểu ‘chú mầy’, ‘chú mi’.

Ót = gáy (sau cổ). Tiếng Chăm: [takôy] = cổ. Mon-Khmer: [ko] hay [ka] = cổ. Trong nhóm ngữ Mon-Khmer, cũng có rất nhiều thứ tiếng dùng từ mang âm và nghĩa lẫn lộn cho: đầu, óc, và cổ. Kata, Sedang: *[nqo], [ko], [nkoq]; Munda: [oq]; Bahnar, Pacoh: [kơl]; Mường (Khen): [kel]; Sengoi: [kelkeil]; Stieng: [ngun] [8], mang nghĩa: đầu, óc, sọ, cổ, và ‘gáy’ (Sengoi) lẫn lộn nhau. Tiếng Thái cho ‘cổ’ và ‘cổ họng’ là [khaaw], rất gần ‘cổ’. Tiếng Tàu cho ‘cổ’ hay ‘gáy’ là 項 phát âm [hong] theo Hạc và Quảng Đông, khá giống ‘họng’ tiếng Việt. Phát âm Ngô-Việt cho từ này là [hAz] khá gần với ‘ót’. Trong khi phát âm Hán-Nhật là [kou] => cổ. Tự vị Huình Tịnh Của [14] cũng có ghi: Ót= phía sau cổ, ở tại chớn tóc. Từ điển Alexandre de Rhodes [3] lại có ghi: Gấy, sau gấy: Tăóc gấy = Tóc gáy. Bối tăóc sau gấy => búi tóc (cho gọn) ở sau gáy.

Ôông = Ông. Cũng không đặc biệt phương ngữ Quảng Trị. Tiếng Việt thời quốc ngữ chưa hoàn chỉnh, vẫn có lộn xộn ở âm cuối [ôn] và [ông]. Thí dụ: ‘tôn giáo’ trước giữa thế kỷ 20, vẫn còn phát âm tại rất nhiều nơi: ‘tông giáo’ (xin xem quyển ‘Nho Giáo’ của Trần Trọng Kim – đã dùng ‘tông giáo’ từ đầu đến cuối). Rất có thể những nhà cải biến quốc ngữ đã đổi ‘tông’ thành ‘tôn’ bởi âm ‘tôn’ gần với ‘tin’ trong ‘tín ngưỡng’, và ‘cận vị’ với ‘tôn kính’, ‘tôn thờ’ hơn.
Phản ngựa = bộ ghế ngựa. Cũng không phải đặc thù Quảng Trị, và đều có ghi trong từ điển Huình Tịnh Của [14] và Lê Ngọc Trụ [23]. Thật ra ‘phản’ có thể là một trong nhiều cách phát âm thời tiền quốc ngữ cho chữ ‘ván’, ‘tấm ván’. Có thể là một âm nằm giữa [pán] và [bán] hay [byán]. Quốc ngữ đã kí âm lệch sang [V] => ‘ván’, có lẽ để tránh cảnh đồng âm dị nghĩa với một từ thường dùng hơn: ‘bán’, trong ‘mua bán’. Tiếng Mường: [bản] = [ván]. Cũng giống như ‘Vàm’ (Cỏ Đông) là kí âm quốc ngữ của [Piam]; (khu) ‘Lâm Viên’ quốc-ngữ-hoá từ ‘Lang Bian’, ‘Vốn’ là kí âm của ‘byốn’ hay ‘Bổn’ /‘Bản’: tư bản. ‘Vỡ’ xuất phát từ ‘bể’.

Rạ = rựa. Xin xem phía trên: Lả = lửa. Âm [a] (M) <=> âm [ưa] (V).

Răng = sao. Có thể bà con với [zam] QĐ, [zen] QT. Không có ghi trong hai từ điển xưa [3] [14]. Mang gốc Tày-Nùng [26].

Roọng = ruộng. Tiếng Mường: ‘Rõng’, cho thấy ảnh hưởng phát âm Mường trên cách phát âm [roọng]. Ngoài ra, phát âm [roọng] cho thấy âm vị tại những vùng quê, và mường bản không nhấn mạnh phân biệt âm cuối [n] và [ng] do quốc ngữ đề ra.

Rớ = lưới. Có trong từ điển Huình Tịnh Của [14]. ‘Rớ’ mang âm gần với [Rõ] tức ‘rọ’, thường dùng để bắt cọp, bắt thú vật, hơn là ‘lưới’ để lưới cá, lưới tôm. ‘Rớ’ rất khả năng cùng gốc với
[ze] tiếng Quảng Đông, chỉ cái rọ để bắt các loại thú nhỏ như thỏ, chồn.

Rú = rừng. Rừng và Rú đều là hai từ mang gốc Quảng Đông, viết khác nhau: Rừng = [zeon]
, và Rú = [zau] .

Rứa = thế. Có trong tự-vị của Huình Tịnh Của [14]. Có thể mang gốc Quảng Đông:
[ze], pha với phát âm Hẹ [za].

Su = sâu. Theo sát biến chuyển [Du] => [Dâu], [Cụ] => [Cậu] ở trên, cũng như biến chuyển giữa [Chu] và [Châu]. ‘Su’ => ‘Sâu’ tương ứng với [siu] Quảng Đông => [siau] Hakka,
.

Tam = em. Theo sát từ Hakka (nhóm Siyan, Hailu):
[tiam], mang nghĩa ‘người thuộc đàn em’ [29].

Tê = kia. Rất có khả năng cùng gốc với từ Tày-Nùng [tỉ] mang nghĩa ‘đó, kia’. [Tỉ] Tày-Nùng, là âm tương đương với [bi]-3 quan thoại
, mang cùng nghĩa. Để ý, âm thường gọi ‘Hán-Việt’ [tỷ] (= so sánh), tiếng Quan-thoại vẫn là [bi]-3, viết , cho thấy biến chuyển từ âm [B] Hoa {bi-3} sang [T] Việt {tỷ} mang ảnh hưởng tiếng Tày-Nùng [26], có bà con gần là tiếng người Choang ở Quảng Tây. Từ thường lầm là Nôm khi dùng để chỉ so-sánh là ‘Bì’ (bì với, phân bì) thật ra chỉ là âm tiếng Hoa [Bi]-3, mà người Choang & Tày-Nùng dùng [Tó] cho tương đương. [Tó] sinh ra âm ‘Hán-Việt’ bắt đầu bằng âm [T]: ‘tỷ’; và nguyên âm [ó] cho ra chữ ‘Nôm’: ‘So’. Để ý: ‘tê’ Việt tương đương với ‘tỉ’ Tày Nùng. Tiếng Việt lại có hai từ đó cặp bồ với nhau: ‘tỉ tê’ => kể lể, tâm sự, mang nghĩa ban đầu: ‘nói chuyện nọ kia’.

T’lâu, T’le, T’lời = trâu, tre, trời. Biến đổi [Tr]-Việt sang [Tl] là biến chuyển sang âm tương đương ở phần-ngữ Mường trong tiếng Việt cổ nói chung. Mường đọc: Tlu, Tle, và Tlời. Đặc biệt ký âm theo chữ Nôm cũng dùng âm [l] cho [r], bởi dựa theo cách viết Hán tự [21] [24]. Tuy nhiên, từ điển Alexandre de Rhodes [3] cho biết ‘trời’ tiếng Việt thế kỷ 17 đọc [Blời] chứ không phải [Tlời]. Truy tầm của chúng tôi cho biết âm quốc-ngữ, trên bước đường nhất thống các âm khác nhau - nhất là [Bl] và [Tl] – đã dựa vào âm vận mang âm [R] (thành ra [TR]) của hai nhóm ngôn-ngữ Mon-Khmer & Munda. Từ đó, quốc-ngữ dựa vào vần [TR] của người Việt bản địa tối cổ (Mon-Khmer và Munda) để viết thành: Trâu, Tre, và Trời [25]. Âm [TR] rất hữu hiệu trong việc ký âm luôn cho những từ tiếng ‘Hán’: Trung => [Zhong], Trân => [Zhen], Tri => [Zhi], Trú => [Zhu], v.v.

Thoọc = thọc. ‘Thọc’ đôi khi cũng tương đương với ‘Thọt’ (mặc dù ‘thọt’ ưa dùng với nghĩa khác: ‘thọt chân’), cho thấy thời chưa có quốc ngữ, phân biệt âm cuối [T] và [C] không được nhấn mạnh, tại phần lớn nước Việt.

Trẽn = thẹn. Tiếng Mường: thẽn => thẹn. Theo sát biến chuyển tương đương kiểu: ‘ngẽn ngùi’ (M) => nghẹn ngùi. ‘Trẽn’ cũng có ghi trong tự vị của Lê Ngọc Trụ [23], mang nghĩa ‘ngượng ngịu’, và thường đứng chung với ‘trơ’: ‘trơ trẽn’.

Trốc = đầu. ‘Trốc’ là một từ chia sẻ gốc với các thứ tiếng Thái [ga-lohk] và Mường [Tlốc]. ‘Nhâc tlốc’ = nhức đầu. ‘Tlốc củi’ = đầu con cúi = thủ lợn. ‘Tau tlốc’ = đau đầu. Tiếng Huế phát âm như ‘Trốt’, với âm cuối là [t], thay vì [c]. ‘Trốc’ có vẻ liên hệ ‘ví phỏng’ [1] với ‘trọc’ trong ‘đầu trọc’ mang nghĩa ‘đầu cạo hết tóc’, hay ‘không còn tóc’.

Trốc cúi = đầu gối. ‘Gối’ (chân) tiếng Mường gọi: ‘cổl lãi’. Trước khi có kí âm theo a-b-c của quốc ngữ, âm [cổl] có thể phát âm gần giống với [gối], và [gối] có thể dễ tiến đến [cúi], bởi cả hai âm đầu [c] và [g] đều thuộc loại tắc âm vòm mềm. Trong khi đó, ‘Đầu’ = ‘Trốc’. Do đó, ‘Trốc cúi’ => đầu gối.

Trớng = trứng. Tiếng Mường: ‘Tlởng’ = trứng. Hakka: [lon], [zen], [zan]. Quảng Đông: [leon], [jyun].

Trự = đồng tiền. Từ tiếng Hoa mang nghĩa ‘đồng tiền’ rất giống ‘Trự’ phát âm theo kiểu Quảng Đông: [zyu]
. Theo tự vị của Huình Tịnh Của [14]: Trự= đồng tiền. ‘Không có một trự’ (trong túi) = nghèo lắm, túng lắm.

Hung = rất. Lối dùng ‘hung’ cho phó từ ‘rất’ thật ra mang xuất xứ từ bên Tàu, và được xử dụng tại nhiều nơi ở Việt Nam. Chữ [hung]
ngoài nghĩa ‘dữ tợn’, ‘xấu’ còn mang nghĩa ‘rất’, ‘cực kì’ [9]. Phát âm Hạc Việt (Hẹ) và Quảng Đông y hệt: [hung]. Thí dụ tiếng Việt: ‘Hôm nay, anh có rảnh hung không?’.

Qua những lí giải tầm nguyên cho những từ Quảng Trị ở trên, chúng ta thấy:

Giống như phân tích về đại từ trong tiếng Việt (tôi, ta, mày, chú, bác, chúng tôi, các anh, v.v.) [4], không có một từ nào ở trên hoàn toàn thuần Việt, tức độc nhất chỉ có tiếng Việt mới có. Hầu hết đều có những từ mang âm tương tự thuộc các phương ngữ khác hoặc ngôn ngữ láng giềng.

