Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Sunday, May 17, 2009

Câu hò Quảng Trị




CÂU HÒ THÔN DÃ


Đan Hà


http://www.vietmedia.com/literature/muiviquehuong/?ID=19


Nhiều người khi mới đến quê hương tôi nơi Quảng trị, thường hay có cảm giác e ngại, sợ sệt, vì khi mới nghe đến một vùng đầy lam sơn chướng khí, mảnh đất eo hẹp được giới hạn bằng một bên là biển, một bên rừng. Khí hậu quanh năm hai mùa với mùa hè nắng cháy, nắng nung người làm héo cỏ khô cây; mùa đông thì mưa dầm ướt đất, mưa không ngớt làm sũng lầy những vùng cao nguyên đất đỏ, làm úa tàn lúa mạ của vùng đồng bằng. Trong những ngày vừa chớm thu, các khu rừng lá cây sắp ngã màu vàng và rụng dần, bắt đầu những cơn mưa ngâu lành lạnh, gió thổi mạnh làm rung đổ những giọt nước mắt của "Chức nữ thương nhớ Ngưu lang", như trong một chuyện cổ tích dân gian xa xưa nào, câu chuyện đầy thơ mộng và lãng mạn mà khi nghe kể lại chắc không ai lại không khỏi bùi ngùi! Tiếp theo là những cơn bão làm trốc gốc đổ cây, rồi tiếp đến là lụt lội ướt át. Không có năm nào lại không xảy ra thiên tai làm hư hại mùa màng, làm hao tổn không biết bao nhiêu mồ hôi nước mắt của người dân quê đã đổ xuống trên ruộng vườn nương rẫy, tạo nên cảnh đói rách lầm than. Câu tục ngữ thường truyền tụng nơi đây là: "Làm cho có để mưa gió mà ăn" là vậy, mỗi năm có hai mùa,mùa tháng ba thì cũng nhờ Trời mưa thuận gió hòa nên thu hoạch được đầy đủ, còn vụ mùa tháng tám thường hay bị thất thu, cho nên nông dân phải trồng thêm các loại hoa màu phụ như khoai sắn để phụ lực... (No lòng chớ phụ môn khoai, đến năm Thân Dậu lấy ai bạn cùng!). Họ thường nói đến nạn đói của năm Thân Dậu (là hai năm 1944-1945), như nhắc nhở cho con cháu biết một bài học dắng cay, để mà tiết kiệm để mà tích trữ lương thực, của cải cho những việc bất thường như: quan, hôn, tương, tế...( năm Thân Dậu tại Quảng trị xảy ra nạn đói kinh hồn, gây cảnh chết chóc cho cả hàng trăm ngàn người, vì năm ấy bị xảy ra một cuộc khủng hoảng về chính trị và kinh tế rất trầm trọng, trong lúc người Nhật vừa đến tiếp thu lãnh thổ từ tay người Pháp, thì tức tốc áp đặt một thể chế quá khắc nghiệt đối với người dân, như ruộng vườn không được trồng lúa mà phải trồng đay, trồng dâu nuôi tằm để khuếch trương nền kỷ nghệ v/v...). Vì thế mà nẩy sinh ra những phong trào từ trong dân chúng đứng lên chống Pháp, kháng Nhật và như thế là chiến tranh lại tiếp diễn đến triền miên! Cho đến thời cận đại thì các cường Quốc lại sử dụng mảnh đất Quảng trị như là một phương tiện, một nơi chốn để tranh giành ảnh hưởng Quốc tế, "Họ dùng làm vùng phi quân sự" cho các cuộc thí nghiệm võ khí đạn dược, hằng ngày đã đổ xuống hằng ngàn tấn bom cùng với thuốc khai quang đã tàn phá hết nhựa sống của thiên nhiên, hàng rào điện tử với bãi chông mìn, kẽm gai dăng khắp đây đó đã tạo nên cảnh chết chốc và gây thương tật cho dân chúng địa phương. Hiện tượng ấy cho đến bây giờ sau hơn hai mươi năm chấm dứt chiến tranh, nhưng những vũ khí giết người ấy vẫn còn nằm đó, đầy dẫy như dang chờ chực những ai bất hạnh!...

Vì thế cho nên những người khi mới chân ướt chân ráo đến vùng Quảng trị thì họ thường hay than rằng : "Đến nơi đây đất nước lạ lùng, nghe con chim kêu cũng sợ nghe con cá vùng cũng run!".

Cảm giác ấy không phải chỉ đối với những người vừa mới đến, mà người dân địa phương sống lâu năm tại đây cũng cảm thấy không thoải mái, không an nhàn! Vì ngoài khí hậu khắc nghiệt, lam sơn chướng khí, chiến tranh tàn phá còn có thú dữ hoành hành nữa! Như tại địa phương có câu tục ngữ: "Nác khe mèo, beo làng Rọng", (những con suối phát xuất từ vùng Tân lâm, Khe sanh đầu nguồn của con sông Vĩnh định, có con suối mang tên là"Khe mèo" vì nước suối trong vắt, đứng trên bờ có thể nhìn xuyên suốt dưới lòng khe, thấy được sỏi cát nằm dưới đáy, nước trong đến thế cho nên mới gọi là suối trong như mắt mèo, thế nhưng khi múc nước đem đun sôi thì nước ấy lại biến thành màu ti''m nhạt, nước uống rất độc. Cũng có thể giữa vùng thâm u cây cối là môi trường thích hợp cho muỗi mòng và các loại côn trùng có mang vi khuẩn truyền bệnh. Cư dân ở đây phần nhiều đều "mặt bủng da chì" nhất là trẻ em bỡi hậu quả cuả các chứng bệnh sốt rét và sán lãi! Ngành Y tế tại đây thì lại thiếu thốn đủ thứ nên không đáp ứng nhu cầu cho một chương trình phòng ngừa và trị liệụ( Nhớ lại trước đây khi còn làm lính, đi hành quân trên các vùng cao nguyên như Khe sanh, Lao bảo, Ba lòng, A sao, A lướị.. Đơn vị chúng tôi không ai tránh khỏi bệnh sốt rét rừng, mặc dầu ai nấy đều phải mang theo đầy đủ các loại thuốc phòng ngừa bệnh sốt rét và dầu nóng để trừ muỗi, vắt... Còn tại vùng Cuà là một thung lũng được bao bọc chung quanh bằng rừng núi, có một ngôi làng nằm giữa trũng thấp có nhiều chỗ làm ruộng, cho nên dân làng đặt tên là "làng Rọng", làng nầy nằm gần một khu rừng có rất nhiều thú dữ như cọp, heo rừng thường hay kéo về phá hoại mùa màng cũng như đe dọa tính mạng cuả dân làng, để đề phòng những bất trắc có thể xẩy ra, họ phải cất nhà sàn để ở hay làm nhà bằng cây rừng thật chắc chắn. Đêm đêm muốn đi đâu thì họ dùng cây đót bó lại thành bó, đốt lên làm đuốc soi đường và trừ thú dữ (tiếng địa phương gọi là cái chền) ngoài ra họ còn làm bẫy để sập thú rừng. Trâu bò cũng phải làm chuồng chắc chắn bằng cây rừng (gọi là cái ràn) chứ không thể buộc khơi khơi ngoài đường như các nơi khác.

Nhưng khi đến sinh sống tại Quảng trị một thời gian rồi thì họ đâm ra ghiền, không phải họ ghiền vì bùa mê thuốc lú, không phải họ ghiền vì nơi chốn ấy đã đem lại cho họ một cuộc sống vững chải về kinh tế, để được an nhàn mà vui sống cảnh điền viên! Bởi vì ngoài thiên tai, còn là nơi đã chịu nhiều oan nghiệt về chiến tranh dai dẳng, khiến cho tâm hồn họ phải chai lì, đời sống thì với những bất trắc chực chờ, đói nghèo và thiếu thốn đủ thứ ... Như vậy điều gì đã khiến cho họ phải gắn bó với cuộc sống nơi đâỷ Có lẽ chỉ còn là tình cảm, chỉ còn những kỷ niệm nào đó đã ghi lại trong tâm hồn họ, khiến cho họ phải luyến lưu phải gắn bó...

Kỷ niệm ấy có thể là hương lòng của Tiên tổ , có thể là nếp sống chất phác mà hiền hoà, đơn sơ mà hồn nhiên cùng với tình keo sơn của bà con làng xóm... Những mối liên hệ ấy là một chất keo gắn liền đời sống với nhau như anh em một nhà. (tình cảm ấy cũng có thể là tình đồng bào, được bắt nguồn từ huyền thoại Mẹ Âu cơ sinh trăm trứng, nở thành trăm con, năm mươi con lên núi, năm mươi con xuống biển nhưng núi và biển vẫn nằm trong một Tổ quốc, cho nên con cháu sau nầy đều vẫn là anh em) .

Các cuộc sinh hoạt làng xã, họ thường gặp gỡ nhau ở ngoài đồng ruộng, trong các buổi hội hè, gặp nhau trong những ngày mùa đang gánh lúa về trên con đường làng thơm mùi tóc rạ, họ chia xẻ cùng nhau những niềm vui khi đứng nhìn ra cánh đồng chín vàng trĩu đầy bông lúa và nhất là những điệu hò câu hát của những đêm giã gạo dưới trăng...

Hò ơị..

Đứng bên ni khe ngó qua bên tê khe thấy bụi tre,

bụi trừa bụi đựng

Ngó xuống dưới sông nọ có mấy hòn đá,

hòn dựng hòn nằm

Thiếp với chàng là đạo nghĩa trăm năm

Dẫu mai sau không thành chồng vợ, nhưng sớm

viếng tối thăm cũng tình!

Những hình ảnh như bụi tre, hòn đá chỉ là những biểu tượng để ví von, so sánh mà thôi, chứ nó không liên quan gì đến tình cảm của con người, mà ở đây "đạo nghĩa" mới là quan trọng, nó chính là rường cột của giềng mối, là chất keo để ràng buc và bảo vệ cái tình cảm thiêng liêng đã in sâu trong tâm khảm của mọi ngườị Những người đã sống chung với nhau cùng xóm, cùng làng thì dẩu không phải là bà con họ hàng, không phải là anh em ruột thịt, dẫu không thành tình nghĩa vợ chồng với nhaụ.. Nhưng cùng chia xẻ những niềm vui nỗi buồn, hay thăm viếng và giúp đở lẫn nhau trong lức hoạn nạn, thì đó cũng là những an ủi cần thiết cho chúng ta trong đời sống nầy rồi (Bà con xa không bằng láng giềng gần mà!). Tình cảm ấy cũng không hẳn chỉ dành cho những người đã chung sống với nhau lâu năm, mà còn đối với những người mới cùng hạnh ngộ, cho dù chỉ là một khách vãng lai:

Ai về phố Hi , sông Cầu

Để thương để nhớ, để sầu cho aỉ

Để sầu cho khách vãng lai

Để thương để nhớ cho aỉ để sầu!

