Chúc Mừng Năm Mới

Kính chúc quý bạn năm mới vạn sự an lành

Saturday, October 14, 2017

HOA LỰU - Chùm ảnh của Chu Vương Miện









READ MORE - HOA LỰU - Chùm ảnh của Chu Vương Miện

CHÙM THƠ HUY UYÊN





Đêm uống rượu với người-tình-cũ ở Huế

Thôi em về đi ta chén cuối
Bao năm huyền-thoại đã xa rồi
Ngồi Đập-Đá sầu trôi Vĩ-Dạ
Đoạn cuối cùng hai ta chia tay thôi 

Hình như trong mắt em cười
Sao lệ nhỏ làm hồng thêm đôi má
Nước dưới chân cầu mãi vờ trôi
Tình đã bỏ đi xuôi theo biển cả.

Ta rượu say giọt buồn cố-xứ
Bạn bè ra đi nào có quay về
Gột sầu trôi hoang ngày tháng cũ
Mặt đăm buồn cạn chén ly bôi.

Đêm trôi nghiêng em đứng nhìn sông
Hồ em dấu chuyện tình mà lệ nhỏ
Những cặp tình-nhân hôn nhau cuối đường
Quên hết cả đất trời của Huế.

Em gởi về Thuận-An nỗi nhớ
Bên đồi Tuần trời tím vàng thu
Đã lâu chôn tình sâu nấm mộ
Để đêm say biết mấy cho vừa.

Giá đừng gặp nhau ở Huế khi về
Trên bàn còn sót ly rượu độc
Tuổi thanh-xuân ngày tháng qua đi
Cuối cuộc say hình như muốn khóc.

Gởi lại em nửa đời với Huế 
Đêm nay ngồi uống rượu với người xưa !


Em và cuối thu ở Huế

Em dấu chuyện tình trong đáy mắt
Chiều sông trôi em đứng bên sông
Mấy mươi năm kể từ dạo đó
Sót lại đời nhau một giọng cười buồn.

Mùa thu Huế và những cơn mưa
Hắt chiều từng ánh đèn vàng vọt
Hai ta nhìn phố lạnh buồn
Môi hôn xưa, một thời đã mất.

Mùa thu chao nghiêng trời kỉ-niệm
Bao tháng ngày một giấc chiêm-bao
Cuộc tình rồi xuôi trôi về biển
Bỏ đời nhau quên lối xưa về.

Em cả đời một thuở chân trần
Sông chao thuyền người một bóng
Có chờ tôi về kịp không
Ở bến xưa quạnh hiu nước mắt cháy bỏng.

Rồi một ngày lùa tóc bay cùng gió
Bóng em lặng lẽ qua cầu
Tình sương câm mặt trời đi ngủ
Nép kín đời tím tái trong nhau.

Bên ngoài gió đổi chiều
Nỗi đau ùa về cùng khắp
Có phải tim người mọc rêu
Ngọn đèn đã tắt.

Mưa Huế chậm buồn qua khung cửa
Vàng vọt nụ hôn môi cuối đường
Que diêm nửa đêm cháy đỏ
Lối cũ đi về mù sương .

Mưa, mưa dấu lạnh vào hồn
Ngày còn yêu nhau em má đỏ
Nụ cười quanh mắt đuôi lá răm
Thuở đó hai ta đong đầy nỗi nhớ.

Trần truồng rong rêu của rắn
Cánh đồng tím màu mưa
Tim người còn lắng đọng
Nhớ em ngửa mặt nhìn trời.

Có phải ngày em bỏ đi
Nỗi buồn ngậm tăm nỗi nhớ...

                         Huy Uyên

READ MORE - CHÙM THƠ HUY UYÊN

GIỌT MƯA..., NỢ DUYÊN, TIẾNG ĐÀN XƯA - Thơ Tịnh Đàm


  
              Tịnh Đàm


GIỌT MƯA...

Phận mình so với trùng khơi,
Nhỏ nhoi như giọt Mưa rơi xuống đời !
Phút giây,soi tỏ đất trời
Nắng lên. ..rồi lại về nơi bắt đầu.


NỢ DUYÊN 

Biển thì xanh, sóng dịu êm
Còn em lại trắng nỗi niềm thơ anh.
Tơ lòng, dẫu có mong manh,
Mà sao khéo buộc nên thành... nợ duyên.


TIẾNG ĐÀN XƯA

Đàn ai vọng tiếng cảm hoài
Cho đêm về động hiên ngoài... sương rơi !
Mênh mang một cõi mù khơi
Để chiêm bao rụng bên đời... hắt hiu !

                                         Tịnh Đàm
                                  (Hóc Môn, TP. HCM
)

READ MORE - GIỌT MƯA..., NỢ DUYÊN, TIẾNG ĐÀN XƯA - Thơ Tịnh Đàm

Friday, October 13, 2017

NGẮM CHÂN DUNG GÒ ĐỒNG CÁC VĂN NHÂN CỦA NHÀ THƠ PHẠM XUÂN TRƯỜNG - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn


       Tác giả Nguyễn Lâm Cẩn


NGẮM CHÂN DUNG GÒ ĐỒNG CÁC VĂN NHÂN
CỦA NHÀ THƠ PHẠM XUÂN TRƯỜNG
Người nhếch mép, người bĩu môi Người nheo khuôn mặt chia đôi góc nhìn Người nhẹ dạ, người cả tin Người còn đau đáu tới nghìn năm sau Người đang nuốt nghẽn nỗi đau Tay run run chén, dàu dàu ruột gan Người chưa thoát kiếp cơ hàn Văn chương nặng nợ lầm than kiếp người Người tắt ngấm cả nụ cười Rễ trơ gốc thụ cành tươi nỗi gì Người ngoảnh mặt, người quay đi Người xoa xuýt tuổi xuân thì tuột tay Người dồn hết đắng vào cay Chữ đầy mặt giấy lắt lay với đời Người bạc mặt, dạ bời bời Ngây ngô câm điếc đầy vơi nỗi mình Bao khuôn mặt, bấy nhiêu hình Tâm can nặng một chữ tình nhân gian Soi tìm nét mặt bình an Chỉ toàn thấy kiếp cơ hàn mà thôi Giật mình, tôi ngắm mặt tôi Thấy hằn lát chém chia đôi mặt người

Nguyễn Lâm Cẩn


Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào. Không có văn bản thay thế tự động nào.   
               Trong hình ảnh có thể có: một hoặc nhiều người, mọi người đang ngồi, bàn và trong nhà