Ảnh hưởng âm vận và từ vựng của tiếng Mường trên ‘tiếng Quảng Trị’ rất mạnh. Cho thấy đó là ảnh hưởng xuất phát từ vùng biên giới Lào-Việt, bởi người Lào cũng thường được sắp xếp có chủng chủ lực thuộc Thái-cổ. Trong khi đó, dải đất chạy dài từ nam Thanh Hoá, xuống khu vực Quảng Bình - Quảng Trị, từ lâu đã được xem như bản địa xưa của khối Mon-Khmer [27].

Đặc điểm nổi bật nhất giữa tiếng ‘Việt’ của người Mường, người Tày-Nùng, và các ‘phương ngữ’, đối với tiếng Việt ‘chuẩn’ ở khu vực ‘Kẻ Chợ’ (Kinh) là khác nhau giữa các thinh (dấu). Trong đó thường xuyên nhất thinh sắc miền Kinh ưa chuyển sang thinh hỏi miền ngoài. Khá phù hợp với nhận xét riêng của một thân hữu [28].

Rất nhiều từ, tác giả Trần Hữu Thuần cho là đặc thù Quảng Trị, thật ra cũng là thứ từ được xử dụng thường xuyên ở những vùng khác tại Việt Nam. Bằng chứng là một số lớn những từ này thường có ghi đầy đủ trong các tự điển xưa, như của Alexandre de Rhodes hay Huình Tịnh Của. Cũng giống như một số từ tìm thấy trong một số các tự điển về phương ngữ xuất bản gần đây tại Việt Nam – như bộ tự điển ngót 1000 trang về tiếng Huế của Bs Bùi Minh Đức.

Một vài thí dụ ‘sơ sơ’ ở phía trên cho thấy, tiếng Hán Việt trong cách phát âm của chúng cũng là một thứ tổng hợp các phương ngữ Việt cổ. Xin phép viện dẫn một vài suy luận dùng để hỗ trợ cho kết luận này:

Tiếng Hán-Việt chiếm đến khoảng 60% số từ vựng tiếng Việt, và bất cứ người Việt nào cũng đều xử dụng chúng hết sức nhuần nhuyễn. Những từ điển Mường hay Tày-Nùng cũng tràn đầy một số lớn những từ tương đương với loại từ thường gọi Hán-Việt. Thí dụ: Wa (M)=> Va (T-N)=> Hoa (V).

Nếu muốn cả một dân tộc ‘vay mượn’ mớ từ Hán-Việt đó, bắt buộc trong ngót thiên niên kỷ đầu tiên sau Công Nguyên, xứ An-Nam phải có đầy đủ phương tiện truyền thông, nếu không có internet thì phải có cell-phone, hay Tivi. Hoặc ít lắm phải có nhật báo, hay máy truyền thanh, hay những lớp học bình dân 24/24 dạy tiếng Hán chữ Nho, khắp mọi xóm làng.

Đi ngược lại thời gian, chúng ta thấy phân biệt những thứ từ gọi Hán-Việt với từ thuần Nôm hoàn toàn vắng bóng trong những công trình viết bằng chữ quốc-ngữ đầu tiên, như từ điển Alexandre de Rhodes, những bài viết hoặc sách báo của Trương Vĩnh Ký, Huình Tịnh Của, Taberd, Philiphê Bỉnh, Ben-tô Thiện, v.v. Nói một cách khác, những tác giả quấc-ngữ đầu tiên chắc hẳn phải biết độc giả không có phân biệt thứ nào là tiếng Hán Việt và thứ nào là nôm-na ‘lô-can’. Sự phân biệt đó đối với đại đa số quần chúng, dễ rơi vào một cái hố mâu thuẫn. Đó là, một mặt chúng ta thường cho rằng tiếng Hán Việt nói ra nghe uyên bác hơn, và là chữ nghĩa của chốn khoa bảng, quan trường, nhưng một mặt khác chúng ta lại cho rằng nó đến thẳng với những người ít học, đúng hơn không biết chữ, sau nhiều thế kỷ chung sống với những người có tiếng Hán là tiếng mẹ đẻ. Hai chuyện đó rất khó đi đôi với nhau.

Những học-giả đã ‘lăng-xê’ phân biệt giữa Hán-Việt và Nôm trong lòng từ-vựng tiếng Việt, có vẻ thiếu thốn một vài thứ kiểm chứng khoa học. Quan trọng nhất là một thứ định lý khá bất biến như sau: “Khi A vay mượn B một món gì, thì A rất khó xử dụng món đó thông thạo như B”. Ở trên, chúng ta thấy khi người Việt-Mường không phải là tác giả của lối gọi ‘Con / Cái’, họ sẽ xử dụng nó không có được bài bản, và thuần nhất, như người Việt (Kinh), và sẽ khá lộn xộn. Nhưng người Kinh lại xử dụng nó rất thành thạo, bởi họ thừa kế được di-sản của người Việt-Mon-Khmer. Tương tự, bởi tiếng Hán-Việt chính là thứ tiếng (tổng hợp) của người Việt di dân, họ đem toàn bộ, nhất là biến ý, và nhiều nghĩa của từng từ. Thí dụ: ‘hung’ mang nghĩa: hung dữ, hung ác, hung thần, hung tin (tin không lành), và ‘rất’ hay ‘cực kì’ ở tiếng “Tàu” (?). Chuyển sang tiếng Việt, [hung] đem sang toàn bộ ý nghĩa và cách dùng. Nhưng bởi ‘hung’ mang nghĩa ‘rất’ / ‘cực kì’ ưa dùng trong câu nói toàn từ “Nôm” (?) hay ít đi kèm với từ Việt-di-dân, nên xưa nay, ta ưa nhầm ‘hung’ trong nghĩa ‘rất’ là một từ Nôm. Chúng ta cũng lầm tưởng, như vậy, ‘rất’ mới là thuần Nôm. Thật ra, ‘rất’ cũng không phải Nôm! ‘Rất’ là âm quốc ngữ của [zat]
phát âm theo Quảng Đông [9], mang nghĩa ‘very’, ‘extremely’, tức ‘rất’ là Nôm theo kiểu ‘Đông Việt’. Thí dụ khác về việc ‘phản ánh’ toàn bộ, trong chuyện ‘phần-ngữ’: Từ ‘xài’ là một từ cùng gốc với từ Thái [chai], mang hai nghĩa y như tiếng Việt, ‘xài tiền’ (spend money), và ‘xử dụng món đồ’ (use) / ‘Anh có xài điện thoại di động hiệu Nokia bao giờ chưa?’. Nếu đó là vay mượn, rất khó xác định ai vay ai cho mượn, và khi vay thường thường người ta chỉ vay một phần nào của cách dùng mà thôi, chứ ít khi vay hết toàn bộ, và lại xử dụng nhuần nhuyễn như vậy. Thí dụ: Karaoke = Kara (trống) + oke (dàn nhạc); Karate = Kara (trống / không) + Te (tay). Trên thế giới ngày nay ưa vay luôn hai thứ từ này từ tiếng Nhật. Nhưng không tiếng nước nào, như tiếng Việt chẳng hạn, lại vay luôn chữ ‘kara’ để hàm ý ‘Không’.

Sai lầm trong việc nhận diện các từ Hán-Việt và Nôm cũng bắt nguồn từ kiểu học-thuật ngày trước, rất ít khi kiểm chứng với một ngôn ngữ nào khác với tiếng Tàu xử dụng ở Bắc Kinh. Cũng rất hiếm khi đối chiếu với các phương ngữ của Bách Việt xa xưa. Phần lớn là do ở thiếu thốn phương tiện. Thí dụ, tra từ thường lầm tưởng ‘Nôm’ là ‘Đúng’ ở bất cứ quyển từ điển tiếng Hoa nào ta sẽ thấy ít nhất 3 từ Hán quen thuộc là [dui]
(đối), [zheng] (chính), và [zhen] (chân). Chúng ta sẽ không ngờ 2 chuyện: (a) ‘Đối’ chính là phát âm Quảng Đông [deoi], ‘chính’ giống như Hakka [zhin], và Mân-Việt [cheng] (chánh), còn ‘chân’ y hệt quan-thoại [zhen]. Và (b) ‘Đúng’ cũng không phải là một từ Việt ‘thuần Nôm’, mà lại là một phát âm y hệt [dung] của Hạc Việt và Đông Việt, cho động từ [dung] tiếng Tàu (?) mang nghĩa ‘sửa cho đúng’.