Để sầu cho khách vãng lai, hay để sầu cho người ở lạỉ Cũng chỉ là những câu hỏi được lặp đi lặp lại như một nỗi i dùng dằng giữa kẻ ở người đi, như nỗi luyến tiếc một cái gì thật mơ hồ, nhưng biết rồi đây sẽ tàn phai theo ly biệt! Nghe nó thật là ngổn ngang trăm mối, bởi vì câu hỏi trước thì chỉ thuần tuý là một câu hỏi, chỉ cần một câu trả lời là xong thí dụ như: (nếu biết rằng em đã lấy chồng, anh về lấy vợ thế là xong!) , như vậy là đã được giải quyết một cách thoả đáng rồi, không còn gì để mà phân vân nữa cả. Thế nhưng câu hỏi cuối cùng mới chính là vấn đề cần phải suy luận, vì nó vừa là một câu hỏi mà cũng vừa là một lời than! Một câu mà thành ra hai câu, một câu hỏi và một lời than chăng? Cũng có thể lắm chứ, (Để thương để nhớ cho aỉ để sầụ..), mới nghe thì cũng chỉ lặp lại câu hỏi trước, nhưng nhìn kỹ thì đoạn sau lại được (hay bị) đảo ngữ, cho nên không biết đây là câu hỏi hay câu trả lời đâỷ Chữ "để sầu" treo lơ lững ở phía đàng sau như một nỗi than trách ai đó, nó không còn nằm trong phạm vi câu hỏi nưã, mà nó đã rớt lại đằng sau như còn lưu luyến một cái gì, thật thiết tha biết mấỷ Câu hỏi kế tiếp cũng bắt nguồn từ manh nha tình cảm:

Ra về có nhớ em không?

Hay là xuôi buồm thuận gió biệt mong xa chừng!

Ở đời cảnh hợp tan thì làm sao mà tránh khỏỉ Vẫn biết vậy nhưng khi đã dan díu với nhau rồi, thì ai bắt mình phải xa lánh những ước mơ thầm kín? Của một lần đã cùng ai hẹn biển thề non! Đã một lần cùng ai nói câu ước hẹn, cho nên nỗi phân vân cứ đeo đẳng mãi không thôi!

Ra về sao đặng mà về?

Bỏ non bỏ nước, bỏ mấy lời thề cho ai!

Bỏ non, bỏ nước... thì chắc là có thể bỏ được, vì đây không phải là nơi "chôn Nhau cắt Rốn", đây không phải là quê hương xứ sở chi của mình, thì đến hay đi cũng không thành vấn đề chi mấỵ.. Nhưng còn "mấy lời thề" nó mới là rắc rối làm saỏ Bỏ lại cho ai đâỷ ...

Đối với những người mới quen biết thì họ chỉ bóng gió, với lời lẽ tuy chơn chất nhưng thiết tha, tuy quê mùa nhưng gói ghém một tình cảm thiệt thâm thúy đến đường nàọ.. Còn đối với những người (xa xôi chi đó mà lầm, phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm) thì saỏ Họ có đối đãi với nhau như thế chăng? Có lẽ là không đâu, vì họ có cần chi phải "bóng gió" cho thêm mệt, lại phải đi vòng vo tam quốc cho hao xăng tốn nhớt? Cho mệt trí phí sức, cứ đi thẳng một dường mực tàu, để "thâu ngắn đường về", mặc dầu đôi khi vẫn biết rằng: "Thẳng mực tàu thì đau lòng g " đấy! :

Mấy anh chưa vợ quanh năm

Đêm đông lạnh giá anh nằm với aỉ

Thiệt nghe cũng khó trả lời đây có phải không các bạn "tu mi nam tử"? Ai đâu lại đi hỏi cắc cớ như thế nầy, biết mần răng mà trả lời cho xuôi thuyền mát máỉ Biết làm sao mà trả lời cho nghe được cái lỗ taỉ Làm sao mà mở ra một con đường uyên nguyên cho cõi đi về khỏi cô đơn giá lạnh? Bởi vì anh vốn là một kẻ quê mùa dân dã, nghèo khó một đời thì làm sao dám cùng người để "gối phụng chăn loan"? Bởi vì anh chỉ là một gã tiều phu đốn củi thì làm sao dám mơ ước được nằm với aỉ Bởi vì thân phận của anh "Khó nghèo ở chốn sơn lâm, mai than chiều củi, gặp trầm họa may", cái họa may nầy cũng hiếm hoi lắm đó, vì trầm là một loại gỗ quý hiếm, thì làm sao mà bắt được giữa hư không? Cho nên câu hỏi nầy xem ra đã bí lối, không tìm được câu trả lời thì thấy cũng mất mặt cả "đấng nam nhi", mà câu trả lời không được chí lý thì làm sao tránh khỏi miệng đời hay dòm ngó, thị phỉ Cho nên cũng có người phải suy nghĩ nát óc để tìm ra câu trả lời để họa may cứu vãn tình thế! May thay một đấng nho thâm uyên bác đã thay thế chúng ta để "gở rối tơ lòng"!:

Em hỏi chi chuyện ấy cho mất công

Nếu nóng thì anh nằm ngủ thẳng, mà lạnh thì

nằm cong khó gì?

Lành thay, lành thay mọi việc đã được giải quyết ổn thỏa rồi, vì anh đây đâu phải còn cái diện "ăn chưa no, co chưa ấm" nữa đâu, mà phải đi mắc mưu cái phận "thuyền quyên" đánh cờ còn chưa sạch nước cản? Nếu còn câu nào hóc hiểm nữa thì cứ đem ra, nếu anh trả lời không đặng thì anh nguyện sẽ "làm phận đàn bà như em!".

Anh trèo lên cây sung cũng biết mùi sung sướng

Anh chê tơ anh kén lụa, thì lụa cũng là tằm

Em đố anh một năm mười hai tháng, tháng mô

không rằm rứa anh?

Đối thì phải đáp, hỏi thì dĩ nhiên phải trả lời nhưng câu hỏi nầy cũng hơi có phần gay cấn, vì tháng nào lại tháng không có rằm? "Nó" đã khôn ngoan đi nằm chính giữa để khỏi mất phần mền, dù ai có kéo qua kéo lại thì trên thân nó cũng đủ chăn ấm với nệm êm, bây chừ biết tìm mô ra một thằng "dại" đã được nằm giữa mà lại bỏ mất phần mền đây em? Thôi thì "phóng lao thì phải theo lao", đã lỡ leo lên lưng cọp rồi thì ai dại gì nhào xuống cho bị cọp vồ? Vẫn biết tơ với lụa thì cũng phát xuất tự tằm, mà con tằm thì cũng chỉ là loài sâu chớ quý hồ chi đây mà anh phải chọn? Nhưng một năm mười hai tháng mà tháng mô lại không có rằm thì lại là một câu hỏi "bất thường"! Nhưng dù sao đi nữa thì anh cũng phải vận dụng cái "trí thông minh" để trả lời cái câu lắt léo:

Em trèo lên cây cam cũng biết là cây cam khổ

Em che chài em chọn lái, thì lái cũng là gai

Một năm mười hai tháng, tháng đào hoa kết

trái là tháng không rằm em ơi!

Đối đáp như vậy thì còn bắt bẻ vào đâủ Vì chài và lái thì cũng lấy từ cây gai để thất để nối, mặc dầu lá gai còn dùng để làm bánh ít, được nhiều công dụng cho dân quê như cũng chỉ là loài cây cỏ dại mọc khắp ven rừng, thì có gì quý báu đâu mà phải chọn lựả

Còn "tháng đào hoa kết trái" thì mới chính là cái tháng hiếm quý nhất trên đời, cho nên tháng ấy không có "ngày rằm" là phải, nếu ai không tin thì hãy cứ trồng hoa đào mà đợi xem!

Bởi vì tháng ấy nó đằm thắm như tình cảm của các thanh niên thiếu nữ ở nơi đồng quê thôn dã tình cảm ấy nó thơm ngát như cỏ nội hoa đồng, chân phương như một màu bát ngát của cánh đồng lúa vàng, đang nằm trải dài phơi mình trong nắng sớm... Tình cảm ấy đã gói ghém một bản chất đôn hậu nhưng chân thành, đã thể hiện qua điệu hò câu hát của miền dân dã. Tâm sự ấy đã gắn liền với nếp sống hàng ngày như hơi thở, đem nguồn vui đến như bao tiếng cười dòn tan của trai gái trong làng, mỗi lần gặp nhau đầu ngõ.

Khi mới mở mắt chào đời chúng ta đã nghe tiếng ru của Mẹ, tiếng hát của anh, câu hò của chị...Hòa cùng bao niềm yêu mến của bà con xóm giềng, là những chất liệu đã nuôi dưỡng cho chúng ta khôn lớn, ấp ủ cho chúng ta có một tâm hồn phong phú về nền văn học dân gian, mà nó vẫn tiềm tàng trong chúng ta, nó vẫn chiếm ngự nguy nga giữa lòng mọi người dù còn ở nơi quê nhà, hay không may phải nghìn trùng xa cách! Vì nền văn học ấy đã chất chứa đầy tính chất của dân tộc Việt, tạo nguồn vui cho gia đình và xã hội ..

READ MORE - Câu hò Quảng Trị

Wednesday, May 13, 2009

Nghĩa trang Trường Sơn





CHUYỆN TÂM LINH Ở NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN


Giữa mênh mông đại ngàn, suốt ngày đêm vi vu tiếng gió, Nghĩa trang Trường Sơn là nơi an nghỉ của 10.363 liệt sĩ. Phần lớn trong số đó là những chiến sĩ Đoàn 559 anh hùng - những chàng trai đang ở độ tuổi mười tám đôi mươi, cái tuổi đang son và thớ thịt căng da. Họ đã chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp thống nhất đất nước.

Nhiều câu chuyện, theo anh Hồ Tất Ái - Trưởng ban quản lý Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn, thuộc khoa học huyền bí, là chuyện của thế giới tâm linh. Anh kể rằng, khi một đoàn các Mẹ Việt Nam anh hùng ở Bình Định lên thăm nghĩa trang, có một gia đình trong đoàn đi tìm mộ người thân, cả năm rồi không thấy. Hôm ấy, bác gái đi thắp hương ở các phần mộ, cũng là ngẫu nhiên. Bỗng thấy bác hét lên một tiếng rồi ngất đi, chúng tôi cứ tưởng bác bị cảm, hoặc giả cũng do quang cảnh nghĩa trang trầm mặc quá mà bác xúc động. Thế nhưng khi tỉnh lại, bác bảo với chúng tôi đúng đây là phần mộ của người em mà bác đang tìm kiếm nhiều năm qua. Rồi nhiều trường hợp khác, chỉ biết con em mình hy sinh trong chiến tranh, không biết phần mộ ở đâu. Gia đình đã đi tìm nhiều năm mà không thấy. Vậy mà trong một chuyến đi cùng mấy đoàn khách thăm nghĩa trang, đốt hương xong, họ như có người cầm tay dẫn đường, đi vòng vèo tới mấy ngôi mộ ở tận xa thắp hương, nhìn lại mới biết là mộ người nhà mình. Người dân ở đây cho rằng đó là các anh hùng liệt sĩ dẫn đường chỉ lối.

Anh Ái trầm ngâm: Ở nơi linh thiêng này, lời hứa là rất quan trọng, điều gì đã hứa là phải làm. Anh hồi tưởng lại: Một lần vào dịp cuối năm Quý Mùi (2003), anh em ở Ban quản lý Nghĩa trang bàn nhau dự định chiều ngày 26 - 12 âm lịch sẽ làm vài mâm cỗ, trước là thắp hương cúng các anh chị, sau là bữa cơm tất niên coi như động viên anh chị em trong cơ quan sau một năm làm lụng vất vả. Thế rồi nhiều đoàn lên thăm viếng, thành ra công việc bận quá, chưa tổ chức được. Đêm hôm ấy, rồi đến ngày 27, 28 cũng thế, đêm nào các anh cũng gọi: Anh em sao hứa mà không làm... sao hứa mà không làm...?

Một chuyện khác, thầy giáo Hải quê Hà Nam, công tác ở trường Đại học KHXH&NV đi cùng đoàn lên thăm nghĩa trang, khi đi qua nghĩa trang khu III là khu quy tập mộ các liệt sĩ của mấy tỉnh Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Bắc Giang, Bắc Ninh... thì người ta bỗng nghe thầy hát vang cả núi rừng liền một lúc 6 bài về Trường Sơn. Ngay đêm hôm ấy, thầy gọi điện về cho gia đình kể rằng đi ngang qua nghĩa trang khu III, các anh bảo hát cho các anh nghe những bài hát Trường Sơn nên thầy hát.