READ MORE - NGẮM CHÂN DUNG GÒ ĐỒNG CÁC VĂN NHÂN CỦA NHÀ THƠ PHẠM XUÂN TRƯỜNG - Thơ Nguyễn Lâm Cẩn

ĐỌC “MỘT NGÀY VỀ THÁP CỔ” THƠ NGUYÊN LÊ - Châu Thạch


   
     Nhà bình thơ Châu Thạch



ĐỌC “MỘT NGÀY VỀ THÁP CỔ” THƠ NGUYÊN LÊ
                                                                Châu Thạch

Tại làng Bình Thạnh huyện Trảng Bàng tỉnh Tây Ninh còn tồn tại một ngôi tháp cổ có tên là Tháp Cổ Bình Thạnh. Tháp cổ Bình Thạnh nằm phía hữu ngạn sông Vòm Cỏ Đông, có niên đại xây dựng vào khoảng thế kỷ thứ VIII, là một trong những kiến trúc tháp cổ quý hiếm, tồn tại như nguyên vẹn. tiêu biểu cho kiến trúc thuộc nền văn hóa Óc Eo. Châu Thạch đã từng có hai câu thơ nhận xét về người dân nơi đây: “Tôi tưởng nơi đây cây cũng hát/ Nên cụ già, em nhỏ cũng làm thơ”. Tác giả Nguyên Lê là một người dân đang sống ở nơi đây, đang tham gia Câu Lạc Bộ Thơ Bình Thạnh, một câu lạc bộ thơ quy tụ nhiều cây bút không nổi danh nhưng bộc phát những bài thơ mà danh bút cũng phải chào thua thứ hương đồng cỏ nội kia.

            
                                        Tháp cổ Bình Thạnh


Đọc bài thơ “Một Ngày Về Tháp Cổ” của Nguyên Lê ta tìm thấy ở đây “một niềm tin kiêu hãnh” cho dân tộc và một hy vọng cho tương lại. Ta hãy nghe một vài khổ thơ nói về tháp cổ của nhà thơ Tố Hữu:

Cây dù gượng xanh lại ngày xuân cũ 
Tháp dù mong hàn lại vết phong sương 
Mộng ảo tất! Gió lùa cây xiêu đổ 
Tháp chênh vênh tan sập dưới chân tường 

Thi sĩ hỡi! Đi tìm chi vơ vẩn 
Trong hồn già đã chết những yêu mơ ? 
Có lành đâu vết thương đầy oán hận 
Có tan đâu khi uất tự bao giờ ?
                              (Tháp Đổ)

Tháp cổ trong bài thơ nầy nhà thơ Tố Hữu đã cho đổ sập, và hơn nữa, chính nhà thơ cũng khuyên ta đạp đổ nó luôn không cho hàn gắn lại.
Bây giờ ta hãy lần lượt đọc  từng khổ thơ trong bài “Một ngày về tháp cổ” của Nguyên Lê. Khổ thơ đầu như sau:

Từ ngàn năm vẫn uy nghiêm THÁP CỔ
Đá xa xưa còn đó dưới chân thềm
Rêu phủ đầy ...vàng xanh ghế tựa
Chợt ngâm ngùi ...
nghe chim Gõ mõ kêu êm

Nếu ai đọc thơ nhanh quá thì sẽ chê câu thơ “Rêu phủ đầy…vàng xanh ghế tựa” không hay, vì tưởng như không có một ý nghĩa gì. Nhưng nếu ai đọc thơ xong, để tâm hồn suy nghiệm đôi chút, thấy cái ngàn năm xưa liên đới với ta ngày nay thì sẽ thích thú vô cùng với câu thơ nầy. Khi ta ngồi xuống trên bậc thềm rêu xanh phủ, không ai không thấy hồn tự nhiên êm ã, vì bởi trong vô thức, ta biết rằng mình đang ngồi trên những chiếc ghế tựa bằng đá của cha ông từ ngàn năm xưa mà ta thừa tự.Và nếu khi được ngồi trên những chiếc ghế cổ, bằng gỗ quý trưng bày, ta sung sướng bao nhiêu, thì khi được ngồi trên chiếc ghế bực thềm tháp cổ kia, hồn ta rung động còn hơn nữa.  Câu thơ cũng vậy, đánh động trong vô thức của tâm hồn ta về những chiếc ghế ngàn năm xưa làm sẳn cho ta ngồi bây giờ.
Rồi thì tác giả chợt ngậm ngùi khi nghe chim “Gõ mõ kêu êm”. Âm thanh của tiếng chim Gõ mõ ngoài đời liên tục không thôi, cho ta biểu tượng của một cuộc sống hối hả giữa đời. Âm thanh của tiếng chim Gõ trong thơ cho ta biểu tương về  một sự liên tục của thời gian. Âm thanh đó cho người đọc  mườn tượng một sự nối liền từ quá khứ đến hiện tại, từ cái thời xa xưa của tháp cổ Bình Thạnh cho đến bây giờ.
Chỉ bốn câu thơ thôi. Bốn câu thơ Nguyên Lê viết như là nói, chất chứa trong âm thầm sợi dây quyến luyến kết nối từ ngàn xưa cho đến ngày nay. Bốn câu thơ ấy đã lật nhào cái quan niệm “Mộng ảo tất! Gió lùa cây xiêu đổ/Tháp chênh vênh tan sập dưới chân tường” của nhà thơ lớn nước ta.
Qua khổ thứ hai của bài thơ ta thấy linh hồn muôn năm cũ còn ở với ta, vẫn sống với ta và giao thiệp với ta:

Vào Tháp cổ khói hương hiu lạnh
Bầy Dơi kia nghe động bay vù
Một hình tượng cõi âm sống dậy
Như tiếng chào người thức giấc thiên thu

Bầy Dơi không khiến ta sợ như sợ ma-cà-Rồng. Bầy Dơi trong thơ thức dậy như người từ cõi thiên thu thức dậy để chào ta. Bốn câu thơ đưa ta bước vào một cõi dĩ vãng và hiện thực lồng trong nhau, cõi  đời và cõi linh ở trong nhau cho ta một cảm giác gì? Một cảm giác ấm áp như trở về ngôi nhà xưa, trở về với bà con ta từ muôn kiếp trước. Bốn câu thơ nói với ta điều gì? Nó nói người thi sĩ không đi tìm vớ vẩn như  hai câu thơ “Thi sĩ hởi! đi tìm chi vớ vẩn/Trong hồn già đã chết những yêu mơ” của nhà thơ lớn, mà thi sĩ đã tìm về và đã gặp với hồn già ngàn năm tuổi thuở xa xưa.
Nhưng Nguyên Lê tìm về muôn năm cũ, gặp “hình tượng cõi âm sống dậy” để làm gì ? Ta hãy nghe nhà thơ Tố Hữu bi quan:

Có lành đâu vết thương đầy oán hận 
Có tan đâu khi uất tự bao giờ ?
                             (Tháp Đổ)

Ngược lại, nhà thơ Nguyên Lê không tìm thấy “oán hận”, không tìm thấy “khí uất tự bao giờ”, mà thi nhân về nơi đó để tìm được hào quang của niềm hy vọng cho đời:
Ta gót mỏi khúc bôn ba chẳng dứt
Về tựa lưng nơi ghế đá đầy rêu
Nhìn bóng nắng sáng lung linh đỉnh tháp
Là hào quang với hy vọng thật nhiều
Tác giả về tựa lưng trên chiếc ghế ngàn năm, trút bao nhọc nhằn của kiếp sống bôn ba chẳng dứt. ngắm hào quang hiện tại lung linh trên tháp cổ. Một khổ thơ trọn vẹn nối kết mình với quá khứ, hiện tại và tương lai một cách tuyệt vời, tuyệt đẹp, tuyệt hảo của nghệ thuật sáng tác. Không khen không phải là người biết đọc thơ. Khổ thơ cũng cho ta thấy tháp cổ là cái của quá khứ còn trong hiện tai. Nơi ta yên nghĩ khi mõi gối chồn chân, nơi ta trút bỏ nhọc nhằn và còn là nơi định hướng cho con người để đi tiếp đến một tương lai tốt đẹp.
Và cuối cùng tháp cổ  hiện thân lịch sử oai hùng, cho ta sự ngẩng mặt kiêu hãnh để ta “thi gan cùng tuế nguyệt mặc gió mưa”:

Vẫn còn đó âm vang hồi trống trận
Đưa ta về tiềm thức thuở xa xưa
Ngẩng mặt nhìn với niềm tin kiêu hãnh
Thi gan cùng tuế nguyệt mặc gió mưa

Khổ thơ cuối cho ta nghe trong tìm thức ta, dập dồn tiếng trống thắng trận tự ngàn xưa, và từ tiếng trống đó, tràn ngập trong ta niềm vui hiện lại. Có lẽ không ai còn thấy tháp cổ ở đây nữa, mà thấy tháp như mới, hồn ta như mới khi ta ngẩng mặt nhìn lên “với niềm tin kiêu hãnh” nghĩa là nhìn thấy từ quá khứ ngàn năm đến tương lai con cháu. Khổ thơ kết lại cho ta một niềm vui từ trong tìm thức cho đến mọi giác quan đang tiếp xúc hiện thực, cho ta tự nhiên thấy đời thật đẹp.
Để kết luận bài thơ nầy xin bạn đọc hãy vui lòng đọc khổ chót trong bài thơ “Tháp Đổ” của nhà thơ Tố Hữu:

Hãy cắt đứt những dây đàn ca hát 
Những sắc tàn vị nhạt của ngày qua 
Nâng đón lấy màu xanh hương bát ngát 
Của ngày mai muôn thuở với muôn hoa.
                                          ( Tháp đổ)

Ở đây ta thấy nhà thơ lớn biểu “cắt đứt những dây đàn ca hát” của quá khứ, khác chi biểu giết đi nền văn hóa của ông bà vì nhà thơ cho rằng cái nền văn hóa đó đã “sắc tàn vị nhạt của ngày qua”. Khác hẳn lại, Nguyên Lê từ cái chổ ngồi rêu phong của nền văn hóa đó, nhà thơ sống với cái nền văn hóa đó ở ngay trong tìm thức mình, tức là con tim của mình. Nhờ đó khi đọc “Một ngày về tháp cổ” ta không thấy lời thơ như những chiếc đao to bảng, ta không thấy cánh tay đập phá, bàn chân dày xéo  mà ta thấy một tâm hồn bình dị chất chứa một tình yêu có từ cổ tích đến bây giờ.
Có người cho rằng tháp cổ Bình Thạnh có từ thời Óc Eo,  không phải của dân ta, hay tháp cổ của người Chàm không phai của người kinh, cớ sao lại nhận của mình rồi ca tụng nó. Xin hỏi, vậy thì quê hương nầy từ xa xưa có phải của ta không, cớ sao ta gọi quê hương nầy là Mẹ. Trên quê hương còn biết bao nhiêu tên địa danh mà ta không hiểu là gì, nhưng ta vẫn gọi tên và ta vẫn yêu thương, bảo vệ. Mẹ Việt Nam có tự ngàn xưa, không của riêng một dân tộc nào mà của những ai từng sinh ra và sống nơi đây. Mẹ có từ ngàn đời và cho ta thừa tự nhiều nền văn hóa khác nhau, Tất cả những gì làm ra trên đất mẹ là của ta và ta có quyền hãnh diện vì nó, tôn vinh, ca tụng và bảo tồn cho vạn đời sau. Tất nhiên khi nghĩ về một dân tộc dựng nên tháp cổ đã bị tiêu vong thì vẫn có nỗi buồn, nhưng không phải vì thế mà tách riêng tháp cổ, đạp đổ nó, cho nó suy tàn là ta tội lỗi vô cùng./.  
                                                               Châu Thạch

             Nhà thơ Nguyên Lê


MỘT NGÀY VỀ THÁP CỔ             
Từ ngàn năm vẫn uy nghiêm THÁP CỔ
Đá xa xưa còn đó dưới chân thềm
Rêu phủ đầy ...vàng xanh ghế tựa
Chợt ngâm ngùi ...
nghe chim Gõ mõ kêu êm
Vào Tháp cổ khói hương hiu lạnh
Bầy Dơi kia nghe động bay vù
Một hình tượng cõi âm sống dậy
Như tiếng chào người thức giấc thiên thu
Ta gót mỏi khúc bôn ba chẳng dứt
Về tựa lưng nơi ghế đá đầy rêu
Nhìn bóng nắng sáng lung linh đỉnh tháp
Là hào quang với hy vọng thật nhiều
Vẫn còn đó âm vang hồi trống trận
Đưa ta về tiềm thức thuở xa x
ưa
Ngẩng mặt nhìn với niềm tin kiêu hãnh
Thi gan cùng tuế nguyệt mặc gió mưa

                                        Nguyên Lê

READ MORE - ĐỌC “MỘT NGÀY VỀ THÁP CỔ” THƠ NGUYÊN LÊ - Châu Thạch

Thursday, October 12, 2017

ĐÊM MƯA BUỒN - Thơ Trương Thị Thanh Tâm


Đêm Mưa Buồn
              
Trời tháng bảy mưa buồn mưa sướt mướt
Ánh đèn vàng nhòa nhạt dưới mưa bay
Quán bên đường giờ nầy còn mở cửa
Đèn tắt rồi em chắc đã ngủ say