Sydney, ngày 4 tháng Bảy 2007
Nguyên Nguyên

GHI CHÚ[1] V.U. Nguyen (2007) Loan Words and Metaphorical Field. (submitted for publication).
[2] Nguyen Nguyen (2007) Thử đọc lại truyền thuyết Hùng Vương. [In search of the origin of the Vietnamese]. (in publication).
[3] Alexandre de Rhodes (1651) Dictionarium Annamiticum – Lusitanum – Latinum. Translated by: Thanh Lãng, Hoàng Xuân Việt, Đỗ Quang Chính. Pub. By Vien Khoa Hoc Xa Hoi – HCM 1991.
[4] V.U. Nguyen (2007) Vietnamese Personal Pronouns. (submitted for publication).
[5] Từ điển tiếng Mường (Hoà Bình) [7] cho biết người Mường gọi người Kinh là người ‘Chợ’ (Kẻ Chợ = Thăng Long): (a) Măng khể rằng nả cỏ vỡ Chỡ = Nghe kể rằng nó có vợ người Kinh. (b) Dich tha thiểng Chỡ = Dịch ra tiếng Việt.
[6] Hội Bảo Tồn Di Sản Nôm (2002) http://nomfoundation.org/
[7] Nguyễn Văn Khang (editor), Bùi Chỉ, Hoàng Văn Hành (2002) Từ Điển Mường-Việt {Mường-Vietnamese Dictionary}. Published by Văn Hoá Dân Tộc – Hà Nội.
[8] L. V. Hayes (2001) Austric Glossary - http://home.att.net/~lvhayes/Langling/Glossary/Glospag1/glosf019.htm
[9] Chinese Character Dictionary - CCDICT v5.1.1 Chineselanguage.org (1995-2006): http://www.chineselanguage.org/cgi-bin/dict.php
[10] Vấn đề các âm chữ cái quốc-ngữ là một chuyện hết sức phức tạp hóc buá. Ngay ở âm [y] cũng vậy. Đa số các âm [y] bên Tàu và Mon-Khmer đều giống kiểu tiếng Anh: Yul Brynner, Yell, v.v. Nhưng một hai nhóm Hakka lại thích kiểu [Z] hơn: Zang Kui Fi (Yang Gui Fei) => Dương (Dzương) Quý Phi. Phúc Kiến lại lột [yờ] biến thành [I] => tiếng Việt [y]: yêu => [iêu]; âu yếm => [âu iếm].
[11] Để ý sự phân biệt dấu hỏi và sắc (đôi khi ngã) rất lộn xộn khi so sánh tiếng Việt miền Kinh (Kẻ Chợ) với tiếng Việt tại các mường bản hay khu vực thôn quê. Thí dụ: ỏng (M) => uống (V); dan tổi (M) => gian dối; dam cẩm (M) => giam cầm; dáng đãy (M) => giảng dạy (V).
[12] Lối nói khác nhau tùy theo phương ngữ. Thí dụ, từ kép tiếng Việt ‘nở phồng’ – tương ứng tiếng Thái [noh] và [pheerng] {Phúc kiến: [pheng]}. Nhưng ‘Hoa đào nở’ tiếng Việt, lại tương đương với: ‘Va (hay [byooc]) tào phồng’ {Hoa đào phồng} trong tiếng Tày-Nùng. Để ý: Va (T-N) => Wa (Mường) => Hoa. Byooc => Pông (M) => Bông (V), trong đó [By] chính là âm ‘V’ phát âm kiểu Nam bộ. Thí dụ khác: Trong tiếng Việt ‘kể’ và ‘nói’ có cách dùng khác nhau. Nhưng trong tiếng Mường, ‘kể’ được dùng như ‘nói’: khể lải = nói lái; khể bẫy = nói bậy; khể nhó = nói nhỏ. ‘Nỏi’ tiếng Mường cũng mang nghĩa như ‘nói’ (Việt) nhưng ưa thiên về ... ‘kể’: nỏi đẳng = nói tích. Nỏi lãi = nói lại. Và ‘kể’ Việt, Mường phát âm là ‘kế’: kế cuông = kể chuyện.
[13] Nguyễn Phục Hưng (2007) Trao đổi tư liệu trên Forum M-C.
[14] Huình Tịnh Paulus Của (1895) Đại Nam Quấc Âm Tự Vị. Imprimerie Rey, Curiol & Cie. Re-published by Nhà Xuất Bản Trẻ, 1998.
[15] Trang mạng về tiếng Anishinaabemowin:
http://imp.lss.wisc.edu/~jrvalent/ais301/Grammar/InflMorphology/nouns001.htm
[16] Truyện cổ tích về ‘đực rựa’: http://www.quangduc.com/TruyenNgan/020thamthitham.html
[17] Charles Hamblin (1988) Languages of Asia & the Pacific. Angus & Robertson.
[18] Trần Hữu Thuần (2007) Tiếng Quảng Trị. Xem talawas.org ngày 13/6/07:
http://www.talawas.org/talaDB/showFile.php?res=10168&rb=06
[19] Tiếng Mường mang âm tương đương [kh] đối với Việt [s]: khong => sông (Mekong => sông Mẹ, sông lớn), khư nữ = sư nữ, khổng lãi = sống lại.
[20] Gerard Moussay, Nại Thành Bô, Thiên Sanh Cảnh, Lưu Ngọc Hiến, Đàng Năng Phương, Lưu Quang Sanh, Lâm Gia Tịnh, Trương Văn Tốn (1971). Tự Điển Chàm-Việt-Pháp (Champa-Vietnamese-French Dictionary). Trung tâm Văn-hóa Chàm - Phan-Rang.
[21] James Campbell (2007) Chữ Nôm Characters: http://www.glossika.com/en/dict/viet/nom-d.php
[22] Tiếng Myanmar (Miến/Diến - Điện) thường được xem bà con hậu duệ tiếng Môn. Thế nhưng cho đến vài năm gần đây người Môn tại Miến Điện vẫn thường bị ‘kì thị’. Truy cứu của chúng tôi cho biết cấu trúc văn phạm tiếng Myanmar lại mang ảnh hưởng khác với tiếng Môn. Đó là tiếng Munda ở Ấn Độ.
[23] Lê Ngọc Trụ (1959) Việt Ngữ Chánh Tả Tự Vị. Thanh Tân.
[24] Thí dụ: Trai (male / boy) viết bằng cách ghép chữ [Nam]
với [Lai] . Âm [L] trong [Lại] dùng cho [R]: TRAI =男來.
[25] Thí dụ: Trâu <= [trăk] Theng (Munda) & [krâu] Wa (Munda). Trời <= [trôk] Mnong (Mon-Khmer) & [trôôc] Xtieng (M-Kh). {trích từ: Hồ Lê (1992) Từ Nam Á trong tiếng Việt. TRONG: Viện Khoa Học Xã Hội (Th.P. HCM) - Tiếng Việt và các ngôn ngữ Dân tộc phía Nam. Nxb Khoa Học Xã Hội - Hà Nội} [26] Hoàng Văn Ma - Lục Văn Pảo – Hoàng Chí (1974) Từ Điển Tày – Nùng - Việt (Tay-Nung-Viet Dictionary). Published by Viện Ngôn Ngữ Học (The Linguistics Institute) [27] Võ Mai Phương (Chu Thái Sơn chủ biên) (2005) Người Dao. Nxb Trẻ [28] Phạm Quang Tuấn [2007] Hai tuần ở Việt Nam (không có xuất bản). [29] Trong những áng văn Nôm của Ức Trai Tiên Sinh (Nguyễn Trãi), người ta thấy Ức Trai vẫn thường dùng ‘anh tam’ thay cho ‘anh em’: "Núi láng giềng, chim bầu bạn, Mây khách khứa, nguyệt anh tam" {xem: http://www.vietmedia.com/literature/vanthisi/?ID=5 - Hoặc: trong Quốc Âm Thi Tập: "Tuy rằng bốn biển cũng là anh tam". [30] Trong truyện “Cánh Đồng Bất Tận’, nhà văn Nguyễn Ngọc Tư đã dùng động từ: ‘nhóm củi’ ngay ở trang đầu. ‘Củi’ ở đây hoàn toàn mang nghĩa ‘lửa’ theo kiểu tiếng Mường (Hoà Bình), ví-phỏng qua lại với ‘củi’ mang nghĩa ‘cây/cành dùng để nhóm lửa hay đốt’.

Nguồn: www.dunglac.org
Nguyên Nguyên - biên khảo

READ MORE - NGUYÊN NGUYÊN - THỬ XEM QUA MỘT SỐ TỪ VỰNG QUẢNG TRỊ

Sunday, May 17, 2009

Thành cổ Quảng Trị



Thành cổ Quảng Trị - miền đất tâm linh

XUÂN VIÊN

Thành cổ Quảng Trị là điểm dừng chân thu hút nhiều du khách trên hành trình xuyên Việt vì những câu chuyện huyền thoại và chứng tích bi tráng của nơi từng diễn ra trận đánh đẫm máu 81 ngày đêm năm 1972 giữa quân dân ta với Mỹ-ngụy.

Di tích nằm ngay trung tâm thị xã Quảng Trị. Thành cổ Quảng Trị đón du khách bằng một không gian rất đặc biệt: vừa u buồn trầm mặc, vừa hào hùng, lãng mạn và bi tráng. Không gian của thị xã Quảng Trị – đặc biệt là ở Thành cổ - khiến người ta có cảm giác luôn phảng phất khói hương tưởng nhớ những người đã khuất. Được biết, trong trận đánh 81 ngày đêm năm xưa tại Thành cổ, 14.000 cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hy sinh với vô vàn câu chuyện về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của rất nhiều chiến sĩ tuổi đôi mươi. Đến thăm Thành cổ, du khách sẽ được nghe kể lại những câu chuyện huyền thoại bởi các hướng dẫn viên của Di tích Thành cổ. Đặc biệt trong ngày lễ, kỷ niệm, ngày rằm, mùng một... sông Thạch Hãn chảy quanh Thành cổ trở thành dòng sông hoa tươi và hoa đăng do những cựu chiến binh và nhiều người dân của thị xã thả xuống. Từ rất lâu rồi, việc thả hoa xuống sông Thạch Hãn đã trở thành một tập quán đẹp của chính quyền và nhân dân địa phương. Đến Thành cổ trong những dịp này, trong lòng du khách sẽ lưu lại dấu ấn rất sâu đậm. Du khách sẽ cảm thấy như đang có một sợi dây vô hình kết nối hiện tại với quá khứ, hiểu thêm những nét đẹp trong tình cảm và đời sống tâm linh của người dân sống quanh Thành cổ.

Tại Thành cổ Quảng Trị, không thể không chiêm ngưỡng tượng đài tưởng niệm các liệt sĩ hy sinh trong trận đánh năm xưa. Tượng đài có hình tròn tượng trưng nấm mồ cho những người đã mất. Phía dưới của tượng đài là hành trang người lính gồm nón, ba lô và một cây thiên mệnh hướng lên trời xuyên qua ba áng mây. Phía trên cây thiên mệnh có một ngọn nến và ánh hào quang, dưới tầng mây cuối cùng có gắn hình tượng chung là ba bát cơm tiễn người đã khuất. Ngoài vòng tròn gắn 81 tờ lịch, thể hiện 81 ngày đêm chiến đấu ác liệt của các chiến sĩ giải phóng quân. Trong khuôn viên Thành cổ có tháp chuông lớn được đặt tại quảng trường nối liền Thành cổ và bờ sông Thạch Hãn thường xuyên vang lên những hồi chuông ngân dài với ý nghĩa cầu mong linh hồn các liệt sĩ đã hy sinh được siêu thoát. Góc phía Tây Nam của Thành cổ là Bảo tàng với rất nhiều chứng tích chiến tranh được lưu giữ và thuyết minh đầy cảm xúc, khiến bất cứ ai thăm nơi này đều xúc động, bồi hồi.

Thành cổ được vua Gia Long ra lệnh xây dựng từ những năm đầu thế kỷ 19, trên một khu đất cao với sông Thạch Hãn ở phía Tây, sông Vĩnh Định ở phía Bắc và vùng dân cư đồng bằng Triệu Hải ở Đông và Nam. Từ Thành cổ có thể ra Bắc, vào Nam bằng đường bộ lẫn thủy thuận tiện. Theo sử liệu, ban đầu thành chỉ đắp bằng đất, sau được vua Minh Mạng cho xây lại với chức năng quân sự với 4 pháo đài, có 4 cửa ra vào, bao quanh là hệ thống hào thành sâu hơn 3 mét, rộng hơn 18 mét. Các cửa thành đều được xây vòm cuốn với vọng lâu, mái cong lợp ngói âm dương. Bên ngoài mỗi cửa đều có một chiếc cầu uốn cong bắc qua hào thành. Bên trong thành có hành cung được bảo vệ bởi hệ thống tường cao, dày, có nhà ở của các vị Vua khi đi kinh lý qua hay dự lễ thăng chức của các quan. Dưới thời Nhà Nguyễn, Thành cổ Quảng Trị là trung tâm kinh tế, chính trị, quân sự của tỉnh Quảng Trị, là thành lũy quân sự bảo vệ kinh đô Huế. Sau trận chiến năm 1972, Thành cổ gần như bị san phẳng; chỉ còn sót lại một cửa hướng Đông tương đối nguyên hình và vài đoạn tường thành cùng giao thông hào bên ngoài chi chít vết bom đạn. Hiện nay, chỉ có vài đoạn tường thành và bốn cổng chính của Thành được phục chế. Dù không còn những dấu ấn xưa, nhưng Thành cổ vẫn là “Đất tâm linh” của nhiều người dân Quảng Trị nói riêng và Việt Nam nói chung, vì nơi đây mỗi tấc đất đều thấm máu của các chiến sĩ ta.

Cùng với những địa danh như địa đạo Vịnh Mốc, nhà tù Lao Bảo, hàng rào điện tử McNamara, căn cứ Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, sân bay Tà Cơn, Đường 9, cầu Hiền Lương... Thành cổ Quảng Trị là điểm đến thu hút đông đảo khách du lịch trong nước và quốc tế của tỉnh Quảng Trị.

Xuân Viên

http://www.baocantho.com.vn/


READ MORE - Thành cổ Quảng Trị

Cao dao Quảng Trị

Hoàng hôn ở Quảng Trị

Những khúc ca về tâm lực người

nông dân trong giêng hai nghiệt ngã

NGUYỄN HOÀN


Hồi thơ ấu, đứa con trai nào chẳng có lúc “nghịch tử” để đến nỗi bị cha mẹ mắng như tôi: “Con cái chi mà Ô châu ác địa”. Lúc những người nông dân giận nhau, tôi cũng nghe họ mắng nhau: “Đồ Ô châu ác địa”. Tôi nghe mà chẳng hiểu gì cả. Kỳ thực về sau lớn lên, tôi mới hiểu ra rằng “gửi gắm” vào lời mắng đó có cả lời chửi thề của người Quảng Trị quyết không cam chịu bị trói buộc bởi hoàn cảnh nghiệt ngã ở đất dữ châu Ô. Người Quảng Trị đã đột phá được những ba-ri-e thách đố của tạo vật bằng tâm và lực dồi dào của chính mình, để khai thông hành trình vươn tới tương lai ấm no, hạnh phúc, đồng thời trên hành trình ấy khai mở luôn dòng ca dao dân ca mang âm hưởng tươi tắn, lạc quan.

