TRANG THUẦN TÚY VĂN HỌC NGHỆ THUẬT CỦA NGƯỜI QUẢNG TRỊ VÀ NGƯỜI YÊU MẾN QUẢNG TRỊ.
Chúc Mừng Năm Mới
Tuesday, December 30, 2014
CHIỀU CUỐI NĂM NGHE LẠI NHẠC PHẨM “THƯƠNG QÚA VIỆT NAM” NHỚ PHẠM THẾ MỸ - Mang Viên Long
“THƯƠNG QUÁ VIỆT NAM”
NHỚ PHẠM THẾ MỸ
Tôi được “biết”
nhạc sĩ Phạm Thế Mỹ từ những năm còn ngồi ở trường Trung học Cường Đễ Qui Nhơn
(1958 -1965), qua các bài hát rất được nhiều người ưa chuộng lúc bấy giờ như Nắng Lên Xóm Nghèo, Trăng Tàn Trên Hè Phố,
Đường Về Hai Thôn. rồi Bóng Mát...
Tôi không có năng khiếu về âm nhạc, nhưng rất may - được sống chung và quen
biết với nhiều bạn học, bạn văn, đồng nghiệp có khả năng âm nhạc, nên vẫn
thường được nghe nhiều nhạc phẩm từ khi vừa được năm 1975, việc lưu hành băng
đĩa, hay phổ biến các ca khúc còn hạn chế, ít oi, chủ yếu qua đài phát thanh và
đài truyền hình). Những nhạc phẩm “mở
đầu” ấy trong tôi về dòng nhạc tình cảm êm đềm, trong sáng, chân tình của
Phạm Thế Mỹ đã khiến tôi rất ngưỡng mộ anh.
Phạm Thế Mỹ là người đồng hương An-nhơn với tôi (quê anh ở
xã Nhơn-an, huyện An-nhơn), nhưng là bậc “đàn
anh” trong các lãnh vực sinh hoạt văn nghệ, bởi anh lớn hơn tôi trên một
giáp! Anh đã làm được nhiều việc, trong lúc tôi đang “tập tễnh” yêu thích văn
chương. Mãi đến năm 1971, tôi đã ra trường Sư phạm đang dạy học ở Tuy-hòa, có
dịp vào Saigon, nhà thơ Đam San (đang học ở Đại học Văn Khoa, viết văn lấy bút
danh là Lương Châu – là người bạn học cũ cùng xóm) đưa tôi đến thăm chơi với
mấy người bạn ở Viện Đại học Vạn Hạnh - tôi đã có dịp “quen” nhạc sĩ Phạm Thế
Mỹ ở đây.
Khi Đam San giới thiệu, không ngờ anh Phạm Thế Mỹ đã nói: “Long cũng là đồng hương An-nhơn mà!”
Anh ân cần thăm hỏi, chia sẻ cùng tôi cảm nhận về một số truyện ngắn của tôi đã
đăng trên các báo. Cảm nhận đầu tiên về “con
người” (tác giả) PTM trong tôi không có gì thay đổi so với trước đó: Anh
vui vẻ, cởi mở, chân tình - không tỏ ra chút nào là “đàn anh” kênh kiệu như
người nhạc sĩ người đồng hương thành danh khác! Con người anh, tình cảm anh, đã
thể hiện rất rõ trong từng ca khúc thăm đượm tình quê, tình yêu, tình bằng hữu,
tình đất nước; không “ngụy tạo” để
lừa dối người khác! Tôi yêu thích nhạc anh, cũng từ con người chân phác, đôn
hậu, chí tình của anh nữa. Âm nhạc (cũng như thơ & văn) – là chính con
Người, không thể khác!
Sau năm 1978 - khoảng 1980, tôi về quê, nghỉ dạy, đang hành
nghề “sửa khóa và làm chìa” ở hiên
nhà, thì nhạc sĩ La Hữu Vang (đồng hương Bình định – đang ở đường Quang Trung.
gần nhà tôi) bất ngờ đưa anh Phạm Thế Mỹ (và chị Diệu Lý) đến thăm. Gần mười
năm không được tin nhau, gặp lại anh - tôi vô cùng ngạc nhiên và cảm động! Tiếp
anh và ca sĩ Diệu Lý trong một hoàn cảnh rất khó khổ, lận đận - tôi vô cùng áy
náy! Nhưng, dường như anh không hề quan tâm; tất cả đều vui vẻ cùng ngồi ở hiên
nhà (bên cạnh tủ đồ nghề của tôi), trò chuyện, thăm hỏi nồng nhiệt như xưa. Tôi
vội đi pha bình trà “cửa hàng phân phối”
để cùng nhâm nhi cho đỡ nhạt. Tôi có “biết”
chị Diệu Lý khi học ở Qui Nhơn, bởi hồi ấy chị đang là học sinh “nhí”của trường
nữ tiểu học, nhưng là “giọng hát vàng” của các mùa thi hát, rất nổi tiếng! Đến
lúc nầy, tôi mới có dịp “bày tỏ” lòng
ngưỡng mộ tiếng hát ngày xưa của Diệu Lý khi chị đã là “giọng hát độc quyền” cho những ca khúc của Phạm Thế Mỹ…
Anh La Hữu Vang đang công tác ở phòng Văn hóa thông tin
huyện, đã có nhã ý mời anh Phạm Thế Mỹ và Diệu Lý, dành cho quê nhà một đêm
trình bày nhạc của anh. Anh PTM và DL đã rất hoan hỷ nhận lời trước tình cảm ưu
ái của anh LHV và những anh chị em yêu quý nhạc PTM ở quê nhà.