Anh em ở Ban quản lý cho biết rằng khu ấy thiêng lắm. Ngày rằm, mồng một đến thắp hương tại đó, họ vẫn nghe thấy tiếng anh em liệt sĩ nói cười, chào hỏi: “Các anh đến thắp hương đấy à?”

Anh Ái từng là lính trinh sát đặc công. Đối với người chiến sĩ được rèn luyện vững vàng như anh thì chuyện sống chết, hoang đường không có gì đáng sợ. Sau 7 năm công tác tại đây, một kỷ niệm làm anh còn nhớ mãi. Anh kể rằng:

- Đêm 14-11-2001, tôi và đồng chí Chủ tịch công đoàn cơ quan lên khu nghĩa trang thắp hương, chúng tôi thấy một người ngồi bên cạnh tượng đài. Chuyện thân nhân liệt sĩ lên nghĩa trang đêm hôm khuya khoắt cũng không phải là lạ. Tôi cứ nghĩ, có lẽ khách phương xa tới muộn. Dù sao tôi cũng đánh tiếng từ xa, không thấy người đó trả lời. Tôi ngạc nhiên quá, đến gần hơn, cách khoảng chục mét, tôi lại cất tiếng chào hỏi. Người đó vẫn im lặng. Khi chúng tôi tới gần tượng đài còn cách khoảng vài mét, người đó đi lùi ra một đoạn. Tôi đốt hương và nói: “Chúng tôi lên đây thắp hương và có vài lời với các anh hùng liệt sĩ. Anh ở đâu tới vậy?” Người đó nói: “Tôi cũng là liệt sĩ, ở nơi khác đến đây thăm anh em!” Quả thật lúc đó tôi vã mồ hôi hột, còn anh Chủ tịch công đoàn thì châm cả lửa vào tay. Quay lại thì không thấy người ấy đâu nữa.

Còn nhiều chuyện thuộc về thế giới tâm linh ở nghĩa trang này. Chị Trần Thị Thê, công tác nghĩa trang đã 25 năm. Chị có mặt ở đây từ năm 1981 khi mới thành lập nghĩa trang đến giờ. Chị kể thời kỳ đầu có hơn chục người, chủ yếu là chị em. Những ngày mới lên nghĩa trang, đêm đêm nằm nghe thấy tiếng các anh linh liệt sĩ cười đùa, rồi đàn hát những bài ca thời xưa, chị em cũng hoảng. Hai ba người quây lại ngủ chung một giường. Rồi sáng sớm, nghe tiếng các anh tập thể dục, tiếng bước chân hành quân trong đội ngũ, tiếng hô chào cờ, tiếng hô khẩu hiệu. Các chị mới đầu rất sợ, nhưng sau nghĩ đến các liệt sĩ xả thân vì nước lại cảm thấy thương vô cùng, thành ra ngày rằm, mồng một nào cũng lên thắp hương viếng mộ.

Nhà ngay cạnh nghĩa trang và lại công tác ngay trong ban quản lý, vì thế nên chị Thê gần như trực luôn ở đây ban đêm cũng như dịp lễ tết. Chị kể rằng, cả chục năm sống ở đây, cứ mỗi khi nhà có việc gì lớn thì đều lên xin các anh. Năm ngoái chị xây nhà, cũng làm mâm cỗ cúng, gọi là “báo cáo với các anh”. Chị tin rằng, chắc các anh phù hộ nên cái quán nhỏ của chị rất đông khách, ăn nên làm ra. Rồi thì chuyện người nhà ốm đau, thi cử của con cái, chị cũng làm lễ, trước là tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, sau nữa cũng mong các anh phù hộ độ trì cho. Dần dần, việc đó trở thành nghi lễ quen thuộc của bà con người Kinh ở quanh đây.

Những câu chuyện tâm linh có lẽ sẽ làm nhiều người mơ hồ sợ hãi. Nhưng với những người đồng đội của các anh hùng liệt sĩ đang yên nghỉ nơi đây, đó là câu chuyện của những người đang sống, các anh vẫn đang hiện hữu bên cạnh cuộc đời này. Có đoàn thương binh từ Hà Nội vào, năm nào cũng tới thăm nghĩa trang. Có anh mù 2 mắt, anh cụt 2 chân, hai tay, về đây thăm lại chiến trường xưa, thăm lại đồng đội cũ. Các anh ngủ lại giữa nghĩa trang, đốt lửa, thầm thì trò chuyện và hát lại những bài hát năm xưa cho những người đồng đội nghe. Họ đang sống lại những năm tháng hào hùng.

Chuyện linh thiêng, huyền bí ở nơi đây có phải thuộc khoa học huyền bí - như nhận định của anh Ái, chị Thê - hay do họ quá xúc động vì tấm gương hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, hoặc vì khung cảnh tịch mịch, thâm nghiêm, sự thăm thẳm đất trời giao hoà giữa âm dương, hư thực ở nơi đây thêu dệt nên? Dù là hoang đường, những câu chuyện đầy tính nhân bản đó vẫn gửi gắm một điều: Các anh đã chiến đấu anh dũng, đã nằm xuống, nhưng các anh không bao giờ chết; các anh đã trở thành bất tử trong mỗi trái tim Việt Nam.

Ngày 27-7, trong chương trình Nhịp cầu xuyên Á, thanh niên 3 nước Việt Nam, Lào, Thái Lan gặp nhau tại đây. Họ sẽ cùng nắm tay nhau, thắp những nén hương, những ngọn nến lên 10.363 ngôi mộ. Nghĩa trang Trường Sơn sẽ lung linh trong ánh nến, khói hương huyền ảo. Một thông điệp mà các thế hệ sau gửi đến các anh là: Các anh sẽ sống mãi trong lòng Tổ quốc và nhân dân.

Nguyễn Ánh Ngọc

(Báo Sức khỏe và Đời sống

Số chuyên đề cuối tháng, 7/2004)

READ MORE - Nghĩa trang Trường Sơn

Nghiã trang Trường Sơn


THĂM NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN

Nguyễn Quyết Thắng

nguyenquyetthang.vnweblogs.com


Đứng lặng phút giây

Có phải nơi đây xưa là Giới tuyến

Hơn hai mươi năm chia cắt đôi miền ?

Con đường Trường Sơn song song cùng biển

Giữa đại ngàn trầm mặc uy nghiêm...

Đất mẹ ơi hãy cho con được khóc

Các anh, các em ơi đau đáu những linh hồn

Hơn hai mươi ngàn chiến sỹ đã hy sinh trên con đường bi tráng

Mới hơn mười ngàn mộ phần được ấm áp khói hương

Nghĩa trang Trường Sơn

Nơi có hồ nước trong xanh bốn mùa không cạn

Nơi đồng đội tụ họp về đây thành cả sư đoàn

Nơi máu thắm các anh nhuộm xanh rờn sắc núi

Để bao người phụ nữ ở quê nhà trắng xóa khăn tang !

Gió ơi

Đừng níu tay tôi

Hãy để tôi lắng tai nghe tiếng các anh qua rì rầm biển cả

Hãy để tôi nhìn những gương mặt tuổi hai mươi đã tạc vào vách đá

Trùng điệp một thế hệ vàng son Anh- bộ- đội- cụ- Hồ

Hương đã thắp cho bao mộ phần rồi mà nước mắt vẫn chưa khô

Tôi thành kính nghiêng mình trước những vong linh anh hùng trung hiếu

Hàng triệu người đã tới đây, lặng đi và chợt hiểu

Giá của sự hy sinh quá đỗi lớn lao này

Tổ Quốc đã thay da đổi thịt từng ngày

Nơi yên nghỉ của các anh giờ quây quần nắng gió

Có núi, có sông, có hoa rừng thắm đỏ

Và vang vọng phía cuối trời có tiếng mẹ ru con...

Nghĩa trang Trường Sơn nơi đầu sông Bến Hải

Nhắn gửi với mai sau hãy nhớ về nguồn !

Tháng Bảy, 2008.




MAI THÌN (Bình Định)


Ở NGHĨA TRANG TRƯỜNG SƠN



Những ngôi mộ vắt dòng

Khổ ngắn

800 ký tự

Khổ dài luênh loang nắng

Lơ phơ hương

Cứ thoảng lên trời

32 năm vẫn lơi rơi

Nhang cứ đỏ lên trời nhoe nhớ

... mặt trận... tháng ngày... quê hương xứ sở

tuổi tên...

Câu ngắn câu dài

Từng khổ

Chậm rãi từng khổ

Những ngôi mộ vắt dòng

10 nghìn câu thơ

10 nghìn ô chữ

Khảm lên trời

Bài thơ bất tử.



Quảng Trị, 30-4-2007


READ MORE - Nghiã trang Trường Sơn

Wednesday, May 6, 2009

Di tích lịch sử









ĐỊA ĐẠO VỊNH MỐC
Vị trí

Vịnh Mốc (thuộc xã Vĩnh Thạch, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) là một làng chài khiêm nhường có gần 100 nóc nhà nằm trên bờ biển phía Đông nam thị trấn Hồ Xá chừng 13km, cách bãi tắm Cửa Tùng 7km về phía Bắc, cách đảo Cồn Cỏ anh hùng 30km về phía Tây. Trong kháng chiến chống Mỹ, ngoài đặc điểm chung của Vĩnh Linh là "tuyến đầu của miền Bắc, hậu phương trực tiếp của miền Nam" Vịnh Mốc có một vị thế vô cùng quan trọng cho việc tập kết và vận chuyển lương thực, vũ khí cho đảo Cồn Cỏ.


Kiến trúc

Địa đạo Vịnh Mốc

Toàn bộ địa đạo được đào trong lòng quả đồi đất đỏ có độ cao chừng 30m, rộng hơn 7ha. Hệ thống đường hầm cấu trúc hình vòm có kích thước khoảng 0,9m x 1,75m với độ dài 2034m bao gồm nhiều nhánh nối thông với nhau qua trục chính dài 780m, có 13 cửa ra vào, được chống đỡ bằng cột nhà, gỗ và ngụy trang khá kín đáo, tất cả đều đào chếch theo hướng gió, đảm bảo chức năng thông hơi cho đường hầm. Địa đạo gồm 3 tầng có độ sâu và chức năng khách nhau. Tầng 1 cách mặt đất 8 - 10 mét dùng để cơ động chiến đấu và trú ẩn tạm thời; tầng 2 sâu 12 - 15 mét là nơi sống và sinh hoạt của dân làng, tầng 3 có độ sâu hơn 30 mét là nơi trung chuyển hàng hoá, vũ khí ra thuyền lên đảo Cồn Cỏ.

Để đảm bảo cho hàng trăm con người ăn, ở, sinh hoạt an toàn, tiện lợi, dọc hai bên đường hầm người ta khoét vào rất nhiều căn hộ, mỗi căn hộ đủ chỗ cho 3 - 4 người ở. Ngoài ra trong

đường hầm còn có hội trường (sức chứa hơn 50 người dùng làm nơi hội họp, biểu diễn văn nghệ, chiếu phim), 3 giếng nước, bếp Hoàng Cầm, kho gạo, trạm phẩu thuật, trạm gác, máy điện thoại … đặc biệt có nhà hộ sinh, nơi ra đời của 17 đứa trẻ suốt trong hai năm 1967 - 1978.