*Từ cái quán “bạn nghèo gặp nhau”

Ngày trước, giữa buổi giáp hạt giêng hai, lúc rơi đúng vào ranh giới mất, còn nghiệt ngã của sinh nhai, khó tránh xảy ra chuyện “bần cùng sinh đạo tặc”, thế nhưng tình nghĩa giữa những người nông dân qua nhiều phen thử thách càng trở nên đậm đà, sâu nặng bội phần. Tình nghĩa ấy được gửi gắm trọn vẹn qua bài ca dao sau đây của miền “kẻ chợ” Diên Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị:

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua một vác tre

Về che cái quán

Ai thù ai oán

Đốt quán tôi đi

Tôi thương cái cột

Tôi nhớ cái kèo

Tôi thương cái đòn tay

Tôi nhớ cái cửa

Bạn nghèo gặp nhau

Các thủ pháp nghệ thuật ở đây được sử dụng đa dạng, linh diệu như ngắt nhịp 2-2, vần lưng, vần chân...đã tạo nên giọng điệu vừa gắt, vừa khoẻ trong câu ca dao của mạch tự sự diễn tả nỗi bi phẫn của người làm quán trước kẻ càn bậy. Mạch trữ tình thay thế mạch tự sự ở năm câu thơ cuối khiến cho dòng cảm xúc bài ca dao vận động sang ngã rẽ hoài niệm, tiếc nuối. Có hai cái quán được nhắc đến ở đây. Cái quán thứ nhất là cái quán hiện hữu cụ thể mà ta nắm bắt được bằng trực quan những bộ phận hợp thành nó như: cột, kèo, đòn tay, cửa...Cái quán thứ hai là cái quán biểu tượng của tâm hồn, tình nghĩa người Quảng Trị. Không biết có ước hẹn gì không chứ có khi người nông dân lam lũ với người trí thức uyên bác cũng đã tri ngộ nhau qua việc lập quán. Nguyễn Bỉnh Khiêm lúc cáo quan về làng, ra chơi bến Trung Tân, một thắng cảnh đẹp, bèn bàn với các kỳ lão về chuyện dựng ở đây một cái quán “để cho người đi đường nghỉ ngơi”. Dùng lời Chế Lan Viên luận về ý nghĩa việc lập quán Trung Tân của Nguyễn Bỉnh Khiêm ứng vào bài ca dao trên nhằm lý giải ý nghĩa biểu tượng cái quán của nông dân Quảng Trị sao mà ăn nhập đến thế: “Cái đẹp của cha ông là như vậy. Ở nơi thắng cảnh, đầu tiên không phải nghĩ đến Văn, mà phải nghĩ đến Người. Cái quán bé thôi mà lớn lao thay ý nghĩa. Cái quán chưa hẳn đẹp như một bài thơ, nhưng chúng ta có thể làm trăm bài thơ về cái quán này. Nó phục vụ sự sống-con người-người dân. Và vì thế, dẫu chưa là chữ nghĩa, nó đã là văn hoá”(1).

*Đến việc đánh thức tiềm lực: Còn da lông mọc còn chồi nảy cây

Có tâm hồn, tâm huyết rồi còn phải có lực nữa mới tạo nên thế tấn hai chân chững chạc. Không phải ngẫu nhiên mà cũng ở vùng Diên Sanh, Hải Lăng, Quảng Trị có thêm bài ca dao thứ hai về tiềm lực người nông dân xuất hiện:

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn

Đi vay đi dạm được một quan tiền

Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái

Về nuôi ba tháng, hắn đẻ ra mười trứng

Một trứng: Ung

Hai trứng: Ung

Ba trứng: Ung

Bốn trứng: Ung

Năm trứng: Ung

Sáu trứng: Ung

Bảy trứng: Cũng ung .

Còn ba trứng nở ra ba con

Con diều tha

Con quạ cắp

Con mặt cắt lôi

Đừng than phận khó ai ơi!

Còn da lông mọc còn chồi nảy cây!

Người làm quán bị đốt quán nhưng vẫn còn cái quán của ký ức rủ bóng xuống tâm tưởng. Người mua gà mái mới thực trắng tay, lại mắc nợ. Điệp khúc bi ca “trứng ung” bảy lần vang lên lạnh lùng và lê thê xoáy vào tim nhức nhối. Tưởng như đấy là đoạn “thắt nút” duy nhất của bi kịch mà tiếp nối sau đó ắt là đoạn “mở nút”: “Còn ba trứng nở ra ba con”. Nhưng không, đoạn thắt nút thứ hai, tức “thắt nút của thắt nút” xuất hiện, khi tia hy vọng mong manh loé lên từ ba quả trứng nở bị dập tắt. Phản ánh sự thực ở tận cùng giới hạn của nó như thế thường là khó có thể đưa ra cách kết thúc thoả đáng, thường là một thách thức không nhỏ cho việc “mở nút”, nói theo cách của nhà viết kịch. Bài ca dao này kết thúc có hậu mà tránh được giả tạo là vì tác giả dân gian không áp đặt ý định chủ quan cực đoan buộc hiện thực phải khuôn vào mà biết dự cảm sự vận động nội tại của hiện thực, ở đây là sự vận động của tiềm lực nội tại trong nhân tố con người xuất hiện rõ nét nhất ở hoàn cảnh nghiệt ngã: “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”. Tư duy phương Đông, tư duy Kinh Dịch đã từng phát hiện ra quy luật vận động theo chiều hướng lạc quan của sự vật: “Cùng tắc biến, biến tắc thông”, trong suy có thịnh, lúc cùng kiệt của sự suy sẽ có mầm thịnh trỗi dậy. Người nông dân không phát hiện ra quy luật biện chứng đó nhưng bằng trải nghiệm thực tiễn, bằng trực cảm, họ đã nắm bắt được sự vận động có tính quy luật nêu trên. Vì thế mà họ không thở than lúc suy biến khi biết rằng trong suy biến, sẽ có một nguồn lực mới "hoài thai". Vì thế mà niềm tin của nông dân Quảng Trị: “Còn da lông mọc còn chồi nảy cây”, niềm tin của nông dân Việt Nam: “Ai giàu ba họ, ai khó ba đời” là một niềm tin hoàn toàn có căn cứ từ trong chính minh triết Việt Nam, minh triết phương Đông. Hai bài ca dao không chọn những khoảnh khắc êm ái của đời thường mà chọn những tình huống ranh giới giữa sinh-tử-mất-còn đầy nghiệt ngã mà người Quảng Trị lâm vào để diễn tả, nên đã nêu bật được những nét đặc trưng của tâm và lực người nông dân “phát sáng” trong gian khó.

N.H

-----------------------

(1) Chế Lan Viên, Từ gác Khuê Văn đến quán Trung Tân, NXB Tác phẩm mới, Hội nhà văn Việt Nam, 1981, tr. 250.

READ MORE - Cao dao Quảng Trị

Phan Quang

Sông Thạch Hãn vào lúc sáng sớm


Cội Nguồn là Quê Hương

PHAN QUANG

Quê hương chưa hẳn là nơi ta sinh sống dài lâu nhất. Đối với những nông dân sớm rời xa đồng ruộng mong tìm cuộc sống ấm êm hơn nơi đất khách quê người, hoặc những chàng trai ra đi theo tiếng gọi của Tổ quốc từ thuở vị thành niên, thời gian sống ở quê hương đối với họ đôi khi gói gọn trong những tháng ngày náo nức tuổi ấu thơ. Nhưng bất luận với ai, quê hương luôn luôn hiện hữu, và càng đau đáu hơn trong lòng người xa xứ.

Cũng tương tự mối tình đầu, nào ai đã ăn ở với ai, sớm cách ly biền biệt, vậy mà làn hương toả ra từ mái tóc người thương một thời xa vắng vẫn đeo đẳng người thương mãi tới lúc đầu bạc răng long.

Mỗi người giữ hình ảnh quê hương trong lòng theo mỗi cách. Đối với người nghệ sĩ, đó là chùm khế ngọt trong vườn, là vành nón nghiêng che của mẹ, đối với nhà thơ, là ấn tượng về "những ruộng đói mùa, những đồng đói cỏ/ những đồi sim không đủ quả nuôi người"... (Thơ Chế Lan Viên).

Đối với tôi, quê hương là tiếng hò, khi nồng thắm thiết tha, khi dập dồn tiết tấu cần lao. Làng tôi không có đầm rộng sông dài, vắng tiếng hò mượt mà sóng nước như ở phá Tam Giang, song vẫn có những câu hò đối đáp giữa những người đêm thanh dắt trâu đạp lúa ngày mùa. Không có nữ, toàn những lực điền làm việc tới khuya, mỗi người lụi cụi một sân lúa không ai nhìn thấy mặt ai ngoài con trâu làm bạn. Vậy mà khi ai đó cất lên câu hò ân tình, hơi xô tưởng biệt tăm trong cô đơn thanh vắng, vẫn có một bạn nào đó trên một sân lúa hoặc gần hoặc xa lắng tai. Và khi người xướng dứt lời, người kia sẽ cất lời đối lại. Nếu người khởi cất giọng hò theo ý của bên trai, thì người đáp sẽ đóng vai bên gái, và ngược lại. Cũng có thể, từ một sân đâu đó ở xóm xa, sẽ cất lên một lời phụ hoạ. Và con trâu, người bạn thuỷ chung trong khi vẫn kiên nhẫn đếm từng bước chậm rãi trên dàn gồm những bó lúa tươi tựa vào nhau như mâm xôi khổng lồ, hình như nó cũng đang vểnh đôi tai. Tiếng hò ân tình kéo dài từ đầu hôm cho đến lúc tàn canh, khi sân lúa đã "chín", lúc này người và trâu đều đã mệt nhoài. Hò từ đầu hôm, hò mãi đến khuya. Để chống chọi cái ngủ chực ập đến sau ngày dài làm việc dưới nắng chang chang. Để quên đi nhịp lao động đơn điệu, dễ nản lòng trên mảnh sân ngai ngái mùi rơm rạ tươi và mùi lúa vừa chín tới...

Đối với tôi, quê hương còn là tiếng hò đập bắp những đêm Hè. Làng tôi có bãi trồng ngô ở Ba Lòng, thượng lưu sông Thạch Hãn. Trong kháng chiến chống Pháp bãi bắp làng Thượng là một nguồn lương thực của chiến khu. Thuở thanh bình, hàng năm cứ đến mùa gió Lão nổi, dân làng đưa thuyền ngược sông bẻ bắp; những chiếc "nôốc" rõ to chở ngập mạn những bông bắp rực màu da cam thuận gió thuận nước xuôi về ngã ba Ngô Xá rồi từ đó theo dòng sông Vĩnh Định ngược lên bến xóm. Sân nhà nào nhà nấy đỏ rực bắp tươi. Bắp phơi qua mấy nắng, chờ đêm trăng người ta đổ lên một cái giàn có chân đỡ đặt chính giữa sân. Rồi bên nam bên nữ ngồi trên hai hàng ghế đối diện, mỗi người cầm một chiếc gậy ngắn cùng đập bắp theo nhịp rập ràng. Hò khoan dô khoan... nhịp hò cần lao ngắn gọn, dập dồn, những hạt ngô theo nhịp đập mà rụng xuống rào rào, và cùng tiếng hò lan theo ánh trăng. Trai gái các làng lân cận nghe câu hò mời gọi, tìm đến đập giúp, không ai đòi công xá, chỉ cốt chia vui. Chủ chào đón thân tình, khích lệ khách chớ có ngại ngùng mình là người nơi xa vừa đến:

Đến đây đầu lạ sau quen,

Bóng trăng lạ mặt, bóng đèn lạ duyên...