Tôi ở đây phố đêm như xa lạ
Ly cà phê vị đắng chát trên môi
Mưa chưa tạnh vài giọt mưa  thấm áo
Thuốc chưa tàn đèn hắt bóng mồ côi

Tình đến rồi đi như trò cút bắt
Khi thật gần đôi lúc lại xa xôi
Biết tìm đâu ngày tháng cũ qua rồi
Hờn giận cứ lớn dần từng đợt sóng

Bước loanh quanh cứ đi tìm lấy bóng
Mây đen giăng che khuất lối đường về
Mưa bất chợt bóng âm thầm chạy trốn
Tôi chim trời lạc lõng giữa mù khơi

Đêm thức giấc nghe đời sao quá lạ
Con sông dài phía trước đã chia đôi
Em tô son cho thêm thắm bờ môi
Tôi còn lại dấu tích buồn hoang phế!
              Trương Thị Thanh Tâm

                             Mỹ Tho
READ MORE - ĐÊM MƯA BUỒN - Thơ Trương Thị Thanh Tâm

HƯƠNG SẮC GÒ CÔNG / MIỀN TRUNG NƯỚC TÔI - thơ Trúc Thanh Tâm



 HƯƠNG SẮC GÒ CÔNG

 Gò Công gió chướng thổi non
 Tân Thành sóng vỗ vào bon chen đời
 Nợ em từ một nụ cười
 Dễ gì quên được tháng mười bão giông

 Ngoài kia trời sắp sang đông
 Ở đây vẫn thấy sắc hồng phượng yêu
 Mắt em thu rớt mưa chiều
 Hồn anh mở cửa xuân reo nắng vàng

 Tóc dài thả gió bay ngang
 Hương em sao cứ đổ tràn qua anh
 Đêm nghe lá hát trên cành
 Trăng tơ dệt mộng đan thành thơ yêu

 Thời gian giờ đã xanh rêu
 Tình nhau vỡ mộng đìu hiu sông hồ
 Đời tôi là cả đời thơ
 Mắt buồn em với mưa Gò Công Đông!

 TRÚC THANH TÂM
 (Châu Đốc)

*****




 MIỀN TRUNG NƯỚC TÔI 

 Tôi lặng người theo tiếng sét thinh không
 Đồng bằng hổm rày mưa dầm thúi đất
 Nắng mệt mỏi mặt trời đi trốn biệt
 Thì làm gì có nắng ấm miền Trung

 Dãy đất thân yêu, cơn bão lũ tột cùng
 Cuốn theo hết biết bao người và của
 Thượng Đế hỡi, dân tôi chưa hết khổ
 Lại nhận thêm bao thảm họa trái ngang

 Nước lũ dâng cao hay nước mắt tủi hờn
 Cuộc sống mong manh bên thềm bóng tối
 Những gương mặt cứ hằn sâu kinh hãi
 Quỳ lại trời xin được chút mưa ơn

 Đất nước Rồng Tiên còn trăm khổ ngàn buồn
 Khi hạnh phúc bị cuộc đời xé rách
 Bởi sự thật chưa bao giờ có thật
 Tự dối mình và lừa dối lẫn nhau!

 TRÚC THANH TÂM
 (Châu Đốc)
READ MORE - HƯƠNG SẮC GÒ CÔNG / MIỀN TRUNG NƯỚC TÔI - thơ Trúc Thanh Tâm

Wednesday, October 11, 2017

HOA VƯỜN NHÀ - Ảnh của Chu Vương Miện



 

READ MORE - HOA VƯỜN NHÀ - Ảnh của Chu Vương Miện

NHÀ THƠ YẾN LAN VÀ SỰ HÂM MỘ - Hồi ký của Lâm Bích Thủy



        Yến Lan đầu bên trái.
      Từ phải sang: nhà thơ Nguyễn Thanh Mùng, nhà thơ Trinh Đường,
      nhà thơ Hoài Thu, nhà thơ Phạm Văn Phương 



NHÀ THƠ YẾN LAN VÀ SỰ HÂM MỘ

 Xin thành thật là trước đây tôi ít quan tâm đến công việc và những ảnh hưởng từ độc giả đến với ba tôi. Nhưng khi có lời khuyên, cụ thể là nhà thơ Giang Nam, đạo diễn Nguyễn Khánh, nhà văn Mai Ngọc Thanh, các nhà thơ trẻ Nguyễn Hòa, Mang Viên Long v.v. .: “Cô nên làm cái gì đó cho Yến Lan. Đó không chỉ là trách nhiệm của riêng gia đình cô mà còn là trách nhiệm lớn đối với nền văn học dân tộc. Bởi ông là một nhà thơ suốt cả đời tâm huyết cho quê hương và cái chữ. Ông là nhà văn hóa có trách nhiệm với người và với đời. Ông hội đủ cả tài, tâm và tầm, mấy ai được như thế.  Trước lời khuyên chân thành đó tôi cho là chính đáng. 
Nhưng, tôi hơi do dự: Cậu em tôi, nhà thơ Lâm Huy Nhuận, lẽ ra nó phải làm công việc này má hắn cứ im lặng như thóc; còn tôi, khi còn là học sinh, môn văn chả bao giờ có được điểm 3 (điểm Liên Xô). Công việc này quá nặng, liệu tôi kham nổi không? Nghĩ đi nghĩ lại, tôi không thể không làm. Với kiến thức hạn hẹp về văn học buộc tôi phải cố gắng hết sức. Ngay từ đầu tôi tìm đọc những bài viết về ba tôi, đọc hồi ức của cha, của những người đồng nghiệp của ông .v.v.. ; học cách viết và thử viết bài gửi trên weblogs, các Báo, Đài; tập nhìn sự nghiệp của cha bằng cái nhìn của người yêu văn học v.v .. 