Việc tổ chức phòng tránh, bảo vệ địa đạo rất phức tạp, đòi hỏi tính tổ chức, tự giác cao, bởi lẽ không chỉ đạn bom trút xuống mà còn người nhái, gián điệp tìm cách xâm nhập. Trong gần 2000 ngày đêm tồn tại (từ 1965 - 1972) việc 17 đứa trẻ ra đời an toàn không một người nào bị thương đã nói lên sự lựa chọn đúng đắn, là sự tích kỳ diệu về mảnh đất và con người nơi đây. Hơn thế nữa, vượt qua hoàn cảnh, họ không chỉ tồn tại mà còn tổ chức hàng trăm chuyến thuyền nan tiếp vận cho đảo Cồn Cỏ. Đảo Cồn Cỏ đứng vững và được Nhà nước tuyên dương anh hùng hai lần trong đó có sự đóng góp xứng đáng của quân và dân làng hầm Vịnh Mốc.


Ngày nay

Sau khi đất nước hoàn toàn thống nhất, Bộ Văn hoá - Thông tin đã quyết định công nhận địa đạo Vịnh Mốc là di tích quốc gia và đưa vào danh mục di tích đặc biệt quan trọng. Cũng từ đó, di tích này luôn được Đảng, Chính phủ và các ngành chức năng hết sức quan tâm đầu tư tôn tạo để gìn giữ di sản quý báu này. Hiện nay, địa đạo Vịnh Mốc là điểm thu hút mọi du khách đông nhất trong tuyến du lịch nổi tiếng và độc đáo: DMZ


Theo www.dostquangtri.gov.vn

DU LỊCH TRONG LÒNG ĐẤT

Địa đạo Vĩnh Mốc (Vĩnh Linh, Quảng Trị) là hình ảnh thu nhỏ của một làng quê được xây dựng và kiến tạo trong lòng đất, với chiều sâu từ 20 đến 28 m. Tổng chiều dài hệ thống đường hầm là 2.034 m, trục đường chính dài 769 m, cao từ 1,5 đến 1,8 m, rộng từ 1,1 đến 2 m.

Từ trục chính địa đạo được cấu tạo thành nhiều nhánh, mỗi nhánh thông với một cửa hầm (lối ra vào). Địa đạo có tất cả 13 cửa, 7 cửa thông ra biển, 6 cửa thông lên đồi, mỗi cửa hầm coi như một lỗ thông hơi. Tại các cửa hầm đều có làm khung gỗ chống sập và thường xuyên được gia cố để chống sụt lở. Hai bên trục đường chính cách nhau từ 3 đến 5 m lại khoét lõm sâu vào thành một ô nhỏ, dùng làm nơi sinh hoạt của một gia đình. Địa đạo được cấu tạo thành ba tầng. Tầng 1 sâu cách mặt đất từ 12 m đến 15 m, là nơi sinh sống của nhân dân. Tầng 2 sâu 18 m là nơi đóng trụ sở của Đảng ủy, UBND và Bộ Chỉ huy quân sự. Tầng 3 sâu 22 m dùng làm kho chứa hậu cần cung cấp cho đảo Cồn Cỏ và phục vụ chiến đấu của quân dân Vĩnh Mốc.

Trong lòng địa đạo có 3 giếng nước, hội trường với sức chứa 50 người, bệnh xá, nhà hộ sinh… Trong thời gian từ năm 1966 đến 1968 ngay trong lòng địa đạo đã có 17 em bé chào đời.

Đế quốc Mỹ trong âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta đã tiến hành ở Vĩnh Linh một cuộc chiến tranh hủy diệt man rợ và tàn khốc. Tháng 6/1995, Vĩnh Mốc đã hoàn toàn bị thiêu trụi bởi bom đạn Mỹ. Trong điều kiện khắc nghiệt của chiến tranh, nhân dân Vĩnh Mốc quyết tâm bám trụ giữ làng không chịu khuất phục trước kẻ thù, hai phần ba dân số được di cư ra các tỉnh phía Bắc, một phần ba dân số còn lại quyết định làm địa đạo bám làng sản xuất và chiến đấu.

Toàn huyện Vĩnh Linh có chừng 114 địa đạo với tổng chiều dài gần 42 km. Hòa bình lập lại, một số địa đạo đã bị vùi lấp, một số vẫn còn khá nguyên sơ trong đó có địa đạo Vĩnh Mốc. Ngày 21/12/1975 Bộ Văn hóa đã đặc cách xếp hạng di tích lịch sử. Năm 1993 địa đạo Vĩnh Mốc lại được công nhận là một trong những di tích đặc biệt quan trọng của cả nước.

Theo vnexpress.net
READ MORE - Di tích lịch sử

Cảnh đẹp quê nhà






TRẰM TRÀ LỘC

Không biết từ thời nào, ở phía Tây - Nam làng Trà Lộc, trên dải cát rộng tiếp giáp các xã Hải Thiện, Hải Thọ, Hải Thượng, Hải Lâm, Hải Quy, Hải Xuân, Hải Vĩnh đã hình thành một hồ nước rộng gần trăm héc-ta. Quanh hồ do có độ ẩm thường xuyên nên cây rừng tự nhiên mọc khá tốt.

Cũng đã từ lâu đời, dân làng Trà Lộc biết khai thác cái hồ tự nhiên đó. Người ta cải tạo, bồi trúc thêm, biến nó thành một công trình thủy lợi… Ở mặt Đông Bắc hồ, người ta tôn thêm bờ, vừa để tăng dung tích nước, vừa để ngăn nạn cát bay tràn lấn đồng ruộng. Dùng gỗ lim, người ta lắp một cái cổng có thể để mở chủ động đưa nước vào ruộng theo yêu cầu sản xuất. Công trình thủy lợi này không chỉ đủ chống hạn cho cả đồng lúa làng Trà Lộc, mà còn tưới giúp cho một phần đồng ruộng của 2 làng Duân Kinh, Trà Trì… Để bảo vệ nguồn sinh thủy, làng Trà Lộc có nội quy khá chặt chẽ, không ai được vào đây chặt cây lấy củi. Cần thiết thì chỉ được phép thu nhặt lá khô về làm chất đốt.



Gần đây, lãnh đạo và chính quyền Hải Lăng cho rằng đây là một vùng sinh thái hiếm thấy ở giữa đồng bằng. Huyện đang có chương trình hàng tỉ đồng để từng bước biến nơi đây thành một điểm du lịch sinh thái. Hiện đã mở được một tuyến đường cấp phối nối liền thị trấn Hải Lăng băng qua dải cát về xã Hải Xuân. Cũng đã đưa một số thú rừng quý hiếm như khỉ, rắn, trăn v.v… tịch thu được về thả ở đây. Một số công trình xây dựng khác đang trong quá trình chuẩn bị.

Với chương trình đó, hy vọng một tương lai không xa, Trằm Trà Lộc sẽ thu hút ngày càng đông du khách.


Theo www.dostquangtri.gov.vn
READ MORE - Cảnh đẹp quê nhà

Sunday, May 3, 2009

Thơ về sông Hiếu



Chiều ngày 4/4/2009, nhận lời mời của B. Quảng Trị chúng tôi năm anh em : Trần Như Lộc, Hồng Ân, Lãm Thắng, Ngô Công Tấn, Trương Pháp (B. Huế) lãng du đến quán Gió Lào bên bờ nam sông Hiếu ( Đông Hà).

Tại đây, chúng tôi đã được gặp gỡ giao lưu với các anh Hoàng Cát, Phan Chí Thắng từ Hà Nội vào thăm Thành cổ cùng với các anh Xuân Đức, Phan Văn Quang, Đức Tiên, Thanh Tịnh, chị Ngọc Lan ( B. Quảng Trị).

Buổi giao lưu thật chân tình và cảm động với nhiều bài thơ, ca khúc và những mẩu chuyện tâm sự về cuộc đời, tình yêu và nỗi nhớ mong qua bao năm tháng...


* Quý tặng các anh Hoàng Cát, Phan Chí Thắng và CLB B. Quảng Trị.



ĐÊM BÊN BỜ SÔNG HIẾU

Trần Như Lộc




Chiều Gió Lào bên bờ nam sông Hiếu

Hẹn hò nhau như đã tự thuở nào

Sông Hiếu trong xanh như em kỳ diệu

Ngước nhìn anh say hoa nắng lao xao



Vượt đường xa anh về bên sông Hiếu

Để lắng nghe em câu hát tự tình

Thoảng trong gió hương tóc thơm anh thiếu

Đã lâu rồi mong nhớ giữa lặng thinh



Đêm đổ xuống bóng em nghiêng sông Hiếu

Giọng em ngâm lời cỏ úa mãi xanh

Trong cốc rượu mắt em buồn giai điệu

Duyên dáng cười em khẽ nép vào anh



Đêm ngọt ngào bên bờ sông kỷ niệm

Kể chuyện tình xưa xanh lá cây rừng

Bao năm tháng đêm nay cùng tái hiện

Cảm xúc dâng trào nước mắt rưng rưng



Đêm buồn vui bên bờ nam sông Hiếu

Phút chia tay không muốn cũng đến rồi

Sương ướt tóc quàng vai nhau thấu hiểu

Anh phải về hẹn gặp lại em thôi!


Bên sông Hiếu

ĐINH LÊ VŨ

Bờ rêu xanh
Hàng cây xanh
Những chiếc lá xanh
Mặt sông như một tấm gương xanh
Tôi soi mình vào tấm gương
Chỉ thấy những vết hằn thời gian xanh
Màu xanh vĩnh cửu của dòng sông kia
Như một giấc mơ
Níu chìm tôi xuống…

Tôi hiểu ánh mắt của chiếc lá kia nhìn tôi đau đáu
Đau đáu vì những điều không thể nói ra
(Đôi khi bày tỏ lòng mình cũng là một điều hết sức khó khăn-
Và lắng nghe người khác bày tỏ lòng mình cũng là một điều khó khăn không kém!)
Tôi hiểu dáng vẻ hiền lành của bờ rêu kia
Bao dung với tôi biết mấy
Cũng như tôi hiểu cái cau mày của sông
Cái suy tư lăn tăn của những gợn sóng
Khi cá quẫy mình
Những gợn sóng trên mặt sông như những vòng tròn kia cứ loang ra loang ra
Tôi tránh xa những gợn sóng
Tôi chạy trốn những vòng tròn
Tôi sợ sẽ làm tan những vòng tròn rất tròn kia
Tôi sợ sẽ là những vết hoen trên mặt sông tinh khiết
Tôi sợ sẽ là nỗi buồn trong ánh mắt chưa biết buồn trên khuôn mặt người con gái
Người con gái dịu dàng như giấc mơ
Khuôn mặt nàng là một tấm gương xanh trong veo...

Tôi là một cơn gió thoảng qua
Gió rồi sẽ tan đi trước trùng dương sông Hiếu
Tôi như một hạt bụi lạc đường
Hạt bụi nhỏ nhoi trước màu xanh bao la sông Hiếu
Bởi màu xanh vĩnh cửu của dòng sông muôn đời là một giấc mơ
Giấc mơ mênh mông sông Hiếu
Tôi chỉ là một hơi thở nhẹ
Là chút xao xác mong manh
Rồi cũng bay đi
Bay đi không dấu vết...



Đông Hà, cuối tháng 3-09

ĐINH LÊ VŨ
READ MORE - Thơ về sông Hiếu

Saturday, May 2, 2009

MINH TỨ - CÓ MỘT GIÒNG SÔNG






Bút ký


Giữa cái thị xã gió nắng có thể xếp vào nơi khắc nghiệt bậc nhất của miền Trung này bỗng dưng tạo hóa ban cho một dòng sông chảy vắt qua. Sông Hiếu của quê tôi như một dải lụa đào làm duyên thêm cho một vùng đất, tưới tắm cho bao số phận của đời người.