Mọi người dịch lại, nhường khách một chỗ ngồi, và ai đó trao cho khách chiếc gậy. Khách khẽ nhịp vào thành giàn bắp và cất giọng lịch sự đón rào:

... Chào bên nam mất lòng bên nữ,

Chào người quân tử, bẽ dạ thuyền quyên

Cho tôi được chào chung một tiếng kẻo chào riêng khó chào...

Quê hương thường xuyên níu kéo người tha hương. Dường như có ai đó từng ví tình cảm quê hương từa tựa sợi dây thun vô cùng bền vững. Khi bạn ở gần, sợi thun chùng lại, bạn không thường xuyên cảm thấy ràng buộc mà sợi dây vô hình vẫn giữ chặt bạn. Bạn càng đi xa, bạn mỗi năm thêm một tuổi, sợi dây vô hình thuận với không gian và thời gian, lại càng níu kéo. Bạn càng đi xa, càng lớn tuổi càng cảm thấy sức mạnh của sợi-dây-quê-nhà xiết chặt con tim.

Khi tóc bạc trên đầu trôi dạt mãi

Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về.

(Thơ Nguyễn Đức Mậu)

Có thể chiếc lá rơi về cội. Cũng có thể nó cuốn theo chiều gió phương xa, để rồi sẽ nhẹ nhàng đáp xuống nơi chân trời xa xăm. Có thể rồi bạn sẽ yên nghỉ một góc nào đó trên đất nước hoặc trên hành tinh này. Nhưng chiếc lá vẫn về cội. Dù đi đâu về đâu, quê hương vẫn còn đó câu hò...

Phan Quang

http://diendan.bacgiangview.com/



ĐỌC THÊM
MỘT MÌNH GIỮA ĐẠI DƯƠNG, bút ký
READ MORE - Phan Quang

Câu hò Quảng Trị




CÂU HÒ THÔN DÃ


Đan Hà


http://www.vietmedia.com/literature/muiviquehuong/?ID=19


Nhiều người khi mới đến quê hương tôi nơi Quảng trị, thường hay có cảm giác e ngại, sợ sệt, vì khi mới nghe đến một vùng đầy lam sơn chướng khí, mảnh đất eo hẹp được giới hạn bằng một bên là biển, một bên rừng. Khí hậu quanh năm hai mùa với mùa hè nắng cháy, nắng nung người làm héo cỏ khô cây; mùa đông thì mưa dầm ướt đất, mưa không ngớt làm sũng lầy những vùng cao nguyên đất đỏ, làm úa tàn lúa mạ của vùng đồng bằng. Trong những ngày vừa chớm thu, các khu rừng lá cây sắp ngã màu vàng và rụng dần, bắt đầu những cơn mưa ngâu lành lạnh, gió thổi mạnh làm rung đổ những giọt nước mắt của "Chức nữ thương nhớ Ngưu lang", như trong một chuyện cổ tích dân gian xa xưa nào, câu chuyện đầy thơ mộng và lãng mạn mà khi nghe kể lại chắc không ai lại không khỏi bùi ngùi! Tiếp theo là những cơn bão làm trốc gốc đổ cây, rồi tiếp đến là lụt lội ướt át. Không có năm nào lại không xảy ra thiên tai làm hư hại mùa màng, làm hao tổn không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt của người dân quê đã đổ xuống trên ruộng vườn nương rẫy, tạo nên cảnh đói rách lầm than. Câu tục ngữ thường truyền tụng nơi đây là: "Làm cho có để mưa gió mà ăn" là vậy, mỗi năm có hai mùa,mùa tháng ba thì cũng nhờ Trời mưa thuận gió hòa nên thu hoạch được đầy đủ, còn vụ mùa tháng tám thường hay bị thất thu, cho nên nông dân phải trồng thêm các loại hoa màu phụ như khoai sắn để phụ lực... (No lòng chớ phụ môn khoai, đến năm Thân Dậu lấy ai bạn cùng!). Họ thường nói đến nạn đói của năm Thân Dậu (là hai năm 1944-1945), như nhắc nhở cho con cháu biết một bài học dắng cay, để mà tiết kiệm để mà tích trữ lương thực, của cải cho những việc bất thường như: quan, hôn, tương, tế...( năm Thân Dậu tại Quảng trị xảy ra nạn đói kinh hồn, gây cảnh chết chóc cho cả hàng trăm ngàn người, vì năm ấy bị xảy ra một cuộc khủng hoảng về chính trị và kinh tế rất trầm trọng, trong lúc người Nhật vừa đến tiếp thu lãnh thổ từ tay người Pháp, thì tức tốc áp đặt một thể chế quá khắc nghiệt đối với người dân, như ruộng vườn không được trồng lúa mà phải trồng đay, trồng dâu nuôi tằm để khuếch trương nền kỷ nghệ v/v...). Vì thế mà nẩy sinh ra những phong trào từ trong dân chúng đứng lên chống Pháp, kháng Nhật và như thế là chiến tranh lại tiếp diễn đến triền miên! Cho đến thời cận đại thì các cường Quốc lại sử dụng mảnh đất Quảng trị như là một phương tiện, một nơi chốn để tranh giành ảnh hưởng Quốc tế, "Họ dùng làm vùng phi quân sự" cho các cuộc thí nghiệm võ khí đạn dược, hằng ngày đã đổ xuống hằng ngàn tấn bom cùng với thuốc khai quang đã tàn phá hết nhựa sống của thiên nhiên, hàng rào điện tử với bãi chông mìn, kẽm gai dăng khắp đây đó đã tạo nên cảnh chết chốc và gây thương tật cho dân chúng địa phương. Hiện tượng ấy cho đến bây giờ sau hơn hai mươi năm chấm dứt chiến tranh, nhưng những vũ khí giết người ấy vẫn còn nằm đó, đầy dẫy như dang chờ chực những ai bất hạnh!...

Vì thế cho nên những người khi mới chân ướt chân ráo đến vùng Quảng trị thì họ thường hay than rằng : "Đến nơi đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vùng cũng run!".

Cảm giác ấy không phải chỉ đối với những người vừa mới đến, mà người dân địa phương sống lâu năm tại đây cũng cảm thấy không thoải mái, không an nhàn! Vì ngoài khí hậu khắc nghiệt, lam sơn chướng khí, chiến tranh tàn phá còn có thú dữ hoành hành nữa! Như tại địa phương có câu tục ngữ: "Nác khe mèo, beo làng Rọng", (những con suối phát xuất từ vùng Tân lâm, Khe sanh đầu nguồn của con sông Vĩnh định, có con suối mang tên là"Khe mèo" vì nước suối trong vắt, đứng trên bờ có thể nhìn xuyên suốt dưới lòng khe, thấy được sỏi cát nằm dưới đáy, nước trong đến thế cho nên mới gọi là suối trong như mắt mèo, thế nhưng khi múc nước đem đun sôi thì nước ấy lại biến thành màu ti''m nhạt, nước uống rất độc. Cũng có thể giữa vùng thâm u cây cối là môi trường thích hợp cho muỗi mòng và các loại côn trùng có mang vi khuẩn truyền bệnh. Cư dân ở đây phần nhiều đều "mặt bủng da chì" nhất là trẻ em bỡi hậu quả cuả các chứng bệnh sốt rét và sán lãi! Ngành Y tế tại đây thì lại thiếu thốn đủ thứ nên không đáp ứng nhu cầu cho một chương trình phòng ngừa và trị liệụ( Nhớ lại trước đây khi còn làm lính, đi hành quân trên các vùng cao nguyên như Khe sanh, Lao bảo, Ba lòng, A sao, A lướị.. Đơn vị chúng tôi không ai tránh khỏi bệnh sốt rét rừng, mặc dầu ai nấy đều phải mang theo đầy đủ các loại thuốc phòng ngừa bệnh sốt rét và dầu nóng để trừ muỗi, vắt... Còn tại vùng Cuà là một thung lũng được bao bọc chung quanh bằng rừng núi, có một ngôi làng nằm giữa trũng thấp có nhiều chỗ làm ruộng, cho nên dân làng đặt tên là "làng Rọng", làng nầy nằm gần một khu rừng có rất nhiều thú dữ như cọp, heo rừng thường hay kéo về phá hoại mùa màng cũng như đe dọa tính mạng cuả dân làng, để đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra, họ phải cất nhà sàn để ở hay làm nhà bằng cây rừng thật chắc chắn. Đêm đêm muốn đi đâu thì họ dùng cây đót bó lại thành bó, đốt lên làm đuốc soi đường và trừ thú dữ (tiếng địa phương gọi là cái chền) ngoài ra họ còn làm bẫy để sập thú rừng. Trâu bò cũng phải làm chuồng chắc chắn bằng cây rừng (gọi là cái ràn) chứ không thể buộc khơi khơi ngoài đường như các nơi khác.

Nhưng khi đến sinh sống tại Quảng trị một thời gian rồi thì họ đâm ra ghiền, không phải họ ghiền vì bùa mê thuốc lú, không phải họ ghiền vì nơi chốn ấy đã đem lại cho họ một cuộc sống vững chải về kinh tế, để được an nhàn mà vui sống cảnh điền viên! Bởi vì ngoài thiên tai, còn là nơi đã chịu nhiều oan nghiệt về chiến tranh dai dẳng, khiến cho tâm hồn họ phải chai lì, đời sống thì với những bất trắc chực chờ, đói nghèo và thiếu thốn đủ thứ ... Như vậy điều gì đã khiến cho họ phải gắn bó với cuộc sống nơi đâỷ Có lẽ chỉ còn là tình cảm, chỉ còn những kỷ niệm nào đó đã ghi lại trong tâm hồn họ, khiến cho họ phải luyến lưu phải gắn bó...

Kỷ niệm ấy có thể là hương lòng của Tiên tổ , có thể là nếp sống chất phác mà hiền hoà, đơn sơ mà hồn nhiên cùng với tình keo sơn của bà con làng xóm... Những mối liên hệ ấy là một chất keo gắn liền đời sống với nhau như anh em một nhà. (tình cảm ấy cũng có thể là tình đồng bào, được bắt nguồn từ huyền thoại Mẹ Âu cơ sinh trăm trứng, nở thành trăm con, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển nhưng núi và biển vẫn nằm trong một Tổ quốc, cho nên con cháu sau nầy đều vẫn là anh em) .

Các cuộc sinh hoạt làng xã, họ thường gặp gỡ nhau ở ngoài đồng ruộng, trong các buổi hội hè, gặp nhau trong những ngày mùa đang gánh lúa về trên con đường làng thơm mùi tóc rạ, họ chia xẻ cùng nhau những niềm vui khi đứng nhìn ra cánh đồng chín vàng trĩu đầy bông lúa và nhất là những điệu hò câu hát của những đêm giã gạo dưới trăng...

Hò ơị..

Đứng bên ni khe ngó qua bên tê khe thấy bụi tre,

bụi trừa bụi đựng

Ngó xuống dưới sông nọ có mấy hòn đá,

hòn dựng hòn nằm

Thiếp với chàng là đạo nghĩa trăm năm

Dẫu mai sau không thành chồng vợ, nhưng sớm

viếng tối thăm cũng tình!