Đêm nhạc của anh PTM được trình bày ở Hội trường của Thị
trấn, có đông đảo anh chị em làm văn nghệ, giáo viên, học sinh, bà con ái mộ
anh đến chia sẻ! Chị Diệu Lý đã trình diễn các ca khúc tâm huyết một thời của
PTM với giọng hát điêu luyện, lôi cuốn, chân tình! Tôi rất tiếc là không kịp
đưa tiễn hai người vào sáng sớm hôm sau.
Chiều nay, hơn ba mươi năm sau - một buổi chiều cuối năm hiu
hắt, ngồi một mình ở hiên nhà, tôi chợt nghe “(…) hót đi chim, hót đi chim; hót cho mặt trời hồng quê ta. Hót đi
chim, hót đi chim; hót cho đời nhọc nhằn trôi xa (…)” - âm vang từ ngôi nhà
đôi diện trong xóm cuồn cuộn dội lại trong cái vắng lặng của buổi chiều; lòng
tôi bỗng thấy ngậm ngùi thương nhớ xa xôi…
Năm 1972, tôi bị lệnh tổng động viên đẩy vào quân trường
Đồng Đế Nha Trang cùng hàng ngàn thanh niên, sinh viên, bạn trẻ khác. Chiến
tranh đang lan rộng và thảm cảnh của nỗi chết chóc chia xa đang khiến tất cả
bàng hoàng, khổ đau, từng ngày đêm chìm ngập trong vô vọng! Người bạn cùng đại
đội tên Trịnh Ngọc Luyện không biết mang từ đâu về bản nhạc “Thương Quá Tiếng Chim Việt Nam” của
Phạm Thế Mỹ, ngày ngày lấy ra dò dẫm, ca hát, với chiếc guitar cũ kỹ. Anh
thường hát vào những lúc được thư giãn buổi trưa, hay buổi chiều ở bãi tập về,
chờ giờ ăn, giờ ngủ. Luyện hát “luôn mồm”,
thường xuyên, hằng ngày - khiến có lúc tôi nghĩ, cậu ấy chỉ thuộc có một bản
nhạc nầy mà thôi! “(…) Hoa cúc vàng trên sân anh, xinh như áo mới em ngày nào.
Hoa nắng vàng trên quê anh, xinh như má thắm em ngày xanh. Nắng lên đi, nắng
lên đi (…)” Nghe nhạc anh, hiểu lòng anh - tôi cảm thấy như được gần gũi anh
hơn, và cũng trở nên “ghiền” bài ca
ầy như Luyện. Tôi thường đùa, khi thấy Luyện ngồi im không hát: “Sao cậu không “hót đi chim, hót đi
chim…”cho vui đi mà ngồi im ru vậy?”
Một ngày chủ nhật sau đó không lâu, “bạn nhỏ yêu dấu” của tôi từ Saigon có dịp nghỉ hè, ra Nha trang
thăm bà con, đã tìm lên bãi tiếp tân Đồng Đế thăm tôi! Quen nhau qua thơ văn,
lần đầu được gặp bạn-nhỏ giữa chốn “đao
binh”, tôi rất ngạc nhiên, và xúc động. Bạn-nhỏ vừa thi đậu tú tài 2, được
cha cho “phần thưởng” đi du lịch, đã
chọn Nha trang, và Đồng Đế… Giữa buổi “trời đất nổi cơn gió bụi” mà còn có “khách má hồng” tìm thăm, quả thật không
có niềm an ủi nào hơn! Bạn-nhỏ huyên thuyên kể đủ thứ chuyện, như vẫn thường
huyên thuyên trong những tờ thư. Điều bất ngờ là, em kể suốt mấy tuần tham gia
sinh hoạt “Đường Vào Đại Học” ở Viện
KHGD của một sư huynh dòng Lasan dành cho các cô cậu Tú mới toanh, ngày nào sư
huynh cũng bắt nhịp cho em và các bạn cùng hợp ca bài “Hoa cúc vàng trên sân anh…” khi mở đầu buổi sinh hoạt và lúc kết
thúc.