Mỗi dòng sông cũng như mỗi đời người, đều có gốc gác, cội nguồn, cả tình yêu và nỗi nhớ đan cài. Sông Hiếu không rộng dài như bao dòng sông nổi tiếng, nhưng là ân tứ của thiên nhiên cho mảnh đất này, để rồi một ngày nào đó ta quay về bỗng thấy yêu thêm dòng sông ký ức của tuổi thơ chảy muôn đời qua bao tháng năm trĩu nặng ân tình.



Sông Hiếu là hợp nguồn của nhiều con suối đầu nguồn ở Cam Lộ, nơi đường phân thuỷ của những núi đồi giáp với Đakrông. Bên kia đường phân thuỷ, nước chảy ngược xuống sông Đakrông, chảy về Thạch Hãn. Bên này suối nước đổ về hình thành nên sông Hiếu chảy về Cam Lộ, qua Đ ông Hà, ngày xưa đoạn qua nơi này còn được gọi là Điếu Giang (theo "Phủ biên tạp lục" của Lê Quý Đ ôn, bởi nó chảy qua làng Điếu Ngao, nay địa danh này là phường 2, thị xã Đ ông Hà). Từ đây sông Hiếu chảy xuôi về Gia Độ, Triệu Phong thì hợp lưu với sông Thạch Hãn rồi chảy ra Cửa Việt.



Nếu nói về sông Hiếu thì có thể phải viết cả cuốn sách mới chuyển tải được phần nào, bởi con sông nhỏ nhưng đã oằn mình gánh trên nó bao biến thiên của lịch sử. Phía thượng nguồn sông ngày xưa có một cái chợ rất nổi tiếng là chợ Phiên - Cam Lộ, từng là nơi diễn ra giao thương lớn của người Việt khắp nơi theo sông Hiếu mà lên với cư dân trong vùng, mở rộng lên tới đất nước Triệu Voi (Lào). Thời chiến tranh, nơi đây có những cứ điểm quan trọng, xảy ra nhiều trận đánh lớn đi vào lịch sử, mà cao điểm 544 là nơi đối phương chọn làm trung tâm xử lý tư liệu của "con mắt thần" hàng rào điện tử Mc.Namara. Còn hạ nguồn sông là nơi từng xảy ra trận thuỷ chiến được gọi là trận " Bạch Đ ằng Giang trên sông Hiếu" vừa tròn 40 năm về trước.



Dòng sông Hiếu là chứng nhân lịch sử bi hùng của một vùng đất đã bị tàn phá hơn 200%, như lời của một phóng viên phương Tây khi đến Đ ông Hà sau ngày thị xã này được giải phóng. Nhưng từ trong thẳm sâu, sông Hiếu còn là nơi nuôi dưỡng, tắm mát cho bao tâm hồn, mà nhà thơ Chế Lan Viên là một trong những nhà thơ ra đi từ mảnh làng bên dòng sông này. Khi đã trở thành nhà thơ lớn của dân tộc, trong sâu thẳm nhà thơ vẫn mãi thương nhớ con sông quê, vùng đất quê nghèo khó với "những đồi sim không đủ quả nuôi người"...



Nhà tôi không ở gần sông, nhưng những năm tháng tuổi thơ, ngôi trường tiểu học của tôi lại nằm bên sông Hiếu. Đấy là những năm sau Hiệp định Paris -1973, tôi được trở lại đi học ở vùng giải phóng. Trường tiểu học thị xã được xây dựng tạm ở Tiểu khu 3, hồi ấy còn gọi là làng Đ ông Hà (nay là Phường 3, Đ ông Hà). Ban đầu lớp học của chúng tôi học trong một ngôi nhà dân đã đi di tản, rồi mới chuyển ra ngôi trường được xây dựng sau đó ít lâu. Trường hướng mặt ra sông, cách một con đường nhỏ, chỉ mấy bước là có thể ra được bến sông nghịch nước. Những ngày gió Tây Nam thổi mạnh, trời nóng bức, đi học về chúng tôi thường rủ nhau ra bờ sông, cả con trai, con gái cởi áo quần nhảy ùm xuống tắm. Hồi đó quá hồn nhiên nên chúng tôi chẳng biết ngượng là gì. Sau đó ít lâu vì có người chết đuối trên sông nên nhà trường cấm không cho chúng tôi tắm sông nữa, vậy mà có đứa vẫn lén xuống sông tắm, bị thầy phạt đòn vẫn không chừa.

Người thầy đầu tiên của tôi ở vùng mới giải phóng cũng rất đặc biệt - thầy Nguyễn Văn Sự. Học xong tú tài, không có sự chọn lựa nào khác, thầy phải đi học trường sĩ quan Thủ Đức của chế độ cũ. Dạo đó về thăm nhà năm 1972, thầy bị kẹt lại sau giải phóng, còn gia đình thầy thì đã di tản vào các tỉnh phía Nam. Thầy được ngành giáo dục trưng dụng dạy học cho chúng tôi khi vùng giải phóng còn thiếu các thầy cô giáo. Thầy rất hiền lành, buổi đầu tiên lên lớp thầy bảo chúng tôi đừng gọi thầy là thầy mà gọi chú như ở nhà cũng được. Thầy dạy học theo chương trình sách giáo khoa mới rất nghiêm túc và thương học trò như các em của thầy, vì hồi đó thầy còn trẻ và chưa có gia đình. Quê thầy ở Gio Linh, một mảnh đất nằm ở bờ bắc sông Hiếu.

Năm ấy tôi học lại lớp hai, mặc dù trước đó tôi đã học xong lớp nhì Trường tiểu học Trung Chỉ của chương trình giáo dục miền Nam. Có lẽ những bài thơ của các nhà thơ cách mạng chúng tôi cũng bắt đầu được học từ đây. Tôi nhớ nhất là bài thơ "Nhớ con sông quê hương" của Tế Hanh. Bài thơ là ký ức, là kỷ niệm của nhà thơ về con sông quê hương, có lẽ là sông Trà Khúc thì phải, nhưng không hiểu sao tôi cứ ngỡ như viết cho dòng sông quê mình: "Quê hương tôi có con sông xanh biếc /Nước gương trong soi tóc những hàng tre /Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè / Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng"... ừ, thì dòng sông quê mình cũng có luỹ tre soi bóng, có nước biếc trong xanh, có thuyền ai đó nhẹ lướt buông câu...nhưng có lẽ chỉ nhà thơ mới có thể nói lên tình cảm đối với con sông quê hương của mình với nỗi nhớ vời vợi, thao thiết đến nao lòng. Tế Hanh cũng là nhà thơ có nhiều bài thơ, câu thơ rất hay viết về vùng giới tuyến mà sau này làm chúng tôi nhớ mãi: "Trời vẫn xanh một màu xanh Quảng Trị/ Tận chân trờimây núi có chia đâu"...



Chúng tôi học với thầy Sự đâu được hai năm lớp hai, lớp ba thì giải phóng miền Nam. Hồi đó thầy tìm lại được gia đình và đưa cả nhà về quê. Tình cờ hôm thầy đưa gia đình từ Đ à Nẵng về, đang nghỉ lại ở bên đường thì gặp tôi. Tôi lễ phép mời thầy và gia đình vào nhà uống nước. Trong đôi triêng gióng, hành trang ít ỏi người di tản của cha mẹ thầy trở về còn có cả ảnh thờ của thầy. Thì ra khi thầy về tìm gia đình để đi di tản, bị kẹt lại thì gia đình thầy đã vào Đ à Nẵng. Cứ nghĩ thầy đã mất nên gia đình lập bàn thờ để "thờ" cho thầy trong suốt ba năm trời. Từ dạo ấy thầy không trở lại trường nữa và bao nhiêu năm trôi qua tôi vẫn bặt tin thầy.



Người thầy kế tiếp của chúng tôi là thầy Trương Quang Thanh, dạy chúng tôi hai năm lớp tư, lớp năm cho đến khi chúng tôi chuyển về học ở trường trung tâm thị xã. Thầy Thanh người làng Mai Xá, cũng là một làng quê bên dòng sông Hiếu. Thầy có dáng người dong dỏng cao, mắt sáng, nước da trắng, tác phong rất lanh lẹ. Những bài giảng của thầy thật sôi động, nhất là môn lịch sử, được đan cài vào nhiều câu chuyện đánh giặc giữ nước rất bi hùng ở quê thầy, nghe tưởng như thầy là người trong cuộc vậy.



Ngoài giờ học chính khóa, hồi đó tuần nào chúng tôi cũng có buổi đi lao động xã hội chủ nghĩa. Hình thức lao động của lớp tôi chủ yếu là lên những quả đồi bát úp ở phía đầu nguồn sông Hiếu để bứt lá cây đưa về làm phân xanh. Mỗi lần đi lao động là mỗi lần chúng tôi được tha hồ chạy nhảy trên bạt ngàn đồi núi, thích nhất là được hái sim mua. Mà hồi đó không hiểu sao những đồi sim trái chín nhiều đến thế. Chúng tôi đua nhau hái, ăn thoả thích đến tím cả môi, xong còn hái dành bỏ vào mũ, vào túi quần áo mang về nhà ăn tiếp, hay cho bọn nhỏ trong xóm. Cuối buổi lao động, mỗi đứa chúng tôi ôm một bó lá cây chất đầy lên chiếc xe bò hò reo đẩy chạy về. Phía sau trường, thầy Thanh đã cho một tốp bạn lấy đá quây thành một vòng tròn, chúng tôi xếp từng bó lá vào giữa để cho thời gian hoai mục, trở thành nguồn phân xanh ủng hộ cho hợp tác xã nông nghiệp bón ruộng. Có lẽ hình thức lao động hồi đó của chúng tôi chủ yếu để rèn luyện tinh thần là chính, chứ hiệu quả đem lại thì chẳng được là bao.



Có một điều thú vị là sau khi về học cấp hai ở thị xã, rồi lên cấp ba, tôi gặp lại thầy Trương Quang Thanh, cũng là thầy dạy chúng tôi ở bậc học cấp ba. Thì ra trong những năm đó thầy đi học tiếp trường Đ ại học Sư phạm Huế, trở về dạy lại chúng tôi. Bây giờ thầy vẫn đang dạy ở trường THPT Đ ông Hà và tôi luôn biết ơn thầy, là người thầy đã dạy tôi suốt hai cấp học. Hơn thế, chính thầy đã động viên khích lệ tôi rất nhiều trong học tập và định hướng nghề nghiệp cho tôi khi vào đời.



Bạn bè tôi cùng học ở ngôi trường bên sông Hiếu bây giờ mỗi đứa trôi dạt mỗi phương trời, bao nhiêu đứa là bấy nhiêu số phận. Đứa bây giờ tảo tần ngoài chợ, đứa chạy xe ôm, con cái đầy đàn, nhọc nhằn trong gánh nặng mưu sinh, đứa thành công chức, cũng có đứa đã công thành danh toại...



Tôi nhớ Hoàng Việt Hùng, bạn cùng học phổ thông ngày trước, sau đó vào Đ ại học Tổng hợp Huế cũng học chung lớp. Học giỏi nên một năm sau Việt Hùng được trường chọn qua Liên Xô du học. Biền biệt hơn hai mươi năm ở Đ ông Âu, bất ngờ mới đây Hùng đường đột trở về. Câu hỏi của bạn bè rằng sao bây giờ mới về làm Hùng bối rối. Mà thôi, mỗi người có một nỗi niềm riêng phong kín, nhắc chi để thêm buồn. Quê hương, đi xa ai mà không nhớ, nhưng về thăm nhà mấy hôm, Việt Hùng lại đi, trở qua bên ấy - ở Kiép, Ucraina để lập nghiệp, bởi Hùng không tìm được việc làm phù hợp ở cái thị xã nhỏ bé này.