Những hình ảnh như bụi tre, hòn đá chỉ là những biểu tượng để ví von, so sánh mà thôi, chứ nó không liên quan gì đến tình cảm của con người, mà ở đây "đạo nghĩa" mới là quan trọng, nó chính là rường cột của giềng mối, là chất keo để ràng buc và bảo vệ cái tình cảm thiêng liêng đã in sâu trong tâm khảm của mọi ngườị Những người đã sống chung với nhau cùng xóm, cùng làng thì dẩu không phải là bà con họ hàng, không phải là anh em ruột thịt, dẫu không thành tình nghĩa vợ chồng với nhaụ.. Nhưng cùng chia xẻ những niềm vui nỗi buồn, hay thăm viếng và giúp đở lẫn nhau trong lức hoạn nạn, thì đó cũng là những an ủi cần thiết cho chúng ta trong đời sống nầy rồi (Bà con xa không bằng láng giềng gần mà!). Tình cảm ấy cũng không hẳn chỉ dành cho những người đã chung sống với nhau lâu năm, mà còn đối với những người mới cùng hạnh ngộ, cho dù chỉ là một khách vãng lai:

Ai về phố Hi , sông Cầu

Để thương để nhớ, để sầu cho aỉ

Để sầu cho khách vãng lai

Để thương để nhớ cho aỉ để sầu!

Để sầu cho khách vãng lai, hay để sầu cho người ở lạỉ Cũng chỉ là những câu hỏi được lặp đi lặp lại như một nỗi i dùng dằng giữa kẻ ở người đi, như nỗi luyến tiếc một cái gì thật mơ hồ, nhưng biết rồi đây sẽ tàn phai theo ly biệt! Nghe nó thật là ngổn ngang trăm mối, bởi vì câu hỏi trước thì chỉ thuần tuý là một câu hỏi, chỉ cần một câu trả lời là xong thí dụ như: (nếu biết rằng em đã lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong!) , như vậy là đã được giải quyết một cách thoả đáng rồi, không còn gì để mà phân vân nữa cả. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng mới chính là vấn đề cần phải suy luận, vì nó vừa là một câu hỏi mà cũng vừa là một lời than! Một câu mà thành ra hai câu, một câu hỏi và một lời than chăng? Cũng có thể lắm chứ, (Để thương để nhớ cho aỉ để sầụ..), mới nghe thì cũng chỉ lặp lại câu hỏi trước, nhưng nhìn kỹ thì đoạn sau lại được (hay bị) đảo ngữ, cho nên không biết đây là câu hỏi hay câu trả lời đâỷ Chữ "để sầu" treo lơ lững ở phía đàng sau như một nỗi than trách ai đó, nó không còn nằm trong phạm vi câu hỏi nưã, mà nó đã rớt lại đằng sau như còn lưu luyến một cái gì, thật thiết tha biết mấỷ Câu hỏi kế tiếp cũng bắt nguồn từ manh nha tình cảm:

Ra về có nhớ em không?

Hay là xuôi buồm thuận gió biệt mong xa chừng!

Ở đời cảnh hợp tan thì làm sao mà tránh khỏỉ Vẫn biết vậy nhưng khi đã dan díu với nhau rồi, thì ai bắt mình phải xa lánh những ước mơ thầm kín? Của một lần đã cùng ai hẹn biển thề non! Đã một lần cùng ai nói câu ước hẹn, cho nên nỗi phân vân cứ đeo đẳng mãi không thôi!

Ra về sao đặng mà về?

Bỏ non bỏ nước, bỏ mấy lời thề cho ai!

Bỏ non, bỏ nước... thì chắc là có thể bỏ được, vì đây không phải là nơi "chôn Nhau cắt Rốn", đây không phải là quê hương xứ sở chi của mình, thì đến hay đi cũng không thành vấn đề chi mấỵ.. Nhưng còn "mấy lời thề" nó mới là rắc rối làm saỏ Bỏ lại cho ai đâỷ ...

Đối với những người mới quen biết thì họ chỉ bóng gió, với lời lẽ tuy chơn chất nhưng thiết tha, tuy quê mùa nhưng gói ghém một tình cảm thiệt thâm thúy đến đường nàọ.. Còn đối với những người (xa xôi chi đó mà lầm, phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm) thì saỏ Họ có đối đãi với nhau như thế chăng? Có lẽ là không đâu, vì họ có cần chi phải "bóng gió" cho thêm mệt, lại phải đi vòng vo tam quốc cho hao xăng tốn nhớt? Cho mệt trí phí sức, cứ đi thẳng một dường mực tàu, để "thâu ngắn đường về", mặc dầu đôi khi vẫn biết rằng: "Thẳng mực tàu thì đau lòng g " đấy! :

Mấy anh chưa vợ quanh năm

Đêm đông lạnh giá anh nằm với aỉ

Thiệt nghe cũng khó trả lời đây có phải không các bạn "tu mi nam tử"? Ai đâu lại đi hỏi cắc cớ như thế nầy, biết mần răng mà trả lời cho xuôi thuyền mát máỉ Biết làm sao mà trả lời cho nghe được cái lỗ taỉ Làm sao mà mở ra một con đường uyên nguyên cho cõi đi về khỏi cô đơn giá lạnh? Bởi vì anh vốn là một kẻ quê mùa dân dã, nghèo khó một đời thì làm sao dám cùng người để "gối phụng chăn loan"? Bởi vì anh chỉ là một gã tiều phu đốn củi thì làm sao dám mơ ước được nằm với aỉ Bởi vì thân phận của anh "Khó nghèo ở chốn sơn lâm, mai than chiều củi, gặp trầm họa may", cái họa may nầy cũng hiếm hoi lắm đó, vì trầm là một loại gỗ quý hiếm, thì làm sao mà bắt được giữa hư không? Cho nên câu hỏi nầy xem ra đã bí lối, không tìm được câu trả lời thì thấy cũng mất mặt cả "đấng nam nhi", mà câu trả lời không được chí lý thì làm sao tránh khỏi miệng đời hay dòm ngó, thị phỉ Cho nên cũng có người phải suy nghĩ nát óc để tìm ra câu trả lời để họa may cứu vãn tình thế! May thay một đấng nho thâm uyên bác đã thay thế chúng ta để "gở rối tơ lòng"!:

Em hỏi chi chuyện ấy cho mất công

Nếu nóng thì anh nằm ngủ thẳng, mà lạnh thì

nằm cong khó gì?

Lành thay, lành thay mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa rồi, vì anh đây đâu phải còn cái diện "ăn chưa no, co chưa ấm" nữa đâu, mà phải đi mắc mưu cái phận "thuyền quyên" đánh cờ còn chưa sạch nước cản? Nếu còn câu nào hóc hiểm nữa thì cứ đem ra, nếu anh trả lời không đặng thì anh nguyện sẽ "làm phận đàn bà như em!".

Anh trèo lên cây sung cũng biết mùi sung sướng

Anh chê tơ anh kén lụa, thì lụa cũng là tằm

Em đố anh một năm mười hai tháng, tháng mô

không rằm rứa anh?

Đối thì phải đáp, hỏi thì dĩ nhiên phải trả lời nhưng câu hỏi nầy cũng hơi có phần gay cấn, vì tháng nào lại tháng không có rằm? "Nó" đã khôn ngoan đi nằm chính giữa để khỏi mất phần mền, dù ai có kéo qua kéo lại thì trên thân nó cũng đủ chăn ấm với nệm êm, bây chừ biết tìm mô ra một thằng "dại" đã được nằm giữa mà lại bỏ mất phần mền đây em? Thôi thì "phóng lao thì phải theo lao", đã lỡ leo lên lưng cọp rồi thì ai dại gì nhào xuống cho bị cọp vồ? Vẫn biết tơ với lụa thì cũng phát xuất tự tằm, mà con tằm thì cũng chỉ là loài sâu chớ quý hồ chi đây mà anh phải chọn? Nhưng một năm mười hai tháng mà tháng mô lại không có rằm thì lại là một câu hỏi "bất thường"! Nhưng dù sao đi nữa thì anh cũng phải vận dụng cái "trí thông minh" để trả lời cái câu lắt léo:

Em trèo lên cây cam cũng biết là cây cam khổ

Em che chài em chọn lái, thì lái cũng là gai

Một năm mười hai tháng, tháng đào hoa kết

trái là tháng không rằm em ơi!

Đối đáp như vậy thì còn bắt bẻ vào đâủ Vì chài và lái thì cũng lấy từ cây gai để thất để nối, mặc dầu lá gai còn dùng để làm bánh ít, được nhiều công dụng cho dân quê như cũng chỉ là loài cây cỏ dại mọc khắp ven rừng, thì có gì quý báu đâu mà phải chọn lựả

Còn "tháng đào hoa kết trái" thì mới chính là cái tháng hiếm quý nhất trên đời, cho nên tháng ấy không có "ngày rằm" là phải, nếu ai không tin thì hãy cứ trồng hoa đào mà đợi xem!

Bởi vì tháng ấy nó đằm thắm như tình cảm của các thanh niên thiếu nữ ở nơi đồng quê thôn dã tình cảm ấy nó thơm ngát như cỏ nội hoa đồng, chân phương như một màu bát ngát của cánh đồng lúa vàng, đang nằm trải dài phơi mình trong nắng sớm... Tình cảm ấy đã gói ghém một bản chất đôn hậu nhưng chân thành, đã thể hiện qua điệu hò câu hát của miền dân dã. Tâm sự ấy đã gắn liền với nếp sống hàng ngày như hơi thở, đem nguồn vui đến như bao tiếng cười dòn tan của trai gái trong làng, mỗi lần gặp nhau đầu ngõ.

Khi mới mở mắt chào đời chúng ta đã nghe tiếng ru của Mẹ, tiếng hát của anh, câu hò của chị...Hòa cùng bao niềm yêu mến của bà con xóm giềng, là những chất liệu đã nuôi dưỡng cho chúng ta khôn lớn, ấp ủ cho chúng ta có một tâm hồn phong phú về nền văn học dân gian, mà nó vẫn tiềm tàng trong chúng ta, nó vẫn chiếm ngự nguy nga giữa lòng mọi người dù còn ở nơi quê nhà, hay không may phải nghìn trùng xa cách! Vì nền văn học ấy đã chất chứa đầy tính chất của dân tộc Việt, tạo nguồn vui cho gia đình và xã hội ..

READ MORE - Câu hò Quảng Trị

Wednesday, May 13, 2009

Nghĩa trang Trường Sơn





CHUYỆN TÂM LINH Ở NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN


Giữa mênh mông đại ngàn, suốt ngày đêm vi vu tiếng gió, Nghĩa trang Trường Sơn là nơi an nghỉ của 10.363 liệt sĩ. Phần lớn trong số đó là những chiến sĩ Đoàn 559 anh hùng - những chàng trai đang ở độ tuổi mười tám đôi mươi, cái tuổi đang son và thớ thịt căng da. Họ đã chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp thống nhất đất nước.

Nhiều câu chuyện, theo anh Hồ Tất Ái - Trưởng ban quản lý Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thuộc khoa học huyền bí, là chuyện của thế giới tâm linh. Anh kể rằng, khi một đoàn các Mẹ Việt Nam anh hùng ở Bình Định lên thăm nghĩa trang, có một gia đình trong đoàn đi tìm mộ người thân, cả năm rồi không thấy. Hôm ấy, bác gái đi thắp hương ở các phần mộ, cũng là ngẫu nhiên. Bỗng thấy bác hét lên một tiếng rồi ngất đi, chúng tôi cứ tưởng bác bị cảm, hoặc giả cũng do quang cảnh nghĩa trang trầm mặc quá mà bác xúc động. Thế nhưng khi tỉnh lại, bác bảo với chúng tôi đúng đây là phần mộ của người em mà bác đang tìm kiếm nhiều năm qua. Rồi nhiều trường hợp khác, chỉ biết con em mình hy sinh trong chiến tranh, không biết phần mộ ở đâu. Gia đình đã đi tìm nhiều năm mà không thấy. Vậy mà trong một chuyến đi cùng mấy đoàn khách thăm nghĩa trang, đốt hương xong, họ như có người cầm tay dẫn đường, đi vòng vèo tới mấy ngôi mộ ở tận xa thắp hương, nhìn lại mới biết là mộ người nhà mình. Người dân ở đây cho rằng đó là các anh hùng liệt sĩ dẫn đường chỉ lối.