 Từ việc tìm hiểu về cha, tôi đã nhận ra một nhân cách người thi sĩ với nét đẹp tâm hồn, lẽ sống và tình nhân văn của cha mình đối với đời: Hơn 80 năm cuộc đời, và hơn 60 năm cầm bút, thì nỗi buồn, sự mất mác ở ông nhiều hơn niềm vui và cái được. Nhưng, bù lại ông có được trái tim của đông đảo độc giả từ mọi miền đất nước và cả những người đang sống ở nước ngoài. Họ đọc thơ ông, và nhận diện được chân dung ông - người thi sĩ đầy nhân nghĩa qua những vần thơ giàu nghệ thuật và nhân văn của ông.
  Bởi, trong cuộc sống, ba tôi bằng lòng với những gì mình có như một chàng trai trẻ; hạnh phúc và vui mừng mỗi khi nhận được thư bạn đọc. vào dịp Lễ, Tết, hay ngày sinh. Từ những nơi xa xôi: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ngãi, Lâm Đồng, Thanh Hóa, Cái Bè cho đến tận Huyện Thốt Nốt v.v…thư tới thăm và động viên ông. Có thể nói đó là những tình cảm không thể ngờ từ phía khách thơ dành cho một nhà thơ bị oan trái trong thời NVGP như Yến Lan-cha tôi. 
  Ví dụ:- Ai có thể tưởng tượng được, hơn năm mươi năm trước đây mà có người còn thuộc lòng cả tác phẩm kịch thơ “Bóng giai nhân” của ba tôi:

   Thuở ấy, vào năm 1941 anh mới lên mười tuổi, cho đến đầu năm 1994, khi Hội Sân Khấu Việt Nam nhã ý muốn xuất bản vở kịch thơ “Bóng giai nhân”; cậu bé” đó nghe được nhà thơ Yến Lan, tác giả vở kịch lại không còn bản thảo. “Cậu” liền viết thư vào yêu cầu được chép lại theo trí nhớ của mình để bản thảo trở về với cha đẻ của nó như “Châu về hộp phố”
   Đây là bức thư bao hàm nhiều ý nghĩa, tôi xin chép lại toàn bộ để bạn thấy được tấm lòng của anh dành cho nhà thơ Yến Lan:

Thanh Hóa- Ngày 07 tháng 2 năm 1994
Nhà thơ Yến Lan kính mến,
 Tôi là Lê Ngọc Thanh, giáo viên Trường Trung Học Lam Sơn Thanh Hóa, cái tên này chẳng thể gợi cho bác biết được điều gì chỉ xin nói lên sự việc. Số là những năm trước Cách mạng Tháng Tám, các anh tôi đang dạy học có tổ chức dạ hội và tập các vở kịch thơ trong đó có vở “Bóng giai nhân”. Tôi nhớ vở kịch đó đánh máy hoặc có bản chép tay để phân vai chứ không có bản in typo. Tôi, lúc đó khoảng 10 tuổi, (sinh năm 1933) đang học tiểu học, không phải loại người lớn để dự vào việc ấy. Tôi chỉ được giao cho giữ bản kịch và chép vai giúp các anh. Đọc kịch bản cảm thấy hay, chứ chưa chắc đã hiểu, tôi chép vào sổ tay để ngâm nga rồi thuộc. Hai hồi đầu, tôi nghĩ là thuộc chính xác còn hồi ba có lẽ chưa đầy đủ. Năm mươi năm qua bác cũng biết là bao nhiêu biến động, không làm gì còn bản ghi nữa. Đôi khi tự đọc các đoạn thơ này lên hoặc cho vài bạn khác nghe, cũng là sinh hoạt tinh thần trong những ngày gian khổ chống Pháp, hoặc chống Mỹ, lấy những vần thơ đẹp để động viên mình và động  viên  nhau.
  Một lần anh Vũ Ngọc Khánh có cho tôi biết bác-nhà thơ Yến Lan đã không còn bản thảo. Tôi nghĩ rằng nếu chép lại để gửi trả lại nhà thơ bản thảo này (nếu quả là đã mất) thì cũng có nhiều ý nghĩa, trước hết là để trả ơn người đã sinh ra nó và cũng để cho đời khỏi mất những vần thơ đẹp. Tuy vậy tôi cũng không biết được địa chỉ của bác. Trong khi đó thì tôi sống khó khăn, bao nhiêu ràng buộc. sách báo cũng ít được xem. Gần đây tình cờ tôi xem một tờ tạp chí Văn Nghệ cũ được biết bác mừng thọ 70 tuổi ở Bình Định. Rất tiếc là không kịp gửi bản thảo này vào dịp đó mong bác thứ lỗi. Còn về nội dung ghi lại chắc không tránh khỏi nhiều thiếu sót trong bộ óc của một trẻ em 10 tuổi và 50 năm qua thì khó thể nói được điều gì chắc chắn. Nhưng nếu đọc lại chắc bác có thể hậu chỉnh lại được. Nếu điều đó có ích gì đối với nhà thơ thì quả là vinh dự cho một người đọc như tôi. Xin gửi bác lời chào trân trọng
Kính mến
Ký tên: Lê Ngọc Thanh  
   
Thư của anh đến kịp để xuất bản sách tháng 12.1996. Thật là một món quà vô cùng quí giá khiến ba tôi phải thốt lên “Thật quá bất ngờ” 
 - Còn chàng thanh niên yêu thơ ở tận Hậu Giang cũng muốn nói với nhà thơ rằng:

Nhà thơ Yến Lan kính mến
Qua đọc báo “Tuổi Trẻ Chủ Nhật” số 13. Ngày 7/4/91. Ở trang 15 nhà văn Mang Viên Long và Võ Châu Cửu, đăng vài nét về nhà thơ. Cháu cảm nhận quá, nên viết ít hàng gửi đến bác. Cháu chúc bác luôn vui khỏe dồi dào sức khỏe để sáng tác thêm cho đời những áng thơ trác Việt . Trước khi nói lên cảm nhận của mình, cháu xin tự giới thiệu. Cháu là Đoàn Thành Nhớ hiện công tác ở CAND xã Thành Quới, huyện Thốt Nốt Hậu Giang. Đọc đoạn thơ ở tuổi 70 của bác, cháu rất phục”: 
“Người ta trối già, tớ chối già…” Tự đáy lòng cháu rất cảm kích….

  Mừng sinh nhật năm 1986 tròn 70 tuổi, từ Quảng Ngãi, nhà thơ Phú Sơn gửi mấy câu thơ:
Mừng Yến Lan bảy mươi tuổi
Mừng anh bảy chục cái xuân xanh
Lòng lão trong veo thơ thắm tình
Bên “Bến My Lăng” nhìn én liệng
Trăng xưa bạn cũ bóng vờn quanh
11/1986 (Phúc Sơn)

Sinh nhật lần thứ 73, nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Liễn, tặng câu đối: “Nẫm niên dư Bắc thượng Nam qui tứ hữu thi đàn do lưu văn nghệ sử/ Thất tuần ngoại triêu ngâm mộ vịnh nhứt sinh hoa bút trường thán nguyệt vân thiên. Dịch ra "một đời ra Bắc về Nam có mặt với thi đàn, một đời “hoa bút” để rồi “trường thán nguyệt vân thiên. 
 Vũ tiên sinh đã nhè nhẹ vỗ đúng nỗi đau và sự bất lực của thi sĩ”.  Nhà thơ cười hiền:
 “Ông phê tôi ngửa mặt mà than dài với trăng mây, xét cho cùng cũng là chỗ bấu víu của văn nghệ sĩ mọi thời thôi mà”. Lê Hoài Lương