Nhà Việt Hùng ở làng hoa An Lạc, bên dòng sông Hiếu trong xanh. Giờ đây trở về, Hùng nuối tiếc mãi một con đường làng ven sông rợp bóng tre xanh, vẫn hoài nhớ những buổi trưa hè gió Tây Nam quạt lửa, sau buổi học về nhảy ùm xuống sông trầm mình trong dòng nước mát; là hình ảnh cô thôn nữ mỗi trưa hè gánh đôi gánh tong tả đi về trên đường làng với nụ cười tươi vui sau mỗi phiên chợ... Bây giờ tất cả chỉ còn là ký ức, vì thị xã trên đường phát triển, có một cái gì đó thuộc về ngày đã qua sẽ mất đi. Những khóm tre làng đã nhường chỗ cho những con đường lớn chạy băng qua thị xã với tấp nập người và xe cộ ngược xuôi. Cô thôn nữ ngày nào giờ cũng má phấn môi son đứng quầy tạp hoá. Và, cả một thời trai trẻ của chúng tôi cũng đã đi qua lúc nào không hay khi đứa nào cũng phải tất bật với công việc của một cư dân thị xã, nếu không muốn bỏ mình lại ở phía sau.



Cuộc sống cứ như một guồng quay mà ai cũng phải lao vào. Từng ngày qua người ta tất bật với bao gánh nặng trong cuộc mưu sinh cơm áo gạo tiền. Ký ức của tôi chỉ là chấm nhạt nhòa hoang hoải của ngày đã qua. Bạn bè tôi vì gánh nặng mưu sinh mà phiêu dạt khắp bốn phương trời. Còn lại tôi, người tìm về và ở lại với cố xứ, mỗi ngày qua là thêm một nỗi buồn thương tiếc nuối. Trên con đường mỗi ngày tôi vẫn đi qua, những nhành phượng đỏ, điệp vàng khoe sắc thắm; những chú ve rỉ rắc thả giọt sầu vào thinh không, còn gió, gió Tây Nam vẫn thổi miên man trong nắng hạ vàng.



Đêm mùa hè, ở thị xã nhỏ nhoi của tôi có một gương mặt khác. Khi bóng đêm sập xuống, người thị xã như đổ hết ra đôi bờ sông Hiếu để hóng gió. Đ ường Bà Triệu, đường Hoàng Diệu người xe đi lại như nêm. Có lẽ chuyện ăn uống ở nơi này chỉ là cái cớ để người ta thưởng thức gió từ bờ sông. Bờ sông bao nhiêu đêm hè nay gió vẫn thổi ào ạt, làm dịu đi cái nắng nôi như chảo lửa của thị xã giữa khúc ruột miền Trung này. Không kiêu sa, lộng lẫy, sông Hiếu vẫn âm thầm trôi xuôi với một nét duyên thầm.



Có lúc ngồi nhìn con nước mải miết xuôi về Cửa Việt, bất chợt tôi nghĩ lẩn thẩn rằng nếu Đ ông Hà của mình không có con sông Hiếu chảy qua giữa lòng thị xã thì sao nhỉ? Đất nước có nhiều dòng sông, nhưng chỉ có một dòng sông để thương, để nhớ - ai đó đã viết như thế trong lời bình của một bộ phim. Không hoành tráng như sông Tiền, sông Hậu, không dữ dội gầm réo sục sôi như sông Mã, Thu Bồn, hay lặng lờ dùng dằng không chảy như sông Hương..., sông Hiếu quê tôi vẫn khiêm nhường, nép mình bên thị xã nhỏ hẹp, chuyên cần đưa nước trôi xuôi về với biển.

Bây giờ mỗi khi có khúc mắc trong lòng, tôi thường tìm đến một quán nhỏ bên sông vắng, một mình âm thầm thả những cọng cỏ vàng xuống dòng nước trong xanh để rồi gặm nhấm những nỗi buồn riêng mang, để nuối tiếc cho ký ức một thời đã đi qua không bao giờ trở lại. "Quê hương ai cũng có một dòng sông êm đềm...".



M.T

READ MORE - MINH TỨ - CÓ MỘT GIÒNG SÔNG

Chợ phiên Cam Lộ


Về Cam Lộ đi chợ phiên
Báo SGGP

Theo lời kể của các bậc cao niên, chúng tôi tìm về chợ phiên Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị. Phiên chợ bắt đầu từ mờ sáng. Không phải người hẹn chợ mà chợ hẹn người vào những phiên chợ đông vui, nhộn nhịp các ngày 3, 8, 13, 23 và 28 (Âm lịch) hàng tháng.

Đi tìm chợ xưa



Có mặt ở chợ phiên Cam Lộ lúc 5g sáng ngày 13-8 (Âm lịch), chúng tôi gặp một cụ bà 75 tuổi, đang ngồi bổ cau ở một lều dành riêng cho hàng Cau, chưa kịp chào thì đã nghe cụ hỏi: “Đi mua sắm hay đi thăm chợ thế”? Cô bạn đi cùng đã nhanh nhảu “chúng con đi thăm chợ”.

Trước đây, chợ phiên Cam Lộ được xem là một trung tâm thương nghiệp lớn có tiếng ở nông thôn Việt Nam, được sử sách ghi lại năm 1621. Theo hồi ức của một số bô lão ở làng Cam Lộ, chợ đã được dời qua nhiều địa điểm khác nhau: trước thế kỷ XIX, chợ phiên nhóm họp ở Tân Tường (km 15 của Đường 9), về sau chuyển về Bến Đuồi, bên bờ sông Hiếu. Từ khi được chuyển về Bến Đuồi, chợ được mở mang, xưng danh là tiểu Trường An. Một dải chợ tấp nập kéo dài từ Bến Đuồi đến đình Cam Lộ, là nơi quy tụ hàng hóa, đặc sản từ mười phương gửi tới chào mời, trao đổi. Hàng từ Huế ra theo đường biển, ngược sông Hiếu lên chợ phiên Cam Lộ thường mang theo nón bài thơ, đường phèn, đường phổi, thuốc bắc, gia vị... Hàng từ Quảng Bình vào có trứng vịt, nồi đất, hàng đan lát, mây, trầm hương, trâu bò, gà heo... Còn người Lào, để kịp phiên chợ thì hàng hóa được gởi về trước 2 ngày. Năm 1776, nhà bác học Lê Quý Đôn đã từng đến đây và ghi lại. Lúc này chợ phiên Cam Lộ phát triển, thuyền buôn của Nhật, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha...vào Cửa Việt lên đây, về đây giao thương.

Đến năm 1930, chợ phiên Cam Lộ không đơn thuần là nơi giao thương, buôn bán mà còn là địa điểm hoạt động của các chiến sĩ cách mạng. Tại đây, đồng chí Lê Duẩn cùng với các đồng chí Hồ Xuân Lưu, Hoàng Hữu Chấp... hội bàn lập chi bộ để lãnh đạo phong trào ở chợ phiên, đã chọn tiệm thuốc bắc và rượu Xi - Ca ở phố Đông Nguyên làm nơi đặt cơ quan tài chính của Đảng. Tháng 8-1945, chợ phiên là nơi diễn ra cuộc đàm thoại giữa đại diện đặc trách của ta và Nhật, yêu cầu Nhật giữ thái độ trung lập khi ta tiến hành khởi nghĩa chống Pháp. Lúc này, chợ phiên Cam Lộ đã chuyển từ chợ thời bình sang chợ lưu động thời chiến. Năm 1946, Pháp chiếm Đường 9 và cho quân chiếm đóng, chợ phiên phải dời tới An Thái, xã Cam Tuyền. Những năm 1948 – 1950, chợ phiên được gọi là chợ Kháng chiến, đóng ở những nơi gần chùa, miếu có nhiều cây cối rậm rạp. Sau năm 1954, địch buộc người dân dời chợ đi nơi khác để chúng dễ kiểm soát, nhưng người dân Cam Lộ nhất quyết không dời, duy trì chợ cho đến ngày nay.

Muốn mua vui, đến Cam Lộ...…

Đứng trên đường Hồ Chí Minh nhìn xuống, chợ phiên trong mắt chúng tôi là những ngôi lều nhỏ, được lợp bởi những tấm tôn cũ kỹ, bạc màu theo thời gian trông không có gì thu hút lắm. Thế mà, vào trong chợ chúng tôi mới thật sự bất ngờ bởi sự tấp nập của người bán, người mua và đặc biệt hơn, các mặt hàng ở đây rất phong phú: từ vàng, bạc đến mắm, muối, dưa, cà.... tất cả được trưng bày rất đẹp. Hàng Cau, hàng Trầu, hàng Nếp cho đến hàng Khoai... mỗi hàng có một góc riêng. Vẫn là góc chợ xưa, vẫn còn nón Huế đưa ra, trứng vịt Quảng Bình đưa vào, nhưng khác một điều là không có voi để đổi bạc trắng, đổi súng và không còn những phiên chợ có đến 300 con trâu… như nhà bác học Lê Quý Đôn từng chứng kiến. Nhưng cứ đến hẹn là chợ phiên Cam Lộ lại nhộn nhịp, tấp nập người bán người mua.

Chợ phiên như đã ăn sâu vào máu thịt người Cam Lộ và người dân Quảng Trị. Với người dân Cam Lộ, nhắc tới chợ phiên ai ai cũng tự hào, họ xem đây là một nét văn hóa lâu đời của cha ông, đã đi vào sử sách. Bây giờ, Cam Lộ có thêm chợ Cam Lộ được xây dựng to và đẹp, có đủ mặt hàng nhưng lượng khách vẫn không đông hơn chợ phiên. Nếu như người dân Bắc tự hào bởi câu ca “Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa” hoặc “Thứ nhất Kinh Kỳ thứ nhì Phố Hiến”, thì người dân Cam Lộ cũng có lời nhắn nhủ thiết tha với mọi người “Muốn mua vui, đến chợ Phiên Cam Lộ”!.

VÕ LINH
READ MORE - Chợ phiên Cam Lộ

Sunday, April 12, 2009

ĐẢO CỒN CỎ - Ngô Minh - Võ Văn Luyến






Đảo Cồn Cỏ
Vị trí: Từ bãi biển Cửa Tùng thuộc huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị nhìn ra phía tây ta sẽ thấy một hòn đảo xanh lam nổi lên giữa biển như một chiến hạm đang trấn giữ ngoài khơi; đó chính là đảo Cồn Cỏ, còn có tên gọi khác là đảo Con Hổ, đảo Hòn Mệ.
Đặc điểm: Đảo Cồn Cỏ cách bờ biển Vĩnh Linh khoảng 30km. Đảo như một tiền đồn giữa vĩ tuyến 17 trấn giữ phía đông Tổ quốc. Không chỉ là hòn đảo nổi tiếng kiên cường trong chiến tranh chống Mỹ, Cồn Cỏ còn là một trong những hòn đảo đẹp hiếm có của miền Trung.