Anh Ái trầm ngâm: Ở nơi linh thiêng này, lời hứa là rất quan trọng, điều gì đã hứa là phải làm. Anh hồi tưởng lại: Một lần vào dịp cuối năm Quý Mùi (2003), anh em ở Ban quản lý Nghĩa trang bàn nhau dự định chiều ngày 26 - 12 âm lịch sẽ làm vài mâm cỗ, trước là thắp hương cúng các anh chị, sau là bữa cơm tất niên coi như động viên anh chị em trong cơ quan sau một năm làm lụng vất vả. Thế rồi nhiều đoàn lên thăm viếng, thành ra công việc bận quá, chưa tổ chức được. Đêm hôm ấy, rồi đến ngày 27, 28 cũng thế, đêm nào các anh cũng gọi: Anh em sao hứa mà không làm... sao hứa mà không làm...?

Một chuyện khác, thầy giáo Hải quê Hà Nam, công tác ở trường Đại học KHXH&NV đi cùng đoàn lên thăm nghĩa trang, khi đi qua nghĩa trang khu III là khu quy tập mộ các liệt sĩ của mấy tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh... thì người ta bỗng nghe thầy hát vang cả núi rừng liền một lúc 6 bài về Trường Sơn. Ngay đêm hôm ấy, thầy gọi điện về cho gia đình kể rằng đi ngang qua nghĩa trang khu III, các anh bảo hát cho các anh nghe những bài hát Trường Sơn nên thầy hát.

Anh em ở Ban quản lý cho biết rằng khu ấy thiêng lắm. Ngày rằm, mồng một đến thắp hương tại đó, họ vẫn nghe thấy tiếng anh em liệt sĩ nói cười, chào hỏi: “Các anh đến thắp hương đấy à?”

Anh Ái từng là lính trinh sát đặc công. Đối với người chiến sĩ được rèn luyện vững vàng như anh thì chuyện sống chết, hoang đường không có gì đáng sợ. Sau 7 năm công tác tại đây, một kỷ niệm làm anh còn nhớ mãi. Anh kể rằng:

- Đêm 14-11-2001, tôi và đồng chí Chủ tịch công đoàn cơ quan lên khu nghĩa trang thắp hương, chúng tôi thấy một người ngồi bên cạnh tượng đài. Chuyện thân nhân liệt sĩ lên nghĩa trang đêm hôm khuya khoắt cũng không phải là lạ. Tôi cứ nghĩ, có lẽ khách phương xa tới muộn. Dù sao tôi cũng đánh tiếng từ xa, không thấy người đó trả lời. Tôi ngạc nhiên quá, đến gần hơn, cách khoảng chục mét, tôi lại cất tiếng chào hỏi. Người đó vẫn im lặng. Khi chúng tôi tới gần tượng đài còn cách khoảng vài mét, người đó đi lùi ra một đoạn. Tôi đốt hương và nói: “Chúng tôi lên đây thắp hương và có vài lời với các anh hùng liệt sĩ. Anh ở đâu tới vậy?” Người đó nói: “Tôi cũng là liệt sĩ, ở nơi khác đến đây thăm anh em!” Quả thật lúc đó tôi vã mồ hôi hột, còn anh Chủ tịch công đoàn thì châm cả lửa vào tay. Quay lại thì không thấy người ấy đâu nữa.

Còn nhiều chuyện thuộc về thế giới tâm linh ở nghĩa trang này. Chị Trần Thị Thê, công tác nghĩa trang đã 25 năm. Chị có mặt ở đây từ năm 1981 khi mới thành lập nghĩa trang đến giờ. Chị kể thời kỳ đầu có hơn chục người, chủ yếu là chị em. Những ngày mới lên nghĩa trang, đêm đêm nằm nghe thấy tiếng các anh linh liệt sĩ cười đùa, rồi đàn hát những bài ca thời xưa, chị em cũng hoảng. Hai ba người quây lại ngủ chung một giường. Rồi sáng sớm, nghe tiếng các anh tập thể dục, tiếng bước chân hành quân trong đội ngũ, tiếng hô chào cờ, tiếng hô khẩu hiệu. Các chị mới đầu rất sợ, nhưng sau nghĩ đến các liệt sĩ xả thân vì nước lại cảm thấy thương vô cùng, thành ra ngày rằm, mồng một nào cũng lên thắp hương viếng mộ.

Nhà ngay cạnh nghĩa trang và lại công tác ngay trong ban quản lý, vì thế nên chị Thê gần như trực luôn ở đây ban đêm cũng như dịp lễ tết. Chị kể rằng, cả chục năm sống ở đây, cứ mỗi khi nhà có việc gì lớn thì đều lên xin các anh. Năm ngoái chị xây nhà, cũng làm mâm cỗ cúng, gọi là “báo cáo với các anh”. Chị tin rằng, chắc các anh phù hộ nên cái quán nhỏ của chị rất đông khách, ăn nên làm ra. Rồi thì chuyện người nhà ốm đau, thi cử của con cái, chị cũng làm lễ, trước là tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, sau nữa cũng mong các anh phù hộ độ trì cho. Dần dần, việc đó trở thành nghi lễ quen thuộc của bà con người Kinh ở quanh đây.

Những câu chuyện tâm linh có lẽ sẽ làm nhiều người mơ hồ sợ hãi. Nhưng với những người đồng đội của các anh hùng liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây, đó là câu chuyện của những người đang sống, các anh vẫn đang hiện hữu bên cạnh cuộc đời này. Có đoàn thương binh từ Hà Nội vào, năm nào cũng tới thăm nghĩa trang. Có anh mù 2 mắt, anh cụt 2 chân, hai tay, về đây thăm lại chiến trường xưa, thăm lại đồng đội cũ. Các anh ngủ lại giữa nghĩa trang, đốt lửa, thầm thì trò chuyện và hát lại những bài hát năm xưa cho những người đồng đội nghe. Họ đang sống lại những năm tháng hào hùng.

Chuyện linh thiêng, huyền bí ở nơi đây có phải thuộc khoa học huyền bí - như nhận định của anh Ái, chị Thê - hay do họ quá xúc động vì tấm gương hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, hoặc vì khung cảnh tịch mịch, thâm nghiêm, sự thăm thẳm đất trời giao hoà giữa âm dương, hư thực ở nơi đây thêu dệt nên? Dù là hoang đường, những câu chuyện đầy tính nhân bản đó vẫn gửi gắm một điều: Các anh đã chiến đấu anh dũng, đã nằm xuống, nhưng các anh không bao giờ chết; các anh đã trở thành bất tử trong mỗi trái tim Việt Nam.

Ngày 27-7, trong chương trình Nhịp cầu xuyên Á, thanh niên 3 nước Việt Nam, Lào, Thái Lan gặp nhau tại đây. Họ sẽ cùng nắm tay nhau, thắp những nén hương, những ngọn nến lên 10.363 ngôi mộ. Nghĩa trang Trường Sơn sẽ lung linh trong ánh nến, khói hương huyền ảo. Một thông điệp mà các thế hệ sau gửi đến các anh là: Các anh sẽ sống mãi trong lòng Tổ quốc và nhân dân.

Nguyễn Ánh Ngọc

(Báo Sức khỏe và Đời sống

Số chuyên đề cuối tháng, 7/2004)

READ MORE - Nghĩa trang Trường Sơn

Nghiã trang Trường Sơn


THĂM NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Nguyễn Quyết Thắng

nguyenquyetthang.vnweblogs.com


Đứng lặng phút giây

Có phải nơi đây xưa là Giới tuyến

Hơn hai mươi năm chia cắt đôi miền ?

Con đường Trường Sơn song song cùng biển

Giữa đại ngàn trầm mặc uy nghiêm...

Đất mẹ ơi hãy cho con được khóc

Các anh, các em ơi đau đáu những linh hồn

Hơn hai mươi ngàn chiến sỹ đã hy sinh trên con đường bi tráng

Mới hơn mười ngàn mộ phần được ấm áp khói hương

Nghĩa trang Trường Sơn

Nơi có hồ nước trong xanh bốn mùa không cạn

Nơi đồng đội tụ họp về đây thành cả sư đoàn

Nơi máu thắm các anh nhuộm xanh rờn sắc núi

Để bao người phụ nữ ở quê nhà trắng xóa khăn tang !

Gió ơi

Đừng níu tay tôi

Hãy để tôi lắng tai nghe tiếng các anh qua rì rầm biển cả

Hãy để tôi nhìn những gương mặt tuổi hai mươi đã tạc vào vách đá

Trùng điệp một thế hệ vàng son Anh- bộ- đội- cụ- Hồ

Hương đã thắp cho bao mộ phần rồi mà nước mắt vẫn chưa khô

Tôi thành kính nghiêng mình trước những vong linh anh hùng trung hiếu

Hàng triệu người đã tới đây, lặng đi và chợt hiểu

Giá của sự hy sinh quá đỗi lớn lao này

Tổ Quốc đã thay da đổi thịt từng ngày

Nơi yên nghỉ của các anh giờ quây quần nắng gió

Có núi, có sông, có hoa rừng thắm đỏ

Và vang vọng phía cuối trời có tiếng mẹ ru con...

Nghĩa trang Trường Sơn nơi đầu sông Bến Hải

Nhắn gửi với mai sau hãy nhớ về nguồn !

Tháng Bảy, 2008.




MAI THÌN (Bình Định)


Ở NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN



Những ngôi mộ vắt dòng

Khổ ngắn

800 ký tự

Khổ dài luênh loang nắng

Lơ phơ hương

Cứ thoảng lên trời

32 năm vẫn lơi rơi

Nhang cứ đỏ lên trời nhoe nhớ

... mặt trận... tháng ngày... quê hương xứ sở

tuổi tên...

Câu ngắn câu dài

Từng khổ

Chậm rãi từng khổ

Những ngôi mộ vắt dòng

10 nghìn câu thơ

10 nghìn ô chữ

Khảm lên trời

Bài thơ bất tử.



Quảng Trị, 30-4-2007


READ MORE - Nghiã trang Trường Sơn

Wednesday, May 6, 2009

Di tích lịch sử









ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC
Vị trí

Vịnh Mốc (thuộc xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một làng chài khiêm nhường có gần 100 nóc nhà nằm trên bờ biển phía Đông nam thị trấn Hồ Xá chừng 13km, cách bãi tắm Cửa Tùng 7km về phía Bắc, cách đảo Cồn Cỏ anh hùng 30km về phía Tây. Trong kháng chiến chống Mỹ, ngoài đặc điểm chung của Vĩnh Linh là "tuyến đầu của miền Bắc, hậu phương trực tiếp của miền Nam" Vịnh Mốc có một vị thế vô cùng quan trọng cho việc tập kết và vận chuyển lương thực, vũ khí cho đảo Cồn Cỏ.