Gặp nhau mấy giờ, lúc chia tay, tôi đã đề nghị:
“Em về Saigon mua gởi
cho anh băng nhạc “Thương Quá Việt Nam và 18 Ca Khúc” nhé! Báo Hòa Bình vừa đưa
tin tuần rồi. Ở đây, anh có cậu bạn ngày đêm gào lên ”hót đi chim, hót đi
chim…”, nhưng cái giọng “ồ ề” lạc nhịp của cậu ấy khiến anh thèm được
nghe…”
Buổi chiều cuối năm hôm nay, sau hơn 41 năm, ngồi ở hiên nhà
để nghe “Thắp Tim lên, thắp Tim lên, thắp
cho tình người dậy trong ta. Thắp Tim lên, thắp Tim lên, thắp cho mặt trời dậy
trong ta. Yêu thương người, yêu thương ta, yêu luôn những thú hoang rừng già.
Yêu bạn bè như yêu ta. Ôi thương quá Trái Tim Việt nam” khi anh đi xa (PTM
mất lúc 3 giờ sáng ngày 16 tháng 1 năm 2009 tại Saigon) đã gần 5 năm, khi người
bạn đồng hương Đam San cũng không còn trên cõi đời ở vào tuổi chưa tròn sáu
mươi, khi người bạn trẻ Trịnh Ngọc Luyện từng ôm đàn nghêu ngao ngày nào ở Đồng
Đế không biết mất còn nơi đâu, khi bạn-nhỏ vẫn mãi cách xa dầu đã gặp lại, khi
tôi sắp bước vào tuổi bảy mươi mà đời còn lận đận…
Ánh trăng trong vời vợi trên bầu trời quê, tiếng chim non
nồng ấm âm vang trên vòm cây khóm lá xóm nghèo, hoa Cúc Vàng quê hương đằm thắm
từ Trái Tim anh tràn đầy nhiệt huyết tuổi trẻ đang rền vang réo gọi bên tai, đã
cho tôi phút giây hạnh phúc, thật ấm áp, một chiều muộn ngồi thầm lặng một mình
trong cái se lạnh của buổi tàn đông…
Quê nhà, cuối tháng 12 - 2013
MANG VIÊN LONG
Bài đã dăng trong tập Tiểu Luận & Tạp Bút số 3
NHƯ NHỮNG GIỌT SƯƠNG
NXB Hội Nhà Văn
2014
Tác giả gởi tặng VNQT và cho phép đăng lại.
Monday, December 29, 2014
KÌA XEM BÓNG NGUYỆT LÒNG SÔNG... - Tranh-thư pháp Minh Đạo
(Hình trên được trích trong tập NƠI ẤY BÌNH YÊN)
有空
|
Hữu không
|
作有塵沙有,
為空一切空。 有空如水月, 勿著有空空。 |
Tạc hữu trần sa hữu,
Vi không nhất thiết không. Hữu, không như thuỷ nguyệt, Vật trước hữu không không. |
Có và không
|
Có thì có tự mảy may
Không thì cả thế gian này cũng không Kìa xem bóng nguyệt lòng sông Ai hay không có, có không là gì ?
(Người dịch: Huyền Quang tam tổ)
|
Sunday, December 28, 2014
GIỌT LỆ TÌNH - Trúc Thanh Tâm
GIỌT LỆ TÌNH
Qua rồi hò hẹn đón đưa
Cành cây tình ái đong đưa lá sầu
Ngọt ngào dậy sóng biển dâu
Hương bay lạc nẻo dãi dầu nhớ quên
Cành cây tình ái đong đưa lá sầu
Ngọt ngào dậy sóng biển dâu
Hương bay lạc nẻo dãi dầu nhớ quên
Tình cờ tôi gặp lại em
Bốn mươi năm đã hằn thêm vết buồn
Mắt chờ môi đợi phai son
Còn đâu lối mộng thiên đường ngày xưa
Bốn mươi năm đã hằn thêm vết buồn
Mắt chờ môi đợi phai son
Còn đâu lối mộng thiên đường ngày xưa
Bất thần trời đổ cơn mưa
Vào ngồi quán lá gió lùa sau lưng
Cà phê từng giọt dửng dưng
Nhìn em vuốt tóc nghe từng sợi đau
Vào ngồi quán lá gió lùa sau lưng
Cà phê từng giọt dửng dưng
Nhìn em vuốt tóc nghe từng sợi đau
Càn khôn cánh én nghiêng chao
Dòng sông định mệnh chảy vào xa xôi
Bây giờ tôi khóc chính tôi
Và em từng giọt lệ rơi xuống lòng !
Dòng sông định mệnh chảy vào xa xôi
Bây giờ tôi khóc chính tôi
Và em từng giọt lệ rơi xuống lòng !