 Năm 1991, các anh chị em văn nghệ sĩ thị trấn An Nhơn và Hội văn học nghệ thuật Bình Định xuất bản tập thơ “Cầm chân hoa” và “Tuyển tập Yến Lan” nhân dịp sinh nhật tuổi 75 của ông. Đó là tấm thịnh tình mà quê nhà dành cho, khiến ông cảm động lắm. Thực ra, việc làm này đối với các nơi khác là bình thường, nhưng với Bình Định, là sự ưu tiên đặc biệt, không có ai một lúc được xuất bản 2 tập thơ; vì trong Tuyển tập có cả phần thơ của “Cầm chân hoa“ do Chi hội Văn Hóa huyện cụ thể là nhà thơ Đặng Tấn Tới tuyển chọn, đang hoàn chỉnh để kịp mừng ngày sinh của Yến Lan. Nghĩa là có “Cầm chân hoa” thì không “Tuyển tập”, và ngược lại. Vì kinh phí “Quỉ bảo trợ văn nghệ sĩ lão thành” chỉ chi một lần. Nhưng, điều này không hề ảnh hưởng tình cảm của anh em Văn nghệ sĩ và Lãnh đạo huyện dành cho nhà thơ của Bến My Lăng. 
  Ba tôi đã rất xúc động nói “trong cái rủi có cái may, con người không phải lúc nào cũng gặp bất hạnh!”
  Cảm động hơn, Tập thơ vừa ra đời thì vài ngày sau, tại nhà riêng, hàng chục lá thư từ các nơi gửi đến đề nghị: 
  “Xin bậc tiền bối gửi tặng cho cháu tập thơ”(thư kèm 4.000 đồng lộ phí) Mới đầu ba tôi không hiểu gì cả. Thì ra nhà thơ Mang Viên Long tế nhị maketting, quãng cáo ở báo Tuổi Trẻ để chóng phát hành sách hộ nhà thơ. 
 Việc này, tuy nhiêu khê và mệt; vì cứ nhận được thư, nhà thơ phải ra bưu điện gửi sách cho từng ấy bạn đọc. Chả là bạn nào cũng muốn có được “chữ ký của tiên sinh Yến Lan”. Và ai đó đã làm thơ tặng ông
  
Từ thuở tóc xanh, nay tóc bạc rồi
75 năm - thước đo đời thi sĩ
Giữa biển dâu biết ai người tri kỷ
Những ngọn đèn-đứng gác giữ hồn tôi..
Nợ dương trần chưa trả hết đấy thôi
Túi thơ hãy đong thêm, còn vơi đấy
Bến My Lăng khách gọi đò chẳng thấy
Đò đến rồi chẳng thấy Bến My Lăng…
(Qui Nhơn đêm tháng 4 năm 1991)

 Kính tặng thi sĩ Yến Lan 
 Cháu mừng bác vào năm 83 Trời cho 
 Sáng dậy chim ngừng hót
 Mừng thay ta chưa già
 My Lăng thuyền trăng đợi
 Người xa! Ta không xa
     (Hà Nội, Xuân 98)

 Từ Hà Nội, nhà văn Nguyễn Khôi, thư vào cho ba tôi viết:
 Hà Nội ngày 4/7/1995
 Lão thi sĩ Yến Lan kính mến
Tôi đã yêu thơ của thi sĩ từ khi tôi còn là cậu học sinh trường cấp 2. Có lẽ ngoài bến My Lăng ra, vẫn còn bâng khuâng trước “Trưa hào hoa mình lụa /Thương trời ngẫn ngơ xanh.”
 Hôm nay lại đọc “Sống bù” của thi sĩ lòng những bồi hồi buồn vui.. Ôi lão thi sĩ, một trong “Tứ linh” của đất Bình Định, đã ngoài “bát tuần” mà còn làm được thơ–thật là hạnh phúc vô cùng của một đời người. Hơn 1 thế kỷ đất Bình Định đã trải qua nào nhà Nguyễn, rồi Pháp đô hộ, Nhật đảo chính, Việt Minh dành chính quyền, rồi lại Pháp xâm lược, rồi Mỹ Diệm, Mỹ Thiệu rồi giải phóng…80 năm đã trải của thi sĩ đâu có “êm đềm như si” như kẻ hậu sinh này thèm ước..
 Cái mà thi sĩ để lai cho đời là “Bến My Lăng” là “giếng loạn” bất tử.  Tôi đã say ánh trăng mờ ở xứ dừa quê thi sĩ, hồi học lớp 9 (1956), đã nghiền “Lại về tỉnh nhỏ”,  tôi nhớ mãi . người đưa thư, “áo vải tây vàng 2 vai đã  vá” Thi sĩ không bằng Lý-Đổ nhưng kém chi Từ Không Thự, Trường Kế ngày xưa..
  Ôi vinh quang thuộc về nhà thơ không phải là đao to, búa lớn, chỉ 4 từ “gió lén mơn râu” có thể sánh với “Bạch Vân thiên tải không du du” rồi
  Biết lão thi sĩ đang ốm nặng ở đất quê nhà, từ đất Thăng Long thành - người học trò nhỏ  đã yêu thơ của thi sĩ xin có lời thành tâm gửi vào xứ dừa Bình Định thăm hỏi thi sĩ, mong rằng lão thi sĩ vượt qua cơn hiểm nghèo, tâm hồn luôn là “màu xanh không nói nghĩa biệt ly
Kính thư 
Nguyễn Khôi  - Công tác tại Hội đồng của Q. Hội

Sự lắng đọng của khách thơ Nguyễn thị Khánh Minh: 
Kính gửi tiền bối “Đêm đọc thơ Yến Lan” (Mạo muội ghi lại vài cảm xúc khi đọc “Cầm chân hoa” của tiền bối)
Khế của đời là trái
Khế của người là mơ
Lau của đời là sậy
Lau người bạc ánh thơ

Hồng đời chỉ là hoa
Hồng người chan chứa ý
Cầm chân bản tình ca
Thương ai cầm mộng mị

Giàn trầu bình thường ai
Mùa thơm bàn tay trái
Giàn trầu thơ về mãi
Ngan ngát giọng-hò-trăng

Người đời cùng nhau chuốc
Rượu óng ánh tiếng cười
Bên chùa ai ngồi uống
Sóng-sánh-tiếng-chuông khơi