Kiến trúc

Địa đạo Vịnh Mốc

Toàn bộ địa đạo được đào trong lòng quả đồi đất đỏ có độ cao chừng 30m, rộng hơn 7ha. Hệ thống đường hầm cấu trúc hình vòm có kích thước khoảng 0,9m x 1,75m với độ dài 2034m bao gồm nhiều nhánh nối thông với nhau qua trục chính dài 780m, có 13 cửa ra vào, được chống đỡ bằng cột nhà, gỗ và ngụy trang khá kín đáo, tất cả đều đào chếch theo hướng gió, đảm bảo chức năng thông hơi cho đường hầm. Địa đạo gồm 3 tầng có độ sâu và chức năng khách nhau. Tầng 1 cách mặt đất 8 - 10 mét dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn tạm thời; tầng 2 sâu 12 - 15 mét là nơi sống và sinh hoạt của dân làng, tầng 3 có độ sâu hơn 30 mét là nơi trung chuyển hàng hoá, vũ khí ra thuyền lên đảo Cồn Cỏ.

Để đảm bảo cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta khoét vào rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho 3 - 4 người ở. Ngoài ra trong

đường hầm còn có hội trường (sức chứa hơn 50 người dùng làm nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim), 3 giếng nước, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm phẩu thuật, trạm gác, máy điện thoại … đặc biệt có nhà hộ sinh, nơi ra đời của 17 đứa trẻ suốt trong hai năm 1967 - 1978.

Việc tổ chức phòng tránh, bảo vệ địa đạo rất phức tạp, đòi hỏi tính tổ chức, tự giác cao, bởi lẽ không chỉ đạn bom trút xuống mà còn người nhái, gián điệp tìm cách xâm nhập. Trong gần 2000 ngày đêm tồn tại (từ 1965 - 1972) việc 17 đứa trẻ ra đời an toàn không một người nào bị thương đã nói lên sự lựa chọn đúng đắn, là sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây. Hơn thế nữa, vượt qua hoàn cảnh, họ không chỉ tồn tại mà còn tổ chức hàng trăm chuyến thuyền nan tiếp vận cho đảo Cồn Cỏ. Đảo Cồn Cỏ đứng vững và được Nhà nước tuyên dương anh hùng hai lần trong đó có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân làng hầm Vịnh Mốc.


Ngày nay

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá - Thông tin đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Cũng từ đó, di tích này luôn được Đảng, Chính phủ và các ngành chức năng hết sức quan tâm đầu tư tôn tạo để gìn giữ di sản quý báu này. Hiện nay, địa đạo Vịnh Mốc là điểm thu hút mọi du khách đông nhất trong tuyến du lịch nổi tiếng và độc đáo: DMZ


Theo www.dostquangtri.gov.vn

DU LỊCH TRONG LÒNG ĐẤT

Địa đạo Vĩnh Mốc (Vĩnh Linh, Quảng Trị) là hình ảnh thu nhỏ của một làng quê được xây dựng và kiến tạo trong lòng đất, với chiều sâu từ 20 đến 28 m. Tổng chiều dài hệ thống đường hầm là 2.034 m, trục đường chính dài 769 m, cao từ 1,5 đến 1,8 m, rộng từ 1,1 đến 2 m.

Từ trục chính địa đạo được cấu tạo thành nhiều nhánh, mỗi nhánh thông với một cửa hầm (lối ra vào). Địa đạo có tất cả 13 cửa, 7 cửa thông ra biển, 6 cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm coi như một lỗ thông hơi. Tại các cửa hầm đều có làm khung gỗ chống sập và thường xuyên được gia cố để chống sụt lở. Hai bên trục đường chính cách nhau từ 3 đến 5 m lại khoét lõm sâu vào thành một ô nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình. Địa đạo được cấu tạo thành ba tầng. Tầng 1 sâu cách mặt đất từ 12 m đến 15 m, là nơi sinh sống của nhân dân. Tầng 2 sâu 18 m là nơi đóng trụ sở của Đảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự. Tầng 3 sâu 22 m dùng làm kho chứa hậu cần cung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vĩnh Mốc.

Trong lòng địa đạo có 3 giếng nước, hội trường với sức chứa 50 người, bệnh xá, nhà hộ sinh… Trong thời gian từ năm 1966 đến 1968 ngay trong lòng địa đạo đã có 17 em bé chào đời.

Đế quốc Mỹ trong âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta đã tiến hành ở Vĩnh Linh một cuộc chiến tranh hủy diệt man rợ và tàn khốc. Tháng 6/1995, Vĩnh Mốc đã hoàn toàn bị thiêu trụi bởi bom đạn Mỹ. Trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh, nhân dân Vĩnh Mốc quyết tâm bám trụ giữ làng không chịu khuất phục trước kẻ thù, hai phần ba dân số được di cư ra các tỉnh phía Bắc, một phần ba dân số còn lại quyết định làm địa đạo bám làng sản xuất và chiến đấu.

Toàn huyện Vĩnh Linh có chừng 114 địa đạo với tổng chiều dài gần 42 km. Hòa bình lập lại, một số địa đạo đã bị vùi lấp, một số vẫn còn khá nguyên sơ trong đó có địa đạo Vĩnh Mốc. Ngày 21/12/1975 Bộ Văn hóa đã đặc cách xếp hạng di tích lịch sử. Năm 1993 địa đạo Vĩnh Mốc lại được công nhận là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của cả nước.

Theo vnexpress.net
READ MORE - Di tích lịch sử

Cảnh đẹp quê nhà






TRẰM TRÀ LỘC

Không biết từ thời nào, ở phía Tây - Nam làng Trà Lộc, trên dải cát rộng tiếp giáp các xã Hải Thiện, Hải Thọ, Hải Thượng, Hải Lâm, Hải Quy, Hải Xuân, Hải Vĩnh đã hình thành một hồ nước rộng gần trăm héc-ta. Quanh hồ do có độ ẩm thường xuyên nên cây rừng tự nhiên mọc khá tốt.

Cũng đã từ lâu đời, dân làng Trà Lộc biết khai thác cái hồ tự nhiên đó. Người ta cải tạo, bồi trúc thêm, biến nó thành một công trình thủy lợi… Ở mặt Đông Bắc hồ, người ta tôn thêm bờ, vừa để tăng dung tích nước, vừa để ngăn nạn cát bay tràn lấn đồng ruộng. Dùng gỗ lim, người ta lắp một cái cổng có thể để mở chủ động đưa nước vào ruộng theo yêu cầu sản xuất. Công trình thủy lợi này không chỉ đủ chống hạn cho cả đồng lúa làng Trà Lộc, mà còn tưới giúp cho một phần đồng ruộng của 2 làng Duân Kinh, Trà Trì… Để bảo vệ nguồn sinh thủy, làng Trà Lộc có nội quy khá chặt chẽ, không ai được vào đây chặt cây lấy củi. Cần thiết thì chỉ được phép thu nhặt lá khô về làm chất đốt.



Gần đây, lãnh đạo và chính quyền Hải Lăng cho rằng đây là một vùng sinh thái hiếm thấy ở giữa đồng bằng. Huyện đang có chương trình hàng tỉ đồng để từng bước biến nơi đây thành một điểm du lịch sinh thái. Hiện đã mở được một tuyến đường cấp phối nối liền thị trấn Hải Lăng băng qua dải cát về xã Hải Xuân. Cũng đã đưa một số thú rừng quý hiếm như khỉ, rắn, trăn v.v… tịch thu được về thả ở đây. Một số công trình xây dựng khác đang trong quá trình chuẩn bị.

Với chương trình đó, hy vọng một tương lai không xa, Trằm Trà Lộc sẽ thu hút ngày càng đông du khách.


Theo www.dostquangtri.gov.vn
READ MORE - Cảnh đẹp quê nhà

Sunday, May 3, 2009

Thơ về sông Hiếu



Chiều ngày 4/4/2009, nhận lời mời của B. Quảng Trị chúng tôi năm anh em : Trần Như Lộc, Hồng Ân, Lãm Thắng, Ngô Công Tấn, Trương Pháp (B. Huế) lãng du đến quán Gió Lào bên bờ nam sông Hiếu ( Đông Hà).

Tại đây, chúng tôi đã được gặp gỡ giao lưu với các anh Hoàng Cát, Phan Chí Thắng từ Hà Nội vào thăm Thành cổ cùng với các anh Xuân Đức, Phan Văn Quang, Đức Tiên, Thanh Tịnh, chị Ngọc Lan ( B. Quảng Trị).

Buổi giao lưu thật chân tình và cảm động với nhiều bài thơ, ca khúc và những mẩu chuyện tâm sự về cuộc đời, tình yêu và nỗi nhớ mong qua bao năm tháng...


* Quý tặng các anh Hoàng Cát, Phan Chí Thắng và CLB B. Quảng Trị.



ĐÊM BÊN BỜ SÔNG HIẾU

Trần Như Lộc




Chiều Gió Lào bên bờ nam sông Hiếu

Hẹn hò nhau như đã tự thuở nào

Sông Hiếu trong xanh như em kỳ diệu

Ngước nhìn anh say hoa nắng lao xao



Vượt đường xa anh về bên sông Hiếu

Để lắng nghe em câu hát tự tình

Thoảng trong gió hương tóc thơm anh thiếu

Đã lâu rồi mong nhớ giữa lặng thinh



Đêm đổ xuống bóng em nghiêng sông Hiếu

Giọng em ngâm lời cỏ úa mãi xanh

Trong cốc rượu mắt em buồn giai điệu

Duyên dáng cười em khẽ nép vào anh



Đêm ngọt ngào bên bờ sông kỷ niệm

Kể chuyện tình xưa xanh lá cây rừng

Bao năm tháng đêm nay cùng tái hiện

Cảm xúc dâng trào nước mắt rưng rưng



Đêm buồn vui bên bờ nam sông Hiếu

Phút chia tay không muốn cũng đến rồi

Sương ướt tóc quàng vai nhau thấu hiểu

Anh phải về hẹn gặp lại em thôi!


Bên sông Hiếu

ĐINH LÊ VŨ

Bờ rêu xanh
Hàng cây xanh
Những chiếc lá xanh
Mặt sông như một tấm gương xanh
Tôi soi mình vào tấm gương
Chỉ thấy những vết hằn thời gian xanh
Màu xanh vĩnh cửu của dòng sông kia
Như một giấc mơ
Níu chìm tôi xuống…

Tôi hiểu ánh mắt của chiếc lá kia nhìn tôi đau đáu
Đau đáu vì những điều không thể nói ra
(Đôi khi bày tỏ lòng mình cũng là một điều hết sức khó khăn-
Và lắng nghe người khác bày tỏ lòng mình cũng là một điều khó khăn không kém!)
Tôi hiểu dáng vẻ hiền lành của bờ rêu kia
Bao dung với tôi biết mấy
Cũng như tôi hiểu cái cau mày của sông
Cái suy tư lăn tăn của những gợn sóng
Khi cá quẫy mình
Những gợn sóng trên mặt sông như những vòng tròn kia cứ loang ra loang ra
Tôi tránh xa những gợn sóng
Tôi chạy trốn những vòng tròn
Tôi sợ sẽ làm tan những vòng tròn rất tròn kia
Tôi sợ sẽ là những vết hoen trên mặt sông tinh khiết
Tôi sợ sẽ là nỗi buồn trong ánh mắt chưa biết buồn trên khuôn mặt người con gái
Người con gái dịu dàng như giấc mơ
Khuôn mặt nàng là một tấm gương xanh trong veo...

Tôi là một cơn gió thoảng qua
Gió rồi sẽ tan đi trước trùng dương sông Hiếu
Tôi như một hạt bụi lạc đường
Hạt bụi nhỏ nhoi trước màu xanh bao la sông Hiếu
Bởi màu xanh vĩnh cửu của dòng sông muôn đời là một giấc mơ
Giấc mơ mênh mông sông Hiếu
Tôi chỉ là một hơi thở nhẹ
Là chút xao xác mong manh
Rồi cũng bay đi
Bay đi không dấu vết...



Đông Hà, cuối tháng 3-09

ĐINH LÊ VŨ
READ MORE - Thơ về sông Hiếu