Cuối năm 2014
TRÚC THANH TÂM
TRÚC THANH TÂM
(Châu Đốc)
ĐEN VÀ ĐỎ - Chu Vương Miện
canh
bạc có canh đỏ canh đen
có
canh lùa vào có canh chi
ra
con người có người đen người
đỏ
vàng thì vàng bạc thì trắng
than
thì đen và
lửa thì đỏ có kẻ
an
nhàn có kẻ cực khổ có
kẻ
đi trên đường cái ó kẻ
lăn
xuống hố có kẻ đoàn tụ
với
nhau có người vợ bỏ chồng
bỏ
có người đi lính khố xanh
ngược
lại có người đi lính khố
đỏ
trong bàn cờ tướng có anh
thủ
vai tốt xanh có anh thủ vai
tốt
đỏ có anh làm lý trưởng
có
anh làm thằng mõ có anh
số
đen có anh số đỏ có anh
là
cai mỏ than có anh chỉ
làm
thợ mỏ có anh ung dung
ngồi
nhâm
trà
có anh khom lưng
đẩy
xe cắt cỏ
chu vương miện
XIN ĐỪNG GỌI TÔI LÀ NHÀ THƠ - Hồng Tâm
Xin Đừng Gọi Tôi Là Nhà Thơ
Xin đừng gọi tôi là nhà thơ
Tôi cũng như bao con người khác thôi
Cũng lắm ước mơ
Lắm chông gai, trăn trở chuyện đời
Đừng gọi tôi là nhà thơ nữa người ơi !
Tôi như bao người bất hạnh
Có mái ấm gia đình
Rồi tan vỡ
Sự sống mong manh
Cái chết sắp cận kề
Đến với thơ vì sự đam mê
Đem con chữ gieo vào vườn văn học
Yêu thơ như yêu từng hạt ngọc
Để tìm chính tôi khi vấp những sai lầm
Tôi làm thơ là đi tìm
Tìm nỗi nhớ mong manh, chiều kỷ niệm
Tìm lại ai lạc bước cuối con đường
Và có ai đợi chờ như cánh hạc phơi sương
Tôi mong mỏi tìm lại người thương ... Mùi hương áo lụa
Con đừng gọi tôi là nhà thơ nữa
Tôi chẳng thích đâu!
Hồng Tâm ( Lý Thị Minh Tâm- Bến Cầu- Tây Ninh )
Email: lyminhly456@gmail.com
Điện thoại: 01285990757
CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN VÀ MẸ - Trương Đình Phượng
CHÙM THƠ VỀ MÙA XUÂN VÀ MẸ
TÂM SỰ KẺ THA HƯƠNG
Con rời váy mẹ ra đi
Miệt mài theo đuổi đam mê nửa đời
Chênh vênh lạc giữa chợ người
Che tiếng khóc dưới nụ cười tái tê
Sương giăng mờ lối con về
Tháng ngày vắt kiệt lời thề cỏ may
Bụi hèn phủ kín đôi tay
Cô đơn oằn gót thơ ngây dặm trường
Đêm dài thèm chút tình thương
Ngu ngơ tìm kiếm mùi hương cuối mùa
Ngoài trời mòn mỏi gieo mưa
Hững hờ gió bấc khẽ lùa song thưa
Buồn về lật cả cơn mơ
Để thuyền tình lạc bến bờ bình yên
Nửa đời dạt xứ xa miền
Bán hạnh phúc nhận muộn phiền đắng cay
Không người khóc mướn thương vay
Một mình cạn chén men say... tủi hờn
Mẹ ơi đông lạnh sắp tàn
Con về dẫu có muộn màng... đón xuân
Sắc hoa tô thắm mảnh vườn
Người người đón tết rộn đường quê hương
Tay mòn mẹ rải tình thương
Xua tan bao nỗi sầu vương tháng ngày
TẾT VẮNG MẸ
(Viết cho những mảnh đời mồ côi)
Mẹ ơi tết lại về rồi
Sắt se gió lạnh trắng trời mưa bay
Từ ngày mẹ vắng đến nay
Hai gian nhà trống chất đầy lặng im
Nỗi buồn con giấu vào tim
Nửa đêm choàng giấc đi tìm trong mơ
Ước gì con mãi còn thơ
Như xưa mẹ lại ầu ơ ru hời
Môi khô mẹ khẽ mỉm cười
Xua tan buốt giá...canh dài bình yên
Đông tàn vợi nỗi triền miên
Đắng cay đời mẹ...dịu hiền sắc xuân
Thời gian ngừng gót gian truân
Dòng sông đời bớt đôi phần nổi trôi
Nếp thơm mẹ lại đồ xôi
Bánh chưng mẹ gói xanh ngời lá dong
Mẹ đem tất cả tấm lòng
Thương yêu...dành cả cho chồng cho con
Ngày xuân ai cũng má hồng
Chỉ riêng má mẹ mỏi mòn...mẹ ơi!
Tử sinh khắc nghiệt luật trời
Một ngày u ám nghẹn lời tiễn đưa
Con khóc mẹ trời tuôn mưa
Bao nhiêu đau đớn cho vừa biệt ly?