Từ đảo Cồn Cỏ nhìn về phía tây ta sẽ thấy rõ màu xanh của rừng dương ven biển Cửa Tùng và bãi cát trắng phau trước thềm địa đạo Vịnh Mốc. Phía tây nam là một dải bờ nam sông Bến Hải, xa nữa là dãy Trường Sơn tím nhạt chạy dài. Chính nhờ vị trí đó mà Cồn Cỏ giữ một ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng trong cuộc đụng đầu lịch sử khi đất nước ta còn chia cắt hai miền Nam- Bắc.
Đảo Cồn Cỏ có hình dạng tương đối tròn, diện tích khoảng 4km², chu vi 8km, độ cao từ 5- 30m so với mặt nước biển, riêng giữa đảo có một đỉnh đồi nhô lên với chiều cao 63m. Tuy chỉ cách đất liền chưa đến 30km, nhưng với các phương tiện thông thường đã không thể ra đảo được khi gặp gió cấp 6 trở lên. Ấy vậy mà trong những năm đánh Mỹ, hàng trăm chiến sĩ tự vệ của Vĩnh Linh đã quên cả hiểm nguy, bằng phương tiện thô sơ đã chở vũ khí, lương thực từ đất liền ra tiếp tế cho đảo. Rất nhiều người trong số đó đã vĩnh viễn nằm lại biển khơi vì gió to sóng lớn hoặc vì bom đạn ác liệt của kẻ thù.
Thực vật trên đảo khá phong phú, đảo nhỏ nhưng vẫn có rừng, có đồi tranh rậm rạp chiếm 3/4 diện tích đảo. Rừng trên đảo có những loài cây lạ mà trong đất liền không có; có cây thân cao vằn vèo nhiều đốt; có cây thân thẳng, da nhẵn như cây ổi nhưng rất to cao, gỗ cứng và nặng, khi bị xây xát nhựa chảy ra có màu đỏ như máu nên gọi là cây “dầu máu”. Lại có loài khoai dại, lá to hơn cả lá chuối, góp phần giúp người che nắng, che mưa. Trên đảo còn có cả những rừng bàng, vào mùa thu, lá bàng đỏ ối cả một vùng như điểm tô cho đảo. Các giống cây ăn trái được thì có đu đủ, chuối, dâu da... Giống nào cũng xanh tốt, vừa cung cấp thực phẩm cho lính đảo, vừa làm nơi trú ngụ cho chim trời về góp vui với họ. Để làm phong phú thêm cảnh vật, môi trường trên đảo và cung cấp thêm nguồn thực phẩm cho đảo, năm 1989, Tỉnh đoàn Quảng Trị đã đem 4.000 cây dừa, tượng trưng cho 4.000 năm dựng nước và giữ nước ra trồng trên đảo. Đến nay, dừa đã xanh tốt và cho trái. Với tinh thần tự lực tự cường, các chiến sĩ canh giữ đảo còn trồng thêm rất nhiều loại rau, hoa và cây cảnh, mùa nào thức nấy, làm cho bộ mặt của đảo ngày càng thêm tươi đẹp.
Thế giới động vật trên đảo tuy không nhiều về chủng loại nhưng cũng khá độc đáo. Trên trời thì có chim cu cườm, chim én thay nhau gửi đến con người những tín hiệu bình yên. Dưới đất thì có loài rắn lục xanh nhỏ nhưng rất độc, có thể dùng làm thuốc. Nhưng nổi tiếng nhất vẫn là loài cua đá to gần bằng bàn tay, là nguồn thực phẩm dồi dào và quan trọng trên đảo. Ngoài biển thì có giống rắn biển, còn gọi là con đẻn, dài khoảng một sải tay, độc không kém rắn lục, rượu ngâm đẻn là loại thuốc chữa đau lưng, nhức mỏi rất được nhiều người ưa chuộng. Dưới biển thì có hải sâm đen, trắng to bằng ngón chân cái, dài bằng gang tay, vừa là vị thuốc quý, vừa là món ăn cao cấp, được xếp ngang với yến sào. Ngoài ra, ở bờ biển Cồn Cỏ còn có loài ốc nón, luộc ăn rất ngon, vỏ ốc có thể tận dụng làm đồ trang sức, mỹ nghệ...
Cảnh quan trên đảo cũng luôn được cải tạo. Từ một hòn đảo nhỏ bị bom đạn cày xới không thương tiếc, đến nay đã có rất nhiều ngôi nhà khang trang, có sân chơi thể thao, có đường cấp phối. Từ đảo có thể liên lạc dễ dàng với đất liền bằng điện thoại. Các hạng mục hạ tầng cơ sở trên đảo đã và đang từng bước được hoàn thiện, đáng chú ý nhất là công trình bến đậu- âu tàu.
Trong nay mai, đảo Cồn Cỏ sẽ đón nhận những công dân đầu tiên từ đất liền ra định cư lập nghiệp để xây dựng Cồn Cỏ thành đảo Thanh niên- huyện đảo của tỉnh Quảng Trị. Cồn Cỏ đã và đang là một hòn đảo trù phú, một điểm du lịch hấp dẫn du khách gần xa.

Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam



NGÔ MINH

Gặp đảo ở Cửa Tùng
Gửi đảo Cồn Cỏ

Tôi đứng đầu ngọn sóng Cửa Tùng
cuối mũi đất đỏ au màu lửa
tôi hay chính cây dừa đứng đó
tay lá chào biển cả mênh mông
(thân dừa còn găm trăm mảnh đạn bom)
bóng tôi nhoè thấp cao bờ đá
sóng đảo trắng phau từng cánh gió nồm


Bên kia sông những cô gái Cát Sơn
cúi xắn quần đợi đò sang chợ cá
dưới bờ cát trần truồng bầy trẻ nhỏ
đang bày cho sóng nghịch nắng cười
Ôi, ngày thường (dù chỉ vậy thôi)
biết đảo khát hơn là khát nước
và đảo nhiều đêm phải vượt qua nỗi khát
còn cao hơn vượt Cổng Trời !



Một khoảng biển và một khoảng trời
sau vai tôi rừng dương êm ả
vẳng tiếng dịu buồn của một lời ca cũ
trên cỏ mềm mặt đất bình yên
trắng vai đảo xa gió cát ngả nghiêng
và bóng giặc rập rình cơn dông biển
và đá - đá nhân cơn nóng lạnh
giấc mơ quê nhà cũng sóng đánh bốn bên!

Có những ban mai
khi mặt trời bỗng đỏ rựng lên
xóm biển giật mình ngỡ là đảo cháy
Dẫu biết đảo ít nói về mình về những điều như vậy
con sóng kia vẫn kể cùng bờ
gọi đất thêm bận rộn với mùa



Đêm nay
tôi thức dưới gốc dừa
với tiếng trẻ trong veo bờ cát trắng
gió nồm đượm
gió nồm ơi đượm lắm
nắng nỏ nhường kia đảo còn gửi vào đây
và vầng trăng hay đảo nhú chân trời
bay lên trước Cửa Tùng yên tĩnh...

Ngô Minh

Cồn Cỏ xưa sau

Võ Văn Luyến


Sóng vỗ chiêm bao, hồn biển lặng. Con thuyền khói sương gọi đêm nguỵ trang che mắt giặc. Trái tim đảo làm hải đăng toả sáng. Vệt máu loang làm đường tới chiến công. Ai sống cho nhau, ai người ngã xuống. Đất mẹ nẩy mầm xoá vết thương sâu. Chiến hạm xanh, con cua đá nhiệm màu. Phong ba hát khúc ru của gió. Ơi Cồn Cỏ! Nắng mưa gội tóc chiều, lược ngà chải từ xác tàu bay Mỹ. Đêm đứng gác, rầm rì biển kể. Sao trời nghe lấp lánh ánh mắt ngời. Cồn Cỏ xưa sau đâu của riêng ai, mà vọng tưởng như anh nhớ em bỏng cháy. Đêm trú ngụ tim đại bàng thế đấy. Anh hoá vào cây cỏ "một chấm xanh"(1).
Nơi mang đến niềm vui hội tụ, huân chương thơ (2) gắn ngực trẻ yêu tin. Nơi truyền đi ngọn lửa trái tim. Nơi khát vọng ngất trời trán thép. Cồn Cỏ đó, người về trùng điệp. Biển muôn đời ôm trọn một vòng tay.

Võ Văn Luyến
(Trại sáng tác Cửa Tùng, 4/2008)
READ MORE - ĐẢO CỒN CỎ - Ngô Minh - Võ Văn Luyến

Tuesday, March 24, 2009

Thái Đào


THÁI ĐÀO

TRĂNG ĐÃ ĐỘ RẰM


Không phải tình cờ gió theo mây
Tri ân em mở rộng lòng này
Cho hoa vô hướng thơm ngàn núi
Cho biển trùng dương dội sóng gào.

Không phải tình cờ hạc bay xa
Bỏ đình trơ vắng cảnh chiều tà
Ngàn năm bỡi lụy cơn dấu ái
Gió cuốn về trời em xót xa.

Mưa vẫn màu mưa ngàn năm cũ
Mà nghe thân lạnh buốt đường về
Chân vênh bờ cõi mùa trăng động
Lá lót em nằm tự cỗ xưa…

Ta tạ ơn nhau đến vạn lần
Vạn lần môi tím với cơn đau
Không phải tình cờ mà em tới
Em tới bởi trăng đã độ rằm.



CHỢ VÃN CHIỀU TÀN

Bên kia có dòng sông thức suốt
ta bạc đầu ngồi đợi ánh trăng
em son phấn đi về phố chợ
bao năm rồi vàng đá nát tim.

Bao năm rồi câu thơ phiền muộn
lưng chừng đời
em bỏ tôi đi
mưa hạnh phúc
đôi tay núng nính
lưng chừng đời một trái tim khô.

Mù con mắt
phương nào để nhớ
áo phong sương phô với ngày dài
phô suốt kiếp bờ hoang ảo mộng
em ơi em…tình đã trần ai!

Bên kia có dòng sông thức suốt
tháng năm rồi cuộn những cơn đau
tháng năm rồi …
chợ chiều vãn khách
vãn câu hò
vãn chuyến sang sông
vãn cuộc tình lao đao – lận đận
em qua sông
không có ngày về.

Em qua sông
đời tôi đã bạc
cuộc bán buôn đến độ cao trào
tôi chỉ có tim khô nguội lửa
bán cho ai…
chợ vãn
chiều tàn


THÁI ĐÀO












READ MORE - Thái Đào

Thơ Võ Thị Quỳnh



VÕ THỊ QUỲNH
TỰ BAO GIỜ EM ĐÃ YÊU QUẢNG TRỊ?


Em đã yêu Quảng Trị tự bao giờ?
Một tình yêu – nhạc không lời đầy biến động
Có đá đỏ mồ hôi ngàn năm dòng Thạch Hãn
Có ngàn mai kiên cường thành mai Lĩnh núi non

Em từng yêu Quảng Tri tự bao giờ
Một tình yêu – tranh phối màu đen trắng
vô cùng nhiều phiên bản của sự sống
hồi sinh vô lường trong và ngoài cõi âm dương

Em đã yêu Quảng trị tự bao giờ?
Một tình yêu hơn gió Lào riết róng
Một tình yêu mịn sa mạc cát trắng
Chân chất, mặn nồng, đằm thắm
diết da, cay đắng, ngọt bùi
hóa thân mưa nắng đời vui

Em đã yêu Quảng Trị tự bao giờ?
Một tình yêu – không hằn chia cắt
trái tim run bần bật
Giọt lệ loang nụ cười trên mắt nhỏ xuống đôi môi
Tự hỏi:
đã bao giờ em yêu Quảng trị của tôi
VÕ THỊ QUỲNH
READ MORE - Thơ Võ Thị Quỳnh

Saturday, March 21, 2009

Trang thơ Lê bá Lư

Lê Bá Lư


LÊ BÁ LƯ

T R Ư Ờ N G H À N H C A


Ước gì ta như chim trời phiêu bạt
Bước giang hồ lưu lạc khắp mười phương
Chỉ mang theo hành lý: Tình Thương
Và trước mắt đường trường không giới hạn
Đời dâng trọn cho quê hương bè bạn
Thiệt hơn chi, không mặc cả với đời
Ôi trăm năm thân phận kiếp người
Những luật lệ trần gian đâu nghĩa lý

Ta khao khát một bạn đường tri kỷ



Bước song hành trên những nẻo quan san
Sẽ cùng ta vượt suối băng ngàn
Tìm lẽ sống chốn núi rừng hiu quạnh
Tìm hạnh phúc những đêm dài mưa lạnh
Bên lửa hồng cùng sơn nữ hoà ca
Những bình minh nắng đẹp bao la
Đùa giỡn với hươu nai khỉ vượn
Ta sẽ tắm những suối khe lý tưởng
Ngâm nga cùng hoà khúc thiên nhiên
Chốn núi rừng hoan lạc vô biên
Ta đã có tiền duyên kiếp trước…

Rồi sẽ một hôm nào tiếp bước
Về miền quê nước đọng bùn lầy
Cùng những nàng thôn nữ má hây hây
Chỉ e thẹn khi ta buông lời hỏi
Những nông phu suốt đời mê mải
Bên ruộng đồng cày cuốc, óc vô tư
Những mẹ quê chất phác hiền từ


Niềm nở gọi ta: Người khách lạ!
Những đêm trăng tiếng hò reo rộn rã
Nhịp chày khua bên cối gạo thanh bình
Cùng gái trai buông lời hát trao tình
Ôi ý vị bài ca dao muôn thuở.