Còn nhà thơ Nguyễn Thanh Mừng: 
   Mỗi lần ghé thăm và tạm biệt nhà thơ Yến Lan, tôi không thể nào không mang theo những cảm giác đẹp và buồn. Đẹp và buồn như khung trời Bình Định với bâng khuâng mây nước cổ thành, với những bóng đại thụ uy nghi dường như đã có những tầng rễ cắm vào huyền thoại. Đẹp và buồn như vầng trăng hoang lương trên Bến My Lăng với người lái đò say trăng đầu gối sách…Trong cảm giác chung ấy, cái vóc dáng mảnh mai của ông trước cửa tiễn đưa chợt trở thành nỗi trở trăn, lay động trong nắng sớm đầu xuân…               ( An Nhơn Mồng 9 tháng giêng Quí Dậu – NTM)

Một bài viết trên mạng:
KHÓI (308)- YẾN LAN

Dear đại Huynh TPN, chư Huynh Tỉ Muội, cả nhà.
 KHÓI là một bài thơ bốn câu hay của Yến Lan (1917-1998). Yến Lan tên thực là Lâm Thanh Lang  Yến lan là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng, trong đó có Bóng giai nhân – kịch  thơ, Bến My Lăng,  Gái Trữ la (kịch thơ), tuyển tập thơ tứ tuyệt…Nhưng theo đệ thì ngoại trừ bài Bến My Lăng quá nổi tiếng, Yến Lan có thể coi là một cây tứ tuyệt hàng đầu của thế kỉ 20. Yến Lan kết bạn thành nhóm thơ tứ linh, còn gọi là nhóm Bàn thành tứ  hữu gồm Hàn Mặc Tử , Chế Lan Viên và Quách Tấn được Hoài Thanh, Hoài Chân giới thiệu trong Thi Nhân Việt nam…. 
   Yến Lan cũng từng được nhiều giải văn thơ và năm 2007 dược giải thưởng Nhà nước. Mà thôi, trích ngang về Yến Lan thế là đủ. Đệ muốn ” tào lao” chút it “râu ria’ liên quan đến nhà thơ… hình như chuyện này với đệ lí thú hơn chuyện năm sinh tháng đẻ, quê quán, huân huy chương, sai lầm, tác phẩm tiêu biểu…của nhà thơ. Công  thức và sáo mòn quá…….
    Tại sao lai là Yến Lan nhỉ, trước đó hình như là Xuân Khai và vài tên khác cơ! Hay là liên quan đến vợ hay người yêu , hoặc giả có thể như cái tích đánh vần  “trân huyền trần” rồi thành bút danh của nhà thơ Huyền Trân (lời kể trong hồi kí của Nguyễn Huy Tưởng  và của Tô Hoài). Đệ hóng hớt ra chuyện vợ của nhà thơ Lâm Thanh Lang là bà Nguyễn Thị LAN, thế là giải mã được 50% ! Còn YẾN ???: 
  Vợ Yến Lan trước khi lấy chồng chơi rất thân với cô bạn gái tên là Yến, hai người ước với nhau sẽ lấy chung một ông chồng để suốt đời bên nhau. Ông này biết chuyện trên, mới  lấy bút danh từ tên của đôi bạn gái Yến và Lan theo lời ước lạ kì, thế là từ đó bút danh Yến Lan ra đời và tồn tại mãi mãi. 
   Điều rất cảm động với đệ là Yến Lan – một nhà thơ có lập trường “vững”, đã bí mật cưu mang  từ Hoàng Cầm, Văn Cao, đến Phùng Quán, Lê Dạt…chứ ko ngoảnh mặt làm ngơ như một số người khác…Nhiều người ghen với hạnh phúc của vợ chồng nhà thơ khi đã ngoài tuổi Cổ lai hi chẳng chịu xưng hô với nhau bằng Ông, Bà mà khi râu tóc bạc phơ vẫn cứ anh anh em em ngọt sớt ở cái thời mà chưa về hưu người ta đã vội tôn nhau lên CỤ, thật đáng nể !!! Đệ là người duyTình, duy Nghĩa nên rất kính trọng những người sống có tình có nghĩa…
    Thơ bốn dòng của Yến Lan  như một chuyện kể mini, chả đâu vào đâu mà rất có duyên, đệ thích thú lắm, mà đã thích thú thì đệ dịch say sưa lắm…Dịch ra tam ngữ, chỉ mới ê a qua phone với lũ bạn tây tàu, chúng nó chả biết nguyên tác ra sao cũng bảo  đệ là ” Nghe Thích quá !!!”.  
  Bài Khói này đệ dịch ra Ăng lê lâu rồi, bây giờ vốn khá hơn , tỉa lại tí chút, làm thêm Frăng xe và Hán. Tiếng Việt vẻn vẹn có 4×7= 28 từ, đệ chuyển ra ngũ ngôn Hán có 4×5= 20 từ nên hơi gượng, nhưng tụi bạn Tàu vẫn hiểu và… thích ! 
  
Lạc đề một hồi, đệ lại nhớ đến Yến Lan và  những nét “râu ria” về ông, ấy chính nhờ những nét đó mà đệ hiểu thêm về đức độ, tài năng của Yến Lan và dám dịch thơ ông để yêu ông thêm. Đệ muốn có thêm nhiều người Việt ở hải ngoại, nhiều người nước ngoài khắp năm châu bốn  biển cùng yêu Yến Lan như yêu Tản Đà, Nguyễn Bính, Huyền Trân,  Hồ Dzếnh…Với đệ yêu các nhà thơ lớn của đất nước cũng chính là yêu đất  nước mình…Những năm tháng tha hương, bất kì ông tây bà đầm nào,hoặc anh Hàn quốc  chị Nhật bản nào nói với đệ rằng : tôi yêu TĐ, NB, hay yêu HT, H Dz… thì chả cần đến một nửa tích tắc suy nghĩ, đệ kl được ngay: đây là những người bạn tốt biết yêu VN và đệ lập tức  yêu quý họ…
  Dưới đây là các bản đệ dịch bài Khói của Yến Lan kèm mấy câu tứ tuyệt đệ viết về bài Khói của Yến Lan và các bản tự dịch ra Pháp, Anh, Hán tuy ngô nghê, quê mùa nhưng chân thành hết nói.

 KHÓI
(Yến Lan)
Đêm nao thế sự cũng đem bàn
Mẩu thuốc đầy vơi cái gạt tàn
Nhẩm lại bao nhiêu câu hỏi lớn
Lẫn vào khói nhẹ gió xua tan.

SMOKE
(Poem by Yến Lan – Translation by TMCS)
 Every night the world affairs are discussed
And the cigarette butts fill the ashtray.
Reviewing the major debated questions,
They realize all of them- in their opinion-
That the wind has blown away…

FUMÉE
(Traduit par TMCS)
 Chaque nuit les affaires du monde sont discutées
Et les mégots de cigarettes remplissent le cendrier.
En révisant les grandes questions ayant été débattues,
On réalise qu’elles ont été mêlées
Dans la fumée légère dont le vent a emporté.