Nặng nề con bước chân đi
Mẹ nằm ở lại tái tê con về
Mười năm như một giấc mê
Mỗi năm tết đến não nề lòng con
Thời gian dẫu có hao mòn
Tình thương của mẹ vẫn còn vẹn nguyên
BAN MAI
Mùa xuân ghé đến bên thềm
Bâng khuâng đôi giọt sương mềm nhẹ gieo
Mái tranh một bóng mẹ nghèo
Cô đơn ngồi đếm eo xèo... thời gian
ĐÊM DÀI
Năm canh thao thức mẹ nằm
Thương con xứ lạ kiếp tằm nhả tơ
Bao năm tìm kiếm bến bờ
Xuân về lòng mãi hững hờ tình duyên
VO TRÒN
Mẹ vo tròn nỗi khát khao
Và muôn cay đắng nén vào thẳm sâu
Thời gian rụng trắng mái đầu
Đêm qua xuân đến nỗi sầu nhẹ khuây
NHỚ CON
Rưng rưng mẹ thắp nén hương
Gửi vào trong khói tình thương dạt dào
Con đi vì nước năm nào
Để nay thêm thắm sắc đào ... mùa xuân
XUÂN BUỒN
Ngày mai xuân đã đến rồi
Nhà nhà sắm tết nơi nơi rộn ràng
Kiếp nghèo mẹ mãi đa mang
Không đào thắm chẳng mai vàng chào xuân
(Mùa xuân đa phần các thi sĩ đều viết về niềm vui riêng, tôi lại viết
về nỗi buồn của mẹ không biết có hơi bị lạc lõng chăng?Thôi thì xem
như chút lòng gửi tới những bà mẹ nghèo vậy. Kính chúc các mẹ mùa xuân
về bình an và lòng già nguôi khuây nỗi cô đơn)
TÌNH KHÚC SỐ 15 - thơ Trúc Thanh Tâm
1. NẮNG CUỐI NĂM
Em áo mỏng phập phồng mùa xuân lạ
Anh mở lòng cho hương ngụ trái tim
Xin cám ơn những chiêm bao chợt đến
Nắng cuối năm và gió bấc qua thềm !
Anh mở lòng cho hương ngụ trái tim
Xin cám ơn những chiêm bao chợt đến
Nắng cuối năm và gió bấc qua thềm !
2. NẮNG HOA VÀNG
Xuân đầy ắp mắt nai ngoan mơ mộng
Hẹn hò ơi, xanh mãi lá sân trường
Có con bướm bay vô vườn hút mật
Nắng hoa vàng trên lối cỏ yêu thương !
Hẹn hò ơi, xanh mãi lá sân trường
Có con bướm bay vô vườn hút mật
Nắng hoa vàng trên lối cỏ yêu thương !
3. NẮNG TÌNH YÊU
Nắng tình yêu trôi bồng bềnh trên tóc
Hơi thở em nhè nhẹ gió thanh xuân
Ta hôn nhau cho thời gian chết đuối
Cho đất trời mầu nhiệm cũng bâng khuâng !
Hơi thở em nhè nhẹ gió thanh xuân
Ta hôn nhau cho thời gian chết đuối
Cho đất trời mầu nhiệm cũng bâng khuâng !
( Châu Đốc )
Saturday, December 27, 2014
VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU - Thơ Kha Tiệm Ly
VỀ MIỀN ĐÔNG UỐNG RƯỢU
(Tặng Lang Vườn)
Đất Phương Nam rượu đã lờn mùi,
Chợt nhớ đệ huynh dọc đường số một.
Hảo hán bốn phương thiếu gì chí cốt,
Lẽ nào một mình ôm rượu uống khơi khơi?
Một ngày gặp nhau , mấy ngày ly biệt,
Lời tri âm sao chẳng nổ tràn tràn ?
Trăm năm dễ chi gặp người hào kiệt
Thì rượu tương phùng sao chẳng rót chang chang ?
Rồi mai đây, đâu hẹn thân bèo nước,
Bỏ hết đi ! – Chừa sĩ khí mà thôi!
Ta gặp nhau cũng là duyên kiếp trước.
Biết ra sao, sau sáu nẻo luân hồi ?
Rượu khí phách tràn tràn lời khí phách,
Rượu hùng anh cạn chén với anh hùng.
Rượu hảo hán chỉ chọn người hảo hán
Rượu ngang tàng bén kiếm Lệnh Hồ Xung!
Mặc cho đời tranh danh tranh lợi,
Tranh nhục, tranh vinh, rồi cũng một mấm mồ
Đập bình vỡ, nói một lới sảng khoái,
Vỗ bàn ca khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ.
Kha Tiệm Ly
(12/ 2014)
...............................................................................