Và có buổi vui chân về biển cả
Ta nắm tay cùng những dân chài
Ra biển Đông vào những sớm mai
Vươn sức mạnh để giữ yên buồm lái
Những đêm trăng ánh vàng vương rải
Bơi tung tăng trên sóng nước dập dềnh
Cùng ngư dân dệt những giấc mơ xinh
Để tô điểm cho đời thêm sức sống…

Rồi có lúc lang thang về thành phố
Bước chân chen trên đại lộ biển người
Cùng thế nhân ta mở rộng nụ cười.
Ngày chủ nhật đủ màu tươi sắc thắm...

Nhưng có lẽ hồn ta không mê đắm
Chốn phố phường huyên náo bán buôn
Tình lỡ hẹn với mây trời phóng lãng…

Ta sẽ bước ra đi vào một sáng
Đến phương trời cao rộng đón chờ ta
Sẽ lạc vào khung cảnh ngát hương hoa
Đã sẵn có lời chim ca diễm tuyệt…

Núi rừng ơi, ta với Người tha thiết
Hãy chờ ta lê bước phong trần
Ta sẽ về khi đã mỏi đôi chân...

Rồi có lúc trở thành tên đạo tặc
Ta xuôi thuyền tìm đến núi Lương Sơn
Có Lỗ Trí Thâm, Lý Quỳ ra đón
Và anh em bè bạn thét lên cười.

1975




B À I C A B U Ổ I S Á N G


Bình minh xách võng vô rừng
Vai mang hồ rượu, nhắp từng hớp cay
Giang sơn một cõi là đây
Riêng ta với rượu, uống say ta nằm
Nắng lên trang điểm núi rừng
Hạt sương óng ả vắt từng cành cây
Chim buông giọng hót đâu đây
Hoà theo nhạc gió ngất ngây rộn ràng
Xa xa sóng đệm nhịp nhàng
Nghêu ngao ngồi hát ca vang núi rừng


1974


ĐỌC THÊM
LỜI HẸN ĐẦU NĂM - THƠ LÊ BÁ LƯ

SÂN THƯỢNG NHÀ EM - TẬP THƠ LÊ BÁ LƯ
READ MORE - Trang thơ Lê bá Lư

Friday, March 20, 2009

SÔNG THẠCH HÃN - Đặng Triệu Ái






Người Việt Nam ta vốn nặng tình non nước nên hình như tỉnh nào cũng muốn chọn một ngọn núi và một dòng sông tiêu biểu cho tỉnh mình để tạo thêm ấn tượng sâu sắc về quê hương. Xứ Đoài thì có núi Tản – sông Đà, xứ Nghệ thì có núi Hồng – sông Lam, đất kinh kì thì có núi Ngự - sông Hương… Còn Quảng Trị có non Mai – sông Thạch Hãn.

Non Mai tức núi Mai Lĩnh, một ngọn núi đẹp ở gần chiến khu Ba Lòng. Sông Hãn là sông Thạch Hãn, con hào thiên tạo phía bắc của Thành cổ Quảng Trị! Quảng Trị tuy nhỏ nhưng lại là tỉnh phên dậu phía Bắc của kinh thành Huế và là nơi phát tích của họ Nguyễn khi Nguyễn Hoàng mới vào dựng nghiệp ở Đàng Trong, vì thế năm 1836, sau khi ổn định đất nước, vua Minh Mạng đã chọn sông Thạch Hãn là một trong 9 thắng cảnh của đất nước để đúc vào Cửu Đinh bày ở sân rồng coi như quốc bảo.

Ở Quảng Trị xưa đã có câu ca dao:

“Chẳng thơm cũng thể hương dàn

Chẳng trong cũng nước nguồn Hàn chảy ra”

Nguồn Hàn là tên gọi dân gian chỉ sông Thạch Hãn. Về tên gọi Thạch Hãn, lâu nay không ít người tự hiểu theo nghĩa chủ quan là… “mồ hôi của đá”. Thực ra không phải như vậy, thạch thì đúng là đá rồi, còn hãn hay hàn có nghĩa là ngăn cản. Vì ở giữa nguồn có một mạch đá ngầm chắn ngang sông, tên sông đặt theo đặc điểm này, thành sông Thạch Hãn. Theo sách “Đại Nam nhất thống chí” thì sông Thạch Hãn chỉ dài khoảng 170 dặm bao gồm cả đầu nguồn, nghĩa là chỉ độ 100km. Với độ dài như vậy nên lượng phù sa do sông tải đến không nhiều, trừ những ngày lũ lụt, nước thường trong xanh nhìn thấy đáy. Điều đó được nói đến trong 2 câu thơ của Tam Nguyên Yên Đỗ Nguyễn Khuyến:

“Tây phong Hà xứ xuy trần khởi

Bất tụ niên tiền triệt thể thanh”

Lương An dịch:

“Gió tây cuốn bụi dồn

Nước trong thấy đáy nay còn nữa đâu”

Sông Thạch Hãn là con sông dài và đẹp nhất tỉnh Quảng Trị. Sông bắt nguồn từ phía Đông dãy Trường Sơn ở phía Tây Nam của tỉnh. Dòng sông uốn lượn từ hướng Đông và Đông Bắc, gặp sông Rào Quán lại chảy về hướng Đông rồi ngược lên phía Bắc, nhập với sông Cam Lộ (tức sông Hiếu, chảy qua thị xã Đông Hà) tại ngã ba Dã Độ (sau này quen gọi thành Gia Độ) rồi lại quay về hướng Đông, đỗ ra cửa Việt Yên, gọi tắt là Cửa Việt. Không chỉ từ xưa mà cho đến cả bây giờ, sông Thạch Hãn vẫn là mạch máu giao thông đường thủy rất quan trọng của tỉnh Quảng Trị. Với hình thể uốn lượn uyển chuyển như thế lại có thêm nhiều phụ lưu thuốc các huyện Triệu Phong - Hải lăng là hai vựa lúa của tỉnh Quảng Trị như Vĩnh Định, Vĩnh Phước, Điếu Ngao nên mật độ giao thông trên sông ngày càng lớn. Đặc biệt, là con hào thiên tạo phía Bắc thành cổ Quảng Trị (nay là thị xã Quảng Trị) con sông Thạch Hãn lại có vị trí chiến lược về quân sự. Câu thơ được nhiều người biết đến trong bài thơ “Chị lái đò” của nhà thơ Lương An:

“Đò em lên xuống Ba Lòng

Chở người cán bộ qua vùng chiến khu”

đủ cho thấy tầm quan trọng của sông Thạch Hãn - lối duy nhất có thể lên được chiến khu Ba Lòng. Lịch sử không thể nào quên được những ngày hè của năm 1972, hàng vạn chiến sĩ đã bất chấp nguy hiểm, bí mật bất ngờ vượt sông Thạch Hãn để lập nên những chiên công vô cùng hiển hách. Đã có không biết bao nhiêu người trong số đó đã vĩnh viễn hóa thân cùng sông nước cỏ cây… Ngày nay, dù đi bằng đường bộ hay đường sắt Bắc – Nam ta đều gặp một dãy cầu gọi là cầu Thạch Hãn, bắc qua sông Thạch Hãn. Đầu phía bắc có tượng đài trung đội Mai Quốc Ca. Trung đội chỉ vẻn vẹn 20 người với vũ khí bộ binh thông thường (nếu theo biên chế trong quân đội thì trung đội phải gồm 3 tiểu đội, mỗi tiểu đội 12 người và thêm 1 trung đội trưởng), nhưng đã chiến đấu cực kỳ dũng cảm suốt một ngày đêm. Trước sự phản kích điên cuồng của một tiểu đoàn địch đông gấp mấy chục lần, có xe tăng và đại bác yểm trợ, họ đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chốt giữ, góp phần làm nên đại thắng. Cả trung đội 20 người chỉ còn lại một người lính bị thương nặng, được nhân dân địa phương cứu sống. Tượng đài Mai Quốc Ca ma tên người chỉ huy dũng cảm, có 19 quả tim đỏ gắn lên, tượng trưng cho 19 liệt sĩ.

Để tưởng nhớ đến hàng nghìn liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trên dòng sông Thạch Hãn, hàng năm, cứ vào dịp kỷ niệm ngày đất nước thống nhất, chính quyền và nhân dân Quảng Trị đều long trọng tổ chức lể thả đèn hoa, bè hoa trên sông Thạch Hãn. Lễ hội đã thực sự cuốn hút rất nhiều người, đặc biệt là các lực lượng vũ trang và cựu chiến binh trong và ngoài tỉnh tham dự.

Do đặc điểm tự nhiên nên các sông suối ở miền trung thường ngắn và trong. Ở xứ Nghệ có câu “Nước sông Lam vừa trong vừa mát”, nhưng thực sự được đi vào thơ ca, được các bậc đại khoa như Bảng nhãn Võ Duy Thanh, Tam Nguyên Nguyễn Khuyến ca ngợi thì chỉ có sông Thạch Hãn. Do phải chảy quanh co giữa núi rừng Trường Sơn, trải qua lắm thác ghềnh với vô số đá ngầm, đá dựng, dòng nước trở nên trong vắt. Với những nét đặc trưng đó, người dân Quảng Trị luôn coi sông Thạch Hãn là biểu tượng của đạo lý trong sạch và ý chí kiên cường.

Xin kết thúc bài viết bằng bài thơ cảm tác qua sông Thạch Hãn của Bảng nhãn Võ Duy Thanh, người đỗ học vị cao nhất, được coi như trạng nguyên của triều Nguyễn (vì triều Nguyễn không lấy Trạng Nguyên):

“Bụi hồng rong ruổi tới Trường An

Nghe nói đâu đây suối Bạch Đàn

Ấy cảnh tự nhiên ai khéo vẽ

Mà kho vô tận lúc nào khan

Bên đường xe ngựa nên dừng bước

Mượn thú non sông cũng tạm nhàn

Đây phải Liêm Tuyền chăng đó tá?

Muốn đem rửa ruột khách quan san”

Liêm Tuyền tức suối Liên ở tỉnh Thiểm Tây (Trung Quốc) là vùng đất tượng trưng cho phong tục thuần hậu, dân biết thương nhau, người đi làm quan đều biết giữ mình thanh liêm, không ăn hối lộ. So sánh sông Thạch Hãn với Liêm Tuyền trong điển tích, tác giả muốn khẳng định đây là dòng sông tượng trưng cho sự thanh cao, khách vãng lai nên dừng chân ngắm cảnh để suy ngẫm mà tẩy sạch những gì còn vẫn đục trong lòng!

.http://my.opera.com/dangsyhieu/blog/
READ MORE - SÔNG THẠCH HÃN - Đặng Triệu Ái