(燕蘭詩–相梅居士譯)

毎夜談時局
煙頭常滿缸.
至今撿大事:
風刮煙中藏!

  À, suýt nữa tôi quên nhắc tới anh chàng Hồng Tâm. Đây là cậu học trò của ba tôi trước CM. Tình cảm của anh đối với thầy Yến Lan phải dùng từ nghiện mới đúng. Anh sống ở TP/HCM, sau giải phóng anh về quê cố tìm gặp lại thầy-người đã dạy anh kỷ năng sống để làm người. 
  Khi biết tôi là con của nhà thơ đang ở Sài Gòn. Ngày giỗ nào của ba tôi anh cũng đến thắp cho ông nén tâm hương và lầm rầm trước di ảnh ông: “Nhờ ơn đức thầy mà em được như hôm nay, thầy đã cho em ánh sáng của niềm tin và hoài bảo để vươn lên làm người…”.
   Nghe lõm được lời anh tâm sự; tôi có cảm giác như – ba tôi nhà thơ Yến Lan là Thần tượng đích thật của anh vậy. 
  
Đi vào sáng tác của ba và các bài viết về ông, tôi như vỡ ra nhiều điều. Không hiểu sao, những bức xúc của mọi người về vị trí của ba tôi lại nhiều vậy. Đây là vấn đề khó nói, khó giải bày. Nếu không tế nhị dễ bị hiểu nhầm, khiến đọc giả nghĩ rằng tôi không khách quan khi viết về cha. Thay vì tự viết những lời tâm huyết của người con đối với cha, tôi trích bài viết từ các nhà thơ, nhà báo để bạn đọc dễ tiếp nhận và đánh giá công minh về ba tôi hơn. 

 “Yến Lan là nhà thơ bậc thầy từng được gọi “cây đại thụ, một bảo tàng, một thư viện sống của văn chương Bình Định, của văn chương Việt Nam” và là “một thi tài thực sự đặc sắc” trong tiến trình phát triển của thơ ca dân tộc. Kinh qua sự sàng lọc khắc nghiệt của thời gian, len lỏi đến ngóc ngách sâu thẳm của con người, thơ Yến Lan dần có vị thế trong lòng độc giả. Từ lâu, nhà thơ có vị trí trong phong trào Thơ mới, trong thi đàn Việt Nam hiện đại. Không chỉ nổi tiếng với Bến My Lăng huyền hoặc, Yến Lan có nhiều công lao quan trọng khác trong nền thơ ca dân tộc. Thế nhưng, việc đánh giá và phổ biến thơ Yến Lan trong đời sống văn chương vẫn chưa tương xứng với những giá trị đích thực của ông”. 
“…có thể nói với một nội lực phong phú, Yến Lan luôn giữ được bản sắc tâm hồn mình, viết thơ mình, biết cân bằng xưa và nay giữa rất nhiều biến động của ngoại cảnh. 
   Vị trí của Yến Lan lớn, nhỏ đến đâu trong thi đàn nước nhà, điều đó còn chờ sự lắng đọng của thưởng thức, phẩm bình và thời gian. Nhưng có điều dễ thấy ở Yến Lan ông là một thi tài thật sự đặc sắc.                                                                            (Trần Ninh Hồ)

  Các nhà thơ trẻ nhận ra ông qua lời tựa của Văn Cao:
Nhận xét của Văn Cao hoàn toàn đúng với thơ Yến Lan, không phải chỉ thời đó mà còn cả các tâp thơ mới xuất bản sau này. Quả Yến Lan luôn thể nghiệm thơ mình. Ông chuyển từ thơ đường luật sang Thơ mới và ngược lại. Ông yêu Francis Jammes nhưng cũng mê Lý Bạch, Đổ Phủ. Ông vững vàng trong bút pháp Đường luật nhưng rất tài hoa trong thơ mới ngay từ những tác phẩm mới trình làng vào những năm 1933 - 1936 

“Yến Lan và Bến My Lăng”- Đăng Vũ
Anh cố vượt lên nỗi buồn, để có những bài thơ mới mẻ như “Lại về tỉnh nhỏ” hay khỏe khoắn như “Bài ca hợp tác thôn tôi”.  Vốn giỏi về lối thơ khắc họa nên anh thành công trong “lại về tỉnh nhỏ” (Tỉnh nhỏ/cô em/nằm xem kiếm hiệp), không lấy gì làm lạ, nhưng người từng làm những câu thơ sang trọng đến nỗi Bích Khê cũng phải tấm tắc khen, mà trong “Bài ca hợp tác thôn tôi” lại thể hiện được cả lời ăn, tiếng nói của bà con nông dân vào thơ thì quả là một cố gắng rất lớn.
Đến ngày con lẫy con chơi
Đến ngay rộng vai, dài vế
Cái khó đan vào cái dễ
Nan mốt, nan hai
Nuôi viêc ăn làm từ hạt muối củ khoai
Gian khổ không dừng sức lớn..
       Hoài Anh

Kính Chị 
   Đời người thi nhân để lại một vài bài khiến người khác nhớ về mình là đã đủ, đạt yêu cầu. Trong tuyển tập thi ca, suy cho cùng ban biên tập cũng chỉ chọn ra một hai bài là tối đa, cho dù người ấy có làm hàng ngàn bài như XD , HC …. đi chăng nữa. Nhớ năm xưa trong tuyển tập XD đã đòi hơn ba bài đã chịu lời thị phi cùa văn giới. Phải nhường chỗ cho người khác . XD kém ! ….
    Bác Yến Lan,  người thi nhân trong xã hội miền Bắc không khụy sống lưng vào giữa các thập niên-58-62 càng đáng kính hơn nữa. Đoạn sau tôi không rõ lắm. Chị đã có một người Cha như thế là rất đáng tự hào. Ông là người con của đất Tây Sơn thật đáng yêu. Chính sự đáng kính của ông khiến cho người khác nhắc đến tên ông với tấm lòng trân trọng. 
Xin đừng so sánh ông với người khác cho dù người đó có là CLV ,XD hay QT….đi nữa .
   Xin chúc mừng Chị đã có một người cha già đáng yêu . Cần chi phải có con trai mới gọi nối dõi tông đường! Một người con gái như Chị đã làm được nhiều điều cho người Cha già đáng yêu của mình như thế khiến người Thi nhân bên kia thế giới chắc hẳn Bác rất  hài lòng .
 Xin chúc mừng Chị .
Kính
laiquangnam 
                                                              LÂM BÍCH THỦY
                                                                                  
READ MORE - NHÀ THƠ YẾN LAN VÀ SỰ HÂM MỘ - Hồi ký của Lâm Bích Thủy