KHA TIỆM LY
99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang
Tel: 0987 701 952 - 01229 880 130
Email: khatiemly@gmail.com
99/5 Đinh Bộ Lĩnh Phường 2, tp Mỹ Tho Tiền Giang
Tel: 0987 701 952 - 01229 880 130
Email: khatiemly@gmail.com
VIẾT TẶNG ĐÔI MÌNH HAI KẺ XA NHAU - Hồng Tâm
Viết Tặng Đôi Mình- Hai Kẻ Xa Nhau
Viết tặng đôi mình - hai kẻ xa nhau
Mấy năm dài ta không gặp lại
Mấy mùa đông qua rồi xuân đến
Trôi theo dòng đời mà người đâu có hay
Lời yêu ngày nào giờ gió thổi bay
Câu thề ấy, đốt thành tro tàn dĩ vãng
Nỗi buồn em giấu theo năm tháng
Sao bây giờ em khơi lại chuyện xưa?
Nỗi nhớ người lòng hoá những cơn
mưa
Mùa đông về, em cuồng điên tê dại
Câu thơ em viết tình yêu ngang trái
Bởi phân chia ranh giới sang, nghèo
Biết làm gì cho đỡ tủi người ơi !
Giọt lệ rưng rưng trên khoé mắt
Có nỗi đau cứ mãi chôn chặt
Chẳng thể nào em được chạm vào đâu
Viết tặng đôi mình - hai kẻ xa nhau
Thôi luyến tiếc, thôi mong chờ vô vọng
Em sẽ cố quên đi hình bóng
Một thời em say đắm bên anh
Hồng Tâm
(Lý Thị Minh Tâm- Bến Cầu - Tây Ninh)
Điện thoại :01285990757
Email : lyminhly456@gmail.com
DÊ TRONG THƠ VIỆT - Trần Ngọc Hưởng
Dê trong thơ Việt
Trong thập nhị chi mười hai con
giáp thì dê đứng hàng thứ 8 trước con khỉ và sau con ngựa. Từ thời xa xưa đến
nay, trong mắt con người, con dê là một trong số những con vật quí. Các vua
chúa trước đây thường chọn dê là một trong số những lễ vật quí báu khi các
vương hầu đến diện kiến hoặc triều cống các hoàng đế.
Ngược lại, khi vua quan ban thưởng
cho các thuộc hạ, cùng với lụa là gấm vóc là những con vật : dê, cừu, ngựa.. Dê
còn được nuôi trong nội cung của vua để kéo xe cho vua đi lại trong nội cung.
Sách đông y xưa cũng có nói đến con
dê. Theo đó thịt dê và sữa dê có rất nhiều chất bổ dưỡng. Đặc biệt chân dê và
tinh hoàn dê có chế biến thành món ăn hoặc ngâm rượu có tác đụng rất mạnh trong
việc bồi dưỡng sức khoẻ, làm cho cơ thể cường tráng. Ngày nay những món ăn món
uống từ thịt dê cũng đang được nhiều người ưa thích và được coi là những món
đặc sản đáng quý.
Nói tới con dê, lập tức người ta
liên tưởng đến người có máu dê như Bùi Kiệm trong tác phẩm truyền đời của cụ Đồ
Chiểu.
“ Còn người Bùi Kiệm máu dê
Ngồi chai bộ mặt như giề thịt trâu
(Lục Vân Tiên)
Dân Việt Nam mình hình như không có
cảm tình mấy đối con vật có vẻ hiền lành này.
Để chỉ sự lừa lọc, dối trá, làm
một đường nói một nẻo, dân mình có câu tục ngữ: “Treo đầu dê bán thịt chó”. Dê và
chó đối lập nhau biểu hiện cho sự trái ngược nhau giữa lời nói và hành động, giữa giới thiệu và thực hiện,
cái nói về cái giới thiệu thì quá tốt đẹp còn cái trao cho đưa tới mọi người
thì thật là tồi tê.
Nữ sĩ tài hoa Hồ Xuân Hương đã dùng
hình ảnh Dê cỏn để ám chỉ và phê phán bọn công tử bột đương thời chơi bời bừa
bãi:
Ong non ngứa nọc châm hoa sữa
Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa
Trong văn học, hình ảnh dương xa (xe dê) là điển tích khá quen thuộc có nguồn gốc là chiếc xe do dê kéo để chở
vua đi khi đến với các phi tần. Trong các triều đại phong kiến Trung Hoa trước
đây, vua thường có rất nhiều cung phi mỹ nữ. Nhiều đến nỗi không sao nhớ hết
mặt, thuộc hết tên. Bởi thế, có những người thường bị vua bỏ quên từ lúc nhập
cung tới lúc chết già không được vua ban ân sủng. Vì biết con dê thích ăn lá
dâu nên nhiều cung nữ đã rắc lá dâu trước cửa phòng mình để dê vào ăn và kéo
luôn xe của vua vào với mình.
Đọc Cung oán ngâm khúc của Ôn Như
Hầu Nguyễn Gia Thiều, mọi người hẳn còn nhớ đến những câu thơ: "Phải duyên
hương lửa cùng nhau/ Xe dê lọ rắc lá dâu
mới vào”
Khi không được xe dê tìm đến mua
vui thì người cung nữ nào cũng cảm thấy lạnh lẽo cô đơn: Thâm khuê vắng ngắt
như tờ, Cửa châu gió lọt rèm ngà sương gieo. Ngấn phượng liễn chòm rêu lỗ chỗ.
Dấu dương xa (xe dê) đám cỏ quanh co…(Cung oán ngâm khúc).
Dê cũng là hình ảnh tiêu biểu đi
vào văn thơ, góp phần tạo nên những tác phẩm nổi tiếng thuộc nhiều thể loại và
ở mọi thời đại. Từ các áng văn chính luận sắc bén chống giặc ngoại xâm như Hịch
tướng sĩ (thế kỷ 13) của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn trong câu “Tắc lưỡi cú
diều mà sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó mà bắt nạt tể phụ” hay Văn tế
nghĩa sĩ Cần Giuộc (thế kỷ 19) của nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu trong câu
“Hai vầng nhật nguyệt chói loà, đâu dung lũ treo dê bán chó.”
Như phần trên có nói, người ta
thường dễ liên hệ dê với người có máu dê, hạng người luôn bị chỉ trích trong xã
hội vì đa tình, sàm sổ bừa bãi bất kể mỹ tục thuần phong : “Phượng hoàng đậu
nhánh sa kê, Ông thần không vật mấy thằng dê cho rồi”( Ca dao)
Có người còn cho rằng chữ de trong
câu ca dao : “Cam sành lột vỏ còn the, Thấy em còn nhỏ anh de để dành” hay
trong câu : “Bắp non mà nướng lửa lò. Đố ai de được con đò Thủ Thiêm" là bắt
nguồn từ dê nghĩa là gần gũi, o bế, dỗ dành, kích thích khêu gợi cho nhau.
Con dê trong Lục súc tranh công
từng khẳng định công nghiệp mình cùng ngựa và các con thú khác:
“Dê vốn thật thuộc về việc lễ,
Ðể hòng khi về hạng tư văn ;
Ðể dành khi tế thánh, tế thần,
Lại có thủa kỳ yên, kỳ phước.
Hễ có việc, lấy dê làm trước,
Dê dâng vào người mới lạy sau.
Ngựa tuy rằng hình tượng lớn cao,
Tam sanh lễ, ai dùng đến ngựa ?
Dầu đến việc làm đình, làm chợ,
Cũng lấy dê trảm thảo, bồi cơ ;
Nhẫn đến ngày mạng tướng xuất sư,
Cũng lấy dê khấn cầu tổ đạo.
Lễ cốc sóc thánh nhân còn bảo :
Tử Cống sao dê sống bỏ đi ?
Ngựa nói ngang mà chẳng biết suy,
Dê nào có thiếu chi công trạng ?”
Ðể hòng khi về hạng tư văn ;
Ðể dành khi tế thánh, tế thần,
Lại có thủa kỳ yên, kỳ phước.
Hễ có việc, lấy dê làm trước,
Dê dâng vào người mới lạy sau.
Ngựa tuy rằng hình tượng lớn cao,
Tam sanh lễ, ai dùng đến ngựa ?
Dầu đến việc làm đình, làm chợ,
Cũng lấy dê trảm thảo, bồi cơ ;
Nhẫn đến ngày mạng tướng xuất sư,
Cũng lấy dê khấn cầu tổ đạo.
Lễ cốc sóc thánh nhân còn bảo :
Tử Cống sao dê sống bỏ đi ?
Ngựa nói ngang mà chẳng biết suy,
Dê nào có thiếu chi công trạng ?”
Nhiều người còn nhớ bài thơ đường
luật con dêmột thời nổi tiếng:
Giống nai sao lại tiếng bê hê
Đứng lại mà coi vốn thiệt dê
Đứng lại mà coi vốn thiệt dê
Đực cái cũng râu không hổ thẹn
Vợ chồng một mặt hết khen chê
Sớm phơi bốn móng sân Tô Vũ
Chiều gác đôi sừng cửa Lý Hề
Bởi nó sợ trâu kia dớn dác
Cam lòng chịu buộc lịnh vua Tề
Vợ chồng một mặt hết khen chê
Sớm phơi bốn móng sân Tô Vũ
Chiều gác đôi sừng cửa Lý Hề
Bởi nó sợ trâu kia dớn dác
Cam lòng chịu buộc lịnh vua Tề
Ra đời khi Nam kỳ lọt vào tay giặc
Pháp, tác giả bài thơ kín đáo phê phán bọn tay sai cam tâm nuốt nhục cúi đầu để
mặc giặc thù thao túng đày đọa dân lành.
Trong hoàn cảnh đó có người còn
mượn hình ảnh Tô Vũ chăn dê để bày tỏ tâm sự vững lòng thuỷ chung đối với quê
hương Tổ quốc:
“Ngàn dặm Trường An mặt luống băng
“Ngàn dặm Trường An mặt luống băng
Đoạn sầu căn dặn nỗi tằn mằn
Khôn đem tóc bạc thay đầu ác (1)
Dễ khiến lòng son đổi miệng lằn
Đêm lạnh ngù cờ sương lợt đợt
Ngày chiều dải mão (2) gió xung xăng
Muôn dê bao sá loài Hồ lỗ (3)
Một tưởng hàng vương, một nghiến răng”
Khôn đem tóc bạc thay đầu ác (1)
Dễ khiến lòng son đổi miệng lằn
Đêm lạnh ngù cờ sương lợt đợt
Ngày chiều dải mão (2) gió xung xăng
Muôn dê bao sá loài Hồ lỗ (3)
Một tưởng hàng vương, một nghiến răng”
Trong kháng chiến chống Pháp, Bùi
Giáng đã “chăn dê một đoạn đời 15 năm ở núi đồi Nam Ngãi Bình Phú”, như ông kể
lại trong bài thơ Nỗi lòng Tô Vũ (Mưa Nguồn – 1962). Đàn dê trong thơ ông tự do
nhảy múa, tha hồ be he, bé hé, bế hế, bê hê, tung tăng những bộ lông rực rỡ,
trong chiếc vòng nhiều màu sắc do nhà thơ thoăn thoắt bện cho:
“Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê
nhanh
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Nhảy múa tung sườn núi vút dòng khe
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức
Vang vang lên đồi núi giọng be be
Ngẩng đầu lên! dê ơi anh thong thả
Ðeo vòng vào em nghển cổ cong xinh
Ngẩng đầu lên! đây lòng anh vàng đá
Gửi gắm vào vòng mây nhuộm tơ duyên...”
“Này em Đen chiếc vòng vàng tươi
lắm
Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.”
Này em Vàng chiếc trắng há mờ đâu
Này em Trắng chiếc hồng càng lóng lánh
Này đây em Hoa Cà hỡi ! chiếc nâu.”
Nhà thơ ghi chú rõ: Dê Hoa Cà có
sắc lông lổ đổ tía hồng xem như hoa cà vậy. Đẹp vô cùng. Nhất là buổi chiều,
sắc lông óng ả dưới nắng vàng – xa xa hình bóng dê rực rỡ bổi bật trên sườn núi
xanh lơ. Dê Hoa Cà còn gọi là Dê Sao, vì lông lổ đổ sáng như sao...
Ông chân thành bày tỏ:
Cái lần đầu, thuở 20 tuổi trao cái
vòng ngọc cho vị hôn thê mà không cảm động bằng lần đeo vòng cho dê vậy
(tr.151).
Ngẩng đầu lên nhìn anh mờ mắt lệ
Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi
Trao người em trăm năm lời ước thệ
Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.
Từ lần đầu vòng ngọc tuổi hai mươi
Trao người em trăm năm lời ước thệ
Đây lần đầu cảm động nhất mà thôi.
Vòng em xong, vòng anh dành riêng
chiếc
Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao ?
Vì lòng anh luống ân thầm tha thiết
Gán đời mình trọn kiếp với dê Sao.
Dành riêng mình – dê hỡi hiểu vì sao ?
Vì lòng anh luống ân thầm tha thiết
Gán đời mình trọn kiếp với dê Sao.
Nhìn anh đây các em Vàng Đen Trắng
Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa ?
Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa
Tía Hoa Cà lổ đổ thấu lòng chưa ?
Từ từ đưa chiếc vòng lên thủng thẳng
Anh từ từ đưa xuống cổ đong đưa
Và giờ đây một lời thề đã thốt
Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
Cao lời ca bê hê em cùng thốt
Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha.
Nghìn thu sau đồi núi chứng cho ta
Cao lời ca bê hê em cùng thốt
Hòa cùng lời anh nghẹn nỗi thiết tha.
Hình ảnh những con dê trong thơ Bùi
Giáng thật đẹp đằm thắm tình người rạng rỡ và tráng lệ hiếm có lấn át hoàn toàn
hình ảnh đôi con dê già khó trị trong xã hôi thường ngày lâu nay:
Chém cha cái tết con dê
Chồi non lộc biếc bốn bề tả tơi
Dê già quen thói ăn chơi
Tiền chùa thoải mái dê cười chào xuân.
Chồi non lộc biếc bốn bề tả tơi
Dê già quen thói ăn chơi
Tiền chùa thoải mái dê cười chào xuân.
Năm mới sắp tới đây 2015,Năm Dê (Mùi, Ất Mùi) , con dê tượng trưng
cho sự sung sức, nhất định sẽ là năm sung túc, dân giàu nước mạnh tổ quốc đi lên.
Là người Việt Nam ai cũng mong điều đó.
Trần Ngọc Hưởng
Subscribe to:
Posts (Atom)











